1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhịp điệu phát triển dân số một số xã thuộc huyện lục nam tỉnh bắc giang và những ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế xã hội

63 698 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 471,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác động của dân số đến chất lượng cuộc sống của nhân dân xã Bình Sơn, xã Trường Sơn và nhân dân trong huyện... Sự gia tăng dân số không kiểm soát được là nguyên nhân dẫn đến bùng nổ dân

Trang 1

Lời cảm ơn

Để hoàn thành khoá luận này, trớc hết em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Nguyễn Thị Lan, ngời đã giành nhiều thời gian chỉ dẫn tận tình và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu

Em xin cảm ơn ban chủ nhiệm khoa Sinh – KTNN, các thầy cô trong tổ

Động vật, bộ môn Giải phẫu – Sinh lý ngời và động vật trờng Đại học s phạm

Trang 2

Lời cam đoan Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu đề tài: “Nhịp điệu phát triển dân số một

số xã huyện Lục Nam – tỉnh Bắc Giang và những ảnh hởng của nó tới sự phát triển kinh tế – xã hội” là kết quả của riêng tôi và không trùng với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Hà Nội, tháng 05 năm 2007

Sinh viên Phạm Thị Thuấn

Trang 3

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt 5

Chương 1 Mở đầu 6

1.1 Đặt vấn đề 6

1.2 Nội dung nghiên cứu 8

Chương 2 Tổng quan tài liệu 9

2.1 Vai trò của dân số và sự cần thiết nghiên cứu 9

2.2 Hậu quả của bùng nổ dân số đối với chất lượng cuộc sống 10

2.2.1 Về mặt kinh tế – xã hội 10

2.2.2 Dân số tăng nhanh, tài nguyên cạn kiệt, môi trường suy thoái 13

2.3 Năm năm thực hiện công tác KHHGĐ huyện Lục Nam – tỉnh Bắc Giang (2002 -2006) 23

2.3.1 Thực trạng của huyện Lục Nam 23

2.3.2 Tình hình thực hiện công tác DS - KHHGĐ của huyện Lục Nam trong những năm qua 25

2.3.3 Đánh giá kết quả 26

2.3.4 Phương hướng và giải pháp thực hiện công tác DS - KHHGĐ đến năm 2007 và những năm tiếp theo của huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang 30

Chương 3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 33

3.1 Đối tượng nghiên cứu 33

3.1.1 Địa điểm nghiên cứu 33

3.1.2 Thời gian nghiên cứu 33

3.2 Phương pháp nghiên cứu 34

3.2.1 Dùng phương pháp thống kê, điều tra để nghiên cứu nhịp điệu phát triển dân số tại UBDSGĐ&TE huyện và xã 34

Trang 4

3.2.2 Trực tiếp điều tra dân số qua 2 xã trong huyện 34

3.2.3 Xử lý số liệu điều tra được theo phương pháp thống kê toán học mà các nhà dân số học thường làm 34

Chương 4 kết quả nghiên cứu và thảo luận 36

4.1 Nhịp điệu phát triển DS - KHHGĐ ở huyện Lục Nam 36

4.2 Bước đầu tìm hiểu về phát triển DS-KHHGĐ xã Bình Sơn và xã 40

4.2.1 Sự phát triển DS-KHHGĐ xã Bình Sơn 40

4.2.2 Nhịp điệu phát triển dân số xã Bình Sơn trong 5 năm qua (2002 -2006) 43

4.2.3 Sự phát triển DS-KHHGĐ xã Trường Sơn 44

4.2.4 Nhịp điệu phát triển dân số xã Trường Sơn trong 5 năm qua (2002 – 2006) 47

4.3 Hậu quả của việc gia tăng dân số và những ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế xã hội 48

4.3.1 Tác dụng của tăng dân số đến tài nguyên và môi trường của một số xã, huyện Lục Nam 48

4.3.2 Tác động của dân số đến phát triển kinh tế – xã hội 49

4.3.3 Tác động của dân số đến chất lượng cuộc sống của nhân dân xã Bình Sơn, xã Trường Sơn và nhân dân trong huyện 58

Kết luận và đề nghị 60

Tài liệu tham khảo 62

Trang 5

danh mục chữ viết tắt

DS – KHHGĐ: Dân số – kế hoạch hoá gia đình

FAO - : Tổ chức Liên hợp quốc về lương thực và nông nghiệp BPTT : Biện pháp tránh thai

UBDSGĐ&TE: Uỷ ban dân số Gia đình và Trẻ em

UBND : Uỷ ban nhân dân

UBTVQH : Uỷ ban thường vụ quốc hội

UNESCO : Tổ chức Liên hợp quốc về Giáo dục – Khoa học và Văn hoá

Trang 6

Chương 1 Mở đầu 1.1 Đặt vấn đề

Trong lịch sử phát triển của nhân loại, sự gia tăng dân số diễn ra ngày một nhanh Theo tài liệu của quỹ dân số liên hợp quốc năm 1960, dân số thế giới là 3 tỷ người, năm 1975 là 4 tỷ người, năm 2000 là 6,35 tỷ người và tính

đến 7 giờ 19 phút ngày 26/2/2006 dân số thế giới là 6,5 tỷ người Theo dự báo của Liên hợp quốc (1982) thì dân số thế giới năm 2010 là 6987 triệu người, năm 2020 là 7793 triệu người và năm 2025 là 8162 triệu người Sự gia tăng dân số không kiểm soát được là nguyên nhân dẫn đến bùng nổ dân số - một trong các nguy cơ đe doạ sự tồn tại, phát triển của loài người Để ngăn chặn

được nguy cơ đó không gì khác là mỗi quốc gia, mỗi dân tộc trên thế giới không phân biệt tôn giáo, màu da, phải tích cực hơn trong công tác dân số, để hạn chế sự gia tăng dân số nhằm tiến tới ổn định dân số đảm bảo sự phát triển bền vững của hành tinh Ngày 11/7 hàng năm được chọn làm ngày dân số thế giới để nhắc nhở và cảnh báo cho tất cả mọi người cùng nhau hành động để giảm bớt sự gia tăng dân số

Sự gia tăng dân số diễn ra mạnh mẽ ở các nước đang phát triển ở Việt Nam hiện nay dân số đứng hàng thứ 13 trên thế giới Tính đến ngày 31/12/2005 ước tính dân số Việt Nam là 83,12 triệu người Nếu tiếp tục gia tăng dân số như hiện nay thì sau 10 năm nữa dân số nước ta sẽ đạt 94 triệu người Dân số tăng nhanh đã để lại hậu quả nghiêm trọng tác động xấu đến mọi mặt của đời sống xã hội, trở thành nỗi lo của nhiều nước trên thế giới, của cả cộng đồng quốc tế, làm phá vỡ các yếu tố cân bằng của tự nhiên, xã hội: làm cạn kiệt tài nguyên suy thoái trầm trọng nền kinh tế quốc tế, gây ra nạn

đói, dịch bệnh thất nghiệp, thất học, suy thoái nòi giống, ô nhiễm môi trường,

uy hiếp trực tiếp đến sự tồn tại của loài người Quan hệ của dân số với phát

Trang 7

triển kinh tế – xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân, xoá đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm được nhà nước ta đặc biệt quan tâm

Cho đến nay Việt Nam đã đề ra hai chiến lược phát triển dân số, đó là

“chiến lược DS – KHHGĐ đến năm 2000” được ban hành tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 4 khoá VII tháng 1 năm 1993 và “Chiến lược dân số Việt Nam 2001 - 2010” Mục tiêu của chiến lược dân số lần thứ nhất chủ yếu tập trung vào việc giảm nhanh mức sinh thông qua KHHGĐ hướng phấn đấu “mỗi gia đình chỉ có 1 hoặc 2 con” So với chiến lược dân số lần thứ nhất “chiến lược dân số Việt Nam 2001 – 2010”

có mục tiêu toàn diện hơn, vừa nhằm duy trì xu thế giảm sinh vững chắc, vừa nâng cao chất lượng dân số thông qua chăm sóc sức khoẻ sinh sản Việt Nam luôn quán triệt quan điểm coi công tác DS – KHHGĐ là một bộ phận quan trọng trong kế hoạch phát triển đất nước

