Đất nước Việt Nam đang trên đà phát triển lớn mạnh và sự đòi hỏi về năng lực con người càng ngày càng trở thành vấn đề bức thiết mà nhà nước và các doanh nghiệp phải ưu tiên giải quyết.
Trang 1I Đặt vấn đề.
Làm thế nào để sử dụng người Việt một cách tối ưu ?
II Luận chứng.
Đất nước Việt Nam đang trên đà phát triển lớn mạnh và sự đòi hỏi về năng lực con người càng ngày càng trở thành vấn đề bức thiết mà nhà nước và các doanh nghiệp phải ưu tiên giải quyết Người Việt Nam vẫn được các nước khác trên thế giới khen là thông minh giỏi giang, vậy nhưng trong phần lớn các doanh nghiệp, người Việt không thể phát huy hết năng lực của họ, họ làm việc một cách đối phó và thiếu năng động,
Chúng ta sẽ xem xét qua hiện trạng sử dụng lao động ở một số loại hinh công ty tại Việt Nam.hiện nay
Với định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các công ty trực thuộc nhà nước hiện nay đang dần dần được tư nhân hóa bằng cách chuyển đổi loại hình công ty thành công ty cổ phần và phần lớn những thành phần viên chức
từ công ty cũ vẫn tiếp tục công tác trong công ty mới Là một công ty cổ phần với trên 50 % cổ phần thuộc về nhà nước, rõ ràng nhà nước có quyền cao nhất và quyết định phương thức hoạt động cũng như quản lý trong công
ty Những nhân viên ngày xưa hoạt động dưới sự quản lý của nhà nước, thì ngày nay vẫn vậy Có thể lúc này họ sẽ phải để ý hơn và cẩn thận hơn trong hành động của mình, tuy nhiên, vẫn như thế, chữ đối phó vẫn là kim chỉ nam trong phương thức làm việc của họ Kết quả là phần lớn các công ty này vẫn làm ăn trì trệ và khó phát triển
Một ví dụ khác, nhiều tập đoàn kinh tế mạnh trên thế giới thành lập công ty con ở Việt Nam với mục đích lợi dụng giá lao động và chất xám ở Việt Nam dẻ mạt để thu về lợi ích cho họ, tuy nhiên phương thức quản lý của họ không hề thay đổi theo phong cách cùa người Việt mà áp đặt kiểu quản lý của chính họ ở nước ngoài, kết quả là sau vài năm đầu làm ăn có lãi, quãng thời gian tiếp theo đánh dấu một bước đi xuống mạnh do người Việt dần dần thích nghi với phong cách quản lý của họ và quay trở lại để lợi dụng những sơ hở của công ty để thu được lợi ích cá nhân cao hơn
Để đánh giá về công ty tư nhân, một loại hình ngày càng phổ biến ở Việt Nam tôi đưa ra một công ty tư nhân tôi đã từng làm việc , sau đâu là phương thức quản lý và cách mà công ty này dùng người
Doanh nghiệp được đánh giá ở đây là một doanh nghiệp điện tử tư nhân
Phương thức kinh doanh và tổ chức hệ thống.
Phương thức kinh doanh.
Phương thức kinh doanh của doanh nghiệp là mua bán hàng hoá và dịch
vụ điện tử theo yêu cầu
Trang 2 Tổ chức hệ thống.
