LỜI CẢM ƠN Đề tài “Tinh thần khẳng định quốc gia dân tộc trong văn xuôi trung đại Việt Nam thế kỉ X – XIV” được thực hiện nhờ sự giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo Khoa Ngữ văn – Trường
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Đề tài “Tinh thần khẳng định quốc gia dân tộc trong văn xuôi trung đại Việt Nam thế kỉ X – XIV” được thực hiện nhờ sự giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo Khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2; các thầy cô trong Tổ Văn học Việt Nam; đặc biệt là Thạc sĩ Nguyễn Thị Tính – cô giáo trực tiếp hướng dẫn tác giả khóa luận trong suốt quá trình viết đề tài nghiên cứu khoa học Tác giả khóa luận trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo và riêng Thạc sĩ Nguyễn Thị Tính, cô luôn nhiệt tình hướng dẫn, giúp tác giả khóa luận hoàn thành đề tài nghiên cứu “Tinh thần khẳng định quốc gia dân tộc trong văn xuôi trung đại Việt Nam thế kỉ X – XIV”
Tác giả khóa luận xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 02 tháng 5 năm 2010
Tác giả khóa luận
Trần Thị Thanh
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của Thạc sĩ Nguyễn Thị Tính và
có tham khảo các bài nghiên cứu của những tác giả khác, tác giả khóa luận đã
hoàn thành đề tài khoa học “Tinh thần khẳng định quốc gia dân tộc trong
văn xuôi trung đại Việt Nam thế kỉ X – XIV”
Tác giả khóa luận xin cam đoan: Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tác giả khóa luận, không trùng với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác
Nếu sai, tác giả khóa luận xin chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 02 tháng 5 năm 2010
Tác giả khóa luận
Trần Thị Thanh
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Nhiệm vụ của đề tài 5
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Đóng góp của khóa luận 6
8 Bố cục của khóa luận 6
NỘI DUNG 7
Chương 1: Những vấn đề chung về lịch sử xã hội, tư tưởng và văn học thế kỉ X – XIV 7
1.1 Những vấn đề chung về lịch sử xã hội, tư tưởng 7
1.1.1 Lịch sử xã hội 7
1.1.2 Tư tưởng thời đại 10
1.2 Những vấn đề chung về văn học thế kỉ X – XIV 11
1.2.1 Lực lượng sáng tác 11
1.2.2 Tác phẩm văn học 12
Chương 2: Tinh thần khẳng định quốc gia dân tộc trong văn xuôi trung đại Việt Nam thế kỉ X – XIV 15
2.1 Khẳng định quốc gia dân tộc trên phương diện nội dung cảm hứng 15
2.1.1 Khẳng định độc lập, chủ quyền 15
2.1.2 Khẳng định văn hiến, văn hóa 21
2.1.2.1 Khẳng định con người Đại Việt tài năng, đức độ 22
2.1.2.2 Khẳng định phong tục tập quán dân tộc 33
Trang 42.1.3 Khẳng định non sông, đất nước giàu đẹp 36
2.1.4 Khẳng định Đại Việt anh hùng, bất khuất 39
2.1.5 Khẳng định tương lai trường tồn của dân tộc 43
2.2 Khẳng định quốc gia dân tộc trên phương diện ý thức nghệ thuật 48
2.2.1 Về văn tự 49
2.2.2 Về thể loại 50
KẾT LUẬN 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Lí do khoa học
Đã có nhiều công trình nghiên cứu, tìm hiểu về văn học Việt Nam như:
Đinh Gia Khánh (chủ biên), Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương, (2006), Văn học
Việt Nam thế kỉ X – nửa đầu thế kỉ XVIII, Nhà xuất bản Giáo dục; Nguyễn
Phạm Hùng, (2001), Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XX, Nhà xuất
bản Đại học Quốc gia Hà Nội; Đoàn Thị Thu Vân (chủ biên), Lê Trí Viễn, Lê
Thu Yến, Lê Văn Lực, Phạm Văn Phúc, (2008), Văn học Trung đại Việt Nam
thế kỉ X đến cuối thế kỉ XIX, Nhà xuất bản Giáo dục; cùng nhiều đề tài nghiên
cứu khác Tuy nhiên, đề tài “Tinh thần khẳng định quốc gia dân tộc trong
văn xuôi trung đại Việt Nam thế kỉ X – XIV” là đề tài tương đối mới mẻ,
chưa có tác giả nào nghiên cứu Đó là động lực thúc đẩy tác giả khóa luận lựa chọn và nghiên cứu đề tài này Đề tài đem đến cho người tiếp nhận cách nhìn
đi vào chiều sâu về phương diện nội dung của văn xuôi trung đại thế kỉ X – XIV Mỗi chúng ta thêm tự hào về truyền thống yêu nước của con người Đại Việt tài năng, đức độ
1.2 Lí do thực tiễn
Văn xuôi trung đại Việt Nam thế kỉ X – XIV có nhiều sáng tác thuộc nhiều thể loại được lựa chọn đưa vào giảng dậy trong các cấp học như:
“Thiên đô chiếu” (Lí Thái Tổ), “Hịch tướng sĩ” (Trần Quốc Tuấn) và nhiều
tác phẩm trong “Lĩnh Nam chích quái lục” (Trần Thế Pháp)… Đề tài “Tinh
thần khẳng định quốc gia dân tộc trong văn xuôi trung đại Việt Nam thế kỉ
X – XIV” được lựa chọn nghiên cứu xuất phát từ thực tiễn đó
1.3 Lí do cá nhân
Văn học thế kỉ X – XIV trải qua sáu triều đại phong kiến tự chủ đầu tiên: Ngô, Đinh, Lê, Lí, Trần, Hồ Đây là nền văn học viết đầu tiên của Việt
Trang 6Nam Nó hình thành và phát triển trong bối cảnh Việt Nam vừa thoát khỏi trên 1000 năm Bắc thuộc Hoàn cảnh lịch sử đó đã tác động trực tiếp tới văn
học Đó là thời kì “nhà nước phong kiến Việt Nam hình thành và phát triển,
với những đặc điểm riêng biệt, vừa mô phỏng Trung Quốc, vừa có bản sắc riêng” [5, 15] Nó có nhiều ưu việt và tích cực Các triều đại phong kiến này
đã có những đóng góp to lớn vào việc “kháng chiến, kiến quốc” Âm vang
của những chiến công chống xâm lược, của những thành tích xây dựng, và của những thành tựu văn hóa to lớn làm cho văn học thời kì này có một dáng
vẻ thật huy hoàng, lộng lẫy
Với những lí do trên, tạo nên niềm say mê trong tác giả khóa luận về một thời kì văn học được đánh giá là mở đầu cho nền văn học Việt Nam
2 Lịch sử vấn đề
Trải qua hơn 1000 năm Bắc thuộc, năm 938 với chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền đã mở đầu thời kì quốc gia độc lập Đó là sự kiện lịch sử trọng đại Tinh thần khẳng định quốc gia dân tộc trở thành một nhu cầu của lịch sử thời đại Đó cũng là nội dung chính của văn học thế kỉ X – XIV Phần
lớn các sáng tác văn học thời kì này có “âm hưởng rất hào hùng, sảng khoái,
siêu thoát, bay bổng Đó là giọng văn của những người anh hùng, của kẻ sĩ quân tử gặp thời và thành đạt, của những người phi thường làm chủ cuộc sống và thời đại Từ văn học Phật giáo thời Lý đến văn học Nho giáo thời Trần, tất cả đều toát lên cái khí phách và tinh thần của một dân tộc hùng mạnh” [5, 67] Những thành tựu văn học thế kỉ X – XIV trở thành đối tượng
nghiên cứu của nhiều công trình khoa học ở bao thế hệ
Nguyễn Hữu Sơn, Trần Đình Sử, Huyền Giang, Trần Ngọc Vương,
Trần Nho Thìn, Đoàn Thị Thu Vân, (1997), Về con người cá nhân trong văn
