Xét góc độ sinh học, sinh thái học, khuvực này có độ đa dạng sinh học cao, vừa có hệ động, thực vật núi đá vôi điểnhình, đặc biệt nhiều động vật quý hiếm ghi trong sách đỏ Việt Nam và th
Trang 1Lời cảm ơn
Bằng tấm lòng biết ơn sâu sắc tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tậntình, đầy trách nhiệm của thầy giáo TS Hoàng Nguyễn Bình khi tôi thực hiện
đề tài nghiên cứu
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong tổ bộmôn Động vật cũng như các bạn sinh viên trong nhóm đã có những đóng gópquý báu cho đề tài nghiên cứu để tôi hoàn thiện tốt luận văn này
Tôi xin cảm ơn Ban quản lý Vườn Quốc gia Ba Bể đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu
Đồng thời tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cha, mẹ cùng toàn thểgia đình
Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2009.
Sinh viên
Vũ Đức Anh
Trang 2Lời cam đoan
Luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Hoàng Nguyễn Bình.Tôi xin cam đoan những kết quả nghiên cứu trong tài liệu này là do côngsức của bản thân tôi, kết quả này không trùng với kết quả của bất kỳ tác giảnào đã được công bố
Một số dẫn liệu trong đề tài tôi xin phép tác giả được trích dẫn để bổsung cho khoá luận của mình
Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2009.
Tác giả
Vũ Đức Anh
Trang 3Mục lục
Lời cảm ơn 1
Lời cam đoan 2
Mục lục 3
Giới thiệu chung 4
Mở đầu 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Mục tiêu 6
3 ý nghĩa 6
Chương 1 Địa điểm, thời gian và phương pháp nghiên cứu 7
1.1 Địa điểm nghiên cứu 7
1.2 Thời gian nghiên cứu 7
1.3 Phương pháp nghiên cứu 7
Chương 2 Tổng quan đề tài nghiên cứu 8
Chương 3 Kết quả nghiên cứu và bàn luận 9
3.1 Các điều kiện địa lý tự nhiên để phát triển du lịch thắng cảnh – cảnh quan 9
3.2 Các đặc điểm về đa dạng sinh học 11
3.2.1 Đa dạng sinh học với các loài động, thực vật 11
3.2.2 Đa dạng về hệ sinh thái 12
3.3 Các đặc điểm về phong tục tập quán, truyền thuyết lịch sử - văn hoá 14
3.3.1 Truyền thuyết lịch sử – văn hoá 14
3.3.2 Phong tục tập quán 18
3.4 Thực trạng hoạt động du lịch Ba Bể 21
3.4.1 Xưa: Thắng cảnh 21
3.4.2 Nay: Sinh thái 22
3.4.3 ưu nhược điểm của du lịch thắng cảnh và du lịch sinh thái 23
3.4.4 Gắn 2 hoạt động đó thành 1 tuor thắng cảnh - sinh thái - lịch sử - văn hoá .26
Kết luận và kiến nghị 28
Trang 4Giới thiệu chung
“Bắc Kạn có suối đãi vàng
Có hồ Ba Bể, có nàng áo xanh”
Câu ca tự thủa nào cất lên hẳn đã làm say lòng bao du khách, khiến mỗingười - trong cuộc đời đều ao ước ít nhất được đặt chân một lần đến nơi đây
để thưởng ngoạn sự hoà quyện của trời, mây, nước và của tình đất - tình người
ở nơi xứ núi, non, sông hồ trùng điệp này
Cách Hà Nội 250 km về phía Bắc, quý khách có thể đến hồ Ba Bể bằnghai con đường chính, một đi theo quốc lộ 03, đến thị trấn Phủ Thông hoặc thịtrấn Nà Phặc thì rẽ trái vào thị trấn Chợ Rã để đến hồ Con đường thứ hai khó
đi nhưng thú vị hơn là rẽ trái ở km 31 của quốc lộ 03, ngược lên ATK ĐịnhHoá, Chợ Đồn thăm quan một số di tích lịch sử - cách mạng rồi qua thị trấnBằng Lũng huyện Chợ Đồn để đến hồ