Doanh nghiệp có khoảng 300 nhân lực , một trung tâm và năm chi nhánh
Chủ doanh nghiệp vừa là giám đốc doanh nghiệp Giám đốc đưa ra các quyết định quan trọng và các quyết định bất thành văn
Dưới giám đốc là giám đốc điều hành, có nhiệm vụ thi hành các công việc liên quan đến giấy tờ, văn bản ( nhận hồ sơ xin việc, thảo hợp đồng, đặt hàng vv…) và quản lý, giám sát hoạt động công việc của các nhân viên trong công ty
Tiếp theo là các phòng ban gồm: kế toán, kỹ thuật, công trình và kinh doanh
Chúng ta quan tâm đến hai ban chính yếu là công trình và kinh doanh Hai ban này chuyên về camera và thiết bị chống trộm
Công trình: Đây là bộ phận có vai trò thực thi các công trình ( lắp đặt hệ thống camera, báo trộm,vv… ), bộ phân được phân thành nhiều nhóm, mỗi nhóm đảm nhận một số công trình nhất định
Trình độ nhân lực: phần lớn không được đào tạo bài bản, thông thường
sử lý công việc trên kinh nghiệm
Kinh doanh: Bộ phận này có vai trò tìm kiếm khách hàng cho doanh nghiệp hoặc trao đổi và thuyết phục khách hàng mà doanh nghiệp nắm bắt được Mỗi cá nhân hoạt động độc lập hoặc liên kết với nhau theo ý muốn riêng mà không có sự tác động từ doanh nghiệp
Trình độ nhân lực: Phần lớn không được đào tạo bài bản, tuy nhiên đều
có khả năng giao tiếp và năng lực thuyết phục tự nhiên
Quản lý và đào tạo.
Quản lý.
Phương châm quản lý là tối thiểu hoá chi phí
Nghĩa là:
- Giảm thiểu bộ máy quản lý
- Giảm thiểu các luật định trên văn bản, chủ yếu do giám đốc quyết định
- Không quan tâm chế độ, phúc lợi Chỉ có tiền lương và thưởng được quy định rõ ràng
- Mệnh lệnh được truyền đạt trực tiếp, nhanh chóng, ít thông qua văn bản
- Công việc cho nhân viên tự tung tự tác, quan trọng là đạt kết quả chấp nhận được
Phương châm quản lý này có thể giảm chi phí nhưng không nâng cao được tính đồng bộ do người quản lý không nắm bắt hết được các hoạt động diễn ra trong doanh nghiệp
Trang 3 Đào tạo
Cũng giống như quản lý, phương châm vẫn là tối thiểu hoá chi phí Các nhân viên mới ( ban công trình ) được đào tạo dưới dạng cho đi theo một nhân viên nhiều kinh nghiệm
Phương pháp này đào tạo nhanh, tốn ít chi phí nhưng nhân viên sẽ không vững kiến thức cơ bản và học theo cả những điều tiêu cực khác
Sự vận hành nói chung của công ty.
Nguồn khách hàng chủ yếu của công ty là do người dân có nhu cầu và tìm kiếm thông tin qua quảng cáo, trên mạng hoặc các bên trung gian; một phần khác là do mối quan hệ của công ty và của các nhân viên kinh doanh Công ty không chủ động tìm hiểu thị trường và đánh giá tiềm năng khách hàng do chi phí tiền bạc và công sức đòi hỏi bỏ ra không nhỏ
Chất lượng dịch vụ không cao, các công trình thường xảy ra hỏng hóc sau khi nghiệm thu một thời gian ngắn Tiến độ thực hiện công trình, như đã bàn luận từ trước, lúc nhanh, lúc chậm, rồi gián đoạn Việc không điều tiết được tiến độ gây ra sự rối loạn khi có nhiều công trình cùng thực hiện và yếu kém trong công tác chăm sóc khách hàng
Mối quan hệ trong công ty thường mang tính đối phó, không có sự liên kết chặt chẽ như trong một hệ thống vững mạnh, ngay cả trong một nhóm cùng làm việc (chủ đề này sẽ được nói đến ở mục sau) Nguyên nhân chủ yếu là do phương thức quản lý thô sơ và không có tính khoa học Và chắc chắn còn do tác động của xã hội, xã hội định hướng người Việt trở thành người có tinh thần tự tôn cao và giỏi đối phó
Như vậy
Đây là một doanh nghiệp không có sự đặc biệt gì trong tổ chức và hoạt động Phương hướng hoạt động là tối thiểu hoá hao phí và chất lượng công việc ở mức độ vừa phải, nhưng vẫn tồn tại tốt trên thị trường là vì xã hội chấp nhận nó
Làm việc nhóm.