học cổ Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục; đưa ra một quan niệm chung, một
số khía cạnh lí luận cơ bản; từ đó tiến hành khảo sát qua các hiện tượng tác
Trang 7giả, tác phẩm, giai đoạn văn học tiêu biểu và cả những nguyên tắc chủ yếu chi phối cách thức tư duy về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam Công
trình nghiên cứu khoa học này dành chương ba viết và luận bàn về “Vấn đề
con người trong văn học thời đại Lý – Trần” Như thế nghĩa là, công trình
hướng đến những biểu hiện ở phương diện nội dung của các sáng tác “Văn
học cổ Việt Nam”
Nguyễn Phạm Hùng, (2001), Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ
XX, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội; công trình nghiên cứu được phân
tách thành ba phần Trong chương 1 phần “Văn học Việt Nam cổ Trung đại”, tác giả tập trung khảo sát, phân tích “các loại hình văn học chính” [5,18] của
văn học thế kỉ X – XIV Nghiên cứu hình thức thể loại, tác giả đem đến người tiếp nhận nhiều nhận thức mới về nội dung văn học giai đoạn này Từ kết luận
“Văn học thế kỉ X – XIV chủ yếu mang giọng điệu anh hùng”, tác giả chỉ ra
“con người trong văn học thế kỉ X – XIV thường phổ biến là người đàn ông, những công dân lí tưởng, phi thường Không có con người bình thường, hay tầm thường trong văn học Không có con người cá nhân trong văn học với nghĩa hiện đại của nó Đó là những con người có tâm trạng hào hứng, phấn khởi, siêu thoát, bay bổng Đó là những anh hùng, liệt nữ, những thần, Phật, những vị sư đạo cao đức trọng, những vua chúa, quan lại, nho sĩ,… có dáng vóc kì vĩ, hành động phi thường, chiến công hiển hách Thường là con người chân dung, con người tấm gương dùng để ngợi ca, khẳng định, giáo huấn Con người đó là con người nhất thể, nhất dạng, không mấy khi mâu thuẫn và phức tạp Là con người của tinh thần và ý chí, nguyên tắc và chuẩn mực, có tâm trạng cân đối, hài hòa, thanh cao”[5, 18] Vậy là tác giả Nguyễn Phạm
Hùng nghiên cứu từ góc độ hình thức nghệ thuật đi đến những kết luận về nội dung trong văn học thế kỉ X – XIV
Trang 8Đoàn Thị Thu Vân (chủ biên), Lê Trí Viễn, Lê Thu Yến, Lê Văn Lực,
Phạm Văn Phúc, (2003), Văn học Trung đại Việt Nam thế kỉ X – cuối thế kỉ
XIX, Nhà xuất bản Giáo dục có triển khai luận điểm “Văn học thế kỉ X – XIV
là một nền văn học đậm đà tinh thần dân tộc và chất nhân văn” [12, 36] Bài
viết tập trung phân tích, chứng minh những nội dung nổi bật nhất làm nên những nét cơ bản cho diện mạo của văn học giai đoạn này
Lê Thu Yến (chủ biên), Đoàn Thị Thu Vân, Lê Văn Lực, Phạm Văn
Nhu, (2003), Văn học Việt Nam, Văn học trung đại những công trình nghiên
cứu, Nhà xuất bản Giáo dục có lựa chọn “giới thiệu những bài viết được đánh giá tốt và được xem như tiếng nói thẩm định tiêu biểu về một thời kì văn học” [13, 10] Bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau, các bài viết đi sâu vào nhiều
khía cạnh như: chủ đề, thể loại, ngôn ngữ, hình tượng nhân vật, thời gian – không gian nghệ thuật… giúp người đọc tìm hiểu, khám phá và thưởng thức trọn vẹn cái hay, cái đẹp về cả phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật
mà người xưa đã gửi gắm cho muôn đời qua các tác phẩm văn học trung đại Thành quả của những người đi trước là gợi ý cho người viết khóa luận bàn tiếp, chuyên sâu tìm hiểu Văn học Việt Nam thế kỉ X – XIV
Đề tài nghiên cứu khoa học “Tinh thần khẳng định quốc gia dân tộc
trong văn xuôi trung đại Việt Nam thế kỉ X – XIV” nhằm cung cấp cho
người tiếp nhận cách nhìn cụ thể về lịch sử xã hội, tư tưởng và văn học của một giai đoạn khi đất nước vừa có độc lập chủ quyền Đặc biệt nội dung tinh thần khẳng định quốc gia dân tộc thể hiện đầy đủ trên mọi phương diện: đất nước có chủ quyền, có lịch sử lâu đời, có văn hiến, văn hóa và có tương lai trường tồn Dân tộc Đại Việt dù có ảnh hưởng bởi nhiều luồng văn hóa khác nhau trên thế giới nhưng chúng ta luôn tiếp thu có chọn lọc; Việt hóa văn hóa ngoại sinh và sáng tạo, phát triển văn hóa dân tộc
Trang 93 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu tinh thần khẳng định quốc gia dân tộc trong văn xuôi trung đại Việt Nam thế kỉ X – XIV ở cả phương diện nội dung cảm hứng và ý thức nghệ thuật
Hiểu được những giá trị của các tác phẩm, những đóng góp to lớn mà các tác giả văn xuôi trung đại Việt Nam thế kỉ X – XIV đã đem lại cho nền Văn học Việt Nam nói chung
Nghiên cứu đề tài “Tinh thần khẳng định quốc gia dân tộc trong văn
xuôi trung đại Việt Nam thế kỉ X – XIV” nhằm phục vụ cho việc học tập và
giảng dạy bộ môn Ngữ văn ở các cấp học
4 Nhiệm vụ của đề tài
Làm rõ những nét cơ bản nhất về lịch sử xã hội, tư tưởng và văn học thế kỉ X – XIV
Khẳng định, ngợi ca quốc gia Đại Việt trên tinh thần dân tộc ở phương diện nội dung cảm hứng và ý thức nghệ thuật; từ đó bồi dưỡng lòng yêu nước, quyết tâm gìn giữ độc lập nước nhà cho các thế hệ con người Việt Nam
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tinh thần khẳng định quốc gia dân
tộc trong văn xuôi trung đại Việt Nam thế kỉ X – XIV
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là: Văn xuôi trung đại Việt Nam thế kỉ X
– XIV
Về tư liệu bao gồm: Thơ văn Lý – Trần tập I; Thơ văn Lý – Trần tập II; Thơ văn Lý Trần tập III; và các bài nghiên cứu về văn xuôi trung đại Việt
Nam thế kỉ X – XIV
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả khóa luận sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau đây:
Trang 10- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp so sánh đối chiếu
7 Đóng góp của khóa luận
Về mặt lí luận, hiểu kĩ hơn về giá trị nội dung và nghệ thuật của văn
xuôi trung đại Việt Nam thế kỉ X - XIV Mỗi chúng ta càng thêm tự hào và quyết tâm giữ vững những giá trị của quốc gia dân tộc; phát huy truyền thống yêu nước, kiên quyết chống mọi kẻ thù và khẳng định bản lĩnh dân tộc
Về mặt thực tiễn, đề tài là tư liệu cần thiết cho việc học tập và giảng
dạy môn Ngữ văn ở các cấp học
8 Bố cục của khóa luận
Nhằm tạo nên tính thống nhất cho đề tài nghiên cứu khoa học cùng hướng tới một đối tượng cụ thể, tác giả khóa luận chú ý chia thành ba phần Sau đây là sự phân định cụ thể:
Phần thứ nhất: Mở đầu
Phần thứ hai: Nội dung, có hai chương
Chương 1: Những vấn đề chung về lịch sử xã hội, tư tưởng và văn học
thế kỉ X – XIV
Chương 2: Tinh thần khẳng định quốc gia dân tộc trong văn xuôi trung