Hồ nằm giữa núi rừng Việt Bắc và bị chia cắt bởi hai cánh cung NgânSơn và Sông Gâm Độ cao trung bình 500 – 1000 m so với mực nước biển,trên địa hình đá vôi - caxtơ Điều này đã tạo nên một sự khác biệt đặc trưngcho kiến tạo địa chất của khu vực bởi thông thường địa hình caxtơ không tíchnước và vì vậy việc có một hồ xanh trên núi cao đã tạo nên một kỳ quan củatạo hoá, thu hút sự khám phá, tìm hiểu không chỉ của riêng các nhà khoa học
Nơi đây tập trung 5 dân tộc chính: Tày, Nùng, Dao, Kinh, Mông Trong
đó dân tộc Tày chiếm tỉ lệ khá lớn 57,7% (chiếm 6,42% dân tộc Tày của tỉnh),Dao chiếm 21,2% (chiếm 14,58% dân tộc Dao của tỉnh), Mông chiếm 12,6%,Nùng-7,1% và Kinh-1.3%(chiếm 0,45% dân tộc Kinh của tỉnh) Với điều kiệnkhí hậu mát mẻ, trong lành hoà cùng cảnh sống thanh bình của dân bản sứ, sự
độc đáo phong tục tập quán kết hợp với nhiều nét văn hoá của các dân tộckhác nhau đã tạo nên một vẻ đẹp đặc sắc hiếm có cho vùng hồ
Trang 5Không chỉ thế, nơi đây còn có những thắng cảnh đẹp gắn nhiều di tíchlịch sử và những chiến công hào hùng của dân tộc như động Nả Poong, thôn
Bó Lù, xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể - địa điểm này cũng đã từng là trụ sở của
Đài tiếng nói Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Mỹ Đến đây dukhách còn thưởng ngoạn cảnh đẹp huyền ảo của Động Puông, sự trong trẻomát lạnh của Ao Tiên, hay nét mạnh mẽ, cuồn cuộn của Thác Đầu Đẳng…
Bao quanh hồ là Vườn Quốc gia Ba Bể với hệ sinh thái đặc biệt baogồm: sông, suối, hồ, rừng, núi đá vôi Xét góc độ sinh học, sinh thái học, khuvực này có độ đa dạng sinh học cao, vừa có hệ động, thực vật núi đá vôi điểnhình, đặc biệt nhiều động vật quý hiếm ghi trong sách đỏ Việt Nam và thế giớinhư: loài Voọc mũi hếch(Rhinopithecus avunuculus), cá Cóc (Paramesotriton deloustali) là động vật đặc thù của hồ.
Khác với các điểm du lịch khác, đến hồ Ba Bể du khách khó có thể tìmthấy các khách sạn, nhà nghỉ, khu vui chơi giải trí… Bù vào đó là điểm dừngchân nghỉ ngơi chính là nhà sàn dân tộc trong bản làng, du khách sẽ được tìmhiểu kỹ hơn về đời sống sinh hoạt của người dân nơi đây Ngoài ra dạo chơibằng thuyền độc mộc và đi bộ leo núi là điểm hấp dẫn khách tham quan
Trang 6đây mới chỉ biết đến vẻ đẹp hoang sơ của hồ mà chưa đi sâu tìm hiểu phongtục tập quán, những nét văn hoá gắn liền với nhiều sự tích lịch sử, huyền thoạicũng là điều khiến nơi đây chưa thu hút được nhiều du khách Đó chính là lí
do mà tôi chọn đề tài: Nghiên cứu việc gắn hoạt động du lịch văn hoá sinh thái với hoạt động du lịch thắng cảnh tại vùng hồ Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
- Đề xuất gắn hoạt động du lịch văn hoá sinh thái, du lịch truyền thống,
du lịch lễ hội với du lịch thắng cảnh tại vùng hồ Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
3 ý nghĩa:
Đề tài này không chỉ có ý nghĩa thực tiễn là bảo tồn các loài động - thựcvật đang có nguy cơ tuyệt chủng mà còn có ý nghĩa đối với việc giáo dục,nâng cao nhận thức cho người dân trong công tác bảo vệ và sử dụng bền vữngcác nguồn tài nguyên thiên nhiên trong khu vực Vườn Quốc gia Ba Bể
Trang 7Chương 1 Địa điểm, thời gian và phương pháp nghiên
cứu 1.1 Địa điểm nghiên cứu.