Dưới đây là phân tích về công tác tổ chức nhóm của công ty ở trên Công ty quan hệ với nhóm trực tiếp qua nhóm trưởng Nhóm trưởng chịu trách nhiệm với công ty về chất lượng và tiến độ công trình chứ không phải cả nhóm Nhóm trưởng cũng là người duy nhất nhận tiền thưởng trong công ty và sau đó phân chia cho mọi người tuỳ theo nhận định của anh ta về phần đóng góp của họ
Cách tổ chức nhóm của công ty là theo thể thức tập trung quyền lực và nghĩa vụ vào tay một người Cách tổ chức này làm giảm nhẹ gánh nặng cho
Trang 4những người tổ chức ở trên và khích lệ nhân viên phấn đấu thành nhóm trưởng Tuy nhiên, nó lại làm giảm sút sức mạnh tập thể trong nhóm
Dưới đây là ba nhóm người trong bộ phận công trình mà tôi quan sát được:
Nhóm thứ nhất gồm hai người, một người mới vào thiếu kinh nghiệm
và một người có nhiều kinh nghiệm
Nhóm thứ hai gồm hai người có kinh nghiệm tương đương nhau và đã khá thạo việc
Nhóm thứ ba gồm hai người đã có nhiều kinh nghiệm Một người làm lâu năm hơn người còn lại
Nhóm thứ nhất tỏ ra không có mâu thuẫn gì lớn vì người mới vào luôn nhận thức được sự đứng sau của mình và cố gắng tránh mâu thuẫn về mọi mặt để tập trung nâng cao tay nghê của mình
Nhóm thứ hai mâu thuẫn về cái Tôi xảy ra nhiều hơn Hai người tỏ ra khó chấp nhận ý kiến của người kia Họ mâu thuẫn về quyền đứng đầu, mâu thuẫn về cách phân chia công việc
Nhóm thứ ba là nhóm hai người đã có nhiều kinh nghiệm Người làm ít kinh nghiệm hơn tỏ ra không mâu thuẫn về quyền đứng đầu, vì anh ta nhận thức được quyền lợi đi đôi với trách nhiệm Tuy nhiên, mâu thuẫn về ý kiến
và phân chia công việc vẫn xảy ra do người đứng đầu có ý áp đặt suy nghĩ
và đùn đẩy công việc của mình Mâu thuẫn này vẫn không lớn bằng mâu thuẫn về sự phân chia giá trị tiền thưởng Cả hai đều đã có nhiều kinh nghiệm và họ trở nên thực tế hơn , có thể dễ dàng bỏ qua những mâu thuẫn khác ngoài việc phân chia tiền thưởng thoả đáng
Có ba nguyên nhân đưa đến những mâu thuẫn trong nhóm
- Sự tổ chức nhóm không hợp lý của công ty Do công ty quá tập trung quyền lực vào một người và thiếu tôn trọng giá trị của các thành viên khác
- Nhân viên không có kỹ năng làm việc nhóm
Qua đây chúng ta thấy rõ rằng, giáo dục và phương thức quản lý là hai yếu
tố quyết định đến việc chúng ta có sử dụng tối ưu con người trong lao động
và sản suất hay không
III Một số phương pháp luận sai lầm.
Dưới đây chúng ta sẽ đánh giá một số phương pháp giáo dục và quản lý sai lầm
1 Giáo dục.
Phương pháp luận trong giáo dục từ xưa đến nay của chúng ta là đề cao lý thuyết và xem nhẹ thực hành, vì vậy mà chúng ta lựa chọn phương pháp giảng dạy quá thiên về lý thuyết giống như các nước Nga và Pháp
Trang 5Kết quả là, người Việt học lý thuyết rất nặng trong khi lại hời hợt trong thực nghiệm
a Người Việt học lý thuyết.