đại Việt Nam thế kỉ X – XIV
Phần thứ ba: Kết luận
Trang 11NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LỊCH SỬ XÃ HỘI, TƯ TƯỞNG VÀ
từ năm 939, Ngô Quyền xưng vương dựng nước đến năm 1414, nước ta rơi vào ách thống trị của nhà Minh Gần năm thế kỷ cũng là thời gian diễn ra sự hưng vong của sáu triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ Chế đé phong kiến Việt Nam dần dÇn ổn định dưới triều Ngô, Đinh, Tiền Lê; đến thời Lý - Trần, nhà nước phong kiến được xây dựng ngày càng lớn và vững vàng Vì
vậy, các thế kỷ X, XII, XIII, XIV là “giai đoạn đại phục hưng và phát triển
của dân tộc về mọi mặt” [12, 34]
Thế kỉ X – XIV, dưới triều đại Lý – Trần, Đại Việt đã diễn ra công
cuộc xây dựng quốc gia phong kiến dân tộc độc lập vµ phục hưng văn hóa
Về kinh tế, các triều vua đều khuyến khích phát triển nông nghiệp: Nhà
Đinh, TiÒn Lê, Lý và đầu đời Trần; bên cạnh đất công điền, công thổ tức là
bộ phận chủ yếu của ruộng đất trong toàn quốc; những đại điền trang của triều đình, quý tộc cùng ruộng đất của nhà chùa cũng chiếm phần quan trọng Ruộng đất tư hữu của tiểu nông, địa chủ từ đời Lý trở đi tuy chưa nhiều nhưng cũng ngày càng tăng nhanh
Triều Lê Hoàn có lễ cày ruộng tịch điền, thể hiện sự coi trọng nghề nông: cứ đầu năm, vào tháng Giêng, vua đích thân cày đường cày đầu tiên
Trang 12Nhà Lý - Trần, chú ý đến vấn đề bảo vệ ruộng đất, chống lũ lụt: Năm 1118, Vua Lý cho đắp đê Cư Xá; từng bước phát triển, củng cố hệ thống các sông, đặc biệt là sông Nhĩ Hà; mở rộng diện tích canh tác, khuyến khích việc khai
hoang; ban hành chính sách “ ngụ binh ư nông” nhằm đảm bảo yêu cầu sẵn
sàng chiến đấu khi có giặc ngoại xâm, thúc đẩy nông nghiệp phát triển
Cùng với nông nghiệp, các nghành thủ công nghiệp như: nông cụ, vải lụa, vật liệu xây dựng, đồ gốm, đồ sứ… cũng phát triển tạo đà cho thương nghiệp đi lên, các thương khẩu nổi tiếng: Vân Đồn (Quảng Ninh),Vĩnh Bình, Nghi Hòa đình ( Cao – Lạng) là nơi diễn ra việc mua bán giữa dân ta với nước ngoài
Nhìn chung, nền kinh tế nước ta ở thế kỷ X – XIV đã đạt đến trình độ phát triển nhất định, tạo cơ sở vật chất đảm bảo cho công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thắng lợi và xây dựng nhà nước vững mạnh Cuộc sống nhân dân tương đối ổn định
Về chính trị, trong cơ cấu chính quyền, giai cấp phong kiến trước hết
bao gồm quý tộc, tăng lữ Địa chủ thứ dân (tức là không thuộc dòng dõi quý tộc) là tầng lớp dưới của giai cấp đó Từ thế kỷ X – đầu thế kỉ XIII, triều đình chủ yếu dựa vào quý tộc, tăng lữ để thống trị; đồng thời tìm cách hạn chế bớt thế lực của hai tầng lớp ấy nhằm củng cố chính quyền trung ương Các đời Đinh, Tiền Lê, Lý và đầu đời Trần, tăng lữ tham gia chính sự; giữ chức chưởng quan trọng ở triều đình bên cạnh quý tộc Quý tộc, tăng lữ rõ ràng là hai bộ phận khăng khít của giai cấp phong kiến trong thời kỳ này Từ cuối đời
Lý sang đời Trần; địa chủ lại chiếm ưu thế, vì thời kỳ này tính chất trung ương độc quyền cao hơn Đến cuối đời Trần, giai cấp địa chủ đã giữ được những vị trí quan trọng trong triều đình
Nếu giai cấp phong kiến gồm quý tộc, tăng lữ thì quần chúng nhân dân
trước hết là “nông dân tự do” – người lĩnh canh công điền, công thổ (một số
Trang 13ít có đôi chút ruộng đất) cùng nông nô ở các điền trang của nhà nước, quý tộc, tăng lữ Ngoài ra còn có thợ thủ công, lái buôn; họ xuất hiện khi nghề thủ công , thương nghiệp buôn bán phát triển
Cùng với cơ cấu chính quyền, nhà nước tiến hành khôi phục lại quốc
hiệu, định lại kinh đô
Về mặt tổ chức quân đội, dưới triều đại nhà Lý, quân đội từ trung ương
tới địa phương có những nguyên tắc, quy định rất nghiêm ngặt Ở trung ương
có quân đội chính quy thường trực; toàn dân là lính dự bị và toàn thể quân đội
đều có chữ “thiên tử quân”; vua chú ý đến việc thưởng người có công, phạt
người mang tội Về luật pháp, triều đình từng bước xây dựng: Ở thời kỳ đầu, chưa có luật pháp cụ thể, vua xử người có tội theo ý muốn của mình; đến thời
Lý đã ban hành Bộ luật Hình Thư (1042)
Về văn hóa – giáo dục, đất nước độc lập là điều kiện thuận lợi để văn
hóa dân tộc phát triển mạnh mẽ Triều đình có nhiều cố gắng khôi phục phong tục, tập quán, tín ngưỡng dân gian và phát huy những giá trị vốn có của văn hóa dân tộc nhằm xây dựng một nền văn hóa cởi mở, đậm đà bản sắc dân tộc
Các triều vua cho xây dựng nhiều lâu đài, cung điện, thành lũy, đền thờ (anh hùng dân tộc, thần linh), nhiều nhất là chùa tháp; Tháp Báo Thiên, Chuông Quy Điền, Tượng phật Chùa Quỳnh Lâm, Đỉnh Phổ Minh, Chùa Diên Hựu (chùa Một Cột), lăng mộ nhà Trần, thành nhà Hồ, Hoàng thành Thăng Long,… là những công trình kiến trúc có nghệ thuật độc đáo
Trong thời kỳ đầu, giáo dục chưa có quy mô lớn, chưa có những cuộc thi thử nhân tài, chỉ dựa vào việc tiến cử, nhận cử; đến đời Lý - Trần, chính sách giáo dục được tổ chức chặt chẽ và có hệ thống: nội dung giáo dục, học
Tứ thư (Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh tử), Ngũ kinh (Kinh thư, Kinh
lễ, Kinh dịch, Kinh xuân thu, Kinh thi)
Trang 14Cùng với công cuộc xây dựng quốc gia phong kiến dân tộc độc lập
phục hưng văn hóa là công cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc Đây là
giai đoạn rực rỡ của những chiến thắng chống quân xâm lược, hai lần chiến thắng quân Tống và ba lần đánh bại quân Nguyên - Mông
Hòa bình kéo dài không quá một thế kỷ, khoảng giữa thế kỷ XI; nước Đại Việt có nguy cơ bị phong kiến Trung Hoa xâm lược Với ý chí kiên quyết, nhà Lý chuẩn bị cuộc kháng chiến với tinh thần chủ động, sẵn sàng Cuối năm 1076, quân Tống kéo sang xâm lược nước ta Quân dân nhà Lý đã phá tan mộng tưởng xâm lược của nhà Tống trên phòng tuyến sông Cầu (dài khoảng 30m, từ bến đò Như Nguyệt đến núi Nham Biền)
Nhà Trần ra đời, tiếp tục công cuộc xây dựng đất nước: Năm 1257, chúa Mông Cổ cho quân ồ ạt tiến công xâm lược nước ta; năm 1258 nhà Trần thắng giặc, cổ vũ cả dân tộc trong cuộc sống mới Quân dân nhà Trần tiếp tục giành thắng lợi trước hai cuộc xâm lược của nhà Nguyên năm 1285 và 1288
Khi vương triều Trần suy thoái, nhà Hồ thay thế và tiến hành nhiều cải cách có tính chất định hướng cho tương lai đất nước, nhưng giữa lúc đó, nhà Minh kéo quân sang xâm lược nước ta Gần năm thế kỷ giành và giữ gìn độc lập, đến đây nước ta một lần nữa rơi vào tay phong kiến Trung Hoa đô hộ
