TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2 KHOA SINH – KTNN PHẠM VĂN TUẤN Soạn thảo các câu hỏi trắc nghiệm về di truyền học chọn giống thực vật dùng trong các trường ĐHSP KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Chuyờn ngành
Trang 1TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2 KHOA SINH – KTNN
PHẠM VĂN TUẤN
Soạn thảo các câu hỏi trắc nghiệm về di truyền học chọn giống thực vật dùng trong
các trường ĐHSP KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyờn ngành: Di truyền học
Mó số: 010506 Hướng dẫn khoa học: Nguyễn Văn Lại
Hà Nội - 2007
Trang 2Lời cảm ơn
Trong quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp của mình, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Sinh và các bạn K29A, K29B, K29C thuộc khoa sinh _KTNN
Đặc biệt là sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của thạc sĩ Nguyễn Văn lại – Giảng viên chính bộ môn di truyền học trường ĐHSP Hà Nội 2
Nhân dịp hoàn thành đề tài này,em xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy giáo Thạc sĩ Nguyễn Văn lại giảng viên bộ môn di truyền học Đồng thời em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa sinh cũng như toàn thể các bạn sinh viên lớp K29A, , K29B, K29C khoa sinh
đã tạo điều kiện và giúp đỡ để em thực hiện đề tài này/
Trang 3Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Loài người đã bước vào những năm đầu của thế kỷ XXI , thế kỉ của nền kinh tế tri thức, với những bước tiến nhảy vọt của làn sóng khoa học và công nghệ Chính sự phát triển đó đã tạo ra một hệ thống tri thức đồ sộ, con người
đang đứng trước thử thách hết sức to lớn Con người muốn tồn tại, và phát triển phải là những con người không chỉ nắm vững kiến thức cơ bản mà còn phải là người năng động sáng tạo, chủ động giải quyết những vấn đề mới mẻ
đặt ra trong cuộc sống của mỗi cá nhân và của toàn xã hội
Từ việc nhận thức đúng đắn của cá nhân và của thời đại và để đáp ứng nhịp độ phát triển chung của nhân loại, Đảng ta đã đề ra những chủ chương
đúng đắn cho công cuộc đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo Nghị quyết Ban chấp hành Trung Ương Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IV khoá VII đã khẳng định: “ Đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả cấp học, bậc học, kết hợp tốt học với hành, học tập với lao động sản xuất, thực nghiệm với nghiên cứu, gắn nhà trường với lao động sản xuất, với xã hội, áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để giải quyết vấn đề…”
Phương pháp giáo dục phải hướng vào việc khơi dậy, rèn luyện và phát triển khả năng tư duy của học sinh một cách tự chủ, tự lực, tích cực sáng tạo trong lao động và học tập ở nhà trường Chính điều này đã đặt ra những yêu cầu mới, những đòi hỏi ngày càng cao hơn trong việc dạy học nói chung, dạy học sinh học nói riêng, việc đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi cần được thực hiện ở các giai đoạn của quá trình dạy học, trong đó có giai đoạn kiểm tra
đánh giá Hiện nay trong các trường phổ thông, cao đẳng và đại học ở nước ta
đã và đang sử dụng các phương pháp kiểm tra truyền thống như : kiểm tra miệng, kiểm tra bằng hình thức tự luận, các phương pháp này giúp người giáo viên đánh giá được kết quả học tập, mức độ tiếp thu kiến thức, vai trò chủ
động sáng tạo của học sinh, nhưng có nhược điểm làm mất nhiều thời gian và
Trang 4kiểm tra được ít khối lượng kiến thức Vì vậy trong quá trình dạy học hiện nay người ta còn sử dụng hình thức kiểm tra bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan để khắc phục những hạn chế của phương pháp kiểm tra truyền thống đã nêu trên
Với mong muốn góp một phần nhỏ công sức của mình vào công cuộc
đổi mới giáo dục, chúng tôi đã lựa chọn đề tài:
“Soạn thảo các câu hỏi trắc nghiệm về di truyền học chọn giống thực vật dùng trong các trường ĐHSP.”