Lý thuyết: Tổ hợp những ký hiệu, biểu tượng và quy luật
Ý chí dùng để hấp thụ ký hiệu và biểu tượng
Đam mê dùng để hấp thụ quy luật.(‘hấp thụ’ nghĩa là ‘lưu lại’sau khi đã
‘hiểu’ )
Quy luật thường được người học thực hành qua những bài tập mô phỏng những trường hợp đặc trưng xảy ra trong thực tế
Tuy nhiên, khi mà quy luật chỉ được áp dụng vào những trường hợp đặc trưng thì cũng chính là lúc đam mê bị lãng quên Người học hoàn toàn có thể dùng ý chí để ghi nhớ những trường hợp đặc trưng rồi áp dụng lại
Thực nghiệm là kho chứa vô hạn những trường hợp và chỉ trong thực nghiệm, đam mê mới thật sự phát triển và có tác dụng định hướng năng lực Một số minh chứng rõ ràng cho tác dụng của thực nghiệm:
Lập trình là một ngành phát triển bậc nhất ở Việt Nam, có nhiều người giỏi Lý do cũng là vì học lập trình chỉ phải thực hành trên máy và có thể phát huy tối đa năng lực con người
Sinh viên Viêt Nam vô địch các kỳ thi robocom cũng là một minh chứng rõ ràng cho tác dụng của thực nghiệm
Rốt cục: Học lý thuyết mà không có thực nghiệm là sở trường của ý chí
b Người Việt học bằng ý chí và được dẫn dắt bởi ham muốn.
Như đã bàn luận từ trước, sở trường của ý chí là kiểm soát và giới hạn
Nó không thể thay thế cho đam mê trong việc định hướng năng lực, như vậy, tuỳ theo cấp độ của ham muốn ta phân ra làm hai loại người phổ biến:
- Loại người đầu tiên là loại đánh mất phương hướng khi ham muốn thoả mãn các giá trị sống thấp Đánh mất nhận thức về năng lực của mình, ý chí không còn phương hướng, chỉ được sử dụng khi con người cảm nhận được mối hoạ Học đối phó là kết quả rõ ràng nhất
- Loại người thứ hai là loại được dẫn dắt bởi ham muốn thoã mãn một
số giá trị xã hội hoặc cá nhân nào đó Những giá trị này chỉ có thể dẫn dắt được con người nhưng không thể định hướng được năng lực con người Đây
là loại người thành công nhất trong việc học tập của người Việt
Hai loại người này thực chất là một, chỉ khác nhau về cấp độ ham muốn Năng lực điển hình của cả hai sau khi được đào tạo đều là khả năng đối phó trước tác động của hoàn cảnh- một dạng năng lực thích nghi- Một yếu điểm của cả hai loại sau khi đào tạo là khó có khả năng gắn kết những
Trang 6kiến thức rời rạc thành một khối và như vậy rất khó sử dụng năng lực của mình một cách tối ưu
c Hai nguyên nhân đánh mất đam mê của người Việt.
- Phương thức giáo dục của người Việt: Khi còn nhỏ, khi mà những giá trị xã hội chưa hình thành rõ nét và mong muốn thoả mãn giá trị cá nhân còn thấp, cha mẹ sẽ đóng vai trò của ham muốn là vạch phương hướng và dẫn dắt con cái Việc này không hề sai, tuy nhiên việc cha mẹ lấn át đam mê của con cái và làm thay nhiệm vụ định hướng năng lực của nó là hoàn toàn sai Đến lúc vào các trường học, phải đối mặt với cách thức học quá nặng về
lý thuyết, lại tiếp tục đánh mất đam mê Sự đánh mất định hướng năng lực lại tạo điều kiện cho năng lực thích nghi phát triển
- Sự phát triển không đồng đều trong việc sử dụng những năng lực khác nhau của con người: Đam mê dẫn dắt năng lực, tuy nhiên, năng lực có được
xã hội sử dụng đến nơi hay không lại là chuyện khác Người Việt, với tôn giáo tồn tại, sẵn sàng hướng mình sang một lĩnh vực khác mà không sử dụng tối ưu được năng lực, nhưng lại tạo ra cuộc sống ổn định hơn cho họ( tiền bạc, danh vọng, vv…)
