1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề dạy học nhằm phát huy tính tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh ở một số bài giảng dạy môn công nghệ

60 459 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 659,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những lí do đó cùng với mong muốn góp phần nhỏ bé của mình giúp học sinh học tập, phát huy được tính tích cực sáng tạo trong quá trình nhận thức và trau dồi kiến thức cho bản thân tr

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Sư phạm kỹ thuật

Người hướng dẫn khoa học

TS ĐINH VĂN DŨNG

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài này em đã nhận được sự giúp đỡ hết sức nhiệt

tình của các thầy giáo, cô giáo trong tổ Vật lí kĩ thuật khoa Vật Lí và tổ

phương pháp giảng dạy khoa Sinh – KTNN tổ phương pháp giảng dạy, cùng

với sự giúp đỡ đóng góp ý kiến xây dựng của các bạn sinh viên trong suốt quá

thình nghiên cứu Em xin gửi đến thầy giáo, cô giáo và các bạn sinh viên lời

cảm ơn chân thành nhất với sự giúp đỡ qúy báu đó

Đặc biệt em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo - Tiến

sĩ Đinh Văn Dũng và Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Tuấn - Người đã hướng dẫn và

chỉ bảo tận tình giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này

Mặc dù rất cố gắng nhưng do thời gian có hạn cùng với sự bỡ ngỡ của

buổi đầu làm quen công việc nghiên cứu cho nên bản thân khoá luận này

không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự chỉ bảo,

đóng góp của các thầy, các cô và của các bạn sinh viên để khoá luận này được

hoàn thiện hơn

Hà nội, tháng 5 năm 2010 Sinh viên

Lê Thị Hương

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khoá luận này là kết quả nghiên cứu, tìm tòi của riêng

bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của thầy Đinh Văn Dũng giảng viên khoa

Vật Lý Luận văn này chưa từng được công bố tại bất kỳ một công trình

nghiên cứu khoa học nào hoặc của ai Đề tài và nội dung khoá luận là chân

thực được viết trên cơ sở khoa học là các sách, tài liệu do nhà xuất bản giáo

dục ban hành

Hà Nội, tháng 5 năm 2010 Sinh viên

Lê Thị Hương

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ 3

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 3

6 Cấu trúc của khóa luận 3

PHẦN HAI: NỘI DUNG Chương 1 – Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nâng cao tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh 1.1 Cơ sở lý luận (lý thuyết) 5

1.1.1 Tính tích cực của học sinh 5

1.1.2 Tính chủ động của giáo viên trong quá trình dạy học 7

1.1.3 Hoạt động nhận thức của học sinh 8

1.2 Cơ sở thực tiễn 9

1.2.1 Thực trạng của việc dạy ở phổ thông 10

1.2.2 Thực trạng của việc học ở phổ thông 10

Kết luận chương 1 10

Chương 2 - Vấn đề dạy học nhằm nâng cao tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh 2.1 Các nguyên tắc dạy học nhằm nâng cao tính tích cực nhận thức của học sinh 11

2.2 Các tiêu chuẩn của các phương pháp dạy học tích cực 13

- Tính tích cực 13

- Tính tự do 14

Trang 6

- Tính tự giáo dục 14

2.3 Các yếu tố tác động đến các phương pháp dạy học tích cực 14

- Phương tiện vật chất 14

- Vai trò của giáo viên và phương pháp kích thích 15

- Trẻ em và dạy học cá thể 16

2.4 Vai trò của giáo viên trong quá trình dạy học nhằm nâng cao tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh 16

2.5 Khó khăn và thuận lợi của phương pháp dạy học tích cực 18

Kết luận chương 2: 19

Chương 3: Giới thiệu một số bài (đoạn) giảng dạy có sử dụng phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao tính tích cực nhận thức của học sinh 3.1 Mục đích của việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn công nghệ ở phổ thông 20

3.2 Nội dung của một số mẫu bài (đoạn) giảng dạy 20

+ Bài 25: Hệ thống bôi trơn 21

+ Bài 26: Hệ thống làm mát 27

+ Bài 27: Hệ thống cung cấp nhiên liệu và không khí trong động cơ xăng 35

+ Bài 28: Hệ thống cung cấp nhiên liệu và không khí trong động cơ điêzen.41 + Bài 30: Hệ thống khởi động 46

Kết luận chương 3: 52

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

Trang 7

PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thế kỉ 21 là thế kỉ của khoa học và công nghệ Khối lượng tri thức ngày

càng tăng lên như vũ bão Một quốc gia muốn phát triển rất cần một nguồn

nhân lực có tay nghề, năng động, sáng tạo Nhận thức được xu thế phát triển

của thời đại, tất cả các quốc gia trên thế giới đều đầu tư vào giáo dục đào tạo

nhằm phát triển đất nước

Giáo dục hiểu theo nghĩa rộng là lĩnh vực hoạt động của xã hội nhằm

truyền đạt những kinh nghiệm xã hội – lịch sử chuẩn bị cho thế hệ trẻ trở

thành lực lượng tiếp nối sự phát triển của xã hội, kế thừa và phát triển văn hóa

của loài người, của dân tộc Hiểu theo nghĩa hẹp hơn, giáo dục (giáo dục phổ

thông) là quá trình tác động tới kiến thức, kĩ năng, thái độ, hành vi của thanh

thiếu niên, hình thành và phát triển nhân cách theo mô hình con người mà xã

hội đương thời mong muốn

Đào tạo là dạng hoạt động của xã hội nhằm truyền đạt và tập luyện

những kinh nghiệm hoạt động trong một lĩnh vực xác định Giáo dục có nghĩa

rộng hơn là đào tạo Giáo dục (giáo dục phổ thông) hướng vào mục tiêu dân

trí Đào tạo phục vụ nhu cầu nhân lực Việc giáo dục và dào tạo trong nhà

trường được thực hiện thông qua hoạt động cơ bản là dạy học

Tuy nhiên những năm trước đây dạy học chủ yếu là lấy giáo viên làm

trung tâm thầy đọc, trò ghi, người học trở nên thụ động, ỷ lại vào thầy Học

sinh nhận thức kiến thức một cách thụ động Sự nghiệp CNH – HĐH đất

nước, sự thách thức trước nguy cơ tụt hậu trên chặng đường đua tranh trí tuệ

đang đòi hỏi sự đổi mới của giáo dục Chính vì lẽ đó việc chuyển từ dạy học

thụ động sang dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâm, nhằm phát huy