Như vậy, từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV, các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê,
Lý, Trần, Hồ hết hưng lại phế, họ này thay họ kia làm vua Xã hội trải qua những phen biến động, khủng hoảng; nhưng nói chung chế độ phong kiến dân tộc còn có vai trò lãnh đạo sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước
1.1.2 Tư tưởng thời đại
Nhà nước sử dụng Nho - Phật - Đạo để xây dựng thành hệ tư tưởng
“đa tôn giáo hòa đồng” Trong thời kỳ đầu, nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý; tư
tưởng Phật giáo gần như độc tôn Cuối đời Lý, đầu triều Trần; Nho giáo dần thay thế Phật giáo kéo theo đó là sự nhường bước của tăng lữ Vì vậy, từ thời
Trang 15Lý, Nho học bắt đầu được đề cao; Năm 1070, Lý Thánh Tông lập Văn Miếu ở
Thăng Long; Năm 1075, vua Lý Nhân Tông mở khoa thi “Nho học tam
trường” đầu tiên; Năm 1076, chọn những quan chức biết chữ cho vào học ở
Quốc Tử Giám Nho giáo được chú trọng trong quan hệ dung hòa với Phật giáo và Đạo giáo Phật giáo ở thời Lý được coi là quốc giáo, nó truyền bá rộng rãi trong đời sống xã hội và in ấn trên mọi lĩnh vực văn hóa dân tộc Thời Trần vẫn tổ chức các khoa thi Tam giáo Từ năm 1232, bắt đầu mở khoa thi Nho học Lực lượng trí thức được đào tạo theo Nho học ngày càng đông Nho giáo đẩy lùi ảnh hưởng của Phật giáo, chiếm dần địa vị quốc giáo
Như vậy, ba hệ tư tưởng Phật, Đạo, Nho ở mỗi triều đại có những địa vị khác nhau nhưng đều được giai cấp thống trị dùng để hỗ trợ, ủng hộ vương quyền bằng phương pháp dung hòa giữa Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo 1.2 Những vấn đề chung về văn học thế kỷ X - XIV
Lịch sử - xã hội giai đoạn thế kỷ X – XIV có nhiều biến động lớn lao Những thăng trầm tác động mạnh đến văn học Thời đại đặt ra những yêu cầu mới, làm nên một giai đoạn văn học có diện mạo riêng, đặc điểm riêng
1.2.1 Lưc lượng sáng tác
Đến thời Lý, nước ta thực sự có một nền văn học viết khá đặc sắc Ngoài một số tác giả thuộc tầng lớp vua quan như: Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông,
Lý Nhân Tông, Lý Thường Kiệt, Đoàn Văn Khâm,… lực lượng sáng tác chủ
yếu là các nhà sư.“Thiền uyển tập anh ngữ lục” thống kê có khoảng trên 40
nhà sư sáng tác thơ văn thời bấy giờ như: Vạn Hạnh, Viên Chiếu, Không Lộ, Mãn Giác, Quảng Nghiêm,…
Đến thời Trần, Phật giáo tuy vẫn được đề cao nhưng đã dần nhường bước cho Nho giáo Giáo dục thi cử phát triển theo Nho học làm xuất hiện ngày càng đông đảo lực lượng trí thức mới trong xã hội Họ trở thành lực lượng chính sáng tác văn học Tầng lớp nho sĩ chiếm số lượng đông đảo nhất
Trang 16trong lực lượng sáng tác văn học thế kỷ X – XIV Ngoài ra, một số tăng lữ cùng số ít thuộc tầng lớp vua quan cũng tham gia sáng tác Như vậy, so với đời Lý, lực lượng sáng tác của văn học đời Trần có sự khác biệt Lực lượng sáng tác thay đổi dẫn đến sự biến đổi về diện mạo của văn học thời này
1.2.2 Tác phẩm văn học
Về văn tự, sau thế kỷ X, đất nước độc lập nhưng Hán học vẫn giữ vị trí
quan trọng Chữ Hán dùng làm văn tự chính thức của nhà nước Văn học chữ Hán được coi là chính thống, là bộ phận chủ yếu Đến thời Trần đã khởi phát phong trào dùng chữ Nôm sáng tác văn học Đây là cuộc cách mạng văn tự, là
“cái mốc lớn trên con đường tiến lên của lịch sử”[10, 49] thể hiện ý chí tự
cường của nước Đại Việt trong việc xây dựng nền văn học dân tộc
Ngôn ngữ văn học thế kỷ X – XIV nói riêng, ngôn ngữ văn học trung đại nói chung là ngôn ngữ đa ngữ nghĩa, đa chức năng, mang tính chất cao nhã
Đó là hình thức ngôn ngữ bác học, trang nhã, mang tính quy phạm, hàm súc
Về thể loại văn học, thế kỷ X – XIV xây dựng được hệ thống thể loại văn
học gồm: chiếu, hịch, truyện ký, phú, thơ,… với nhiều sáng tác có giá trị; xứng đáng là giai đoạn mở đầu nền văn học dân tộc, tạo đà cho văn học phát triển ở những giai đoạn tiếp theo
Văn học đời Lý, nổi bật là một số bài văn bia như: “Văn bia chùa Linh
Xứng núi Ngưỡng Sơn”, “Văn bia chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh” (Pháp
Bảo), “Văn bia tháp Sùng Thiện Diên Linh” (Nguyễn Công Bật) Có các văn
bản chiếu: “Chiếu dời đô”(Lí Thái Tổ), “Chiếu nhường ngôi”(Lí Chiêu Hoàng) Về văn chép sử, thời Lý có “Ngoại sử ký” của Đỗ Thiện và những bộ
“Ngọc điệp” nhưng đã thất truyền
Văn học đời Trần phong phú về thể loại, bao gồm chủ yếu những sáng
tác bằng chữ Hán “Hịch tướng sĩ” của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là
tác phẩm chính luận mẫu mực, kết tinh tinh thần yêu nước của học phong
Trang 17Đông A Về văn chép sử, thời Trần xuất hiện những bộ sử tương đối quy mô
như: “Đại Việt sử ký” (Lê Văn Hưu), “Đại Việt sử lược” (Khuyết danh) Truyện văn xuôi chữ Hán đời Trần, gồm các tác phẩm : “Thiền uyển tập anh
ngữ lục”, “Tam tổ thực lục” (khuyết danh), “Việt điện u linh tập” (Lí Tế
Xuyên), “Lĩnh Nam chính quái lục” (Trần Thế Pháp), “Nam ông mộng lục”
(Hồ Nguyên Trừng),…
Tác phẩm truyện ký thời Trần còn lại không nhiều, các tác giả tuy chủ yếu làm việc ghi chép lại những truyện vốn lưu truyền trong dân gian nhưng góp phần quan trọng vào sự phát triển của thể loại văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại
Tóm lại, văn học giai đoạn thế kỷ X – XIV hình thành, phát triển trong bối cảnh phục hưng của đất nước, dân tộc và văn hóa Đại Việt Số lượng tác phẩm còn lại không nhiều nhưng đã cho thấy diện mạo phong phú về nội dung, nghệ thuật; là bằng chứng về một trong những thời đại huy hoàng của quốc gia Đại Việt và nền văn hóa dân tộc
Về nội dung chính, Văn học thế kỷ X – XIV nổi bật ba nội dung chính:
Những sáng tác mang cảm hứng tôn giáo, những sáng tác mang cảm hứng về thiên nhiên và những sáng tác mang cảm hứng yêu nước Mỗi nội dung có những đặc trưng, thể hiện ở các phương diện khác nhau nhưng tựu chung lại, văn học thế kỷ X – XIV khẳng định độc lập, chủ quyền; văn hiến, văn hóa dân tộc; khẳng định non sông, đất nước giàu đẹp; Đại Việt anh hùng, bất khuất và có tương lai trường tồn Cảm hứng chủ đạo trong Văn học Việt Nam thế kỉ X – XIV là cảm hứng ngợi ca, tán dương, khẳng định
Văn học thế kỷ X – XIV thể hiện rõ rệt tính chất “văn sử triết bất
phân” Nhiều văn bản tác phẩm văn học không chỉ có giá trị văn học, mà còn