2 Quản Lý.
Về mặt quản lý, có hai phương pháp luận khá sai lầm khi sử dụng để làm kim chỉ nam cho cách quản lý đó là lấy luật lệ làm trọng và lấy tình cảm làm trọng
Ở phương pháp luận thứ nhất, người ta đặt ra những nguyên tắc và điều luật
và bắt nhân viên của mình tuân theo, đặt điều luât có thể giúp nhà quản lý dễ dàng trong việc thi hành tuy nhiên để đề ra những điều luật thật chặt chẽ cho người Việt là rất khó khăn, với bản chất thong minh, nhạy bén, họ nhanh chóng tìm ta điểm sơ hở của luật lệ và từ đó lợi dụng nó cho mục đích riêng Mặt khác, một bộ luật chặt chẽ dễ gây ra phản tác dụng khi nó trở thành một
áp lực lớn cho nhân viên và làm giảm khả năng sáng tạo của họ
Ngược lại với phương pháp luận thứ nhất, khi nhà quản lý sử dụng tình cảm
để quản lý công ty của mình nhằm tạo ra sự thoải mái và sự cảm kích của nhân viên bằng các biện pháp như khen thưởng, thường xuyên quan tâm giúp đỡ Tuy nhiên phương pháp này sẽ thật là nguy hiểm khi dùng với người Việt, bởi vì khi đó họ sẽ tự đánh giá giá trị của họ trong công ty là cao hơn thực tế của nó và hậu quả là sự lạm quyền hoặc vượt quyền, mặt khác việc quản lý bằng tình cảm dễ gây ra mâu thuẫn không mong muốn giữa các nhân viên
Tóm lại hai phương pháp luận này đều không đưa đến phương pháp quản lý tối ưu cho người Việt, vì hó không đi vào bản chất và không bao quát đầy đủ các mặt của vấn đề
Trang 7IV Phương pháp luận mới giải vấn đề.
Phương pháp luận mà tôi đề nghị ở đây là quản lý người Việt dựa trên việc nghiên cứu đặc tính và bản chất của người Việt và xã hội Việt Nam một cách sâu sắc
Dưới đây là một số phương án đưa ra trong việc giáo dục và quản lý người Việt
1 Sử Dụng Người Việt.
Người Việt-với năng lực thích nghi được luyện tập qua hàng ngàn thế
hệ đấu trang và giữ nước- có động lực xuất phát từ các giá trị sống nhưng được chi phối và điều tiết bởi các giá trị trong tôn giáo tồn tại
Mặt khác, đam mê là động lực lớn nhất và quan trọng nhất lại không phải sở trường của người Việt Nghĩa là, động lực nội tại của người Việt không lớn, năng lượng hao phí luôn có xu hướng tối thiểu hóa nếu không có
sự tác động từ những giá trị sống do xã hội mang lại
Như vậy, muốn dùng người Việt cần nhận thức rõ ràng sự tác động của các giá trị sống đến phương thức thể hiện năng lực của người Việt
Mọi giá trị sống đều có tính dẫn dắt con người, tuy nhiên, do nó là một mục đích đã được hình dung từ trước và con người không được dẫn dắt bởi động lực nội tại (đam mê), người ta dễ dàng rơi vào trạng thái mất tập trung
và tìm kiếm một trạng thái ổn định tạm thời nào đó
Như vậy, khi sử dụng các giá trị sống làm động lực cho con người cần thêm một lực tác động phụ trợ để tăng tính tập trung của họ Lực tác động phụ trợ này thực chất đóng vai trò thay thế cho đam mê, tác động liên tục lên chủ thể
Có hai tác động phụ trợ phải được sử dụng cùng nhau cho người Việt Tác động phụ trợ phù hợp với người Việt là tình cảm, là sự chia sẻ, là
sự tôn trọng Người Việt là một chủ thể có tư duy độc lập, cá tình Mỗi cá nhân đều có một tinh thần tự tôn cao và đi kèm với nó là lòng vị tha Sự tôn trọng, tình cảm, sự chia sẻ sẽ thúc đẩy người Việt tự nguyện tăng năng lượng hao phí của mình
Tác động phụ trợ thứ hai là sức ép Sức ép về thời gian, tiền bạc, chất lượng, vv…Tình cảm, sự tôn trọng và chia sẻ có thể làm người Việt thoả mãn tinh thần tự tôn và lòng vị tha để tự nguyện tăng năng lượng hao phí, tuy nhiên, sức ép vẫn phải được sử dụng để loại bỏ sự khó bị biến đổi của họ
Người quản lý, dựa trên sự nhạy cảm và hiểu biết sẽ sử dụng một cách hài hoà cả hai tác động phụ trợ này Vì nếu tác động tình cảm quá nhiều sẽ
Trang 8khuyến khích người Việt tự tung tự tác, còn nếu sức ép quá nhiều sẽ gây phản ứng tiêu cực
Luật định và chế đô là phương thức quan trọng nhất trong quản lý Người quản lý sử dụng nó để kiểm soát và huy động tối đa nguồn lực từ con người
Luật định.
Luật định là trật tự do con người nhận thức và chọn lọc, bắt buộc người khác hay một hệ thống nào đó phải tuân theo, nhằm tối ưu hoá vai trò mà con người hay hệ thống đó tham ra
Là một chủ thể có tư duy độc lập, cá tính, năng lực giải quyết vấn đề của người Việt cao, tuy nhiên, tinh thần tự tôn cao cộng với nhận thức hiện tại thấp dẫn đến những hành động tự phát, không thấu đáo trong tư duy dài hạn
Như vậy
Để hạn chế sự đối phó với luật định của người Việt, luật định phải thường xuyên được xem xét và điều chỉnh để tăng tính sát thực của nó
Việc tăng tính sát thực của luật định là không khó đối với người Việt
Là một chủ thể có tư duy độc lập luôn phản ánh quan điểm của mình, người Việt sẽ đóng vai trò chính trong việc tăng tính sát thực của luật định quản lý
họ Người quản lý, nếu thường xuyên khuyến khích người Việt thể hiện quan điểm, sẽ thu được nhiều ý kiến bổ ích cho việc thay đổi luật định Tuy vậy, được hậu thuẫn bởi tôn giáo tồn tại, nếu người Việt cảm nhận được mối hại lớn hơn khi tỏ quan điểm, họ sẽ im lặng và tiếp tục chấp hành luật định
cũ
Để phát huy năng lực giải quyết vấn đề và hạn chế những hành động tự phát có hại, cần phải xác định được chính xác giới hạn, mà trong giới hạn đó luật định có tính dẫn dắt hành động con người và ngoài giới hạn đó thì cho phép họ hành động tuỳ ý
Tuy nhiên
Luật định sẽ rất khó đạt được tính sát thực mong muốn và luôn tồn tại
sự đối phó ở người Việt Đi đôi với việc thực hiện luật định là thực hiện những tác động phụ trợ thì mới giảm thiểu được sự đối phó
Giới hạn tác động của luật định là mong manh và khó đoán biết, thường phải do sự nhạy cảm của người quản lý
Chế độ đãi ngộ.
Trang 9Chế độ đãi ngộ là khả năng làm thoả mãn các giá trị sống của con người trong một hệ thống nào đó Thông thường là tiền lương, tiền thưởng, phúc lợi, các giá trị tinh thần khác
Người Việt, với năng lực thích nghi, có thể chịu khó, chịu khổ, chiu đựng sự đãi ngộ hời hợt của người khác để duy trì công việc, duy trì sự tồn tại của mình Tuy nhiên, khi nhận thức về năng lực và giá trị bản thân ngày càng rõ ràng thì họ càng quan tâm hơn đến sự đãi ngộ và thường xuyên làm
sự so sánh với các đối tượng khác hay môi trường khác
b Quan hệ giữa người quản lý và cấp dưới.
Người Việt là một chủ thể có tư duy độc lập, cá tính và khó bị thay đổi
Họ là người có tinh thần tự tôn cao đi đôi với lòng vị tha, bác ái
Người Việt dễ thông cảm và chấp nhận nếu họ cảm thấy sự tồn tại của
họ được gắn liền với sự tồn tại của doanh nghiệp Thường xuyên nói chuyện với họ Cho họ biết nhiều nhất có thể những thông tin về tình hình công ty, hãy chứng tỏ lòng chân thành của mình càng nhiều càng tốt
Như đã nói ở trên, người Việt làm việc không có động lực nội tại đủ lớn
để liên tục thúc đẩy họ, vì vậy phải tạo ra những tác động phụ trợ khác có tác động liên tục đến hành động của họ hai tác động đó là tình cảm và sức ép
Cấp trên quan hệ với cấp dưới cần nhẹ nhàng, từ tốn , vui vẻ, tôn trọng
để tạo ra không khí thân thuộc
Tuy nhiên, lại phải luôn để họ biết rằng: ai là cấp trên của họ Vui vẻ nhưng phải được việc Tôn trong thì phải cả đôi đường Cốt để họ không đi quá đà, tự tung tự tác
c Thưởng phạt.