Trang 8

tính chủ động, sáng tạo của người học là xu thế phát triển tất yếu của lí luận

dạy học hiện đại

R.C.Sharma (1988) viết: “Trong PPDH lấy học sinh làm trung tâm,

toàn bộ quá trình dạy học đều hướng vào nhu cầu, khả năng lợi ích của học

sinh Mục đích là phát triển ở học sinh kĩ năng và năng lực độc lập và giải

quyết các vấn đề Không khí trong lớp linh hoạt và cởi mở về tâm lí Học sinh

và giáo viên cùng nhau khảo sát các khía cạnh của vấn đề hơn là giáo viên

trao cho học sinh giải pháp của vấn đề Vai trò của giáo viên là tạo ra những

tình huống để phát triển vấn đề, thu thập các tư liệu, số liệu học sinh có thể sử

dụng được, giúp học sinh nhận biết vấn đề, lập giả thuyết, làm sáng tỏ và thử

nghiệm các giả thuyết, rút ra kết luận”

Nhưng trên thực tế, việc đổi mới phương pháp dạy học ở các trường

phổ thông còn nhiều hạn chế Trong quá trình giảng dạy ở trường phổ thông

nói chung và môn công nghệ nói riêng, nếu giáo viên biết kết hợp và sử dụng

phương pháp dạy học hợp lí sẽ nâng cao hiệu quả giảng dạy và phương pháp

dạy học tích cực là rất đáng chú ý áp dụng cho quá trình dạy học ở trường phổ

thông

Với những lí do đó cùng với mong muốn góp phần nhỏ bé của mình

giúp học sinh học tập, phát huy được tính tích cực sáng tạo trong quá trình

nhận thức và trau dồi kiến thức cho bản thân trước khi trở thành người giáo

viên chính thức nên tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “ Vấn đề dạy học nhằm

phát huy tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh ở một số

bài giảng dạy môn công nghệ lớp 11”

2 Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu sơ lược về vấn đề dạy học hiện nay ở trường phổ thông

- Tìm hiểu cơ sở lý luận và cơ sở khoa học của vấn đề dạy học nhằm

nâng cao tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh

Trang 9

- Xét tính khả thi và tính phổ biến của vấn đề dạy học nhằm nâng cao

tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh ở phổ thông

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Những vấn đề cơ bản liên quan đến vấn đề dạy học nhằm

nâng cao tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh

- Phạm vi: + Dạy học ở trường phổ thông nói chung và dạy học môn

công nhệ lớp 11 nói riêng Giáo trình phương pháp dạy học môn công nghệ,

SGK môn công nghệ lớp 11

+ Một số công trình tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu

4 Nhiệm vụ

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài theo quan điểm hoạt

động và cơ sở khoa học của việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học

sinh trong dạy học công nghệ của học sinh

- Nghiên cứu đánh giá để đưa ra nhận xét về thực trạng của việc áp dụng

phương pháp dạy học nhằm nâng cao tính tích cực trong hoạt động nhận thức

của học sinh ở phổ thông

- Đưa ra một số mẫu bài (đoạn) giảng dạy có sử dụng phương pháp dạy

học nhằm nâng cao tính tích cực nhận thức của học sinh trong chương tình

môn công nghệ lớp 11

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

- Các phương pháp nghiên cứu lí luận và thực tiễn

- Các phương pháp phân tích, đánh giá

6 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận chung, phần nội dung gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nâng cao tính tích cực

trong hoạt động nhận thức của học sinh

Trang 10

Chương 2: Vấn đề dạy học nhằm nâng cao tính tích cực trong hoạt

động nhận thức của học sinh

Chương 3: Giới thiệu một số mẫu bài (đoạn) giảng dạy có sử dụng

phương pháp dạy học tích cực nhằm phát huy tính tích cực nhận thức

của học sinh trong dạy học môn công nghệ lớp 11

Trang 11

PHẦN HAI: NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NÂNG CAO

TÍNH TÍCH CỰC TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CỦA

HỌC SINH

1.1 Cơ sở lí luận (lý thuyết)

1.1.1 Tính tích cực của học sinh

Tích cực hóa là một hoạt động nhằm làm chuyển biến vị trí của người

học từ chủ động sang thụ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể

tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập

Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh là một trong những

nhiệm vụ của thầy giáo trong nhà trường và cũng là một trong những biện

pháp nâng cao chất lượng dạy học Tuy không phải là vấn đề mới, nhưng

trong xu hướng đổi mới dạy học hiện nay thì việc tích cực hóa hoạt động nhận

thức của học sinh là một vấn đề được đặc biệt quan tâm Nhiều nhà vật lí học

trên thế giới đang hướng tới việc tìm kiếm con đường tối ưu nhằm tích cực

hóa hoạt động nhận thức của học sinh, nhiều công trình luận án tiến sĩ dã và

đang đề cập đến lĩnh vực này Tất cả đều hướng tới việc thay đổi vai trò người

dạy và người học nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học nhằm đáp

ứng được yêu cầu dạy học trong giai đoạn phát triển mới Trong đó học sinh

chuyển từ vai trò là người thu nhận thông tin sang vai trò chủ động, tích cực

tham gia tìm kiếm kiến thức Còn thầy giáo chuyển từ người truyền thông tin

sang vai trò tổ chức, hướng dẫn, giup đỡ để học sinh tự mình khám phá kiến

thức mới

Quá trình tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh sẽ góp phần

làm cho mối quan hệ giữa dạy và học, giữa thày và trò ngày càng gắn bó và

hiệu quả hơn Tích cực hóa vừa là biện pháp thực hiện nhiệm vụ dạy học,

Trang 12

đồng thời nó góp phần rèn luyện cho học sinh những phẩm chất của người lao

động mới: Tự chủ, năng động, sáng tạo Đó là một trong những mục tiêu mà

nhà trường phải hướng tới

Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh là biện pháp phát hiện

những quan niệm sai lệch của học sinh qua đó thầy giáo có biện pháp khắc

phục những quan niệm đó

Tính tích cực nhận thức biểu hiện sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác

với đối tượng trong quá trình học tập, nghiên cứu: Thể hiện sự nỗ lực của hoạt

động trí tuệ, sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí (như hứng thú,

chú ý, ý chí, ) nhằm đạt được mục đích đặt ra với mức độ cao nhất

Tính tích cực của học sinh thể hiện ở những dấu hiệu sau:

1 Có chú ý học tập hay không?

2 Có hăng hái tham gia vào mọi hình thức hoạt động học tập hay không

(thể hiện ở việc hăng hái phát biểu ý kiến, ghi chép, )?

3 Có hoàn thành những nhiệm vụ được học không?

4 Có ghi nhớ tốt những điều đã được học không?

5 Có hiểu bài học không?

6 Có thể tình bày lại nội dung bài học theo ngôn ngữ riêng không?

7 Có vận dụng được các kiến thức đã học vào thực tiễn không?

8 Tốc độ học tập có nhanh không

9 Có hứng thú trong học tập hay chỉ vì một ngoại lực nào đó mà phải

học?

10 Có quyết tâm, có chú ý vượt khó khăn trong học tập không?

11 Có sáng tạo trong học tập không?

Về mức độ tích cực của học sinh là không giống nhau, GV có thể phát

hiện được điều đó nhờ dựa vào một số dấu hiệu sau:

Trang 13

1 Tự giác học tập hay bị bắt buộc bởi những tác động bên ngoài (gia

đình, bạn bè, xã hội, )

2 Thực hiện yêu cầu của thày giáo theo yêu cầu tối thiểu hay tối đa?

3 Tích cực nhất thời hay thường xuyên, liên tục?

4 Tích cực tăng lên hay giảm dần?

5 Có kiên trì vượt khó hay không?

Một và đặc điểm về tính tích cực của học sinh:

1 TTC của học sinh có mặt tự phát và mặt tự giác:

- Mặt tự phát: Là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ở tính tò mò,

hiếu kì, hiếu động, linh hoạt và sôi nổi trong hành vi mà trẻ đều có ở mức độ

khác nhau Cần coi trọng những yếu tố tự phát này, nuôi dưỡng, phát triển

chúng trong DH

- Mặt tự giác: Là trạng thái tâm lí có mục đích và đối tượng rõ rệt, do đó

có hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng đó TTC tự giác thể hiện ở óc quan sát,

tính phê phán trong tư duy, trí tò mò khoa học

2 TTC nhận thức phát sinh không chỉ từ nhu cầu nhận thức mà còn từ

nhu cầu sinh học, nhu cầu đạo đức thẩm mỹ, nhu cầu giao lưu văn hóa, Hạt

nhân cơ bản của TTC nhận thức là hoạt động tư duy của cá nhân được tạo nên

do sự thúc đẩy của hệ thống nhu cầu đa dạng

3 TTC nhận thức và TTC học tập có liên quan chặt chẽ với nhau nhưng

không phải là một Có một số trường hợp TTC học tập thể hiện ở hành động

bên ngoài mà không phải là TTC trong tư duy

Đó là những điều cần lưu ý khi đánh giá TTC nhận thức của học sinh

1.1.2 Tính chủ động của giáo viên trong quá trình dạy học

Quan điểm hiện đại về dạy học cho rằng QTDH các tri thức khoa học

được hiểu là quá trình hoạt động của giáo viên và học sinh trong sự tương tác

Trang 14

và thống nhất biện chứng của ba thành phần trong hệ dạy học: Giáo viên, học

sinh, tư liệu hoạt động dạy, có thể mô tả tương tác hệ dạy học như sau:

Giáo viên - Chủ thể của hoạt động dạy học

- Giáo viên - Tư liệu hoạt động dạy học:

+ Tổ chức tư liệu, củng cố tư liệu

+ Tạo tình huống cho hoạt động học của học sinh

- Giáo viên - Học sinh: Tác động trực tiếp giáo viên với học sinh

+ Định hướng cho hoạt động của học sinh với tư liệu

+ Định hướng sự tương tác của học sinh với học sinh

+ Định hướng cho sự liên hệ ngược từ học sinh với giáo viên

1.1.3 Tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh

Như chúng ta đã biết, kết quả của việc học chỉ thực sự có được khi học

sinh tích cực và chủ động tham gia vào quá trình day - học Cấu trúc của quá

trình dạy - học cùng với các yếu tố hợp thành cơ bản của nó có thể biểu diễn

theo sơ đồ sau:

Trong quá trình dạy học, khối lượng kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo của

học sinh tăng lên, tầm hiểu biết được mở rộng, quan điểm và niềm tin chính

trị được hình thành

Khía cạnh đặc biệt quan trọng của sự phát triển là sự biến đổi chung về

chất của bản thân hoạt động nhận thức và tư duy nói chung Chỉ trong quá

tình học tập tích cực, học sinh mới rèn luyện được kĩ năng kiến thức, sự say

mê học tập và cả sự hoàn thiện những năng lực nhận thức chung và riêng Tất

cả những cái đó dẫn tới việc hoàn thiện nhân cách nói chung và làm phong

phú thêm những nhu cầu nhận thức và tinh thần

Như vậy việc học cần dựa trên nền tảng của hoạt động nhận thức tính

tích cực của học sinh và tinh thần tích cực như vậy Tính “tích cực nhận thức”

của học sinh theo I.F.Kharlamop có thể được định nghĩa như sau: Nói chung,

Trang 15

“Tính tích cực là trạng thái hoạt động của chủ thể , nghĩa là của chủ hành

động Vậy tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động của học sinh, đặc

trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình

nắm vững kiến thức.”