Huyện Lục Nam là huyện miền núi nằm trên trục phát triển kinh tế chung của tỉnh, có các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ, đường sắt và đường sông chạy qua, có các tiểu vùng kinh tế có khả năng thuận lợi để phát triển vùng chuyên canh nông sản, hàng hoá, các chợ đầu mối là nơi cung cấp khối lượng lớn nông sản thực phẩm cho vùng mỏ Quảng Ninh Đồng thời, Lục Nam còn có các di tích và điểm du lịch sinh thái để phát triển ngành du lịch Huyện có 27 xã, thị trấn Dân số toàn huyện tính đến ngày 31/12/2006 là 207645 người

Đời sống của nhân dân trong huyện còn thấp và gặp nhiều khó khăn, thu nhập bình quân đầu người thấp, mà nguyên nhân lớn nhất là vấn đề dân số, biết được nguyên nhân cụ thể từ đó tìm ra giải pháp khắc phục để có thể đưa kinh tế của huyện đi lên

ở Việt Nam trong những năm gần đây, có rất nhiều công trình nghiên cứu chiến lược phát triển DS – KHHGĐ trên phạm vi toàn quốc, toàn tỉnh, còn trên phạm vi hẹp (huyện, xã, thôn) thì sự gia tăng dân số cụ thể chưa được các nhà nghiên cứu đề cập đến Xuất phát từ sự cần thiết tìm hiểu sự gia tăng

Trang 8

dân số cấp cơ sở và những ảnh hưởng của sự gia tăng đó đến sự phát triển kinh

tế – xã hội của địa phương để từ đó đề ra phương pháp và giải pháp nhằm giúp cho công tác DS – KHHGĐ đạt hiệu quả cao hơn Tôi đã chọn đề tài nghiên cứu “Nhịp điệu phát triển dân số một số xã huyện Lục Nam – tỉnh Bắc Giang

và những ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế – xã hội”

1.2 Nội dung nghiên cứu

Do yêu cầu của đề tài, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu các vấn đề sau:

- Nghiên cứu sự phát triển dân số của 2 xã Bình Sơn và Trường Sơn huyện Lục Nam trong 5 năm qua (2002 -2006)

- Đề ra 1 số giải pháp cho chiến lược DS - KHHGĐ trong thời gian tới

Trang 9

Chương 2 Tổng quan tài liệu 2.1 Vai trò của dân số và sự cần thiết nghiên cứu

Dân số với tư cách vừa là lực lượng sản xuất vừa là lực lượng tiêu dùng, nói đến dân số là nói đến con người – là nguồn tài nguyên quan trọng quyết

định sự phát triển của xã hội Muốn đảm bảo sự tồn tại và phát triển của con người, bất kỳ chế độ xã hội nào, bất kỳ bộ máy quản lý nào đều phải quan tâm

đến sự tồn tại phát triển đó Do vậy, quy mô cơ cấu dân số và chất lượng dân

số ảnh hưởng rất lớn đến trước hết chính con người và đến quá trình phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia

Con người muốn tồn tại được trước hết phải tiêu dùng một lượng của cải vật chất nhất định Nếu lượng của cải vật chất đó không thay đổi hoặc tăng không đáng kể mà dân số ngày càng đông thì nó sẽ cản trở việc cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân

Mặt khác, dân số là cơ sở hình thành nguồn lao động Nguồn lao động tạo điều kiện tăng nhanh nguồn của cải vật chất và tinh thần Trong chừng mực nhất định, dân số còn là sức mạnh của quốc gia Tuy vậy ngay với phương diện là lực lượng sản xuất nếu dân số quá đông, tăng quá nhanh, nguồn lao động quá thừa lại gây sức ép về việc làm Đây là mối quan tâm thường trực của những nước đang phát triển như nước ta hiện nay

Nhịp điệu phát triển dân số tác động đến mọi mặt, mọi lĩnh vực đời sống kinh tế – xã hội và vấn đề giáo dục – giao thông - môi trường – văn hoá…chính bởi vậy Dân số luôn là vấn đề được quan tâm ở mọi lúc, mọi nơi, mọi quốc gia, mọi dân tộc Muốn quản lý được xã hội, trước hết phải quản lý

được quá trình biến động dân số, các nhà chức trách, các nhà quản lý xã hội cần có biện pháp điều tiết về quy mô dân số cho phù hợp với nhu cầu và khả năng phát triển xã hội Trươc nguy cơ bùng nổ dân số có thể xảy ra, vấn đề dân số luôn là vấn đề quan tâm của mọi ngành, mọi cấp trong nước và quốc tế

Trang 10

Nó là đối tượng không những của các cuộc tranh luận về khoa học mà của cả cuộc đấu tranh tư tưởng gay gắt Điều đó cho ta thấy sự cần thiết nghiên cứu của vấn đề dân số và sự ra tăng dân số

2.2 Hậu quả của bùng nổ dân số đối với chất lượng cuộc sống

Mục đích thực sự của việc phát triển là cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của con người Mỗi dân tộc đều có những mục tiêu khác nhau trong

sự phát triển nhưng tựu chung đều là mục tiêu xây dựng một cuộc sống lành mạnh, ấm no, hạnh phúc, có quyền được tự do về chính trị, đảm bảo về an ninh quốc phòng và đảm bảo nguyên tắc phát triển bền vững Đó là mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người, đảm bảo phát triển xã hội không chỉ cho hôm nay mà cho cả thế hệ mai sau Song chất lượng cuộc sống lại gắn liền với quy mô dân số Bùng nổ dân số đang là nguy cơ đe doạ đến mọi mặt đời sống của con người và là một trong những nguy cơ đe doạ sự tồn vong của nhân loại Hậu quả của bùng nổ dân số hiện nay thể hiện ở những vấn đề sau:

2.2.1 Về mặt kinh tế – xã hội

Thực tế cho thấy dù kinh tế phát triển, tăng trưởng khá nhưng tỷ lệ phát triển dân số tăng nhanh thì thu nhập bình quân đầu người cũng không thể tăng hoặc tăng không đáng kể, đời sống nhân dân không được cải thiện, huống chi khi dân số đã tăng nhanh đến độ bùng nổ Bùng nổ dân số khiến cho những nhu cầu tối thiểu của con người như ăn, mặc, ở, học hành và có việc làm chẳng những không được đáp ứng mà còn làm cho các mặt kinh tế – xã hội bị

ảnh hưởng nghiêm trọng,

2.2.1.1 Hậu quả của việc tăng dân số quá nhanh đối với việc cung cấp lương thực thực phẩm

Hiện nay, theo liên hợp quốc vẫn còn rất nhiều người dân trên thế giới

đang sống trong tình trạng đói dai dẳng, những thập kỷ trước, phân nửa nhân

Trang 11

loại sống trong tình trạng đói ăn, hàng năm có hàng chục triệu người bị chết

đói [4] Sang thế kỷ 20 nạn đói vẫn bao trùm nhân loại: Những năm 70 trên trái đất có 2 triệu người chết đói, đến thập kỷ 80 lên 18 triệu, thập kỷ 90 là 51 triệu người chết đói đồng thời nạn đói đe doạ 800 triệu người khác Cho đến nay vấn đề lương thực, thực phẩm vẫn là mối quan tâm đặc biệt của nhiều quốc gia Theo thời báo kinh tế Việt Nam ra ngày 3 -10 năm 2003, hàng năm trên thế giới có khoảng 840 triệu người bị đói, phần lớn ở các nước có dân số quá cao: Nigieria, Êtiôpi…

Theo FAO thì sau 18 năm (1970 – 1988) sản lượng lương thực thế giới tăng 1,25 lần nhưng dân số lại tăng 1,41 lần [1] Vì vậy, bình quân lương thực theo đầu người mỗi năm từ 333kg giảm xuống còn 296kg, lương thực thiếu kéo theo chăn nuôi kém phát triển, dẫn tới hiện tượng thiếu đạm động vật gây nên nhiều chứng bệnh “chết đói” chậm chạp dù vẫn có ăn uống