Thưởng nhanh, phat chậm
Thưởng thì phải làm nhanh, làm mạnh, công khai, cốt để thoả mãn tinh thần tự tôn và nung nóng bầu nhiệt huyết của họ, tránh cho họ rơi vào trạng thái ngủ mê
Phạt đó mà khoan thai, từ tốn, cốt để họ thấy rõ cái sai mà không uất
ức, thiếu tôn trọng, phản ứng tiêu cực
Vẫn là câu nói cũ, gắn sự tồn tại của người Việt với sự tồn tại của công
ty là phương pháp hữu hiệu nhất để sử dụng hiệu quả người Việt Con người chỉ tồn tại cùng nhau khi họ hiểu nhau, quan tâm và chia sẻ
2 Đào Tạo và Phát Triển.
a Đào tạo.
Đam mê và tồn tại.
Đam mê là chuyên biệt.
Trang 10Đam mê, hình thành trong con người, như một mầm sống liên tục phát triển Đam mê kích thích con người tập trung vào một số quan hệ nhất định trong môi trường Nó biến con người trở thành một phần trong những mối quan hệ để rồi cảm thụ và ngộ ra chân lý
Tuy vậy, khả năng kích thích con người của đam mê quá lớn, nó đẩy con người rời xa khỏi thế giới hiện thực và hình thành riêng một thế giới khác, một thế giới chỉ có con người và những mối quan hệ mà họ quan tâm Trong thế giới riêng đó, con người liên tục phát triển, liên tục ngộ ra những chân lý, họ càng ngày càng đi xa và thoát khỏi cái bóng của hiện thực Sự thoát khỏi hiện thực có thể giúp con người ngộ ra những chân lý thay đổi hiện thực, tuy nhiên, thoát khỏi hiện thực đồng nghĩa với việc đẩy sự tồn tại của mình vào trạng thái nguy hiểm
Tồn tại là tổng hoà.
Tồn tại mà tôi muốn nói ở đây là tồn tại trong xã hội Con người tồn tại trong xã hội dưới dạng những vai trò, mỗi vai trò sẽ đáp ứng một số nhu cầu nào đó của xã hội Mặt khác, nhu cầu xã hội là nhu cầu vừa có tính tự nhiên lại vừa có tính con người Để thoả mãn nhu cầu đó, con người phải có nhận thức đầy đủ và chặt chẽ giữa trật tự tự nhiên và ham muốn của con người Nói cách khác, khi giải quyết một nhu cầu xã hội con người ngoài chuyên môn của mình cần phải có những kiến thức phụ trợ từ những chuyên môn khác để biến những hành động và sản phẩm của mình thành sản phẩm của xã hội, được xã hội chấp nhận
Như vậy, tồn tại thúc đẩy con người nhìn nhận nhiều mối quan hệ trong
xã hội để tổng hợp và biến họ trở thành một thực thể xã hội, chỉ có như vậy con người mới tồn tại độc lập và ổn định trong xã hội
Đam mê chuyên môn hoá quá cao năng lực con người sẽ biến họ trở thành công cụ trong xã hội mà không phải là một chủ thể có khả năng tồn tại độc lập
Sự kết hợp giữa đam mê và tồn tại.
Đam mê chuyên môn hoá năng lực con người và là yếu tố quyết định trong sự phát triển của xã hội Tuy nhiên, nó phải được giới hạn bởi tồn tại
để không rời bỏ hiện thực
Đam mê gắn liền với hiện thực nghĩa là con người không chỉ quan tâm đến những mối quan hệ được đam mê thúc đẩy mà còn quan tâm đến những quan hệ khác mang tính phụ trợ để biến năng lực con người trở nên phù hợp hơn với sự tồn tại trong xã hội
Tuy nhiên, sự tăng tính thực tiễn lại làm mất đi tính đột phá sinh ra như khi chỉ có đam mê dẫn dắt con người