2 Mục đích, ý nghĩa của đề tài:
+ Giúp sinh viên nắm vững, củng cố, khắc sâu kiến thức đã học
+ Giúp sinh viên biết vận dụng kiến thức di truyền học chọn giống vào
đời sống thực tiễn sản xuất
+ Kết quả kiểm tra sinh viên bằng những câu hỏi trắc nghiệm sẽ đánh giá được chất lượng học tập của sinh viên về bộ môn di truyền học chọn giống thực vật
+ Việc xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan về di truyền học chọn giống thực vật có ý nghĩa rất quan trọng trong sự đổi mới, nâng cao chất lượng của nền giáo dục nước ta
3 Nhiệm vụ của đề tài
3.1 Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm dạng câu hỏi nhiều lựa chọn (MCQ) dựa vào nội dung và mục tiêu giảng dạy di truyền học chọn giống thực vật ở các trường ĐHSP
3.2 Thông qua kiểm tra thực nghiệm trên sinh viên K29 có thể bước
đầu phân loại được trình độ sinh viên ở phần nội dung kiến thức này
Trang 5Chương 1 cơ sở lý luận của vấn đề
1.1 Lược sử nghiên cứu câu hỏi trắc nghiệm
Câu hỏi trắc nghiệm là hình thức kiểm tra đánh giá đã và đang được áp dụng rất rộng rãi trên thế giới Trắc nghiệm là những phương pháp để đo hay thăm dò một số đặc điểm năng lực trí tuệ của học sinh như: chú ý, tưởng tượng, tư duy… hoặc để đánh giá một kĩ năng, kĩ xảo…
Đầu thế kỉ thứ XIX, E thorndike là người đầu tiên dùng trắc nghiệm như một phương pháp “ khách quan và nhanh chóng” để đo trình độ kiến thức của học sinh, vào năm 1920 các trắc nghiệm nhóm trong trường học ra đời và phát triển nhanh trong nước Mỹ
Trong thời kỳ đầu việc sử dụng phương pháp trắc nghiệm, viết tắt là (test) ở các nước phương tây đã có sai lầm như: Sa vào quan điểm hình thức, máy móc trong việc đánh giá năng lực trí tuệ, chất lượng kiến thức của học sinh Đặc biệt người ta còn sử dụng trong đấu tranh giai cấp, họ phủ nhận năng lực của của con em nhân dân lao động, nên thời kì này Ban chấp hành Trung Ương Đảng Cộng sản Liên Xô đã phê phán việc dùng câu hỏi trắc nghiệm trong kiểm tra đánh giá, chỉ đến năm 1963 Liên Xô mới phục hồi việc
sử dụng Test để kiểm tra kết quả học tập của học sinh và vẫn có phần dè dặt trong việc phát triển test
ở nước ta trong thập kỉ 70 của thế kỉ XX đã có những công trình vận dụng vào kiểm tra kiến thức của học sinh
ở miền Bắc việc áp dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan (TNKQ) trong bài kiểm tra đánh giá thành quả học tập còn là vấn đề mới mẻ
có thể nói những nghiên cứu mới nhất thuộc lĩnh vực này là của giáo sư Trần Bá Hoành Năm 1971, giáo sư đã soạn thảo bộ câu hỏi trắc nghiệm và áp dụng trắc nghiệm vào kiểm tra kiến thức của học sinh và đã thu được kết quả khả quan Năm 1994, Bộ giáo dục và Đào tạo theo hướng đổi mới kiểm tra đánh
Trang 6giá đã phối hợp với viện công nghệ Hoàng gia Menborne của Australia tổ
chức các cuộc hội thảo với chủ đề :“ Kĩ thuật xây dựng câu hỏi trắc nghiệm
khách quan”
Tại các tỉnh phía Nam, trắc nghiệm khách quan đã rải rác được sử dụng trong các trường học từ những năm 1950, học sinh đã được tiếp xúc với trắc nghiệm khách quan qua các cuộc thi khảo sát khả năng ngoại ngữ do các tổ chức quốc tế tài trợ Đến năm 1960 TNKQ được sử dụng khá phổ biến trong kiểm tra và thi ở bậc trung học
Hiện nay, do nhu cầu nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, nên hầu hết các trường đại học trong cả nước đã tổ chức triển khai hàng loạt các cuộc hội thảo với chủ đề “ Đổi mới kiểm tra đánh giá” và đồng thời là các cuộc hội thảo về việc tiến hành nghiên cứu xây dựng các ngân hàng câu hỏi test cho từng môn học, cấp học Đặc biệt các trường ĐHSP đang cố gắng nghiên cứu tạo điều kiện cho nhiều sinh viên bắt đầu được nghiên cứu và kiểm tra đánh giá ở trường phổ thông, đáp ứng nhu cầu về kiến thức của học sinh phổ thông trong thời đại mới – Thời đại của tri thức khoa học và công nghệ
ở trường ĐHSP Hà Nội 2, trong những năm gần đây, nhiều khoá luận tốt nghiệp của sinh viên đề cập đến câu hỏi trắc nghiệm cho các chuyên ngành: phương pháp giảng dạy, sinh thái học, di truyền học … do các giảng viên trong khoa Sinh KTNN trực tiếp hướng dẫn
1.2 Các dạng câu hỏi trắc nghiệm
Hiện nay, có rất nhiều cách phân loại câu hỏi trắc nghiệm, mỗi dạng thích ứng với một dạng kiến thức nhất định Tuy nhiên hệ thống câu hỏi trắc nghiệm được phân thành 5 dạng chính:
Phân loại dạng kiểm tra
Trang 7Trắc nghiệm
Trắc nghiệm khách quan Trắc nghiệm tự luận
Câu hỏi trả lời ngắn Bài viết theo Bài viết
dàn bài sẵn mở
Nhiều lựa Ghép đôi Đúng sai Điền khuyết Trả lời ngắn
Chọn
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ tập chung nghiên cứu với dạng
câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn Nội dung phủ kín toàn bộ chương trình di
truyền học chọn giống thực vật Mỗi câu hỏi có một câu dẫn và bốn phương
án trả lời, trong đó chỉ có một phương án trả lời đúng nhất, còn các phương án
khác là câu nhiễu thường chỉ đúng một phần hoặc chưa hoàn chỉnh Không sai
hẳn mà cũng không đúng hẳn, nhưng khó phát hiện Khi trả lời các câu hỏi
học sinh phải tiến hành các thao tác tư duy, phân tích,so sánh tổng hợp, rèn kĩ
năng giải bài tập, kĩ năng tính toán và đối chiếu để chọn đáp án đúng nhất
1.3 Vai trò của MCQ trong KT-ĐG thành quả học tập của học sinh, sinh
viên
Vai trò quan trọng nhất của KTĐG là cung cấp sự phản hồi về thành
tích học tập của học sinh Từ đó có thể cung cấp cho giáo viên những đầu mối
để suy ra nên thay đổi cách dạy như thế nào?với mỗi phương pháp KT-ĐG
đều có mặt mạnh, hạn chế riêng Với MCQ có những ưu điểm và nhược điểm
như sau:
* Ưu điểm
- Giúp học, sinh viên tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập của mình một
cách khách quan Trên cơ sở đó thay đổi phương pháp học tập và bổ sung
những kiến thức chưa tích luỹ hoặc được tích luỹ nhưng chưa chắc chắn
Trang 8- Rèn cho học sinh, sinh viên các thao tác tư duy phân tích, so sánh, tổng hợp… và phán đoán nhanh để chọn ra câu trả lời đúng nhất
- Chấm điểm nhanh chóng, chính xác do mang tính khách quan
- Trong một thời gian ngắn có thể kiểm tra được nhiều nội dung kiến thức
- Gây được tính hứng thú và tính tích cực học tập của học sinh
- Giúp học sinh và giáo viên làm quen với máy vi tính để xử lý số liệu
và việc chấm điểm một cách nhanh nhất
* Nhược điểm
- Test nhiều lựa chọn có thể khiến cho người học lựa chọn phương án
đúng một cách ngẫu nhiên mà không hiểu rõ bản chất
- Hạn chế kĩ năng diễn đạt, Sắp xếp ý tưởng, lý lẽ lập luận và khả năng sáng tạo trong việc giải quyết câu hỏi
1.4 Các yêu cầu về câu hỏi trắc nghiệm
- Phần dẫn của câu trắc nghiệm ( CTN) cần phải diễn đạt rõ ràng một vấn đề muốn nói đến
- Phần lựa chọn gồm có duy nhất một câu trả lời đúng và những câu còn lại là câu trả lời sai ( câu nhiễu)
- Các câu lựa chọn, kể cả các câu nhiễu đều phải thích hợp với vấn đề
đã nêu và hấp dẫn như nhau
- Nếu phần dẫn CTN là câu bỏ lửng ( chưa hoàn tất) thì các lựa chọn phải nối tiếp với câu bỏ lửng thành những câu đúng ngữ pháp và hoàn chỉnh về nội dung
- Tránh những câu lựa chọn sai hiển nhiên, dễ nhận biết
- Câu lựa chọn đúng không nên dài hơn, hoặc ngắn hơn hẳn các câu lựa chọn khác
- Câu lựa chọn đúng và các câu nhiễu cần đồng nhất, có độ khó ngang nhau
Trang 9- Tránh tình trạng: câu lựa chọn đúng được viết với những ý tưởng đầy
đủ, chính xác; ngược lại các câu nhiễu được diễn đạt cẩu thả với những ý tưởng tầm thường
- Phải thận trọng khi dùng các cụm từ “ Tất cả đều đúng” hay “ Tất cả
đầu sai” làm câu lựa chọn
- Tránh phủ định ( Không) 2 lần liên tiếp trong một câu trắc nghiệm
- Trong câu trắc nghiệm không nên đặt những vấn đề không thể xảy ra trong thực tế
- Trong câu trắc nghiệm cần phải diễn ngắn gọn, sáng sủa Nên bỏ bớt những câu chữ, chi tiết không cần thiết
- Không đặt câu lựa chọn đúng ở vị trí cố định thường xuyên ( A hoặc
+ Nên viết dưới dạng “một phần của câu”, chỉ dùng dạng “ câu hỏi”
khi muốn nhấn mạnh
1.5.2 Đối với phần lựa chọn
+ Chỉ nên có từ 4 đến 5 phương án lựa chọn, trong đó chỉ có một phương án đúng
+ Các phương án nhiễu phải có vẻ hợp lí và có sức hấp dẫn HS
+ Các “phần câu lựa chọn” hoặc các “ câu lựa chọn” phải được viết
theo cùng một lối hành văn, cùng một cấu trúc ngữ pháp, nghĩa là tương
đương về hình thức, chỉ khác nhau về nội dung
+ Hạn chế dùng phương án: “ Các câu trên đều đúng” hoặc “ Các câu
trên đều sai”
+ Không để HS đoán ra câu trả lời dựa vào hình thức trình bày của phần lựa chọn
Trang 10+ Sắp xếp các phương án lựa chọn theo thứ tự ngẫu nhiên, tránh thể hiện một ưu tiên nào đối với vị trí của phương án đúng
1.5.3 Đối với cả hai phần
+ Bảo đảm để phần dẫn và phần lựa chọn khi ghép lại phải thành một cấu trúc đúng ngữ pháp và chính tả
Trang 11chương 2
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là sinh viên trường ĐHSP
Trong phạm vi hẹp của đê tài, tôi chỉ thực hiện được ở một trường
ĐHSP Cụ thể là sinh viên của 3 lớp K29A, K29B, K29C năm thứ 4 khoa Sinh của trường ĐHSP Hà Nội 2
Đây là khoa có điểm đầu vào tương đối cao và ổn định, chất lượng sinh viên khá đồng đều Do đầu vào có sự kiểm tra nghiêm ngặt cộng với đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm, nhiệt tình, yêu nghề nên sinh viên ở đây có lực học tương đối đồng đều, kết quả kiểm tra TNKQ càng có độ chính xác cao…
Điều đó khiến cho các thông số tính toán có độ tin cậy lớn
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Sưu tầm và phân tích tài liệu
- Phân tích kế hoạch giảng dạy và nội dung giảng dạy DTH ở trường
ĐHSP, tìm hiểu tầm quan trọng của nội dung kiến thức Từ đó xác định các mục tiêu cụ thể để lên kế hoạch xây dựng câu hỏi MCQ ứng với phần nội dung đó
- Nghiên cứu nội dung lí thuyết và kĩ thuật trắc nghiệm
2.2 Thực nghiệm sư phạm
- Tiến hành trên khối sinh viên năm thứ 4 trường đại học Sư phạm Hà Nội 2 nhằm thu thập số liệu; phân tích, thống kê; xác định các chỉ tiêu đo lường để đánh giá chất lượng câu hỏi
- áp dụng phương pháp lấy mẫu đa ma trận ( của nhà tâm lý học Sin
Pracis Galton 1884) Các câu hỏi được chia ngẫu nhiên từ tổng thể sinh viên
Để đảm bảo cho sự chính xác của những tính toán theo phương pháp đa ma trận, với tổng số một lượng thích hợp là 30 câu hỏi ( n = 30) và sẽ được 50 thí sinh dự thi, thời gian làm bài là 45 phút
Trang 122.3 Phương pháp chấm bài và cho điểm
Có nhiều phương pháp chấm bài khác nhau ở đây tôi chọn phương pháp khoanh tròn vào phương án trả lời đúng ở bài làm của sinh viên bằng bút đỏ
- Một câu hỏi đúng sẽ được 1 điểm Vậy thang điểm số thô tổng thể sẽ
là 30 điểm trên 1 bài
2.4.Xử lý số liệu
2.4.1 Xác định độ khó của mỗi câu trắc nghiệm
Độ khó của mỗi câu trắc nghiệm tính bằng phần trăm tổng số thí sinh trả lời đúng câu hỏi ấy trên tổng số thí sinh được dự thi câu hỏi càng dễ, số người trả lời đúng càng nhiều, độ khó càng thấp
Công thức tính độ khó của một câu hỏi :
Số thí sinh trả lời đúng
FV =
Số thí dinh dự thi
Thang phân loại độ khó được quy ước như sau:
- Câu dễ: Có từ 75 – 100% thí sinh trả lời đúng
- Câu trung bình: Có từ 30 – 75% thí sinh trả lời đúng
- Câu khó: Có từ 0 – 30% thí sinh trả lời đúng
Câu hỏi trắc nghiệm có 30% Ê FVÊ 75% là đạt yêu cầu sử dụng Ngoài khoảng trên có thể chọn lọc tuỳ mục đích sử dụng
2.4.2 Xác định độ phân biệt của mỗi câu hỏi (DI)
Độ phân biệt tức là khả năng phân biệt năng lực thí sinh giỏi với năng lực thí sinh kém Một câu hỏi gọi là phân biệt được có nghĩa là các thí sinh
được điểm cao sẽ có xu hướng làm tốt câu hỏi đó hơn so với thí sinh có điểm thấp
Có thế xác định độ phân biệt dựa trên phân tích câu hỏi trong đó các câu được sử dụng là câu trả lời của thí sinh thuộc 2 nhóm, nhóm thí sinh đạt
điểm cao nhất và nhóm thí sinh đạt điểm thấp nhất ( dựa trên điểm tổng kết của bài trác nghiệm)
Công thức được áp dụng để tính độ phân biệt là:
Trang 13Số thí sinh nhóm khá giỏi trả lời đúng (27%)_ số thí sinh nhóm kém ( 27%)
DI=
tổng số thí sinh một nhóm (27%)
Thang phân loại độ phân biệt được quy ước:
- DI = 0: Tỷ lệ thí sinh nhóm giỏi và nhóm kém trả lời đúng như nhau ( độ phân biệt là 0)
- DI > 0: tỷ lệ thí sinh nhóm giỏi trả lời đúng nhiều hơn nhóm kém ( độ phân biệt dương, có thể có giá trị từ 0 đến 1)
Chỉ số DI > 0, 2 là đạt yêu cầu sử dụng
- DI < 0: tỷ lệ nhóm kém trả lời đúng nhiều hơn nhóm giỏi ( độ phân biệt là âm) chỉ số DI < 0 -> câu hỏi không đạt yêu cầu sử dụng
Với những câu hỏi có 0 < DI < 0,2, việc sử dụng cần có sự lựa chọn Trong hai bài trắc nghiệm tương tự nhau ,bài trắc nghiệm nào có chỉ số phân biệt trung bình cao hơn thì có độ tin cậy cao hơn
2.4.3 Xác định độ tin cậy của tổng thể các câu hỏi trắc nghiệm (kí hiệu: r)
Những sai sót trong các phép đo lường ở phạm vi cho phép (mức độ thấp) gọi là sự ổn định của phép đo hay là độ tin cậy của nó
Hai tác giả là Kuder và Richandson đã đưa ra công thức khi nghiên cứu
Trong đó: K: Số lượng câu hỏi trong bài trắc nghiệm tổng thể
X : Điểm trung bình của bài trắc nghiệm
2
d : Phương sai của bài trắc nghiệm Thang phân loại độ tin cậy được quy ước như sau:
Độ tin cậy từ 0 đ 0,6: Bài trắc nghiệm có độ tin cậy thấp
Độ tin cậy từ 0,6 đ 0,9: Bài trắc nghiệm có độ tin cậy trung bình
Độ tin cậy từ 0,9 đ 1: Bài trắc nghiệm có độ tin cậy cao
Trang 14Để có được giá trị độ tin cậy, phải thực hiện tính toán qua các thông số sau:
* Xác định điểm trung bình của bài trắc nghiệm tổng thể từ bài trắc nghiệm con (m chung)
mi = K Xi
Trong đó:
mi: là điểm trung bình của bài trắc nghiệm tổng thể của bài trắc nghiệm i
K: Số câu hỏi trong bài trắc nghiệm tổng thể
Xi: Là điểm trung bình của từng bài trắc nghiệm i
Ki: Số câu hỏi trong bài trắc nghiệm i
Trong công thức trên Xi lại được tính như sau:
ni Xi
ni (2) Trong đó: Xi: Điểm thi của mỗi thí sinh ở bài trắc nghiệm i
ni: Số thí sinh tham gia khảo sát bài trắc nghiệm
* Xác định phương sai của điểm trắc nghiệm tổng thể từ các bài trắc
nghiệm con
ki 2
1 2
Ki: Số câu hỏi trong bài trắc nghiệm
ni: Số thí sinh dự thi bài trắc nghiệm i
i
k i
v
ồ : Tổng phương sai của từng câu hỏi trên bài trắc nghiệm i Trong công thức trên việc xác định
Trang 15+ Phương sai của từng bài trắc nghiệm nhỏ ( 2
-ồ
(4) + Tổng phương sai của từng câu hỏi trên bài trắc nghiệm i
v
ồ = ồ Pj (Pj – 1) (5) Bài trắc nghiệm có độ tin cậy tổng thể của các câu hỏi trắc nghiệm (r)
đạt từ 0,6 trở lên có thể được đưa vào sử dụng
2.4.4 Quy trình phân tích câu hỏi trắc nghiệm
Bước1: Mỗi câu trắc nghiệm chỉ có 1 câu trả lời đúng nhất ứng với số điểm là
1, những câu trả lời khác là sai ứng với số điểm là 0 ) Đó là điểm số thô, sau
khi tổng hợp điểm của bài sẽ quy ra thang điểm 10 theo công thức x = 10 X
L
x: điểm quy ra thang điểm mười
X : số câu đúng L: số câu trong bài TN Bước 2: Phân loại bài thi từ cao đến thấp
+ Phân loại bài thi: 27% số bài thi đạt điểm cao nhất + 27% số bài thi đạt điểm thấp nhất
+ Xem xét lại các phương án trả lời đối với mỗi câu hỏi của mỗi thí sinh trong nhóm 27% thấp
Bước 3: + Tính toán % nhóm điểm cao trả lời đúng câu hỏi đó (u) upter
+ Tính toán % nhóm điểm thấp trả lời đúng câu hỏi đó (L) lower
Trang 16Bước 4: Lấy giá trị trung bình của các giá trị U và L, kết quả sẽ là chỉ độ khó của câu trắc nghiệm
Sau khi đã phân tích trắc nghiệm có thể dùng bảng tương đương sau để giải trình độ khó:
câu dễ có từ :75-100%thí sinh trả lời đúng
câu trung bìnhcó từ:30-75%thí sinh trả lời đúng
câu khó có từ:0-30%thí sinh trả lời đúng
Khi chuẩn bị câu hỏi trắc nghiệm chúng ta dự định sẽ có một độ khó trung bình Các kết quả phân tích trắc nghiệm sẽ thông báo cho chúng ta sự cần thiết phải hiệu chính các câu hỏi quá khó hoặc quá dễ
Trang 17
Chương 3 kết quả nghiên cứu và thảo luận
1 Kế hoạch xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan dạng MCQ cho nội dung kiến thức phần DTH thực vật
Tôi đã soạn thảo được một hệ thống câu hỏi trắc nghiệm Kết quả gồm 60 câu phân bố đều cho chương trình di truyền học chọn giống thực vật Trong 60 câu tôi đã chọn đều được đưa vào thực nghiệm trên đối tượng là 100 sinh viên năm thứ 4 trường ĐHSP Hà Nội 2 Kết quả sử dụng mỗi câu hỏi dựa trên sự phân tích độ khó và độ tin cậy của mỗi câu hỏi
2 Nội dung câu hỏi
Câu 1: Kiểu hạt phấn hai nhân thường gắn liền với tính không hợp ở
Câu 2: Tính không hợp ở thực vật tồn tại ở hai trạng thái nào sau đây:
A Thể giao tử và thể tam bội B Thể lưỡng bội và thể tứ bội
C Thể giao tử và thể bào tử D Thể bào tử và thể tam nhiễm Câu 3: ý nghĩa của tính không hợp ở thực vật là
A ngăn cản nội phối và ngoại phối
B ngăn cản nội phối, tạo điều kiện ngoại phối
C tạo điều kiện nội phối và ngoại phối
D tạo điều kiện nội phối, ngăn cản ngoại phối
Câu 4: ở tính không hợp thể giao tử, kiểu hình của hạt phấn là do
A kiểu gen của tiểu bào tử qui định
B kiểu gen của thể bào tử qui định
C kiểu gen trong tế bào chất qui định
D cả kiểu gen trong tiểu bào tử, nhân và tế bào chất qui định
Câu 5: Một trong những nguyên nhân của tính hợp giả ở thực vật là
Trang 18A giữa các alen khác nhau có mối quan hệ trội, lặn đã được xác định trước
B các alen không tự hợp có khả năng ức chế được các alen tự hợp
C do sự tự thụ phấn xảy ra nhiều lần
D do rối loạn quá trình sinh lý, sinh hoá của tế bào
Câu 6: Nhiệm vụ của khoa học chọn giống là
A cải tiến giống vật nuôi cây trồng hiện có
B cải tiến giống vật nuôi, cây trồng và vi sinh vật hiện có
C.cải Tạo các giống mới năng suất cao, phẩm chất tốt đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của con người
D b và c đúng
Câu 7: Trong công tác chọn giống hiện đại, nguồn nguyên liệu chủ yếu nhất của chọn lọc là
A đột biến gen B đột biến nhiễm sắc thể
C thường biến D biến dị tổ hợp
Câu 8: Chọn giống hiện đại khác với chọn giống cổ điển ở điểm :
A Hoàn toàn phụ thuộc vào sự phát sinh ngẫu nhiên của biến dị
B Không dựa vào kiểu hình mà chỉ dựa vào kiểu gen trong việc đánh giá kết quả lai
C Chủ yếu dựa vào phương pháp gây đột biến nhân tạo
D Thực hiện trên cơ sở lý luận mới của di truyền học
Câu 9: Hiện nay di truyền học phân loại biến dị thành hai loại chính là
A biến dị tổ hợp và đột biết
B biến dị di truyền được và biến dị không di truyền được
C biến dị đột biến và biến dị thường biến
D biến dị kiểu gen và biến dị kiểu hình
Câu 10: Lai xa và đa bội là phương thức hình thành loài phổ biến ở nhóm sinh vật nào?
A Thực vật bậc cao B Thực vật và động vật bậc thấp
Trang 19C Vi sinh vật D Động vật đa bào
Câu 11: Trong việc tạo giống mới người ta dùng phương pháp lai nào là chủ yếu?
A Lai cùng loài B Lai khác loài
C Lai khác dòng D Lai khác thứ
Câu 12:Để khắc phục tính bất thụ của cơ thể Lai xa F1 người ta dùng phương pháp nào sau đây là chủ yếu?
A Tạo thể song nhị bội
B Tự thụ phấn bằng hạt phấn của một trong hai dạng bố mẹ
C Thụ phấn bằng hạt phấn của các cây hữu thụ F1
D Thụ phấn bằng hạt phấn của các cây bất thụ F1
Câu 13: Lai xa được sử dụng đặc biệt phổ biến trong
A chọn giống vi sinh vật
B chọn giống vật nuôi
C chọn giống cây trồng
D chọn giống vật nuôi, vi sinh vật, cây trồng
Câu 14: Trong chọn giống thực vật, thực hiện lai xa giữa loài hoang dại và cây trồng nhằm mục đích
A đưa vào cơ thể lai các gen quý về năng suất của loài dại
B đưa vào cơ thể lai các gen quý giúp chống chịu tốt với điều kiện bất lợi của môi trường loài dại
C khắc phục tính bất thụ trong lai xa
D tạo điều kiện thuận lợi cho việc sinh sản dinh dưỡng ở cơ thể lai xa Câu 15: Trong chọn giống thực vật, người ta sử dụng phương pháp chủ yếu nào để tạo ưu thế lai?
A Lai khác giống B Lai khác thứ
C Lai kinh tế D Lai luân phiên
Câu 16: ở thực vật để duy trì và củng cố ưu thế lai người ta thường sử dụng phương pháp