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Thực trạng của việc dạy ở phổ thông

Thực tế giáo dục hiện nay ở phổ thông cho thấy:

- Chương trình khung còn quá nặng mâu thuẫn với thời lượng giành cho

môn học

- Đội ngũ giáo viên chưa đảm bảo cả về số lượng và chất lượng, bên

cạnh đó còn có một số giáo viên kiêm nhiệm giảng dạy nhiều bộ môn cùng

- Phương pháp giảng dạy nặng nề về thuyết trình , ít vận dụng phương

pháp trực quan, đàm thoại, gợi mở,

- Vận dụng và sử dụng phương tiện trực quan chưa có tính tích cực, linh

hoạt, sáng tạo, đúng lúc, đúng nơi,

- Nội dung dạy học với lượng kiến thức còn bó gọn trong sách giáo

khoa, ít mở rộng nâng cao hay liên hệ thực tiễn

Những khó khăn, tồn tại được tình bày ở trên không dễ gì giải quyết

được trong một khoảng thời gian ngắn và nó cũng là vấn đề của toàn xã hội

cần được quan tâm giải quyết

Trang 16

1.2.2 Thực trạng việc học ở phổ thông

Đối với việc học, phần lớn học sinh chưa có hứng thú với hầu hết các

môn học nhất là các môn phụ nguyên nhân là do:

- Cách thức quản lý chưa được hợp lý, trong thi cử chỉ chú trọng vào

một số môn cơ bản nên có sự phân chia môn chính môn phụ

- Mâu thuẫn giữa khối lượng tri thức của một số môn rất nhiều trong khi

thời gian giảng dạy và học tập lại ít từ đó dẫn đến việc học sinh chưa thật sự

tập chung chú ý, nỗ lực học tập và kết quả đạt được trong học tập là không

cao

Từ thực tiễn trên đòi hỏi phải có hiều sự đổi mới trong quá trình giảng

dạy các môn học ở trường phổ thông

Kết luận chương 1:

Ngoài trang bị kiến thức còn phải chú ý phát triển khả năng sáng tạo của

học sinh, phải bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tìm tòi, chiếm lĩnh chân lí

để học sinh có thể thường xuyên tự học, tự hoàn thiện mình trước yêu cầu của

xã hội

Để đổi mới phương pháp dạy học thực sự có hiệu quả chúng ta cần phải

nắm vững việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực

Phương pháp dạy học này đòi hỏi người giáo viên phải biết cách kết hợp

nó với các phương pháp dạy học khác một cách hài hòa Có như thế mới

mang lại hiệu quả cao

Yêu cầu đặt ra đối với nhà trường phổ thông nói chung và với giảng dạy

môn công nghệ nói riêng là phải đổi mới phương pháp dạy học

Trang 17

CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ DẠY HỌC NHẰM NÂNG CAO TÍNH TÍCH

CỰC TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH

2.1 Các nguyên tắc dạy học nhằm nâng cao tính tích cực nhận thức của

học sinh

Trong những thập kỉ gần đây, vấn đề tính tích cực của học sinh trong

học tập đã được nghiên cứu rất sâu rộng và đã có hàng loạt những nguyên tắc

lí luận dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh đã được nêu ra

Những nguyên tắc quan trọng nhất trong số đó là: Việc dạy học phải được

tiến hành ở mức độ khó khăn cao; Việc nắm vững kiến thức lí thuyết phải

chiếm ưu thế; Trong quá trình dạy học phải duy trì nhịp độ khẩn trương của

việc nghiên cứu tài liệu, còn nhũng kiến thức đã lĩnh hội sẽ được củng cố khi

nghiên cứu kiến thức mới; Trong dạy học, phải tích cực chăm lo cho sự phát

triển của tất cả học sinh, kể cả những em học khá cũng như những em học

kém; Học sinh phải tự ý thức được bản thân quá tình dạy học

Vậy bản chất của những nguyên tắc đó trong dạy học là gì?