ở Việt Nam năm 1945 có 2 triệu người bị chết đói Tuy nhiên, do làm tốt công tác giống trong sản xuất Nông nghiệp, xây dựng hệ thống tưới tiêu…nên năng xuất lúa và hoa màu đã tăng lên vượt bậc trong năm gần đây

Ước tính sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam đứng thứ 2 hoặc 3 trên thế giới Nhưng nguy cơ thiếu lương thực, thực phẩm có thể xảy ra bất cứ lúc nào nếu không kiểm soát sự ra tăng dân số, không có kế hoạch, chính sách phù hợp trong sản xuất Nông, Lâm, Ngư nghiệp

Bên cạnh vấn đề thiếu lương thực, thực phẩm thì vấn an toàn lương thực, thực phẩm cũng là vấn đề đáng báo động hiện nay Do sự phát triển mạnh mẽ về công nghệ và dịch vụ chế biến: sự tập trung ngày càng cao các khu vực dân cư quanh đô thị và khu công nghiệp, việc tổ chức đại trà nhiều mặt hàng thực phẩm, việc mở rộng lưu thông buôn bán trong thị trường toàn quốc ở mỗi nước cũng như trong thị trường quốc tế đã làm cho vấn đề vệ sinh

an toàn thực phẩm mang thêm một ý nghĩa mới ở tầm cỡ toàn cầu

Thực phẩm bị ô nhiễm là do 2 nguyên nhân chính:

Trang 12

- Do sự xâm nhiễm của các loại vi sinh vật: vi khuẩn, nấm mốc, virut…

- Do bị nhiễm độc bởi các chất thải công nghiệp đang đổ vào các nguồn nước tự nhiên cũng như các nguồn nước ăn của dân cư

ở Việt Nam sự gây nhiễm bởi các vi sinh vật chiếm tỷ lệ lớn hơn rất nhiều Theo báo cáo chọn lọc về kết quả kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm tại Hội thảo Dinh dưỡng lần thứ 2 của tác giả Bùi Minh Đức năm 1991 thì trong 6 năm (1983 – 1989) trên toàn quốc đã xảy ra 269 vụ ngộ độc thực phẩm với số người bị mắc là 5756 và số trường hợp tử vong là 156

2.2.1.2 Sức ép dân số đối với việc bố trí việc làm

Nguồn nhân lực là nhân tố quan trọng nhất trong sản xuất ngay cả trong sản xuất tự động hoá Nhưng nguồn lao động tăng nhanh lại gây sức ép lớn đối với việc bố trí công ăn việc làm, đặc biệt ở các nước đang phát triển ở Châu á, Phi – Mỹ La Tinh có từ 1/4 đến 1/3 số lao động không có việc làm thường xuyên, nhiều nước tỷ lệ này là 70% Theo tổ chức lao động quốc tế, năm 1980

có gần 1/3 lực lượng lao động thế giới thất nghiệp hoặc bán thất nghiệp Còn hiện nay thế giới có ít nhất 15% lực lượng lao động thất nghiệp thực sự [1]

ở Việt Nam năm 2005, theo báo cáo ước tính của tổng cục thống kê, trên 20% lao động ở khu vực nông thôn thiếu việc làm, tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị vẫn cao khoảng 5,3% [4] Dư thừa lao động sẽ là nguyên nhân nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội, để giải quyết việc làm cho người dân thì biện pháp cơ bản là tăng trưởng kinh tế tốc độ cao, phát triển mạnh các thành phần kinh tế, đẩy mạnh đô thị hoá và quan trọng là giảm tốc độ tăng dân số

2.2.1.3 Hậu quả của tăng dân số quá nhanh đối với giáo dục - đào tạo

Quy mô dân số lớn và tốc độ phát triển dân số quá nhanh cũng đã tác

động mạnh đến sự phát triển giáo dục Hàng năm, mức đầu tư cho giáo dục tăng nhưng không kịp với mức tăng dân số Dân số tăng nhanh ảnh hưởng đến giáo dục cả về số lượng lẫn chất lượng Số trường, số lớp mở ra ngày càng

Trang 13

nhiều, cơ sở vật chất dạy học được cung ứng ngày một tăng nhưng vẫn chưa

đáp ứng đủ nhu cầu của nhân dân

Một điều nghịch lý là trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão như hiện nay, tỷ lệ người dân mù chữ vẫn còn khá cao Trên thế giới vẫn còn gần 1 tỷ người không biết chữ [2], trong đó có 666 triệu phụ nữ, 320 triệu nam giới [11] Điều này là thách thức lớn đặt ra cho các nhà giáo dục cần phải

đưa ra các đề án xoá mù chữ trên phạm vi toàn cầu

ở nước ta, dân số tăng quá nhanh đã gây sức ép lớn đến sự phát triển của giáo dục về nhiều mặt Sức ép dân số đối với giáo dục thể hiện ở số lượng người cần được học ngày càng tăng, vượt quá khả năng cung ứng phương tiện vật liệu và kỹ thuật dạy học để có chất lượng tốt Ngoài ra, công tác giáo dục

và đào tạo còn chịu sức ép gián tiếp của dân số, đó là sự giảm sút chất lượng cuộc sống xã hội nói chung, khiến cho đời sống của học sinh và giáo viên gặp nhiều khó khăn ở Việt Nam có khoảng 15% trẻ em chưa được đến trường [5]

Ngoài ra dân số tăng nhanh còn tác động đến công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, công tác an ninh quốc phòng

2.2.2 Dân số tăng nhanh, tài nguyên cạn kiệt, môi trường suy thoái

Tình trạng cạn kiệt tài nguyên và suy thoái môi trường cùng với sự ra tăng dân số đặc biệt ở các nước đang phát triển là những mối hiểm hoạ đối với nhân loại

2.2.2.1 Tài nguyên cạn kiệt

Tài nguyên thiên nhiên gồm những dạng không tái tạo như khoáng sản, than, dầu mỏ và khí đốt, và những dạng có khả năng tái tạo như rừng, đất, nước và các nguồn lợi thực vật, động vật khác Chúng là nguồn sống, là những vật liệu để con người sử dụng trong xây dựng, may mặc, chế tạo công cụ…và lấy năng lượng phục vụ cho đời sống của mình Tất cả đều không phải là vô tận nếu như con người khai thác bất hợp lý và sử dụng lãng phí

Trang 14

Dân số tăng nhanh, nhu cầu của con người ngày càng cao, mức độ khai thác tài nguyên ngày càng lớn dẫn đến nguy cơ cạn kiệt tài nguyên tái tạo và tài nguyên không tái tạo

Con người đã biết sử dụng kim loại, khai khoáng và nấu chảy kim loại

từ rất xa xưa, song cường độ khai thác ngày càng cao sau cuộc cách mạng công nghiệp Trong thế kỷ, loài người đã lấy từ trong lòng đất 130 tỷ tấn than,

35 tỷ tấn dầu và trên 1 tỷ tấn hơi đốt [12] Mỗi năm con người khai thác hàng trăm tỷ tấn khoảng sản Nếu cứ khai thác và sử dụng như vậy thì sau 200 năm nữa sẽ hết than đá, 100 năm nữa sẽ hết dần dầu mỏ những khoáng sản như: bạc, thuỷ ngân, kẽm, chì…cũng chỉ khai thác được 20 – 30 năm nữa [6]

Thổ nhưỡng, thế giới động vật – thực vật tuy là tài nguyên tái tạo được nhưng cũng bị suy giảm nhanh chóng Từ năm 1600 đến nay có hơn 700 loài

động vật, thực vật đã bị tuyệt chủng, có nhiều loại bị tuyệt chủng trước khi phát hiện ra Sự giảm tính đa dạng sinh học là một trong những nguyên nhân làm mất cân bằng sinh thái

Ngoài ra do con người khai thác rừng bừa bãi, không có kế hoạch tái sinh rừng làm cho diện tích rừng ngày càng thu hẹp lại Mất rừng sẽ mất nơi cư trú của nhiều loại động vật, thực vật quý hiếm Mất rừng làm tăng các hiện tượng thiên tai: hạn hán, lũ lụt, xói mòn đất đai, đặc biệt là lũ quét (đã xuất hiện ở một số tỉnh phía bắc nước ta) gây thiệt hại lớn về người và của