Nghiên cứu tại Vườn Quốc gia Ba Bể, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
- Điều kiện tự nhiên của vùng hồ
- Bản sắc văn hoá và đời sống của đồng bào các dân tộc
1.3.2 Phân tích số liệu để tìm hiểu mức độ đa dạng sinh học của vùng hồ2.3.3 Nghiên cứu tài liệu nhằm thống kê được số liệu
Số liệu về khu hệ động – thực vật của hồ, kết hợp với việc thu thập vàtài liệu tham khảo về đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu… có liênquan
1.3.4 Từ đó đưa ra các giải pháp gắn các hoạt động du lịch
- Du lịch thắng cảnh
- Du lịch sinh thái Thành một tour du lịch thắng cảnh - sinh
- Du lịch văn hoá lịch sử thái - lịch sử, văn hoá
Trang 8Chương 2 Tổng quan đề tài nghiên cứu
Đã có rất nhiều nghiên cứu về vùng hồ trên núi đá vôi ở Việt Nam,nhưng vùng hồ Ba Bể với điều kiện khí hậu đặc biệt, lại nằm giữa núi rừngViệt Bắc thơ mộng và đầy huyền thoại… có người nói “Hạ Long có núi trênbiển, Ba Bể lại có biển trên núi” Thật đặc biệt đối với các hồ nước ngọt tựnhiên nằm trên địa hình caxtơ, trên thế giới các hồ nằm trên địa hình caxtơ
đều bị cạn hoặc chỉ có một mùa nước, nhưng riêng hồ Ba Bể bốn mùa đầynước, tồn tại mãi với thời gian, điều đó đã làm cho các nhà khoa học không ítngạc nhiên và cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hồ Ba Bể Trong
đó có dự án “Xây dựng các khu bảo vệ nhằm bảo tồn thiên nhiên trên cơ sởứng dụng quan điểm sinh thái cảnh quan” đó là công trình của các tác giảPháp, công trình này đã nhận được sự hỗ trợ tài chính của chương trình pháttriển Liên Hợp Quốc (UNDP) và quy mô trên toàn cầu (GEF) với mục tiêu
“Xây dựng mô hình về bảo tồn đa dạng sinh học và các nguồn tài nguyênthiên nhiên tại Việt Nam” và cũng có rất nhiều công trình khác nghiên cứu về
hồ Ba Bể Nhìn chung các công trình nghiên cứu chủ yếu là về địa chất, khíhậu của vùng hồ trên vúi đá vôi Gần đây đã có công trình nghiên cứu về dulịch vùng hồ Ba Bể, nhưng chủ yếu là tham quan thắng cảnh hoặc du lịch nghỉdưỡng mà chưa đi sâu vào nghiên cứu du lịch văn hoá sinh thái gắn với du lịchthắng cảnh Đây chính là điểm mới của đề tài mà tôi nghiên cứu
Trang 9Chương 3 KếT QUả NGHIÊN CứU và bàn luận
3.1 Các điều kiện địa lý tự nhiên để phát triển du lịch thắng cảnh – cảnh quan
* Toạ độ địa lý: Hồ Ba Bể nằm trong toạ độ:
- Phía Bắc giáp xã Cao Thượng, huyện Ba Bể
- Phía Đông giáp xã Cao Trĩ, huyện Ba Bể
- Phía Tây giáp xã Nam Cường, xã Xuân Lạc (huyện Chợ Đồn, tỉnh BắcKạn), xã Đà Vị (huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang)
- Phía Nam giáp xã Quảng Khê, huyện Ba Bể
- Diện tích vùng lõi: 13.340 ha
- Diện tích vùng đệm: 37.702 ha
3.1.1 Lịch sử kiến tạo địa chất
Vị trí Vườn Quốc gia Ba Bể trong bối cảnh kiến tạo khu vực: Vườn Quốcgia Ba Bể nằm ở cánh cung sông Gâm, ôm lấy vòm sông Chảy (còn gọi là tiểulục địa cổ sông Chảy) Tất cả cùng làm nên một khối nâng dạng vòm ViệtBắc, là khối nâng duy nhất trong phức nếp lõm Vân Nam của chuẩn nềnDương Tử (còn gọi là lục địa cổ Nam Hoa, Trung Quốc, có tuổi hình thành 2,5– 2,6 tỷ năm trước)
- Các hệ thống đứt gẫy: Có 4 hệ thống đứt gẫy chính là Tây Bắc - ĐôngNam, Đông Bắc – Tây Nam, á vĩ tuyến và á kinh tuyến Hệ đứt gẫy á kinhtuyến thể hiện ở chính bản thân hồ Ba Bể và một loạt suối khác Hẻm sông
Trang 10Năng chảy qua phía Bắc hồ có nhiều đoạn đặt lòng theo hệ đứt gẫy á vĩ tuyếncác hệ đứt gẫy này đều có tuổi từ rất lâu.
- Cấu trúc địa phương: Bản thân Vườn Quốc gia Ba Bể và lân cận có cấutrúc địa chất độc đáo, góp phần tạo nên hồ Ba Bể và giữ cho nước hồ khỏi tiêuthoát mất, đó là một bồn trũng biến tạo với đáy là các thành tạo giầu sét cáchnước Đá vôi ở khu vực Ba Bể nằm thoải, gần như ngang, bị biến chất hoa hoámãnh liệt, nằm trọn vẹn trong bồn trũng này
3.1.2 Địa hình
Nếu xem các dạng địa hình, cảnh quan như là một dấu ấn là kết quả thểhiện trên bề mặt của tác động tương hỗ giữa các quá trình phát triển địa chấtvới điều kiện khí hậu thì quả là Vườn Quốc gia Ba Bể có những nét rất độc
đáo
Khu vực Ba Bể có sự đa dạng, đan xen giữa các dạng địa hình cảnh quanKarst và phi Karst (vùng không có đá vôi) mà các di sản thiên nhiên khác nhưVịnh Hạ Long và Phong Nha Kẻ Bàng không có, thêm vào đó với vị trí, bốicảnh kiến tạo đặc biệt, tạo điều kiện cho một chế độ khí hậu đặc biệt
3.1.3 Khí hậu – thuỷ văn
Khí hậu: Sự bốc hơi nước của hồ Ba Bể diễn ra liên tục quanh năm Tạo
nên tiểu khí hậu xung quanh hồ mát mẻ và ẩm Chênh lệch về nhiệt độ, độ ẩmgiữa các tháng trong năm không lớn Số liệu nhiệt độ, lượng mưa trung bìnhtrong 10 năm gần đây(phụ lục) [1]
Thuỷ văn: Đối với hồ Ba Bể có diện tích trung bình 500 ha có sức chứa
bình quân 90 triệu m3, nước có vai trò rất lớn trong việc phân lũ cho lưu vựcsông Năng, sông Lô tỉnh Tuyên Quang Khi lũ sông Năng lớn hồ Ba Bể là nơichứa nước, khi lũ hạ nước hồ lại chảy ra sông Năng điều tiếu làm giảm lũ chocác lưu vực sông Gâm, sông Lô tỉnh Tuyên Quang [1]
3.2 Các đặc điểm về đa dạng sinh học
Trang 11Theo luật Bảo vệ môi trường khái niệm đa dạng sinh học là sự phong phú
về nguồn gen, về giống loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên
Trong một cuộc trao đổi về vấn đề bảo vệ đa dạng sinh học hiện nay ở ViệtNam (do Minh Phương thực hiện), ông Davit Hausơ trưởng đại diện Mỹ Quốc
tế bảo vệ thiên nhiên (WWF) tại Việt Nam đã nói “Một trong số hệ sinh tháicủa Việt Nam cần được quan tâm hàng đầu như: Vườn Quốc gia Ba Bể vớinhiều sinh cảnh đẹp và đa dạng” [5]
3.2.1 Đa dạng sinh học với các loài động, thực vật
* Hệ thực vật: Kết quả bước đầu khảo sát hệ thực vật tại Vườn Quốc gia
Ba Bể đã thống kê được 1281 loài, thuộc 672 chi của 162 họ thực vật bậc cao
có mạch phân theo các nhóm khác nhau Riêng thực vật đặc hữu ở đây còn cóloài trúc dây (Ampelocalamus sp), các loài gỗ quý hiếm: Nghiến, Đinh,
Lim Vườn Quốc gia Ba Bể được các nhà khoa học trong và ngoài nước đánhgiá là trung tâm đa dạng và đặc hữu cao nhất về loài Lan, không chỉ của ViệtNam mà còn của toàn vùng Đông Nam á ở đây có 182 loài Lan, một số loàiLan là đặc hữu của vùng này [1][3]
* Hệ động vật: Hệ động vật của Ba Bể rất đa dạng và phong phú, nó gồm
cả 3 nhóm động vật: trên cạn, dưới nước, biết bay, chính vì thế Hội nghịchương trình đa dạng sinh học Quốc gia đã xếp hạng Vườn Quốc gia Ba Bểvào loại A về đa dạng sinh học
Qua khảo sát 553 loài động vật, trong đó có 81 loài thú, 27 loài bò sát, 17loài lưỡng cư, 322 loài chim, 106 loài cá 66 loài động vật quý hiếm và đặchữu, nhiều loài có trong sách đỏ Việt Nam và Thế giới như: Voọc mũi hếch
(Rhinopithecus avunuculus), cá Cóc (Paramesotriton deloustali) một loài ếch
nhái đặc hữu của Việt Nam và cũng là loài bị đe doạ cấp độ toàn cầu, hiện naychỉ còn hai nơi còn đó là vùng hồ Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn) và Tam Đảo (tỉnhVĩnh Phúc) [1][3][8]
Trang 123.2.2 Đa dạng về hệ sinh thái
3.2.2.1 Hệ sinh thái đồi núi
Kết quả khảo sát và điều tra thực địa cho thấy toàn khu vực được che phủbởi 73,68% diện tích rừng xanh, trong đó có rừng nguyên sinh ít bị tác độngchiếm 40,39% tổng diện tích rừng Quốc gia Đây là một trong những VườnQuốc gia có độ che phủ và tỷ lệ rừng nguyên sinh cao trong hệ thống các khuvực đặc dụng của Việt Nam và các khu vực núi đá vôi trên thế giới
- Kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩm nhiệt đới trên núi đá vôi, có diện tích6.766 ha chiếm 67,3 % tổng diện tích Vườn Quốc gia, phân bố thành cácmảng tương đối lớn trên địa hình núi đá vôi, kiểu rừng này ít bị tác động nêncòn giữ được tính nguyên sinh Điều này được thể hiện qua thành tố thực vậtnhư: Nghiến, Đinh, Lim, Trai, Mây tro, ôrô, Teo nông, Lát hoa, Sâng…
- Rừng xanh bị tác động trên núi đá với diện tích 3.345 ha chiếm 34,11 %,
đây là rừng bị tác động bởi khai thác nhưng đã phục hồi thành vùng theohướng hồi nguyên, phân bố theo ba tầng: Tầng sinh thái, tầng dưới tán rừng,tầng cây bụi
- Kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩm trên núi đất với diện tích 6,34 hachiếm 6,37 %, đất dưới tán là đất pheralít vàng đỏ phát triển trên đá phiến sét
có tầng đất trung bình dày, có các loài Xoan, Họ Bồ hòn, Họ Trinh nữ [1][6]
3.2.2.2 Hệ sinh thái vùng hồ
Hồ Ba Bể là trung tâm của Vườn Quốc gia Ba Bể, hồ có cấu tạo khá đặcbiệt thắt ở giữa và phình ra ở hai đầu, bao quanh hồ là những vách đá, chỗ thìdựng đứng như một bức tường, chỗ thì vòng vèo uốn lượn ăn sâu vào cácthung lũng làm cho dáng mặt hồ rất độc đáo mang vẻ hoang sơ…
Mặc dù hồ có ảnh hưởng của 3 con sông (Chợ Lèng, Bó Lù, Tà Han)thường xuyên chảy vào hồ nhưng nước hồ thường xanh và lưu thông với tốc độdòng chảy 0,5m/s làm cho hồ Ba Bể vừa mang tính chất sông vừa mang tính
Trang 13chất hồ: đáy hồ không bằng phẳng mà có nhiều núi ngầm, hang động ngầm đó
là nơi trú ngụ lý tưởng của các loài thuỷ sinh, động vật dưới nước
Theo thống kê chưa đầy đủ có tới 1281 loài thực vật trong đó ngoài thân gỗ(trên 600 loài) Các loài phong lan, địa lan, trúc dây (đây là loài đặc hữu củavùng hồ)
3.2.2.3 Vùng giáp ranh
Hồ Ba Bể nằm giáp ranh hai huyện Ba Bể và huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn,cách Thị Trấn Chợ Rã 18km Ba Bể là một trong 20 hồ nước ngọt có trữ lượnglớn nhất thế giới Đây cũng là di sản thiên nhiên, nơi bảo tồn đa dạng sinh học
và là vùng quy hoạch du lịch sinh thái, là nguồn cấp nước, tiêu thoát nước cho
15 xã thuộc 2 huyện này
Vườn Quốc gia Ba Bể giáp huyện Na Hang (tỉnh Tuyên Quang), có chungvùng đệm với khu bảo tồn Na Hang (Tuyên Quang), xã Đồng Phúc (huyệnChợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn) Nơi đây còn lưu giữ các nguồn gen quý hiếm:
- Voọc mũi hếch(Rhinopithecus avunuculus).
- Voọc đen má trắng (Semnopithecus f francoisi).
Vùng giáp ranh này còn tập hợp được đầy đủ các nhóm động vật như:
- Nhóm Chim (Aves) tổng số có 322 loài thuộc 38 họ của 16 bộ
- Nhóm Bò sát và Lưỡng cư (Reptilia and Amphibia) đã ghi nhận có tổng
số 27 loài bò sát và 17 loài lưỡng cư thuộc 18 họ của 4 bộ ở Vườn Quốc gia
Ba Bể và vùng phụ cận
- Nhóm Cá: theo Nguyễn Trọng Hiệp, Nguyễn Hữu Dực (2003) đã công bố
106 loài cá của vùng hồ thuộc 16 giống, 17 họ của 5 bộ
- Nhóm Côn trùng: tổng số 139 họ côn trùng và nhện, 714 loài đã được ghinhận ở khu vực Ba Bể, Na Hang Số lượng này là không lớn so với khoảng10.000 loài côn trùng và nhện đã xác định ở Việt Nam
Trang 14- Nhóm Thuỷ sinh có 179 loài thực vật nổi thuộc các ngành: tảo lục, vikhuẩn lam, tảo si1ic, tảo mắt, tảo giáp và tảo vàng ánh [1][5][8]
3.3 Các đặc điểm về phong tục tập quán, truyền thuyết lịch sử - văn hoá
3.3.1 Truyền thuyết lịch sử – văn hoá
* Truyền thuyết lịch sử.
Hồ Ba Bể rộng lớn nằm ở độ cao 500 – 1000m so với mực nước biển xengiữa các cao nguyên đá vôi cao tới 800 – 900m Hồ không chỉ hấp dẫn ở hệsinh thái đa dạng mà còn bởi cảnh đẹp tự nhiên mang đậm chất huyền thoại,bởi nguồn gốc và thời gian hình thành bí hiểm của nó [9]
Truyền truyết về Hồ Ba Bể kể rằng:
Hồi đó, ở xã Nam Mẫu (huyện Ba Bể ngày nay) có mở một hội “Vô giá” cúng Phật Mọi người nô nức đi xem, ai nấy lo ăn chay niệm phật, thả cá, thả chim làm những việc cầu phúc trong mấy ngày hội Hôm ấy xuất hiện ở
đám hội một bà già ăn mày Người ta không biết mụ từ đâu lại Bộ dạng thật
là gớm ghiếc: những mảnh vải vá víu của mụ không đủ che tấm thân gày còm
lở loét Mùi hôi thối xông ra rất khó chịu Đến đâu mụ cũng thềo thào mấy câu: “Đói lắm các ông các bà ơi” Rồi cầm cái rá, mụ giơ ra bốn bề đầy vẻ cầu khẩn.
Nhưng mãi đến chiều, người đàn bà đó vẫn chả được tí gì Đi đâu mụ cũng bị xua đuổi Bọn thanh niên cho mụ là hủi nên trốn như trốn dịch Hễ thấy mụ là họ lại xô nhau chạy đi chỗ khác Các bà thì rất bực tức Họ ngừng ngay tiếng “nam mô Phật ” và quay ra mắng xả vào mặt mụ Cuối cùng, bọn hương lý sai tuần phủ đuổi mụ đi Mụ không thể chịu được những trận mưa roi của bọn tuần phủ, đành phải lê mình ra khỏi đám hội.
Chiều, người đàn bà ấy tiến vào xóm, nhưng cũng vẫn như ở đám hội, vào nhà nào mụ cũng bị xua đuổi Mấy nhà giàu có đóng chặt cửa lại, thả chó
Trang 15ra May sao đến ngã ba, mụ gặp mẹ con nhà kia vừa đi chợ về Thấy bà lão ăn mặc tội nghiệp, người mẹ đưa về nhà lấy cơm nguội cho ăn.
Khuya hôm đó, hai mẹ con đang ngủ thì người đàn bà ấy lại gọi cửa.
Mụ xin ngủ nhờ một đêm vì mọi chỗ người ta đều cấm cửa không cho vào Hai
mẹ con vui lòng đón người ấy vào nhà, nấu cơm cho ăn và trải chiếu lên một cái chõng cho mụ ngả lưng Còn hai mẹ con thì nằm tạm ở một chỗ khác.
Người đàn bà ăn mày nọ vừa nằm đã ngủ liền, tiếng mụ gáy như sấm Hai mẹ con nhìn ra thấy cái chõng sáng rực lên trong bóng tối Đấy không phải là mụ ăn mày già yếu lở loét nữa mà là một con giao long đang cuộn mình lù lù một đống, đầu gác lên xà nhà, đuôi thò xuống đất Người mẹ rụng rời kinh hãi, nhưng vì chỗ ở của mình cách biệt với mọi người trong bản nên không biết kêu ai cứu mà đành chùm chăn kín mít, phó mặc cho may rủi.
Sáng hôm sau, khi người mẹ nhìn ra thì chả thấy giao long đâu cả Người đàn bà đã dậy và sắp sửa ra đi Người đàn bà nói:
- Chúng nó thờ Phật mà kì thực là buôn Phật Chúng nó đáng phải chịu trầm luân Chỉ có mẹ con nhà ngươi là tốt bụng, hãy cầm lấy gói tro này, nhớ rắc ngay xung quanh chỗ ở và nội trong ngày hôm nay chớ đi đâu cả Hoặc nếu có đi thì đưa nhau lên đỉnh núi cao mà tránh.
Người mẹ băn khoăn hỏi thêm:
- Nhưng làm thế nào đi cứu mọi người được?
Người đàn bà ấy ngần ngừ hồi lâu rồi lấy từ trong áo một hạt thóc cắn ra, đưa
đôi vỏ trấu cho hai mẹ con, nói:
- Hai mảnh vỏ trấu này sẽ giúp hai mẹ con làm việc thiện.
Người mẹ toan hỏi thêm thì vút một cái đã không thấy người đàn bà ăn mày đâu nữa Họ vội làm theo lời dặn, rồi đi kể chuyện cho mấy người gần đó biết, nhưng mọi người nghe nói chỉ mỉm cười cho là chuyện bâng quơ.
Trang 16Quả nhiên, tối hôm đó giữa đám hội náo nhiệt, lúc thiện nam tín nữ
đang tấp nập lễ bái thì tự nhiên có một dòng nước từ dưới đất phun lên gay chính giữa đàn tràng, nước ngày một phun mạnh làm vỡ dần đất ở xung quanh Người ta ngơ ngác không biết thế nào, tưởng là phép Phật hiện hữu nên lại càng vái lấy vái để Chỉ trong nháy mắt, nước đã ngập bằng một cái
ao Thấy thế, mọi người hoảng hốt bỏ cả lễ bái, đua nhau chạy Nhưng họ không thể chạy được nữa, ở dưới chân họ đất nứt nẻ, rung động hất mọi người ngã xuống Bỗng chốc một tiếng “ầm” dữ dội phát ra, đất đá, nhà cửa, người vật đều chìm nghỉm, nước tung toé mù trời Một con giao long to lớn từ mặt nước hiện ra bay vòng quanh xã Nam Mẫu Trong khi đó thì nền nhà, chuồng lợn, chuồng gà của mẹ con người đàn bà từ thiện kia mỗi lúc một cao hơn.
Đau xót trước cảnh nước lụt, hai mẹ con đem hai mảnh vỏ trấu ra Vừa đặt xuống nước, hai mảnh vỏ trấu liền biến ngay thành hai chiếc thuyền Thế rồi mặc gió, mặc mưa, họ chèo đi mọi nơi, cố sức vớt những người bị nạn.
Chỗ đất sụt ấy ngày nay là hồ Ba Bể ở Bắc Kạn, còn cái nền nhà ấy là một hòn đảo nhỏ trong đó, người địa phương gọi là Gò Giả Mải.
(Theo “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam” của Nguyễn Đổng Chi)
Đến nay ở huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng vẫn còn một xã Nam Tyvới câu truyền miệng “Nam Ty ni Nam Mẫu” tiếng Tày có nghĩa là “Nam Ty
từ Nam Mẫu” tới (xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn), câu nói đó rất cóthể quan hệ với biến cố khủng khiếp nêu trên
Đến nơi đây du khách không chỉ thấy vẻ đẹp hoang sơ mà còn muốntìm hiểu xem tại sao hai mảnh vỏ trấu và một túi tro quanh nhà mà lại biếnthành ba biển (hồ Ba Bể = ba “Biển”) Hơn nữa du khách sẽ rất ngạc nhiên khithấy những chiếc thuyền độc mộc độc đáo, không thấy bất kỳ nơi nào khác
Đó là những nửa thân cây lớn, phần giữa khoét rộng để dựng, phía đuôi thuyềnbạt phẳng, chỉ dành chỗ cho một người đứng chèo, thành thuyền thấp lúc nào
Trang 17cũng lấp xấp mặt nước, gợi cho du khách một cảm giác kỳ lạ rằng nước,thuyền và người luôn hoà trộn với nhau, không hề ngăn cách rõ ràng, người láithuyền cũng nhàn tản thả lưới, buông câu, chậm rãi khoả nước một cách rấtgượng nhẹ như thể họ không muốn mặt hồ lại nổi sóng lần nữa Những chiếcthuyền độc mộc quả thật là nét văn hoá độc đáo mang đậm chất dân tộc, gópphần làm tôn cao thêm giá trị của hồ Ba Bể.
- Tết tiễn Táo Quân vào 23 tháng chạp
Lễ hội cổ truyền:
Đặc trưng cơ bản nhất của lễ hội cổ truyền là hội Xuân - hội Lồng Tổng(dịch sát nghĩa là xuống đồng - cầu mùa)
Hội Xuân Ba Bể là lễ hội Lồng Tổng lớn nhất của huyện Ba Bể, tuỳ từngnăm có thể là do xã hoặc do huyện tổ chức, hội Xuân được tiến hành vào ngàymùng 9 – 10 – 11 tháng giêng âm lịch hàng năm Du khách đến hồ Ba Bể dulịch đúng dịp hội Xuân sẽ được chứng kiến rất nhiều hoạt động mang đậm bảnsắc dân tộc Tày nơi đây
Đặc sắc và đáng chú ý nhất trong hệ thống trò chơi dân gian tổ chức tại lễhội Lồng Tổng là múa sư tử, tung còn, đuổi vịt, đua thuyền độc mộc.… Các
Trang 18làn điệu lượn giao duyên của các đôi trai gái có thể kéo dài tới lúc gần mặt trờilặn.
Mỗi khi tàn cuộc người ta lại rủ khách về bản vui chung dưới mái ấm củanếp nhà sàn trong men rượu mùa xuân Người ta mời nhau cơm rượu, chúcphúc cho nhau, trao cho nhau cái nghĩa, cái tình e ấp và thắm nồng của làngbản Các cuộc lượn đối đáp, giao duyên tuỳ từng hoàn cảnh cụ thể mà có thểkéo dài tới tận sáng hôm sau Sáng ấy, mặt trời lên, người ta lại rủ nhau đi dựhội ở bản bên Việc ăn tết của người Tày xưa kia trong tháng giêng là thế Vànhư vậy, phải chăng cần nhắc lại rằng việc người Tày ăn tết lại (Đắp Nọi)
cũng là một hình thức kéo họ tĩnh tâm trở lại với đời sống thường nhật, kéo họsau những giây phút thăng hoa trở về với cuộc sống lao động sản xuất, việcvui này xin hẹn tiếp mùa sau [2]
3.3.2 Phong tục tập quán
Đến với hồ Ba Bể du khách không chỉ được thưởng ngoạn phong cảnh nênthơ, trữ tình nơi núi rừng mà du khách sẽ được đắm chìm trong câu lượn, điệuthen của các cô gái Tày, những điệu khèn của các chàng trai người Mông, haythưởng thức những món ăn rất đặc trưng của vùng du lịch này như: cơm lam,cá nướng, tép chua, thịt hun khói, nem chua, bánh trời…
Về phong tục tập quán thường nhật của người Tày vùng hồ cũng tương tựnhư dân tộc Tày ở khu vực khác trong huyện lỵ Đặc biệt là các hình thức cướixin, ma chay, giỗ chạp [2]
* Lễ cưới:
Hình thức tổ chức: Cưới xin là việc lớn nhất trong đời mỗi con người, là
mốc khẳng định việc xác lập một gia đình mới Với xã hội thì hôn nhân là
điểm nhấn tạo thêm những hạt nhân mới cho xã hội Mỗi quốc gia, mỗi tộcngười trên thế giới đều có những phong tục riêng cho ngày quan trọng này.Việc cưới xin do vậy cũng phản ánh khá rõ văn hoá đặc trưng vùng miền, tộcngười và điều kiện kinh tế xã hội nơi họ sống
Trang 19Lễ cưới là một nghi lễ quan trọng, mang đậm tính nhân văn Gắn kèm cácyếu tố thiêng liêng, nó không chỉ đánh dấu sự gắn kết giữa hai người nam vànữ với nhau mà nó còn là sự minh chứng cho quan hệ giữa hai người khác giớivới nhau Lễ cưới là một sự thông báo đầy đủ và trang trọng của đôi trai gáivới mọi người trong gia đình, trong làng bản rằng họ đã chính thức trở thành
vợ chồng
Thủ tục hôn lễ của người Tày cơ bản có bốn bước:
1 Lễ dạm ngõ(Sham lùa).
Lễ dạm ngõ bao gồm: 1 con gà trống, 1 chai rượu, 2 ống gạo và trầu,cau đến nhà gái Nếu nhà gái không thịt con gà là có “trục trặc”, nếu nhàgái nhận lời sẽ tin cho nhà trai biết sau
2 Lễ so tuổi(Âu bâng mình)
Lần này là đi lấy lá số, nhận lời (pây au mỉnh, au cằm, rặp cằm) và nhận
với nhà gái bản lục mệnh (ngày sinh, tháng đẻ,…) để xem khớp mệnh
đôi trai gái Nếu đôi trẻ hợp số mệnh còn gọi là (páo mỉnh hom).
3 Lễ đính hôn - Tiểu lễ (Bái cáy khai)
Nhà trai cho người đến đặt trầu cau (mai mjầu mác), nhà gái làm cỗ
mời họ hàng nội ngoại, tiếp đại diện nhà trai và trong bữa ăn đó bàn vềsính lễ, thách cưới như: tiền, thịt lợn, rượu, gạo… để nhà trai biết sốlượng mà chuẩn bị cho chu đáo Sau lễ này đôi trai gái coi như đã thành
vợ chồng có thể đi lại cả hai bên gia đình
4 Lễ cưới - Đại lễ (Bái cải)
Trước ngày cưới đại diện nhà trai dẫn đoàn khiêng lợn, gánh gạo,rượu, đôi gà(cáy toọng mu) sang nhà gái (hai đầu đòn khiêng quấn giấy
đỏ) chuẩn bị bữa tiệc cưới.
Đoàn đi đón dâu phải có quan làng (quan lang) là người đã có vợ con,biết hát thơ cưới và xã giao tốt Phó quan làng (quan lang xếp), rể và một