Nguyên tắc thứ nhất nêu lên sự cần thiết phải lôi cuốn học sinh vào công

tác nhận thức tích cực trong môn học, kích thích sự ham hiểu biết trí tuệ,

trong đó có chiếu cố thích đáng đến năng lực và khả năng của các em sao cho

mỗi em huy động hết mức trí lực của mình Vấn đề không phải là ở chỗ làm

cho việc học tập trở nên khó khăn đối với tre mà là chỗ làm cho trong quá

trình học tập các em phải chịu đựng một sự căng thăng nhất định, vượt qua

được những khó khăn nhận thức, hoàn thành một số lượng thích đáng những

bài tập sáng tạo và rèn giũa ý chí nhận thức của mình

Nguyên tắc thứ hai là nguyên tắc về vị trí ưu thế của các kiến thức lí

thuyết, đề ra sự cần thiết phải nắm vững sâu sắc các tài liệu lí thuyết, thâm

nhập thật sự vào bản chất của các quy luật, lĩnh hội những tư tưởng và khái

niệm quan trọng nhất Nguyên tắc này phản ánh ý nghĩa lớn lao của các kiến

Trang 18

thức lí thuyết trong thời đại cách mạng khoa học kĩ thuật cũng như vai trò to

lớn của chúng trong sự phát triển của học sinh

Thứ ba là nguyên tắc đòi hỏi nhịp độ khẩn trương của công tác học tập

Như kinh nghiệm đã chứng minh nhấn mạnh đến một thực tế là việc dừng lại

lâu để nghiên cứu cùng một tài liệu sẽ chóng làm mệt trẻ vì tính chất đơn điệu

của nó, nó không cung cấp đủ “thức ăn” cho hoạt động trí tuệ L.V.Dancốp đã

cho rằng, không nên dừng lại lâu khi làm việc với cùng một tài liệu , khi đã

hiểu một vấn đề rồi thì phải chuyển sang nghiên cứu vấn đề khác, còn việc

lĩnh hội tài liệu đã học sẽ được đào sâu và mở rộng khi nghiên cứu tài liệu

mới

Nguyên tắc thứ tư là nguyên tắc hết sức quan trọng, ngyên tắc đòi hỏi

việc chăm lo tích cực đến sự phát triển của tất cả các học sinh kể cả loại giỏi

và loại yếu về học tập Đây là nguyên tắc cá biệt hóa trong dạy học Nguyên

tắc này đòi hỏi trong chương trình ở nhà trường phải có “phần cứng” bắt buộc

và “phần mềm” có thể vận dụng linh hoạt cho các đối tượng khác nhau Các

“giáo trình tự chọn” trong chương trình ở những lớp cuối cấp trung học rất

cần có để học sinh có thể đi sâu vào các lĩnh vực mà họ quan tâm Cùng với

nội dung môn học các phương pháp dạy học trong quá trình dạy học cần

hướng vào các đối tượng với năng lực khác nhau trong một lớp học

Cuối cùng nhấn mạnh tới nguyên tắc làm cho học sinh ý thức được bản

thân quá trình học và nắm vững các phương pháp làm việc trí tuệ để hiểu, ghi

nhớ tài liệu học tập, hình thành kĩ năng, kĩ xảo và thực hiện việc tự kiểm tra

sự lĩnh hội kiến thức Dạy cho các em điều này là một nhiệm vụ cơ bản của

dạy học trong trường phổ thông Về vấn đề này, L.V.Balagônađêgia đã viết:

“Sự phát triển trí tuệ diễn ra trong một quá trình hoạt động tư duy, hoạt động

này bao giờ cũng vượt ra khỏi khuôn khổ của những cái mà tri giác trực tiếp

cung cấp Khi nói về sự cần thiết phát triển tư duy của học sinh, ta cần phải

Trang 19

chú ý tới một loại công tác trí tuệ, khác hẳn với sự tái hiện đơn thuần tài liệu

theo trí nhớ Nếu không có sự “gia công” tự lực tài liệu đã lĩnh hội thì cũng

không có được những điều kiện để phát triển tư duy”

Trên đây là những nguyên tắc nổi bật trong dạy học nhằm phát huy tính

tích cực và chủ động của học sinh trong quá trình học Tuy nhiên không nên

đặt đối lập những nguyên tắc dạy học cổ điển với những nguyên tắc lí luận

dạy học gọi là mới Mỗi nhóm nguyên tắc đó có một ý nghĩa bản chất và nếu

suy nghĩ sâu sắc hơn về từng hệ thống những nguyên tắc đó thì sẽ thấy chúng

đều nhấn mạnh từ những khía cạnh khác nhau, sự cần thiết phái huy tính tích

cực của học sinh trong quá tình học tập Vì thế, không thể coi những nguyên

tắc dạy học cổ điển hình như đã “lỗi thời”, cũng như không nên tưởng rằng

chỉ dựa vào những nguyên tắc lí luận dạy học “mới” mới có thể giải quyết

được mọi vấn đề và mọi khó khăn của sự dạy học

2.2 Các tiêu chuẩn của các phương pháp dạy học tích cực

Phương pháp dạy học tích cực gọi tắt là phương pháp tích cực chỉ có ý

nghĩa khi người học là tác nhân tự nguyện, tích cực, có ý thức về sự giáo dục

của chính mình Cho nên, tiêu chuẩn chính của phương pháp tích cực là: Tính

tích cực, tính tự do và tính tự giáo dục

2.2.1 Tính tích cực

Ở lứa tuổi còn nhỏ, trẻ em quan sát hiện vật, tái tạo cái có thực, cái cụ

thể, tập dượt phát huy tính tích cực thông qua tiếp xúc với thực tế Đối với

người lớn, lí luận tạo ra thực hành, đó cũng là trình tự được tuân thủ trong

phương pháp cổ truyền với tinh thần giáo viên làm trung tâm Đối với trẻ em,

lí luận không đem lại hiệu quả khi giải quyết vấn đề Trước 10 tuổi, trẻ em

không có khả năng đặt ra giả thuyết, sử dụng phép suy diễn; Trẻ chỉ có kiến

thức kinh nghiệm Trẻ tiến hành theo những sơ đồ tích cực mà khái niệm chỉ

được thể hiện sau này với sự phát sinh tư duy hình thái Tiến trình quy nạp đó

Trang 20

dựa trên những kinh nghiệm thuộc về thần kinh cảm giác - vận động, hay là

dựa trên những trò chơi vận động thể thao Kiến thức được khẳng định trong

hành động

2.2.2 Tính tự do

Chỉ khi nào có tự do sáng kiến, tự nguyện lựa chọn, khi đó mới có

phương pháp tích cực Tất nhiên, đó phải là tự do có giới hạn trong khuôn khổ

trách nhiệm về an toàn của cá nhân và cuộc sống cộng đồng

Hoạt động dạy học phải nhằm thỏa mãn nhu cầu của trẻ em, đáp ứng sở

thích, hứng thú của trẻ em Phương pháp tích cực đoạn tuyệt hẳn với lộ trình

định trước và câu trả lời chuẩn bị sẵn

2.2.3 Tính tự giáo dục

Tự giáo dục không phải chỉ bao gồm tự quyết định và tự hoạt động mà

còn nhằm phát triển tính tự quản, xúc tiến việc hình thành con người Giáo

dục có mục đích không phải chỉ là chiếm lĩnh kiến thức mà còn là thức tỉnh

tính nhạy cảm, tính phán đoán chắc chắn, phát triển nhân cách của người học

2.3 Các yếu tố tác động đến các phương pháp dạy học tích cực

Với phương pháp tích cực, yếu tố chi phối mọi tình huống và hành động

giáo dục chính là người được giáo dục Tuy nhiên các phương tiện vật chất và

vai trò của người thầy giáo đóng vai trò vô cùng quan trọng

2.3.1 Phương tiện vật chất

Phương tiện vật chất luôn luôn là một yếu tố cần thiết, nếu được sử dụng

hợp lí có thể dẫn đến biến đổi sâu sắc quan hệ giáo dục Chỉ cần mỗi trẻ em

được sử dụng một cái bàn kiểu bàn thợ ở nhóm học tập là tất cả được biến đổi

thuận lợi cho hoạt động nhận thức của trẻ em Phương tiện vật chất được sử

dụng đúng liều lượng sẽ thích hợp với hứng thú và mục tiêu học tập Trật tự

lớp học cũng biến đổi: Từ kiểu trật tự bất động và im lặng của “lớp học –

thính giảng” đến trật tự “thầm thì” và trật tự “vận động” kiểu xưởng thợ Sách

Trang 21

giáo khoa cũng đổi hướng, cung cấp nhiều dữ liệu hơn là quy tắc, nhiều bài

tập hơn là bài giải, nhiều lời khuyên giải sưu tầm hơn là nghi thức hoặc bài

tóm tắt Sách giáo khoa cũng gợi ý nhiều hơn là giảng dạy Hiện nay không

thể cá thể hóa dạy học nếu không có sự liên kết với phương tiện nghe nhìn và

liên kết với các phương tiện vật chất khác nhằm phát huy tính tích cực của

học sinh “Phương tiện nghe – nhìn chỉ có giá trị giáo dục trực tiếp trong

chừng mực học sinh tự mình làm lại các cử động hoặc hành động được nhìn

thấy trên màn ảnh” Để hỗ trợ cho phương pháp tích cực, không gian học

đường cần phải được trang bị thật sinh động

2.3.2 Vai trò của thầy giáo và phương pháp kích thích

Người ta thường đặt ra các câu hỏi là trên thực tế, phương pháp tích cực

phát huy tính tích cực của học sinh có làm giảm nhẹ vai trò thầy giáo không?

Trong mọi trường hợp, thầy giáo với tầm vóc người lớn và trình độ học

thức cao, phải là người hướng dẫn thường xuyên cho học sinh Tính chất và

vai trò thầy giáo gần gũi với tính tinh xảo, độc đáo nhân từ của người sáng tạo

cũng như với tinh thần trách nhiệm kĩ thuật của người khởi động

Hơn nữa, trong lúc trao trách nhiệm về công việc học tập cho học sinh,

để cho công việc đó được hợp lí và có hiệu quả, thầy giáo phải kích thích cho

học sinh hành động với các gợi ý thật kín đáo trong phạm vi có thể, quản lí

phương tiện và cả thời gian, cũng như thông tin và đặc biệt là các cách thức

làm việc Lúc đó thầy giáo không phải là người “thúc giục” nữa mà trở thành

người “hiện diện”, “người trọng tài thông thạo trong mọi tình huống” Tùy

theo yêu cầu, thầy có thể là người “trung gian, hòa giải, cố vấn” Thầy giáo

còn là người kiểm tra các sáng kiến do học sinh đưa ra

Tóm lại, điều phân biệt phương pháp tích cực với phương pháp cổ

truyền chính là ở chỗ: “Thầy giáo là chất xúc tác, không đảm nhận một hành

động trự tiếp nào” Thầy là người kích thích nhằm “thường xuyên thức tỉnh

Trang 22

một số khuynh hướng, một số quy trình bổ sung cần thiêt cho sự thăng bằng

nhân cách”

2.3.3 Trẻ em và dạy học cá thể

Mục tiêu của dạy học phải xuất phát từ những gì ta hiểu biết về trẻ em

để tiến tới những gì trẻ em phải đạt được Dù có muốn thống nhất học vấn cần

cung cấp cũng phải quan tâm đến “khả năng của mỗi người vươn tới trình độ

kĩ năng cao trong một lĩnh vực nhất định” Học sinh không có những tài năng

giống nhau, dạy học cần phải thích ứng với trình độ trí khôn của chúng Trẻ

em cần phải được hưởng “chế độ trị bệnh trên giường bệnh” tức là đánh giá

trẻ em trên cơ sở năng lực của chính trẻ em

2.4 Vai trò của giáo viên trong quá trình dạy học nhằm nâng cao tính

tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh

Các nguyên tắc dạy học nêu trên đòi hỏi các phương pháp dạy học tích

cực trong quá trình dạy học ở trường phổ thông

Người ta thường đặt ra các câu hỏi là trên thực tế, phương pháp tích cực

nhằm phát huy tính tích cực của học sinh có làm giảm nhẹ vai trò của thầy

giáo không?

Trong mọi trường hợp, thầy giáo với tầm vóc người lớn và trình độ học

thức cao, phải là người hướng dẫn thường xuyên cho học sinh Tính chất, vai

trò thầy giáo gần gũi với tính tinh xảo, độc đáo nhân từ của người sáng tạo

cũng như tinh thần trách nhiệm kĩ thuật của người khởi động

Hơn nữa trong lúc giao trách nhiệm về công việc học tập cho học sinh

để cho công việc đó được hợp lí và có hiệu quả, thầy giáo phải kích thích cho

học sinh hành động với các gợi ý thật kín đáo trong phạm vi có thể, quản lí

phương tiện và cả thời gian cũng như thông tin và đặc biệt là các cách thức

làm việc Lúc đó thầy giáo không phải là người “thúc giuc” nữa mà trở thành

người “hiện diện”, “người trọng tài thông thạo trong mọi tình huống”; Tùy

Trang 23

theo yêu cầu, thầy là người “trung gian, hòa giải, cố vấn” Thầy giáo còn là

người kiểm tra các sáng kiến do học sinh đưa ra

Tóm lại, điều phân biệt phương pháp tích cực với phương pháp cổ

truyền chính là ở chỗ: “thầy giáo là chất xúc tác, không đảm nhận một hành

động trực tiếp nào” Thầy là người kích thích nhằm “thường xuyên thức tỉnh”