Tài nguyên nước hiện nay khá dồi dào ước tính khoảng 1386 triệu km3

nhưng lượng nước ngọt được dùng chỉ chiếm 0,8% Do phá rừng bừa bãi làm mất nguồn nước ngầm do các chất thải Công nghiệp, Nông nghiệp, chất thải sinh hoạt nên nhiều nơi lâm vào tình trạng thiếu nước và nhiều nơi nước bị ô nhiễm không sử dụng được [10]

2.2.2.2 Môi trường sống đang bị tàn phá và ô nhiễm

Tất cả những gì bao quanh sinh vật ảnh hưởng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự tồn tại và phát triển của sinh vật gọi là môi trường

Trang 15

Ô nhiễm môi trường là sự làm bẩn, làm thoái hoá môi trường sống, là sự làm biến đổi theo hướng tiêu cực môi trường tự nhiên, làm biến đổi toàn thể hay chỉ một phần bằng những chất gây tác hại gọi là chất gây ô nhiễm

Theo tiến sỹ Ehrlich, ô nhiễm môi trường là kết quả của 3 yếu tố

Theo Ehrlich, quy mô dân số là yếu tố quan trọng nhất

Ô nhiễm môi trường xảy ra trên cả môi trường đất, nước, không khí

Ô nhiễm môi trường đất:

Dân số tăng lên để đảm bảo lương thực phải quảng canh, thâm canh, phải tăng cường các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, tăng sử dụng phân bón hoá học, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, tăng lượng chất thải công nghiệp, nông nghiệp, chất phóng xạ, tăng lượng rác thải vào môi trường đất Theo Lê Diên Trực năm 1997 trong một năm nước ta dùng khoảng

15000 – 20000 tấn thuốc trừ sâu Điều đó làm ô nhiễm trầm trọng môi trường

đất [10]

Đất còn bị ô nhiễm do các tác nhân sinh học như: trực khuẩn lị, trực trùng, a mít, ký sinh trùng…từ việc đổ bỏ chất thải mất vệ sinh và sử dụng phân bắc bón cho đất

Nước thải sinh hoạt của con người, phân rác xúc vật, nhất là những trang trại, đồng cỏ chăn nuôi còn làm cho đất bị nhiễm các chất hữu cơ tới mức dư thừa, gây mất cân bằng sinh học trong đất và ô nhiễm do các mầm bệnh (thương hàn, ỉa chảy, giun sán…)

Trong hoạt động kinh tế, con người chưa hiểu hết hoặc cố tình không hiểu những chức năng sinh thái này, coi đất như nguồn “dinh dưỡng” giàu có

để thoả sức bóc lột qua việc trồng trọt, chăn thả: Coi đất như một chất trơ, biến

Quy

mô dân

số

Mức tiêu thụ (tính theo đầu người)

Tác động của môi trường (tính theo

đơn vị sản xuất)

Độ ô nhiễm

Trang 16

chúng thành nghĩa địa để chôn vùi mọi thứ, từ nước thải, phân rác đến các phế thải của nền công nghiệp và cả bã phóng xạ…

Ngoài ra do quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá, mở đường, xây dựng cầu cống làm diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp lại

Ô nhiễm môi trường nước:

Sự sống tồn tại trên trái đất là nhờ có nước Càng ngày nước ngọt càng

được sử dụng nhiều hơn để đáp ứng những nhu cầu đa dạng của cuộc sống con người Tuy nhiên, do khai thác và sử dụng tài nguyên nước chưa hợp lý nên nguồn nước đang bị nhiễm bẩn, thiếu trầm trọng

Sự bùng nổ dân số kéo theo quá trình đô thị hoá ngày càng tăng nhanh

Sự tập trung dân số vào các thành phố lớn sẽ làm nảy sinh hàng loạt vấn đề về

ô nhiễm môi trường Việc cung cấp cơ sở hạ tầng như việc cấp thoát nước sẽ gặp khó khăn Cùng với sự gia tăng dân số mạnh mẽ dẫn đến sự khủng hoảng nguồn nước – là một vấn đề nghiêm trọng không kém so với vấn đề khủng hoảng năng lượng Ngày nay, ngay tại các nước tiên tiến, lượng nước sinh hoạt

được xử lý đạt tiêu chuẩn cũng chỉ chiếm 1/3 lượng nước được sử dụng [16]

Nguồn nước ngọt vốn đã thiếu lại bị nạn ô nhiễm do các sản phẩm sinh hoạt của con người thải vào: nước thải nông nghiệp (phân, nước tiểu, thuốc trừ sâu…); nước thải công nghiệp (chứa những chất ô nhiễm không hay khó bị phân huỷ bởi vi sinh vật, chứa những chất độc hại cho vi sinh vật có lợi cho nước); nước thải sinh hoạt rất giàu protein, chất béo, chất tẩy rửa; nước thải đô thị Sự ô nhiễm gây ra hiện tượng phì dưỡng, sự phì dưỡng gây ra do tự nhiên

đã từng xảy ra trong lịch sử phát triển của sinh giới Đã có 2 lần hàm lượng

CO2 tăng vượt bậc làm cho thực vật phát triển một cách “bùng nổ” Khí hậu biến động mạnh, thực vật bị chôn vùi tạo nên những nguồn nhiên liệu hoá thạch mà chúng ta đang khai thác như than đá, dầu mỏ và khí đốt Hiện nay,

sự phì dưỡng gây ra do con người song cũng là hiện tượng phổ biến không chỉ trong nước ngọt, mà cả ở các vùng ven biển và biển kín

Trang 17

Phì dưỡng là quá trình biến đổi của hệ sinh thái thuỷ vực do nguồn nước cấp cho nó có lượng muối khoáng và chất hữu cơ quá dư thừa mà các quần xã sinh vật không thể đồng hoá được

Những chất thải này thải ra sông, suối, biển hoặc ngấm vào mạch nước ngầm Hậu quả là gây ô nhiễm nguồn nước, tác động xấu đến đời sống nhân dân và ảnh hưởng đến hệ sinh thái dưới nước

Hoạt động của con người làm nhiễm bẩn đại dương với gần 40 tỷ tấn chất thải đổ xuống đại dương, trong đó có 320 triệu tấn sắt, 700 tấn thủy ngân, 25% sản lượng DDT của thế giới, 6,5 triệu tấn phốt pho, 9 triệu tấn dầu các loại [4] Những vụ tai nạn trên biển (cháy dàn khoan, tràn dầu từ các giếng khai thác, rò rỉ đường ống dẫn, đắm tàu chở dầu…) thường gây ô nhiễm nghiêm trọng cho một vùng rộng lớn và kéo dài Người ta cũng tính rằng mỗi ngày có ít nhất 10 nghìn tấn dầu đổ vào biển, còn theo Witherby thì tổng lượng dầu xâm nhập vào biển trên dưới 3,2 triệu tấn/ năm [12]

Nước sạch dùng cho sinh hoạt ngày càng khan hiếm và thiếu trầm trọng

ở nhiều nơi, đặc biệt ở Châu Phi Điều đó đặt ra cho các chuyên gia về môi trường phải tăng sử dụng các công trình làm sạch nước thải trong các nhà máy trước khi thải ra môi trường và tăng xây dựng các công trình cung cấp nước sạch cho nhân dân

ô nhiễm môi trường không khí:

Không khí là một hỗn hợp khí gồm khoảng 78% N2, 21% O2, 0,03%

CO2, phần còn lại là agon, neon, heli, kipton, metan…

ô nhiễm không khí là sự biến đổi thành phần cấu tạo của không khí mà kết quả là tạo ra tác động có hại hoặc gây ra sự khó chịu (mùi vị, hạn chế tầm nhìn, khó thở…) cho con người

Tác nhân gây ô nhiễm khí quyển là hoạt động của núi lửa, cháy rừng và các hoạt động kinh tế của con người như: sự gia tăng sản xuất năng lượng, công nghiệp luyện kim, các quá trình xử lý chất thải, gia tăng giao thông trên