có giá trị sử học và triết học Văn học gắn bó với cuộc sống, trở thành một bộ phận của cuộc sống; trực tiếp tham gia vào các hoạt động xã hội, phục vụ các
Trang 18nhiệm vụ mà cuộc sống đòi hỏi trong đấu tranh giành độc lập, xây dựng đất
nước Nó là “văn học chức năng”
Có thể nói, văn học thế kỷ X – XIV là nền văn học cao nhã, trang trọng, phản ánh đời sống tinh thần của tầng lớp trên, miêu tả đời sống bên trên của con người.Văn học không chỉ là sản phẩm của tình cảm, tâm hồn; văn học còn là sản phẩm của tinh thần và ý chí, tư tưởng và giáo lý Văn học chủ yếu
đề cập tới những vấn đề lớn lao của sơn hà, xã tắc, tới đời sống cộng đồng, ít
chú ý tới cái cá nhân, cá biệt, riêng tư “Nó là văn học hướng thượng, văn học
hướng tới đời sống sang quý trong tinh thần con người” [5, 66]
Trang 19CHƯƠNG 2 TINH THẦN KHẲNG ĐỊNH QUỐC GIA DÂN TỘC TRONG VĂN
XUÔI TRUNG ĐẠI VIỆT NAM THẾ KỈ X – XIV
Văn xuôi trung đại Việt Nam thế kỉ X – XIV nói riêng, thời trung đại nói chung chủ yếu viết bằng chữ Hán; chữ Hán không chỉ là một bộ phận cấu thành văn học dân tộc mà còn là ảnh xạ phản chiếu trình độ tư duy nghệ thuật của nền văn học đã sản sinh ra nó Với giọng điệu anh hùng là chủ yếu, tinh thần khẳng định quốc gia dân tộc là một trong những nội dung cơ bản của văn xuôi trung đại Việt Nam thế kỉ X – XIV, toát lên khí phách và tinh thần của một Đại Việt hùng mạnh, trường tồn
2.1 Khẳng định quốc gia dân tộc trên phương diện nội dung cảm hứng
PGS.PTS Nguyễn Đăng Na nhận xét: Về nội dung, văn xuôi thế kỉ X – XIV chủ yếu tËp trung khẳng định nước Việt là một quốc gia độc lập trên các bình diện: Có lịch sử lâu đời, có chủ, có quyền và có tương lai trường tồn Hai
nội dung đầu thể hiện khá đầy đủ trong “Lĩnh Nam chích quái lục” (Trần Thế Pháp), “Ngoại sử kí” (Đỗ Thiện), phần “Ngoại kỉ” sách “Đại Việt sử kí” (Lê Văn Hưu)… Nội dung thứ ba có trong tất cả các tác phẩm, đặc biệt là “Thiền
uyển tập anh ngữ lục”, “Tam tổ thực lục”, “Việt điện u linh tập”…
“Đất Việt đâu đâu cũng có anh tài Nhân kiệt, địa linh, hạo khí của núi sông là những yếu tố đảm bảo cho tương lai dân tộc, là điểm tựa tinh thần để dân tộc vượt qua những cơn hiểm nghèo Một đất nước như vậy, không một thế lực nào có thể xâm phạm được Đó là nội dung nổi bật của văn xuôi tự sự Việt Nam thế kỉ X – XIV” [9, 23]
Trang 202.1.1 Khẳng định độc lập, chủ quyền dân tộc
Văn xuôi trung đại Việt Nam thế kỉ X – XIV tuy hầu hết được viết bằng chữ Hán nhưng chúng phản ánh khá chân thật và sinh động đời sống
cùng những ước mơ, nguyện vọng, tâm tư tình cảm của người Việt “Ở đó
vừa có những trang thấm đẫm nước mắt với những số phận bi thương, vừa có những trang hoành tráng với khí thế trúc chẻ tro bay đánh tan mọi thế lực xâm lược” [9, 15], khẳng định Đại Việt là quốc gia có độc lập, chủ quyền
Tiêu biểu là truyện Họ Hồng Bàng, trích trong Lĩnh Nam chích quái
lục (Trần Thế Pháp) “Hồng” và “Bàng” ở đây xết về nghĩa đen đều chỉ một
cái gì rất to lớn “Họ Hồng Bàng” có thể hiểu là dòng họ lớn nhất, bao trùm
nhất đối với dân tộc Việt Nam thời cổ Truyện kể về Viêm đế Minh là cháu ba đời của Viêm đế họ Thần Nông Viêm đế Minh lấy vợ sinh ra Lộc Tục, làm vua phương Nam Khi lên ngôi, Lộc Tục xưng là Kinh Dương Vương, đặt tên nước là Xích Quỷ Lộc Tục sinh ra Sùng Lãm, lấy tên là Lạc Long Quân Sùng Lãm lấy vợ là Âu Cơ, đẻ ra một bọc trăm trứng, trăm con Lạc Long Quân đem năm mươi con xuống biển, Âu Cơ đưa năm mươi con lên non Người con cả làm vua lấy tên là Hùng Vương
Thủy tổ của nước ta là Kinh Dương Vương (khoảng năm 2879 trước công nguyên) Dân tộc ta có lịch sử từ lâu đời, nước ta là nước có ranh giới,
bờ cõi: “Âu Cơ cùng năm mươi người con ở Phong Châu, tự suy tôn người tài
giỏi đứng đầu làm chủ, hiệu là Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang Nước Văn Lang, phía Đông giáp Nam Hải, phía Tây sát Ba Thục, phía Bắc đến hồ Động Đình, phía Nam tiếp giáp nước Hồ Tôn Hùng Vương chia nước thành mười lăm bộ là các bộ Giao chỉ, Chu Diên, Ninh Sơn, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Quế Dương, Vũ Ninh, Y Hoan, Cửu Chân, Nhật Tam, Chân Định, Quế Lâm, Tượng Quận; rồi sai các em chia nhau coi giữ, đặt ra tướng võ, tướng văn Tướng văn gọi là Lạc hầu, Tướng võ gọi là Lạc
Trang 21tướng; con trai vương gọi là quan lang, con gái vương gọi là Mị nương; quan cai quản gọi là Bồ chính, bề tôi gọi là Mão; nô lệ gọi là Xảo, gọi bề tôi là Khôi, đời đời cha truyền con nối gọi là Phụ đạo, các đời truyền ngôi đều gọi
là Hùng Vương mà không thay đổi” [9, 131]
Người đất Bắc, kẻ nước Nam “Tôi thuộc loài Rồng, đứng đầu thủy tộc
Nàng thuộc loài Tiên, người trên mặt đất… hai khí âm dương hợp lại” [9, 131]; hình thành nước Văn Lang có các bộ, có người coi giữ, có tướng
văn, tướng võ cùng các vương xây dựng bảo vệ đất nước Như vậy Họ Hồng
Bàng có giá trị khẳng định độc lập, chủ quyền dân tộc
Yêu nước, tự hào dân tộc, lạc quan tích cực là xu hướng nổi bật nhất,
làm nên những nét cơ bản cho diện mạo văn học thế kỉ X – XIV “Để giành
lại được chủ quyền, dân tộc đã phải trả một giá đắt bằng bao nhiêu xương máu đã đổ trong nhiều thế hệ, do đó khi nước nhà được giải phóng, trong văn học bừng dậy một ý thức khẳng định độc lập chủ quyền và xây dựng đất nước
tự chủ, tự cường mạnh mẽ” [12, 37] Tinh thần này biểu hiện tràn đầy trong
văn kiện chính trị quan trọng đồng thời là tác phẩm văn học Chiếu dời đô (Lý Công Uẩn)
Lý Công Uẩn (974 – 1028), vị vua khai sáng ra triều Lý, người làng Cổ Pháp, nay thuộc làng Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh Năm 1009, ông được triều thần ủng hộ lên ngôi vua Năm 1010, với hoài bão mở mang nghiệp lớn,
Lý Công Uẩn viết Thiên đô chiếu (Chiếu dời đô) nói rõ ý định dời đô từ Hoa
Lư ra thành Đại La Đây là sự kiện lịch sử chính trị hết sức quan trọng, chứng
tỏ sự trưởng thành của nhà nước phong kiến Việt Nam Bài Chiếu vừa là văn
kiện chính trị có ý nghĩa lịch sử to lớn, vừa là áng văn chương quý giá thể
hiện lòng yêu nước và tự hào dân tộc Chiếu dời đô phản ánh ý chí lớn lao và
niềm tự tin của Lý Thái Tổ vào sức mạnh, tương lai phát triển của quốc gia
Trang 22độc lập tự chủ, đồng thời cũng thể hiện ý chí tự cường dân tộc, khẳng định độc lập chủ quyền đất nước
Hoàng Xuân Hãn tìm thấy trong “Tục tư trị thông giám trường biên”
của Lí Đảo đời Tống những lời trao đổi của Lê Văn Thịnh với sứ nhà Tống:
“Chánh sứ Thành Trạc nói: Về phía Nam của mười tám xứ Thượng Điện, Hạ Lôi, Ôn Nhuận, Anh, Dao, Vật Dương, Vật Ác, Kế Thành, Cống, Lục, Tần, Nhậm, Động, Cảnh, Tư, Kỳ, Kỷ, Huyện sẽ vạch một địa giới, xem đó là đất của bản tỉnh Kẻ bồi thần tiểu tử này chỉ biết đúng mệnh thì nghe chứ không dám tranh chấp Thế nhưng, những đất mà họ Nùng đã nộp quý quốc thì đều
là đất thuộc sứ Quảng Nguyên nước tôi Ngày nay, may gặp thánh triều, muôn vàn chính sự đương được rộng mở, vậy thì còn tiếc gì mấy miếng đất cằn cỗi lam chướng ấy, mà không đem trả lại nước tôi, để làm chỗ dựa cho kẻ
bề tôi bên ngoài” [1, 295]
Lê Văn Thịnh người đất Đông Cứu, huyện Yên Định, lộ Bắc Giang Là người đỗ trạng nguyên khoa thi Nho học đầu tiên ở nước ta, mở năm 1075 Năm sinh và năm mất của ông đều chưa rõ Năm 1084 dưới đời Lý Nhân Tông (1072 – 1128), ông được cử làm chánh sứ cùng Nguyễn Bồi tới trại Vĩnh Bình tiếp tục thương nghị việc biên giới, đòi nhà Tống trả lại các miền Vật Dương, Vật Ác thuộc châu Quảng Nguyên; trước đấy họ Nùng đã đem nộp để hàng Tống Sau khi trở về, ông được cất lên chức Thái Sư, mười hai năm liền giữ chức đó Bức thư gửi cho viên Kinh lược Quảng Tây là Hùng Bản cùng những lời biện luận với phái bộ nhà Tống tại hội nghị Vĩnh Bình của Lê Văn Thịnh góp phần khẳng định độc lập, chủ quyền dân tộc
Thư gửi Hùng Bản (Ký Hùng Bản thư) có lẽ chỉ là một trích đoạn do
Lê Văn Thịnh gửi viên Kinh lược Quế Châu Hùng Bản, trong khi ông đang cầm đầu phái bộ nhà Lý ở Hội nghị Vĩnh Bình lần thứ hai, năm Giáp Tý (1084) Hội nghị này do nhà Tống chủ động đề nghị mở sau chiến thắng oanh
Trang 23liệt của Lý Thường Kiệt, nhằm thương nghị về việc trả tù binh cho Tống cùng vấn đề biên giới Bên ta, đến hội nghị với mục đích đòi lại hai động Vật Dương, Vật Ác họ Nùng đã mang nộp Tống Trước đấy một năm, phái bộ Đào Tông Nguyên cũng đã đến hội nghị để bàn nhưng chưa đi tới kết quả Sau vì tình hình căng thẳng, Đào Tông Nguyên phải bỏ hội nghị ra về Hội nghị lần thứ hai này bắt đầu từ tháng Sáu âm lịch đến tháng Tám âm lịch, cũng vẫn căng thẳng như trước, đến nỗi nhà Tống phải có mật lệnh cho các vùng biên giới tập trung quân đề phòng Lê Văn Thịnh không tán thành thái
độ cố chấp của phái bộ nhà Tống, không muốn trả lại đất đai cho ta Biết rằng cãi nhau với người đứng đầu phái bộ Tống là Thành Trạc cũng vô ích, nên ông đã thay đổi sách lược, gửi cho Hùng Bản là kẻ cầm quyền ở cấp cao hơn một bức thư với lời lẽ khiêm nhường, thuyết phục thêm bọn chúng Nhưng cuối cùng nhà Tống vẫn ngoan cố, không chịu trả hết những đất đã xâm chiếm Mặc dù vậy, những đối đáp của Lê Văn Thịnh với phái bộ Tống trong
hội nghị Vĩnh Bình (1084) mà sách “Tục tư trị thông giám trường biên” đã
ghi được vẫn chứng tỏ quan điểm nhất quán và thái độ cứng rắn của Lê Văn
Thịnh trong hội nghị này nhằm khẳng định độc lập, chủ quyền Đại Việt: “Có
người nói, đất đai nào trước đây quân nhà vua đã đánh chiếm thì nên trả lại cho Đại Việt, còn những đất đai mà bọn lại mục của họ tự ý đem dâng nộp để theo ta thì khó lòng trả lại Văn Thịnh cho rằng, đất có chủ, bọn thuộc lại giữ đất đem dâng nộp và trốn đi, đất ấy thành vật ăn trộm của chủ Coi giữ đất cho chủ lại tự ý lấy trộm tất không tha thứ được; ăn hối lộ, tàng trữ của ăn trộm, pháp luật cũng không dung Huống chi, bọn chúng lại có thể làm nhơ bẩn cả sổ sách của quý tỉnh hay sao?” [1, 297]
Vào các triều vua đầu nhà Lý, biên giới phía Bắc là một vấn đề luôn luôn được đặt ra Các tù trưởng cai quản đất đai các châu, quận, miền biên giới này mỗi khi có xích mích với triều đình nhà Lý, hoặc bị các thủ lĩnh vùng
Trang 24Lưỡng Quảng (Trung Quốc) xui dục, thường theo hàng Tống và nộp luôn cho Tống phần đất dưới quyền trông coi của mình Động Vật Dương là đất Nùng Tri Hội đem nộp Tống vào năm 1064 (nhà Tống bèn đổi tên là Qui Hóa) Động Vật Ác là đất Nùng Tông Đán đem nộp Tống năm 1057 cùng các động Lôi Hỏa, Kế Thành, Ôn Nhuận (Nhà Tống bèn đổi tên là Châu Thuận An) Hai động này ở phía Tây Bắc Cao Bằng ngày nay Sau khi đã đổi tên, nhà Tống còn khôn ngoan sát nhập chúng vào các Châu Trấn An và Quy Thuận Chống lại âm mưu đó, Lý Nhân Tông đã nhiều lần dùng đường lối ngoại giao mềm dẻo hoặc cứng rắn để đòi Tống phải trả lại đất cho nước mình Tống Thần Tông tất nhiên không chịu trả Lý Thường Kiệt bèn sai châu mục Châu Thượng Nguyên (vùng Bắc Cạn) là Dương Thọ Văn đem quân đánh châu Quy Hóa và toan đánh vào châu Thuận An Bởi vậy, năm 1083 – 1084 mới có cuộc đàm phán của Tống và Lý ở Vĩnh Bình Tuy nhiên, hội nghị cuối cùng chưa đạt kết quả như ý định của nhà Lý Khi Tống Triết Tông lên ngôi (1085), Lý Nhân Tông lại viết thư đổi hai động Vật Dương, Vật Ác Tống quyết từ trối, thác cớ vừa nối nghiệp, phải theo mệnh vua trước Vua Lý lại sai Đàm An đem quân vào đánh Tống Ngày mồng hai, tháng Giêng năm Bính Dần (tức ngày 19 tháng Giêng năm 1086), vua Tống gửi thư trách vua
Lý Lý Nhân Tông bèn gửi Biểu đòi hai động Vật Dương, Vật Ác sang Tống,
lần này lời lẽ khéo léo, ôn hòa hơn; song vẫn kiên quyết đòi đất hai động Ông còn vạch rõ ý đồ của Tống định đem chuyện trả đất trước đây để xí xóa việc trước mắt:
“Nước tôi có đất Vật Dương, Vật Ác, gồm hai động và tám huyện, vẫn tiếp liền với phần đất tỉnh Quảng Tây Những đất ấy trước sau đều bị bọn đầu mục thổ dân làm phản, bỏ đi, đem theo về với Trung Quốc Đất Vật Dương thì năm Bính Thìn (1076) bị sát nhập vào đất quý tỉnh; đất Vật Ác thì năm Nhâm Tuất (1082) cũng bị sát nhập và đặt thành ải Thông Khang Mặc dầu đấy chỉ
Trang 25là mảnh đất nhỏ nhưng vẫn khiến lòng tôi đau xót, luôn luôn nghĩ đến cả trong giấc mộng Quả thực tổ tiên tôi xưa kia đã phải đánh dẹp phường tiếm nghịch, xông pha gian nguy, không tiếc tính mạng mới có được đất ấy Nay tôi phận con cháu, đã không kế tục được cơ nghiệp cha ông thì dám đâu dự vào hàng mộ nước phên dậu, cầu lấy cái sống tạm bợ trong chốc lát Năm Giáp Tý (1084), Ti kinh lược Quảng Tây đã vì nước tôi mà tâu bày về triều Tiên triều đã đem đất Túc, Tang gồm hai động và sáu huyện trả lại cho tôi chủ lĩnh Các đất Túc, Tang ấy hiện thuộc nước tôi rồi, chẳng phải là đất mà tôi bày tỏ ở đây Bởi vậy, tôi không dám vâng mệnh May gặp khi bệ hạ lên ngôi, khắp bờ cõi thảy đều đổi mới Vậy kính cẩn nêu đầy đủ trong tờ biểu này để quý quốc nghe biết” [1, 436]
Biểu đòi hai động Vật Dương, Vật Ác, Lý Nhân Tông một lần nữa
khẳng định độc lập, chủ quyền dân tộc
Như vậy, độc lập chủ quyền là một trong những đặc trưng quan trọng
có tính chất đặc trưng cho tinh thần khẳng định quốc gia dân tộc trong văn xuôi trung đại Việt Nam thế kỉ X – XIV
2.1.2 Khẳng định văn hiến, văn hóa dân tộc
Theo chiết tự, “văn” là văn hóa, văn minh, là thư tịch, văn vật; “hiến”
là nhân tài – thành phần ưu tú trong xã hội “Văn hiến là sách vở và nhân vật
tốt trong một đời” [4, 76] Như vậy, khái niệm “văn hiến” thiên về những
giá trị tinh thần và nói đến văn hiến, trước nhất phải nói đến con người Con
người đây là con người hiền (“hiến” có nghĩa là người hiền), không phải là
hiền lành mà là con người dũng mãnh, chiến đấu thắng lợi (hiến tiệp), có kỉ cương, đường lối (hiến chương, hiến pháp); dù hoàn cảnh thế nào đi nữa, cái hùng khí vẫn bộc lộ rõ ràng
“Nước ta từ đời Lý, Trần về sau, đã có tiếng là một nước văn hiến Những văn nhân giỏi trước sau rất nhiều không kể hết được” (Phan Huy Ích)
Trang 26Khẳng định Đại Việt là một nước “văn hiến chi bang” nghĩa là quốc gia dân
tộc được khẳng định, ngợi ca
2.1.2.1 Khẳng định con người Đại Việt tài năng, đức độ
Trước hết, văn xuôi trung đại Việt Nam thế kỉ X – XIV khẳng định,
ngợi ca tài kinh bang tế thế của con người Đại Việt
Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn thể hiện đậm nét hình tượng con người
Đại Việt tài năng, đức độ Chiếu dời đô gắn liền với sự kiện lịch sử – chính trị
hết sức quan trọng của năm 1010 Tác phẩm vừa là văn kiện chính trị có ý nghĩa lịch sử to lớn, vừa là áng văn chương quý giá thể hiện lòng yêu nước và
ý chí tự cường dân tộc, đánh dấu một mốc quan trọng trên bước đường xây dựng quốc gia phong kiến độc lập tự chủ
Động Hoa Lư nay thuộc xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình Đinh Bộ Lĩnh dựng nghiệp ở đây, lên ngôi Hoàng đế Lê Hoàn thay nhà Đinh làm vua, đóng đô ở Hoa Lư Năm 981, Lê Hoàn đánh bại quân xâm lược Tống, đất nước yên bình Lí Công Uẩn lên ngôi vua ở thành Hoa Lư Ông suy ngẫm về vận nước, địa thế của kinh đô Hoa Lư, cuộc sống của muôn dân; chiêm nghiệm về lịch sử và sự nghiệp của hai triều Đinh, Tiền Lê và nhận ra
nơi đây không còn đáp ứng được yêu cầu phát triển mới của đất nước: “Thế
mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tổn, muôn vật không được thích nghi” [1, 229]
Bài Chiếu nhằm khẳng định việc dời đô của vương triều Lí là cần thiết,
cấp bách và tất yếu Đó là một cái nhìn đổi mới, phản ánh tư thế lớn lao của người quản lí một đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ
Chiếu dời đô mang một tầm nhìn xa trông rộng, một tinh thần cẩn
trọng xuất phát từ tấm lòng lo cho hạnh phúc nhân dân, ý thức trách nhiệm
Trang 27trước quốc gia Nó phản ánh ý chí lớn và tâm hồn cao cả của vua Lí Thái Tổ -
đấng “minh quân” triều Lí Tác phẩm vừa là áng văn chính luận súc tích, có
một kết cấu chặt chẽ, lập luận lô gíc, thấu tình đạt lí, giàu sức thuyết phục; vừa là áng văn chương đẹp đẽ, tràn đầy lòng tự tin, tự hào dân tộc, phản ánh khát vọng của nhân dân về một đất nước độc lập, thống nhất, thịnh vượng
Bài Dụ chư tỳ tướng hịch văn (Hịch tướng sĩ) của Trần Quốc Tuấn là lời kêu gọi thiêng liêng, biểu hiện tập trung cao độ nhất tài kinh bang tế thế
của con người Đại Việt Trần Quốc Tuấn (1232 - 1300), tên quen thuộc là Trần Hưng Đạo, người làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường, nay thuộc tỉnh Nam Định Ông là người có học vấn uyên bác, tài kiêm văn võ Ba lần quân Nguyên Mông sang xâm lược nước ta, ông đều hết lòng đánh giặc Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo là một nhà quân sự thiên tài và anh hùng dân tộc lớn lao bậc nhất thời Trần Ông là người rộng lượng, quý trọng người hiền tài Trần Quốc Tuấn còn là một tấm gương về lòng trung nghĩa, đã gạt bỏ mọi hiềm khích riêng để đoàn kết tướng lĩnh, phò vua giúp nước đánh bại kẻ thù xâm lược Như thế, ta thấy rằng tài năng và đức độ luôn là hai mặt song hành trong con người Đại Việt nói chung Trần Quốc Tuấn hiện hữu tài năng của một nhà quân sự, chính trị có tấm lòng khoan dung nhân hòa, yêu nước thương dân sâu sắc Đời Trần Nhân Tông, ông xin về nghỉ ở Vạn Kiếp, nay là
xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương rồi mất ở đấy Hiện nay còn đền thờ Khi ông mất vua Trần đã phong tặng tước Hưng Đạo Đại Vương
Hịch tướng sĩ văn là bài “tựa” (lời nói đầu) cho cuốn “Binh thư yếu lược” do Trần Quốc Tuấn soạn thảo để huấn luyện quân sĩ Sau khi nêu ra
hàng loạt gương hi sinh vì đạo thần chủ trong sử sách nhằm khích lệ lòng trung nghĩa của tướng sĩ, tác giả chỉ ra thực trạng đất nước trước tham vọng
ngông cuồng của quân Nguyên Mông Lũ giặc ngạo mạn, nghênh ngang, “đòi
ngọc lụa”, “thu bạc vàng”, “vét của kho” [2,391] Lời hịch chứa chất sự căm
Trang 28phẫn uất ức đối với quân thù khi tác giả sử dụng những hình tượng ẩn dụ
“uốn lưỡi cú diều mà xỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ” [2, 391] Nhìn thấu dã tâm lũ giặc, ông đau đớn chỉ ra đất nước đang đứng
trước hiểm họa xâm lăng, khác nào “đem thịt mà ném cho hổ đói” [2, 391]
Trần Quốc Tuấn đã bộc bạch với các tướng sĩ dưới quyền nỗi lòng căm thù giặc sâu sắc của mình Nghĩ đến thù nước, ông quên ăn, quên ngủ, lòng đau như bị dao cắt, nước mắt chan hòa Nỗi đau đó dường như quá sức chịu đựng,
lại thường xuyên liên tục Trong ông nỗi uất hận trào lên, “muốn xả thịt lột
da, nuốt gan uống máu quân thù” [2, 391] Đó là sự quyết tâm tiêu diệt kẻ
thù Cuối cùng là một ước nguyện hi sinh mãnh liệt, cao cả “dẫu cho trăm
thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa” [2, 391] Đó là
lời thề tự nguyện, vui lòng xả thân trăm lần, nghìn lần để trả thù nước Lời hịch bi tráng, thống thiết, là tấm lòng chân thành và sắt đá của Trần Quốc Tuấn, tạo nên xúc động mạnh mẽ ở người nghe, người đọc
Lời văn thấu tình đạt lí, thấm sâu vào đường gân thớ thịt người nghe, người đọc Tác giả đã vạch ra hai con đường, hai viễn cảnh cho sự lựa chọn một thái độ sống của nhân dân trong nước bấy giờ Từ đó làm tăng thêm tinh thần đoàn kết, quyết chiến quyết thắng để bảo vệ quyền sống của mỗi người
và quyền tự chủ của đất nước dưới ngọn cờ kháng chiến của nhà Trần
Lo hưởng lạc, sẽ thua giặc, lúc bấy giờ “chẳng những thái ấp của ta
không còn, mà bổng lộc các ngươi cũng mất; chẳng những gia quyến của ta
bị tan, mà vợ con các ngươi cũng khốn; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị giày xéo, mà phần mộ cha mẹ các ngươi cũng bị quật đào; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục, rồi đến trăm năm sau, tiếng dơ khôn rửa, tên xấu còn lưu,
mà đến gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang tiếng là tướng bại trận” [2, 391] Đó là con đường chết, tự hủy diệt Nước mất thì quyền lợi thiết thân
cũng như danh dự của mỗi người đều bị chà đạp Nếu quân sĩ lo rèn tập để
Trang 29đánh thắng giặc thì “chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền, mà bổng
lộc các ngươi cũng đời đời hưởng thụ; chẳng những gia quyến của ta được
êm ấm gối chăn, mà vợ con các ngươi cũng được bách niên giai lão; chẳng những tông miếu của ta sẽ được muôn đời tế lễ, mà tổ tiên các ngươi cũng được thờ cúng quanh năm; chẳng những thân ta kiếp này đắc chí, mà đến các ngươi trăm năm về sau tiếng vẫn lưu truyền; chẳng những danh hiệu ta không
bị mai một, mà họ tên các ngươi cũng được sử sách lưu thơm” [2, 392] Đó là
con đường sống, con đường tồn tại, hạnh phúc và vinh quang Đất nước còn, cuộc sống của chủ tướng và tì tướng cũng được bảo vệ
Bài Hịch kết thúc bằng lời thề đanh thép “giặc với ta là kẻ thù không
đội trời chung” [2, 392] và một mệnh lệnh: phải một lòng quyết tâm rửa nhục
cứu nước nhà Thái độ dứt khoát này có tác dụng tập hợp lực lượng, khẳng định sức mạnh của đội quân vệ quốc Trần Quốc Tuấn viết bài hịch nhằm thống nhất ý chí, tình cảm, sức mạnh, sao cho trên dưới một lòng quyết tâm
giết giặc ngoại xâm Hịch tướng sĩ văn thực sự trở thành hồi kèn xung trận,
giục giã mỗi người xông lên đem thân đền nợ nước Điều đó khẳng định tài năng kinh bang tế thế của con người Đại Việt
Cuối năm Mậu Tuất (938), Kiều Công Tiễn cho người sang Nam Hán xin viện binh; vua Nam Hán muốn nhân dịp này thôn tính nước ta lần nữa, bèn phong cho con là Vạn vương Hoằng Thao làm Giao vương, tiến đánh
Ngô Quyền Trước tình hình đó, Ngô Quyền đã trình bày với tướng tá Dự đại
phá Hoằng Thao chi kế (Bày kế đánh tan quân Hoằng Thao): “Hoằng Thao chỉ là một đứa trẻ ngốc Đem binh từ xa đến, quân lính mỏi mệt sẵn, lại nghe tin Công Tiễn đã chết, không có ai làm nội ứng, thì khí phách đã nhụt trước đi rồi Quân ta đem sức khỏe địch với quân mỏi mệt chắc chắn là phá được Tuy nhiên, chúng có ưu thế về thuyền; nếu ta không tổ chức phòng bị trước thì xu thế được thua chưa thể nắm chắc Nay nếu sai người đem cọc lớn, vạt nhọn
Trang 30đầu, bịt sắt, đóng ngầm trước ở cửa biển; thuyền của chúng sẽ theo nước triều lên mà tiến vào trong hàng cọc; bấy giờ ta sẽ dễ chế ngự Không kế gì hơn kế ấy cả” [1, 119]
Ngô Quyền ở Đường Lâm, huyện Phúc Lộc, Châu Giao; là một tướng tài và là con rể của Dương Đình Nghệ, xuất thân trong một gia đình quý tộc Trong cuộc đấu tranh chống triều đình Nam Hán do Dương Đình Nghệ lãnh đạo nhằm giành độc lập dân tộc vào những năm 930 – 931, ông đã góp một phần công sức rất quan trọng Sau khi đã thắng lợi, Dương Đình Nghệ bèn tự xưng là Tiết độ sứ (931), và cử ông trông coi châu Ái Năm 937, Dương Đình Nghệ bị tên Hào trưởng Châu Phong là Kiều Công Tiễn ám sát Cuối năm
938, Ngô Quyền kéo quân từ châu Ái ra Bắc trị tên phản nghịch Và cũng trong năm này, ông đã lập một chiến công lừng lẫy trên sông Bạch Đằng, quét sạch đội quan Nam Hán do Vạn vương Hoằng Thao, con vua Nam Hán dẫn đầu, dựa vào lời cầu cứu của Kiều Công Tiễn, kéo sang định xâm lược nước
ta lần nữa Hoằng Thao cùng tướng tá bị vùi xuống lòng sông và đội quân tiếp viện của vua Nam Hán mới sang đến nửa đường, nghe tin vội bỏ chạy
Có thể nói, bằng chiến thắng vang dội của mình, Ngô Quyền đã mở ra một trang sử mới mà các triều đại về sau sẽ tiếp tục ghi thêm những chiến công bất hủ Ông xứng đáng được xem là người khởi đầu cho thời kì tự chủ trong lịch sử dân tộc Ngô Quyền không để lại một áng thơ văn nào hoàn chỉnh, nhưng sử sách còn truyền câu nói nổi tiếng của ông trình bày với tướng
tá về kế hoạch tiêu diệt cuộc xâm lăng của Hoằng Thao; khẳng định sự nhạy
bén, ý chí quyết chiến đấu, “biết người biết ta” – không chủ quan, không coi thường địch dù là “một đứa trẻ ngốc” – Hoằng Thao, của Ngô Quyền trong
những ngày đầu dựng xây nền độc lập nước nhà
Dự đại phá Hoằng Thao chi kế (Bày kế đánh tan quân Hoằng Thao)
của Ngô Quyền và Ký Hùng Bản thư (Thư gửi Hùng Bản) do Lê Văn Thịnh
Trang 31gửi viên Kinh lược Quế Châu Hùng Bản cùng với Biểu đòi hai động Vật
Dương, Vật Ác của Lý Nhân Tông thể hiện tinh thần khẳng định độc lập, chủ
quyền dân tộc; đồng thời khẳng định tài thao lược lúc mềm dẻo, lúc kiên quyết trong những kế sách, thư gửi và biểu dâng của con người Đại Việt trước
kẻ thù
Nguyễn Vạn Hạnh tên thực và năm sinh đều chưa rõ, người Châu Cổ pháp, lộ Bắc Giang Từ nhỏ đã học thông tam giáo, đặc biệt rất say mê đạo Phật Năm 21 tuổi, ông đi tu ở chùa Lục Tổ, hương Dịch Bảng và lập thành thế hệ thứ mười hai, dòng Thiền Nam Phương Tuy theo đạo Phật song ông vẫn quan tâm đến những biến cố chính trị, xã hội trong giai đoạn đó Ông đã góp nhiều ý kiến giúp Lê Đại Hành (980 - 1005 ) chống giặc ngoại xâm và dựng nước, sau lại góp phần giúp Lý Công Uẩn lên ngôi (1010) Là một người có cái nhìn nhạy bén về thời cuộc như vậy nên trong thời Tiền Lê ông được vua Lê Đại Hành tôn kính; sang thời nhà Lý càng được triều đình trọng đãi
Khuyến Lý Công Uẩn là lời phát biểu về thời cuộc, thể hiện tài năng
“kinh bang tế thế”- nhìn xa trông rộng của Nguyễn Vạn Hạnh : “Gần đây, tôi thấy lời sấm lạ, biết rằng họ Lý cường thịnh tất dấy nên cơ nghiệp Nay xem trong thiên hạ, người họ Lý rất nhiều nhưng không ai bằng Thân Vệ, là người khoan từ, nhân thứ, lại được lòng dân chúng, mà binh quyền nằm trong tay Người đứng đầu muôn dân chẳng phải Thân Vệ thì còn ai đương nổi nữa! Tôi
đã hơn bảy mươi tuổi rồi, mong được thư thả hãy chết để xem đức hóa của ông như thế nào, thực là sự may muôn năm mới gặp một lần”[1, 216]
Theo “Việt sử lược” và “Đại Việt sử ký toàn thư” thì Khuyến Lý Công
Uẩn là lời sư Vạn Hạnh nói riêng với Lý Công Uẩn vào những năm cuối cùng
của thời Tiền Lê (1008 - 1009), nhân ông đọc được bài thơ sấm xuất hiện ở gốc cây gạo tại hương Diên Uẩn, Châu Cổ Pháp, quê hương của nhà Lý Lúc