Có hai triển vọng nghiên cứu Một là: Xem học sinh là trí khôn thuần

túy, thiếu một nhân cách sống đa cảm, tiếp thu kiến thức từ một thầy giáo dạy

học đơn thuần Hai là: Đối xử với học sinh như là với một con người, người

lớn tương lai, được khuyên giải bởi một thầy giáo đã vươn lên trên dạy học

đơn thuần trở thành nhà giáo dục toàn bộ nhân cách cho học sinh

Triển vọng thứ hai này chỉ có thể thực hiện thông qua phương pháp tích

cực Phương pháp tích cực “hướng về các mối quan hệ” Trong phương pháp

cổ truyền cũng có mối quan hệ giữa thầy giáo và khách thể trước hết, giữa

chủ thể và khách thể sau đó Phương pháp tích cực xây dựng mối quan hệ

“hình tam giác” (Chủ thể - Thầy giáo - Khách thể) và các quan hệ này xẩy ra

đồng thời cho nên mối quan hệ sư phạm dạy học trở thành quan hệ giáo dục

Phương pháp tích cực trước hết là phương pháp kích thích Phương pháp

tích cực cũng là một phương pháp “lạc quan” Thông qua diễn biến và kết quả

cuối cùng của phương pháp “lạc quan”, ta đã phát hiên được những bằng

chứng đáng tin cậy cho nguyên tắc “hãy tin trẻ em”

Tuy nhiên, rất nhiều khó khăn đã đặt ra Đối với người giáo dục, thường

“hiểu biết dễ hơn là làm” Đối với nhà giáo dục, thường “ làm cho hiểu biết”

dễ hơn là “làm cho học sinh làm”, “làm cho học sinh biết làm” Có lẽ đổi mới

đối với thầy giáo là khó khăn nhất, vì thầy đã được chuẩn bị ngay từ trên ghế

nhà trường cổ truyền để dạy học hơn là kích thích Bởi vậy đây là vấn đề rất

cần được mọi giáo viên quan tâm

Trang 24

2.5 Khó khăn và thuận lợi của phương pháp dạy học tích cực

Thực tế đã chỉ ra rằng: Tổng kết phương pháp “tích cực” không phải

hoàn toàn chỉ có mặt tích cực

2.5.1 Một vài khó khăn

Rõ ràng phương pháp tích cực không thể bao quát toàn bộ lĩnh vực giáo

dục Có những kiến thức không thể do học sinh phát hiện được mặc dù đã

cung cấp cho học sinh bất cứ phương tiện nào

Có nhiều trường hợp, khi trẻ em giải quyết vấn đề, phát hiện một quy

tắc, thực hiện một thí nghiệm, , các công việc đó chiếm quá nhiều thời gian

đến nỗi không thể nào triển khai công thức đó cho toàn bộ chương trình Đó

là “mặt không hiện thực” của phương pháp “tích cực”

Mặt khác, cũng phải thừa nhận rằng một số học sinh chấp hành rất kém

trách nhiệm cá nhân, tất nhiên phải dìu dắt học sinh đi đến tự giáo dục, song

phải thấy rằng áp lực đó phần nào đi ngược lại với tinh thần của phương pháp

Nói chung phương pháp “tích cực” phù hợp khá tốt với tâm lí trẻ em,

song đặc điểm tâm lí đó thường ảnh hưởng không hay đến những yếu tố giáo

dục khác không kém phần quan trọng: ví dụ phủ nhận vai trò của môi trường

hoặc là do phương pháp tích cực, vai trò trẻ em được tăng trưởng có thể dẫn

đến xóa bỏ quá đáng vai trò của thầy giáo Dạy học là một quá trình phức tạp

xuất phát từ bản thân trẻ em, song không dừng lại ở đấy Mục đích của nhà

giáo dục vượt quá tầm nhìn của trẻ em, còn trẻ em thì cần đến hình mẫu Hơn

nữa, dạy học nhằm tạo ra một hệ thống giá trị, song các giá trị từ phương

pháp “tích cực” có khuynh hướng dẫn học sinh đến sự tự cao tự đại, xem

mình là trung tâm vũ trụ Học sinh tích cực đôi khi có thể là “kẻ thích phô

trương” và “phô diễn lung tung”

Mặt khác, mọi hệ thống dạy học dựa vào bản thân học sinh đều mang

tính mơ hồ: Dạy học tiến hóa giữa các mục tiêu tự chủ (được xác định trong

Trang 25

cách xử thế) và các mục tiêu phát triển Nếu khuyến khích mục tiêu tự chủ

việc dạy học chỉ đứng về phía những kĩ năng, thành tựu dễ dãi nhất, thấp nhất,

điều đó dẫn đến hi sinh những học sinh suất sắc nhất Nếu ưu tiên tuyệt đối

cho học mục tiêu phát triển, điều đó có hại cho những học sinh kém thông

minh

2.5.2 Lợi thế của phương pháp tích cực

Rõ ràng lợi thế nhiều hơn khó khăn Đứng về mặt hiểu biết phương pháp

“tích cực’ có hiệu quả hơn phương pháp độc đoán vì huy động được nhân

cách học sinh vào hành động hiểu biết “Con người học sinh là một nhân tố

chi phối các phong cách nhận thức” (J.Deurillon)

Kết luận chương 2:

Qua việc nghiên cứu về vấn đề dạy học nhằm nâng cao tính tích cực

nhận thức của học sinh, và những điều kiện, nguyên tắc, nội dung của phương

pháp Tôi cho rằng nếu biết cách áp dụng phương pháp này phù hợp với từng

nội dung, từng môn học sẽ mang lại hiệu quả cao cho việc dạy và học ở phổ

thông

Sau đây tôi xin giới thiệu một số mẫu bài (đoạn) giảng dạy có sử dụng

phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao tính tích cực trong hoạt động

nhận thức của học sinh của chương trình môn công nghệ lớp 11

Trang 26

CHƯƠNG 3: GIỚI THIỆU MỘT SỐ MẪU BÀI (ĐOẠN) GIẢNG DẠY

CÓ SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC NHẰM NÂNG

CAO TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH TRONG

CHƯƠNG TRÌNH CÔNG NGHỆ LỚP 11 3.1 Mục đích của việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy

học môn công nghệ ở trường phổ thông

Vận dụng những nguyên tắc dạy học nhằm phát huy tính tích cực nhận

thức của học sinh, làm cho học sinh tự lực nhận thức và tạo hứng thú học tập

Từ đó học sinh nắm vững tri thức sâu sắc hơn và hiểu được cả phương pháp,

cách thức của hành động thu nhận tri thức đó

3.2 Nội dung của một số mẫu bài (đoạn) giảng dạy có sử dụng phương

pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao tính tích cực trong hoạt động nhận

thức của học sinh trong dạy học môn công nghệ lớp 11 Gồm những bài

Trang 27

Bài 25: HỆ THỐNG BÔI TRƠN

I Mục đích yêu cầu

- Học sinh biết được nhiệm vụ của hệ thống bôi trơn, cấu tạo chung và

nguyên lí làm việc cuả hệ thống bôi trơn cưỡng bức

- Học sinh đọc được sơ đồ hệ thống bôi trơn cưỡng bức

II Phương tiện và phương pháp

1 Phương tiện

- Tranh vẽ phóng to hình 25.1 SGK

- Vật mẫu là các chi tiết thật trong hệ thống

- Máy chiếu (nếu có phần mềm hoặc hình vẽ hệ thống làm mát trên máy

2 Kiểm tra bài cũ

Câu 1: Cơ cấu phân phối khí có nhiệu vụ gì?

Câu 2: So sánh cấu tạo và nguyên lí làm việc của cơ cấu phân phối khí

dùng xupap đặt và xu pap treo?

Trang 28

II Hệ thống bôi trơn cưỡng bức

1 Cấu tạo

2 Nguyên lí làm việc

Trong đó trọng tâm là phần II

*/ Vào bài

Trong động cơ đốt trong mỗi cơ cấu, hệ thống đều đóng vai trò rất quan

trọng để động cơ hoạt động được Hệ thống bôi trơn có nhiệm vụ rất quan

trọng để động cơ làm việc bình thường và kéo dài tuổi thọ của các chi tiết Để

hiểu rõ nhiệm vụ, cấu tạo và nguyên lí làm việc của hệ thống bôi trơn, chúng

ta cùng đi vào bài 25: Hệ thống bôi trơn

HĐ1: Tìm hiểu nhiệm vụ và

phân loại hệ thống bôi trơn

GV: Chia lớp thành các nhóm

thảo luận (2 người/ nhóm)

Ghi câu hỏi lên bảng với nội

dung như sau:

? Liên hệ với thực tế cho biết dầu

bôi trơn có tác dụng gì?

? Vì sao động cơ đốt trong phải

có hệ thống bôi trơn?

HS: Thảo luận và trả lời

GV lấy ví dụ và giải thích: Khi

động cơ làm việc, trong động cơ

có rất nhiều chi tiết chuyển động

tương đối với nhau gây ma sát

I Nhiệm vụ và phân loại hệ thống bôi trơn

1 Nhiệm vụ

- Hệ thống bôi trơn có nhiện vụ đưa dầu bôi trơn đến bề mặt ma sát của các chi tiết để đảm bảo điều kiện làm việc bình thường của động cơ

và tăng tuổi thọ các chi tiết

Trang 29

làm các chi tiết bị mài mòn,

nhanh lỏng VD: Pit-tông chuyển

động tịnh tiến trong xilanh của

động cơ

GV: Có nhiều cách để phân loại

hệ thống bôi trơn Theo phương

pháp bôi trơn có 3 loại: Bôi trơn

bằng vung té, bôi trơn cưỡng

bức, bôi trơn bằng cách pha đầu

bôi trơn vào nhiện liệu

GV: Phương pháp bôi trơn bằng

pha dầu bôi trơn vào nhiên liệu

chỉ bôi trơn trong cacte và hộp

xilanh Thông thường tỉ lệ dầu

bôi trơn là 1/20 đến 1/30

GV: ? Trong thực tế các em thấy

động cơ nào sử dụng phương

pháp bôi trơn bằng vung té?

- Bôi trơn bằng vung té

- Bôi trơn cưỡng bức

- Bôi trơn bằng pha dầu bôi trơn vào nhiên liệu (phương pháp kết hợp) Bài này chỉ giới thiệu hệ thống bôi trơn cưỡng bức

Trang 30

thức

HĐ 2: tìm hiểu cấu tạo và

nguyên lí làm việc của hệ thống

bôi trơn cưỡng bức

GV: Treo tranh và hướng dẫn học

sinh tìm hiểu về hệ thống bôi trơn

cưỡng bức

GV: ? Quan sát tranh vẽ em hãy

cho biết hệ thống bôi trơn gồm

những chi tiết nào?

HS: TL

GV: Kết hợp câu trả lời của học

sinh và giải thích để được tên và

vị trí của các chi tiết trong sơ đồ

Cho HS tìm hiểu nhiệm vụ của

các chi tiết trong hệ thống Sử

dụng các câu hỏi sau:

? Lưới lọc có tác dụng gì?

? Tại sao phải dùng bầu lọc dầu?

Bầu lọc dầu phải ở vị trí nào của

thùng dầu? (Không sát và không

ở trên mặt)

? Tại sao phải dùng bơm dầu?

HS: TL

GV: Kết luận

GV có thể hỏi HS: ? Hãy giải

II Cấu tạo và nguyên lí làm việc của hệ thống bôi trơn cưỡng bức

1 Cấu tạo

8

1 Thân máy 2 Nắp máy

3 Đường nước nóng ra khỏi động cơ

4 Van hằng nhiệt 5 Két nước

6 Giàn ống của két nước 7 Quạt gió

8 Ống nước nối tắt về bơm

9 Puli và đai truyền 10 Bơm nước

11 Ống phân phối nước lạnh

Ngày đăng: 31/10/2015, 07:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT - Vấn đề dạy học nhằm phát huy tính tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh ở một số bài giảng dạy môn công nghệ
BẢNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT (Trang 4)
Sơ đồ cấu tạo hệ thống - Vấn đề dạy học nhằm phát huy tính tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh ở một số bài giảng dạy môn công nghệ
Sơ đồ c ấu tạo hệ thống (Trang 36)
Hình 26.2 SGK - Vấn đề dạy học nhằm phát huy tính tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh ở một số bài giảng dạy môn công nghệ
Hình 26.2 SGK (Trang 39)
Hình 28.1 SGK phóng to - Vấn đề dạy học nhằm phát huy tính tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh ở một số bài giảng dạy môn công nghệ
Hình 28.1 SGK phóng to (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w