Trang 18

bộ và trên không, sự ô nhiễm do sinh hoạt hoặc ô nhiễm tự gây ra trong tự nhiên (sự bốc hơi từ quá trình phân giải chất hữu cơ, bão cát, tro, núi lửa…), gây ra bởi các chất phóng xạ do các cuộc thử vũ khí hạt nhân

Hiện nay, trong khí quyển tồn tại rất nhiều chất khí và bụi lơ lửng độc hại như CO, CO2, NOX, SOX, CH4, bụi Silic, bụi chì, hơi thuỷ ngân, các vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp, co thắt phế quản ở Hải Phòng khí SO2 cao hơn 14 lần, còn bụi thì cao hơn 35 lần cho phép Khí CO được sinh ra trong quá trình đốt cháy nhiên liệu hoá thạch, khi đi vào máu, ái lực của nó với Hêmoglobin (Hb) gấp 200 lần ái lực của O2 với Hb Do đó nó ngăn O2 kết hợp với Hb làm cho O2 không được vận chuyển tới tế bào, mô làm cho cơ thể bị ngạt, có thể bị chết [10]

Ô nhiễm môi trường không khí gây nên những hậu quả nghiêm trọng, những khí trên tạo nên bầu không khí ngột ngạt và “sương mù”, nhất là những nơi tập trung công nghiệp, gây nhiều bệnh cho con người (bệnh bụi phổi, viêm phế quản, ho…) Những trận mưa a xít là hậu quả của CO2, NOX, SOX kết hợp với hơi nước ngưng tụ và chúng đã huỷ diệt hàng triệu ha rừng, đồng ruộng ở các nước Tây âu, Bắc âu

Nhiều ao hồ của bán đảo Scandinavo có PH rất thấp do bị mưa a xít nên không có cá hoặc sản lượng thuỷ sản giảm hẳn

Hậu quả tổng hợp của sự ô nhiễm không khí mà loài người đang quan tâm là: “hiệu ứng nhà kính” và sự suy giảm tầng ozon

Hiệu ứng nhà kính đi kèm với sự dâng mực nước của đại dương do trái

đất ấm lên

Sự nóng lên của hành tinh được đóng góp bởi khí CO2 (50%), cloruafluocacbon (viết tắt là CFCs) (20%), Metan (16%), Ozon (8%) và NO (6%) Khí CO2, thủ phạm lớn nhất làm tăng hiệu ứng nhà kính, ngày một gia tăng Do đó trong 100 năm qua nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng lên 0,2 đến 0,6oC, nhanh gấp 10 đến 50 lần so với sự ra tăng nhiệt độ sau kỷ Băng hà lần

Trang 19

cuối, cách chúng ta khoảng 10 nghìn năm về trước, còn mực nước biển đã dâng cao 12 cm Như dự báo vào năm 2050 nhiệt độ toàn cầu sẽ cao hơn từ 1,5 đến 4,50C, trái đất sẽ ấm lên, băng trên đỉnh núi và 2 cực sẽ tan chảy 1 phần, nước đại dương nở ra làm cho mực nước biển dâng cao hơn hiện nay từ 0,5 đến 1,5m, gây ngập lụt cho các vùng đồng bằng và thành phố thấp ven biển Kéo theo nó là hàng loạt các hậu hoạ khác: băng càng co về 2 cực, mưa nắng, bão tố ác liệt và thất thường hơn, nhiều dịch bệnh có nguy cơ hoành hành [10]

Rõ ràng hoạt động của con người là nguyên nhân chính làm tăng hiệu ứng nhà kính như sử dụng năng lượng, sản xuất công nông nghiệp, huỷ hoại rừng

Vấn đề được quan tâm thứ 2 là suy giảm tầng ôzôn Ôzôn (O3) được hình thành trong tầng bình lưu do sự kết hợp của oxi phân tử (O2) với 1 nguyên tử oxi (cũng được phân li từ O2 do tia cực tím) Ôzôn dưới tác dụng của tia cực tím lại bị phân huỷ trở về dạng oxi phân tử Xong, trong thiên nhiên, hai quá trình này luôn cân bằng với nhau vì thực tế, ở tầng Bình lưu, từ khi xuất hiện, ôzôn đã có 1 lượng xác định và khá ổn định

Lỗ thủng ôzôn có diện tích lớn nhất lên đến 24 triệu km2 (gấp 2 lần Châu Âu) xuất hiện ngày 17/10/1994 và lan rộng tới phía nam Châu Mỹ

Theo các nghiên cứu gần đây tổng lượng ôzôn suy giảm trên vùng cực

và vì độ trung bình khoảng 10%, còn tốc độ ôzôn suy giảm tăng từ 1,5 – 2%

Trang 20

trong thời gian từ năm 1981 – 1991 so với giai đoạn năm 1970 – 1980 Thực nghiệm cũng chỉ ra rằng khi lượng ôzôn tầng bình lưu giảm đi 1% sẽ làm tăng 1,3% lượng bức xạ cực tím loại B (UV – B) trên bề mặt trái đất và bệnh ung thư da cũng tăng khoảng 2%, đồng thời tăng bệnh đục thể thuỷ tinh, phá huỷ

hệ miễn dịch của cơ thể, làm cho hệ sinh thái mất cân bằng và năng suất cây trồng giảm

Nguyên nhân gây suy giảm tầng ôzôn là do các chất khí (gọi tắt là ODS) như CFCs, halon, HCFCs, HBFCs, cacbon tetraclorit, metylbromit

Các chất ODS được sản xuất và sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp (làm lạnh, điều hoà không khí, tạo bọt xốp)

Để bảo vệ tầng ôzôn, cộng đồng quốc tế đã ra Nghị định thư Montrean vào năm 1987 Nghị định thư được sửa đổi lần đầu tiên tại Luân Đôn, theo đó việc sản xuất chất CFCs ở các nước phát triển sẽ bị loại trừ dần và chấm dứt hoàn toàn vào năm 2000 Lần sửa đổi thứ 2 được tiến hành ở Copenhagen năm

1992 Tháng 1 năm 1994 Việt Nam đã gia nhập công ước Viên về bảo vệ tầng

ôzôn và nghị định thư Montrean Thực tế, Việt Nam không sản xuất các chất ODS, xong chỉ nhập khẩu để phục vụ cho các ngành kinh tế Tổng lượng tiêu thụ ở nước ta là 409,86 tấn [10]

Ô nhiễm môi trường bởi tiếng ồn:

Tiếng ồn là tác nhân gây ô nhiễm ở tất cả các thành phố trên thế giới và

ảnh hưởng tới sức khoẻ, sức làm việc của con người

Trong điều kiện sản xuất, nhiều công nhân do chịu tác động của âm thanh quá ngưỡng trong thời gian mà hệ thần kinh giao cảm bị ảnh hưởng, thần kinh luôn căng thẳng nhức đầu, mất ngủ kinh niên Điếc nghề nghiệp, thủng màng nhĩ, chảy máu màng nhĩ, giảm sức lao động Kết quả điều tra ở một số nhà máy cho thấy công nhân có trên 5 tuổi nghề, tỉ lệ điếc nghề nghiệp chiếm khoảng 23%, tỉ lệ điếc chung là 16% [4]

Trang 21

Ngoài ra còn kể đến ô nhiễm môi trường lao động, ô nhiễm thực phẩm,

ô nhiễm nhiệt

Nguồn gây ra tiếng ồn là từ các phương tiện giao thông vận tải như xe

cộ, máy bay; từ các nhà máy; trường học

Do vậy để giảm ô nhiễm tiếng ồn thì các phương tiện giao thông vận tải

phải có bộ phận giảm âm, không được bấm còi quá 5 giây, trồng cây trước nhà

máy để giảm âm, các nhà máy, sân bay phải được di cư xa chỗ đông dân cư

Kết luận:

Dân số – Tài nguyên – Môi trường là 3 vấn đề hết sức quan trọng có

mối quan hệ hữu cơ và tác động đến sự bền vững của đất nước nói riêng và

của hành tinh nói chung Giảm tỉ lệ gia tăng dân số, điều tiết quy mô dân số,

nâng cao ý thức người dân trong việc khai thác hợp lí nguồn tài nguyên và bảo

vệ môi trường sống là vấn đề cấp bách của các nước đang phát triển như Việt

Nam Có như vậy mới đảm bảo nguyên tắc phát triển bền vững cho hôm nay

và mai sau

Việt Nam là một nước có tỉ lệ gia tăng dân số thuộc loại nhanh trên thế

giới Điều đó được thể hiện qua bảng sau [10]:

Bảng 1.1 Dân số Việt Nam qua các thời kì chính

Triệu người (đơn

vị 1000 người)

17.702 23.061 25.074 34.919 46.638 59.872 66.233 69.405 75.962

Căn cứ vào số liệu trên, nếu lấy mốc 1931 với dân số 17.72 triệu người

thì thời gian để dân số tăng gấp đôi trùng vào khoảng năm 1965, tức là sau 34

năm và thời gian tăng gấp đôi tiếp theo ngắn hơn, tức là sau 27 năm, trùng vào

năm 1992 với dân số lên đến 69.405 triệu người

Do thực hiện tốt công tác dân số, nên tỉ lệ gia tăng dân số giảm dần

trong những năm qua Điều đó được thể hiện ở bảng sau:

Trang 22

Bảng 1.2 Tỉ lệ gia tăng dân số của Việt Nam qua 1 số năm [9]

đạt mức sinh thay thế (khoảng 2,1 con) [13]

Dân số Việt Nam tập trung chính ở đồng bằng Bắc bộ và Nam bộ với mật độ từ 350 đến 1065 người/ km2 Miền núi dân cư thưa thớt (26 – 70 người/ km2), song tỷ lệ tăng nhanh do cả nhập cư từ các miền đến Trong vòng

từ năm 1984 đến năm 1989 đã có 4,5% dân số di chuyển vùng sống trong nước, cùng tỉnh là 2% và khác tỉnh là 2,5% Luồng di chuyển chính là từ Bắc vào Nam, từ đồng bằng Bắc bộ, duyên hải Trung bộ Dân số thành thị tăng chậm, từ 19,24% (1979) lên 20,11% (1989), thấp hơn mức năm 1975 (21,5%) [10]

Số lao động được giải quyết việc làm hàng năm tăng Từ năm 2001

-2005 giải quyết việc làm cho 7,5 triệu người Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm từ 6,9% năm 1998 còn 5,3% năm 2005

đồng về chăm sóc sức khỏe sinh sản kế hoạch hoá gia đình (SKSS – KHHGĐ)

bị hạn chế đặc biệt là phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ

Trang 23

Huyện có cơ cấu dân số trẻ, năm 2006 dân số toàn huyện là 205454 người dự tính đến năm 2010 dân số toàn huyện là 213686 người Số trẻ em sinh ra hàng năm bình quân hàng năm là 2857 (2006) cháu Số phụ nữ trong

độ tuổi sinh đẻ (15 – 49) là 57873 người Trong đó có 38034 phụ nữ có chồng chiếm 65,7% tổng số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ Như vậy Lục Nam là huyện có tiềm năng sinh đẻ lớn Mặt khác, do ảnh hưởng của tập quán trọng nam khinh nữ, sinh con trai để nối dõi tông đường…nên tỷ lệ người sinh con thứ 3 còn cao và vấn đề gia tăng dân số vẫn luôn là mối quan tâm đặc biệt trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của huyện

Công tác dân số KHHGĐ là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và của toàn xã hội, góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá tỉnh nhà chính vì vậy nên tôi tiến hành nghiên cứu và tìm hiểu về nhịp điệu phát triển dân số của một số xã thuộc huyện Lục Nam – tỉnh Bắc Giang và những ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế – xã hội

2.3 Năm năm thực hiện công tác KHHGĐ huyện Lục Nam – tỉnh Bắc Giang (2002 -2006)

2.3.1 Thực trạng của huyện Lục Nam

Lục Nam là một huyện miền núi, nằm trên trục phát triển kinh tế chung của tỉnh – có các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ, đường sắt và đường sông chạy qua, có các tiểu vùng kinh tế có khả năng thuận lợi để phát triển vùng chuyên canh nông sản, hàng hoá, các chợ đầu mối là nơi cung cấp khối lượng lớn nông sản, thực phẩm cho vùng mỏ Quảng Ninh Đồng thời Lục Nam còn có các di tích

và những điểm du lịch sinh thái để phát triển ngành du lịch

Tính đến ngày 31/12/2006, dân số toàn huyện là 207645 người Huyện

có cơ cấu dân số trẻ, số trẻ em được sinh ra hàng năm bình quân là 2857 cháu

Số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15 – 49) là 57873 trong đó số phụ nữ có

Trang 24

chồng là 38034 chiếm 65,7% tổng số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ Điều đó chứng tỏ Lục Nam là huyện có tiềm năng sinh đẻ lớn

Do phong tục tập quán trọng nam khinh nữ, sinh con trai để nối dõi tông đường ở nhiều địa phương, nhiều đối tượng sinh con một bề đặc biệt một

bề là con gái…làm cho tỷ lệ sinh con thứ 3 tăng vào năm 2005 (7%) và có giảm 2% vào năm 2006 (5%) thậm chí còn tồn tại cán bộ, đảng viên sinh con lần 3 Không xã nào không có người sinh con thứ 3

Tỷ suất sinh vẫn còn cao đạt 14% vào năm 2006

Số lượng cặp vợ chồng áp dụng biện pháp tránh thai (BPTT) là 32527 người (2006)

Dân số tăng, tỷ lệ sinh con thứ 3 nhiều là một vấn đề đặt ra cho các ngành, các cấp Đảng uỷ Vì theo các nhà kinh tế học, nếu dân số tăng 1% thì thu nhập quốc dân phải tăng 3 – 4% mới đảm bảo chất lượng như ban đầu Lục Nam là một huyện đang phát triển, nếu dân số tăng quá nhanh, nền kinh

tế không đáp ứng kịp thì đói nghèo là chuyện không tránh khỏi

Từ khi có “chiến lược dân số Việt Nam 2001 -2010” và “chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001 - 2010” của chính phủ, “chiến lược dân số - gia đình và trẻ em tỉnh Bắc Giang 2001 - 2010” của

uỷ ban nhân dân tỉnh được xây dựng trên cơ sở cụ thể hoá chiến lược dân số Việt Nam đã được thủ tướng chính phủ phê duyệt tại quyết định 147/ 2000/ QĐ - TTg ngày 22/ 12/ 2000 phù hợp với tình hình và điều kiện cụ thể của tỉnh từ nay đến năm 2010 và thực hiện mục tiêu công tác dân số mà Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV đã đề ra Đồng thời luôn thường xuyên quan tâm giám sát việc thực hiện Nghị quyết ở từng địa phương

Các cấp uỷ chính quyền, đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở đã coi công tác DS - KHHGĐ là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội,

là yếu tố cơ bản nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình

và của toàn xã hội Công tác DS - KHHGĐ được coi là 1 chỉ tiêu để xếp loại

Trang 25

cơ sở Đảng, đơn vị chính quyền trong sạch, vững mạnh, là tiêu chuẩn để xét gia đình văn hóa, làng, xã văn hóa và xét thi đua khen thưởng cho tập thể, nhân dân hàng năm

Nhờ vậy, ý thức về công tác DS - KHHGĐ của các tầng lớp trong nhân dân, đặc biệt là các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ ngày càng được nâng cao hơn Quy mô gia đình ít con, khoẻ mạnh được đông đảo nhân dân trong tỉnh đồng tình hưởng ứng Nhiều cặp vợ chồng trẻ đã tự nguyện chấp nhận quy mô gia đình chỉ có 2 con và tự giác thực hiện bằng việc lựa chọn cho mình một biện pháp tránh thai thích hợp, an toàn và hiệu quả nhất

Việc làm tốt công tác DS - KHHGĐ thực hiện gia đình ít con, giảm nhanh tỷ lệ gia tăng dân số tiến tới ổn định quy mô dân số, đồng thời chú trọng công tác chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em, nâng cao chất lượng dân số

là các vấn đề mà các xã trong huyện phải quan tâm

2.3.2 Tình hình thực hiện công tác DS - KHHGĐ của huyện Lục Nam trong những năm qua

Qua quá trình điều tra và tìm hiểu tôi thấy tình hình thực hiện công tác

DS - KHHGĐ trong thời gian qua của huyện Lục Nam như sau:

Công tác truyền thông DS - KHHGĐ luôn được xác định là khâu then chốt của chương trình cho nên luôn được chú ý và tăng cường các loại hình hoạt động Uỷ ban dân số và gia đình trẻ em huyện (UBDSGĐ&TE) ngay đầu năm đã có kế hoạch phối hợp với các ban ngành, đoàn thể để làm truyền thông dân số, đa dạng về hình thức và phong phú về nội dung

Các hoạt động truyền thông được tiến hành toàn diện trên cả chiều rộng

và chiều sâu UBDSGĐ&TE huyện đã chỉ đạo các xã tiến hành các hoạt động truyền thông đại chúng tuyên truyền và dịch vụ KHHGĐ, dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khoẻ bà mẹ trẻ em trên hệ thống truyền thanh huyện và

đài truyền thanh các xã, thị trấn Sử dụng các sản phẩm truyền thông: panô,

Trang 26

khẩu hiệu, tờ rơi, tranh ảnh, tập san, tạp trí, băng video, audio, tổ chức tuyên truyền lưu động, mít tinh nói chuyện chuyên đề

Tuy nhiên, tuỳ vào từng đối tượng truyền thông mà ta còn phải sử dụng biện pháp truyền thông trực tiếp mới thu được kết quả UBDSGĐ&TE huyện

và UBDSGĐ&TE các xã, thị trấn đã tổ chức các buổi đối thoại, tư vấn các biện pháp tránh thai, tư vấn sức khỏe sinh sản Việc gặp gỡ, vận động các đối tượng ở các địa bàn dân cư được củng cố và tăng cường hơn, có sự chỉ đạo của

bí thư chi bộ, cán bộ, cộng tác viên phối hợp với các ban ngành ở các khu dân cư, kiên trì bám sát đối tượng tuyên truyền Điều đó có ý nghĩa quan trọng trong việc chuyển đổi nhận thức, hành vi của đối tượng để chấp nhận không sinh con thứ 3 và chấp nhận KHHGĐ

UBDSGĐ&TE huyện phối hợp với các ban ngành khác thành lập các câu lạc bộ: câu lạc bộ gia đình trẻ, câu lạc bộ vị thành niên, câu lạc bộ làm kinh tế giỏi, thu hút sự tham gia của nhân dân, đặc biệt là đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ

Với nhưng nỗ lực của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, nhân dân ngày càng nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của KHHGĐ và chăm sóc sức khoẻ sinh sản Kết quả là từ năm 2002 - 2006 tỷ lệ gia tăng dân số có xu thế giảm xuống nhưng không bền vững

2.3.3 Đánh giá kết quả

2.3.3.1 Những việc làm tốt trong thời gian qua

Quán triệt các chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, chính quyền về công tác

DS - KHHGĐ các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở đã coi công tác DS - KHHGĐ là một trong những chương trình trọng tâm có tính chiến lược về phát triển kinh tế – xã hội Kể từ khi có Nghị quyết hội nghị lần thứ 4 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá 7) và chiến lược

DS - KHHGĐ của Thủ tướng chính phủ, Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang đã có những Nghị quyết chuyên đề về công tác Dân

Trang 27

số – KHHGĐ; các cấp, các ngành, đoàn thể trong tỉnh đã tăng cường và tập trung lãnh đạo, tổ chức thực hiện công tác dân số ở địa phương, ngày càng có hiệu quả tốt hơn

Nhận thức của nhân dân về công tác DS - KHHGĐ đã có nhiều chuyển biến tích cực, đại đa số người dân nhất là thanh niên đã chấp nhận mô hình gia

đình có ít con để nuôi con khoẻ, dạy con ngoan Đông đảo phụ nữ đã thấy

được đẻ đúng tuổi, đẻ thưa, đẻ ít con, thực hiện tốt KHHGĐ sẽ đảm bảo cho

họ có sức khoẻ, có cơ hội nhiều hơn, tham gia các hoạt động kinh tế – chính trị – xã hội, nâng cao vị thế của mình trong gia đình và xã hội

Huyện Lục Nam với sự nỗ lực trong công tác DS - KHHGĐ đã thu hái

đựơc các thành tựu to lớn

Kiện toàn và nâng cao năng lực quản lý của bộ máy dân số từ huyện

đến cơ sở xã, thị trấn UBDSGĐ&TE huyện đã có 5 đồng chí, 3 biên chế nhà nước gồm 1 chủ nhiệm, 1 phó chủ nhiệm, 1 cán bộ nhân viên và 2 hợp đồng, tuyến xã có 27 cán bộ chuyên trách tương ứng với 27 xã, thị trấn Số cộng tác viên toàn huyện có 423, số cộng tác viên được lồng ghép với y tế thôn bản là

250 người chiếm 60,5%

Hàng tháng, hàng quý UBDSGĐ&TE huyện tăng cường đi cơ sở xã, thị trấn để kiểm tra, đánh giá kết quả các hoạt động theo chương trình

UBDSGĐ&TE tổ chức các chiến dịch truyền thông lồng ghép với dịch

vụ KHHGĐ triển khai đồng bộ đến các xã, thị trấn Uỷ ban dân số huyện và các xã luôn chú trọng và gắn công tác dân số vào trong hoạt động của các ban ngành, đoàn thể: Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội nông dân… để công tác Dân số đạt hiệu quả cao hơn

Ngoài ra, công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho các cộng tác viên

được chú ý Hàng năm UBDSGĐ&TE huyện mở các đợt tập huấn cho cộng tác viên dân số, cho các y tá thôn bản Do đó ngày càng nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ và làm cho mỗi cộng tác viên đều thấy được vai trò,

Trang 28

trách nhiệm của mình trong công tác DS - KHHGĐ và chăm sóc sức khỏe nhân dân ở cấp cơ sở

UBDSGĐ&TE huyện đã kết hợp với phòng giáo dục - đào tạo Lục Nam bước đầu đưa giáo dục dân số, sinh sản, giới và giới tính trong nhà trường

Kết quả là huyện đã hạ thấp tỷ lệ gia tăng dân số từ 1,07% (2002) xuống 1% (2005) Tỷ suất sinh thô cũng giảm 14,7‰ (2002) xuống 14,0‰ (2006)

2.3.3.2 Những mặt còn tồn tại

Bên cạnh những mặt tốt đã đạt được, công tác DS - KHHGĐ ở Lục Nam còn có những hạn chế

Từ 2002 -2006 tỷ lệ gia tăng tự nhiên có giảm nhưng giảm không vững chắc, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên có xu hướng tăng trở lại ở những địa phương khó khăn và đối tượng sinh con một bề đặc biệt một bề là con gái

Những địa bàn trọng điểm của huyện còn nặng nề về tư tưởng trọng nam khinh nữ, sinh con trai để nối dõi tông đường Cho nên công tác vận động gặp nhiều khó khăn

Một số trưởng ban dân số xã, cán bộ chuyên trách chưa quan tâm sát sao tình hình dân số của địa phương mình nên chưa kịp thời đưa ra các phương

án tối ưu cho công tác dân số

Một số xã cán bộ lãnh đạo Đảng, chính quyền chủ quan cho rằng công tác dân số của xã mình đã thành công nên không cần quan tâm và đầu tư kinh phí nữa

Một số cán bộ chuyên trách nghiệp vụ và khả năng công tác quản lý

điều phối chưa cao, chưa thực sự làm tốt công tác tham mưu cho chính quyền, chưa sáng tạo cho công tác tuyên truyền vận động Cho nên các hình thức tuyên truyền chưa hấp dẫn và chưa thu hút đối tượng nhân dân tham gia

Ngoài ra kinh phí đầu tư cho chương trình của trung ương, của tỉnh, của huyện còn ít, kinh phí của các xã đầu tư cho chương trình dân số chưa thoả

Trang 29

đáng Chính sách cho các cộng tác viên dân số chưa phù hợp do đó chưa thực

sự kích thích họ hăng say trong công việc

Bên cạnh đó, việc xử lý đối tượng vi phạm chính sách DS - KHHGĐ trong thời gian qua còn chưa nghiêm

Một mặt tồn tại không thể không kể đến đó chính là công tác giáo dục dân số trong nhà trường Giáo dục dân số là một bộ phận quan trọng trong công tác DS - KHHGĐ nhưng vấn đề này trong nhà trường chưa thực sự sát sao

Một vấn đề lưu tâm nữa, đó là khi điều tra về việc giáo dục giới tính, giáo dục dân số – KHHGĐ, giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên trong nhà trường thì 75% giáo viên được điều tra không đề cập đến vấn đề đó trong giảng dạy Vì theo các thầy cô, thời gian nên lớp có hạn và do e ngại khi nhắc

đến các vấn đề nhạy cảm đó

Trước thực trạng đó, UBDSGĐ&TE huyện cần phải phối hợp với ngành giáo dục để triển khai nhiều hơn nữa các chiến dịch lễ ra quân tuyên truyền

về công tác dân số – KHHGĐ, giáo dục giới tính, giáo dục sức khỏe sinh sản

vị thành niên làm cho mỗi học sinh không những có nhận thức đúng đắn về chủ trương, chính sách dân số của nhà nước thay đổi hành vi mà còn trở thành một tuyên truyền viên dân số tích cực tham gia vào công tác vận động tại khu dân cư nơi mình sinh sống

Trong nhà trường, giáo dục dân số cần được lồng ghép vào các môn học giáo dục công dân, địa lý, sinh học, đồng thời lồng ghép vào các hoạt động khác ở trường phổ thông (văn hóa, nghệ thuật, hoạt động đoàn thanh niên và các hoạt động ngoại khoá khác)

Ví dụ trong môn Toán khi học về cấp số cộng, cấp số nhân, giáo viên có thể lấy ví dụ về sự gia tăng dân số

Trong môn Địa lý, khi học cách lập bản đồ, giáo viên cũng có thể lấy ví

dụ về tỷ lệ tăng dân số của các lứa tuổi qua các thời kỳ, ví dụ về tốc độ gia

Trang 30

tăng lương thực, tăng xây dựng nhà cửa, bệnh viện, trường học, công ăn việc làm so sánh với tốc độ gia tăng dân số qua các thời kỳ

Thiết nghĩ, các nhà giáo dục cần quan tâm, có trách nhiệm hơn nữa trong công tác DS - KHHGĐ để từ đó hình thành ở học sinh một thái độ tích cực trong việc bảo vệ những điều kiện tồn tại và phát triển của môi trường tự nhiên, của cuộc sống bản thân gia đình, của cộng đồng xã hội trong đó có việc thực hiện chính sách dân số Xây dựng cho học sinh ý thức trách nhiệm, thái

độ hành vi ứng xử phù hợp về dân số để tích cực và thiết thực góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống gia đình, nghiêm túc thực hiện chiến lược dân số của

đất nước

Để thực hiện công tác DS - KHHGĐ được tốt hơn trong năm 2006 và những năm tiếp theo, UBDSGĐ&TE huyện Lục Nam đã đề ra những phương hướng và giải pháp sau:

2.3.4 Phương hướng và giải pháp thực hiện công tác DS - KHHGĐ đến năm 2007 và những năm tiếp theo của huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang 2.3.4.1 phương hướng

Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền các tổ chức đoàn thể xã hội…các đơn vị cá nhân cho công tác Dân số –KHHGĐ từ huyện đến xã, thị trấn Kiên quyết không để cho chương trình dân

số gián đoạn, thiếu sự chỉ đạo quan tâm sâu sát của lãnh đạo

Chỉ tiêu năm 2007: Tỷ suất sinh 14,1‰

Tỷ lệ sinh con lần 3 dưới 5,79%

Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên 1,01%

Duy trì các cặp vợ chồng từ 15 – 49 tuổi sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại trên 70%

Đặt dụng cụ tử cung 3600 ca

Thuốc tiêm tránh thai 250 ca

Thuốc cấy tránh thai 50 ca

Trang 31

Thuốc uống tránh thai 4080 ca

định để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ”

Hai là: Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, chính quyền từ huyện đến xã, thị trấn, các cấp uỷ Đảng và chính quyền cơ sở phải nghiêm túc kiểm điểm, đánh giá tình hình thực hiện chính sách dân số của địa phương, có

kế hoạch và biện pháp khắc phục những yếu kém, bất cập, ngăn chặn khuynh hướng sinh con thứ 3 trở lên Các đồng chí lãnh đạo chủ chốt ở cơ sở phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, thường xuyên kiểm tra việc thực hiện các mục tiêu đề

ra

Ba là: tăng cường công tác truyền thông giáo dục về cả chiều sâu và chiều rộng bằng nhiều hình thức và nội dung phong phú tới các bậc ông bà, cha mẹ, đặc biệt là các đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ, chú trọng tới các cặp

vợ chồng đã có 2 con để giúp họ nhận thức sự cần thiết của KHHGĐ, chăm sóc sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ bà mẹ trẻ em, để từ đó thay đổi hành vi

Bốn là: Phát huy sức mạnh tổng hợp và nâng cao hiệu quả sự tham gia của các ngành, đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội vào chương trình dân số Các cơ quan phải sử lý nghiêm đơn vị cán bộ, công chức, đảng viên sinh con thứ 3 trở lên Trong cộng đồng dân cư, cần đưa chính sách DS - KHHGĐ vào xây dựng hương ước, quy ước làng văn hoá, xã văn hoá, coi đây là tiêu chuẩn quan trọng bình xét công nhận gia đình, làng, xã văn hoá

Năm là: Kiện toàn, ổn định hệ thống làm công tác dân số gia đình và trẻ

em, thường xuyên làm tốt công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội

Ngày đăng: 31/10/2015, 07:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Dân số Việt Nam qua các thời kì chính - Nhịp điệu phát triển dân số một số xã thuộc huyện lục nam   tỉnh bắc giang và những ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế   xã hội
Bảng 1.1. Dân số Việt Nam qua các thời kì chính (Trang 21)
Hình 4.1. Biểu đồ về tỉ lệ tăng tự nhiên - Nhịp điệu phát triển dân số một số xã thuộc huyện lục nam   tỉnh bắc giang và những ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế   xã hội
Hình 4.1. Biểu đồ về tỉ lệ tăng tự nhiên (Trang 37)
Bảng 4.2.  So sánh các cặp vợ chồng - Nhịp điệu phát triển dân số một số xã thuộc huyện lục nam   tỉnh bắc giang và những ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế   xã hội
Bảng 4.2. So sánh các cặp vợ chồng (Trang 38)
Hình 4.2. Biểu đồ phân bố lứa tuổi huyện Lục Nam năm 2006 - Nhịp điệu phát triển dân số một số xã thuộc huyện lục nam   tỉnh bắc giang và những ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế   xã hội
Hình 4.2. Biểu đồ phân bố lứa tuổi huyện Lục Nam năm 2006 (Trang 40)
Bảng 4.3. Kết quả thực hiện công tác DS-KHHGĐ của xã Bình Sơn từ - Nhịp điệu phát triển dân số một số xã thuộc huyện lục nam   tỉnh bắc giang và những ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế   xã hội
Bảng 4.3. Kết quả thực hiện công tác DS-KHHGĐ của xã Bình Sơn từ (Trang 41)
Bảng 4.4. Kết quả thực hiện công tác dịch vụ KHHGĐ xã Bình Sơn - Nhịp điệu phát triển dân số một số xã thuộc huyện lục nam   tỉnh bắc giang và những ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế   xã hội
Bảng 4.4. Kết quả thực hiện công tác dịch vụ KHHGĐ xã Bình Sơn (Trang 42)
Bảng 4.8. So sánh kết quả 5 năm 2002 – 2006 thực hiện công tác - Nhịp điệu phát triển dân số một số xã thuộc huyện lục nam   tỉnh bắc giang và những ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế   xã hội
Bảng 4.8. So sánh kết quả 5 năm 2002 – 2006 thực hiện công tác (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm