Lời cam đoan Tôi xin cam đoan khoá luận tốt nghiệp với đề tài “Nghiên cứu tình hình chăn nuôi lợn và hiện trạng về hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn nuôi tại xã Võng Xuyên - Phúc Thọ - Hà
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
**********
TRẦN THỊ THU
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI LỢN
VÀ HIỆN TRẠNG VỀ HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY TRÊN ĐÀN LỢN NUÔI TẠI XÃ VÕNG XUYÊN -
PHÚC THỌ - HÀ NỘI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giải phẫu - Sinh lý người và động vật
HÀ NỘI - 2010
Trang 2lời cảm ơn
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc tới ThS Nguyễn Xuân Thành là người trực tiếp hướng dẫn và đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này
Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy, cô giáo trong
tổ bộ môn Giải phẫu - Sinh lý người và động vật, Ban chủ nhiệm khoa Sinh - KTNN của trường ĐHSP Hà Nội 2 đã truyền đạt cho tôi những kiến thức về nghề nghiệp để tôi có thể sử dụng và phát huy trong cuộc sống sự nghiệp sau này
Tôi cũng chân thành cảm ơn các cô, chú cán bộ thú y xã Võng Xuyên - Phúc Thọ - Hà Nội đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Mặc dù đã cố gắng và nỗ lực rất nhiều song chắc chắn khoá luận tốt nghiệp này không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô giáo và các bạn sinh viên để đề tài thu
được kết quả cao hơn
Xuân Hoà, ngày 01 tháng 05 năm 2010 Người thực hiện
Trần Thị Thu
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan khoá luận tốt nghiệp với đề tài “Nghiên cứu tình hình chăn nuôi lợn và hiện trạng về hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn nuôi tại xã Võng Xuyên - Phúc Thọ - Hà Nội” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nghiên cứu này không trùng với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác
Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Xuân Hoà, ngày 01 tháng 05 năm 2010 Tác giả
Trần Thị Thu
Trang 4Mục lục
Trang
Phần mở đầu 1 Lí do chọn đề tài……… 1
2 Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu của đề tài 2
Phần nội dung Chương 1 Cơ sở lí luận 3
1.1 Tổng quan về kỹ thuật chăn nuôi lợn 3
1.1.1 Đặc điểm về sinh lý sinh dục của lợn 3
1.1.1.1 Sản phẩm thịt lợn 3
1.1.1.2 Những tập tính của lợn 4
1.1.1.3 Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái 4
1.1.1.4 Sự thích nghi của lợn đối với khí hậu nhiệt đới… 6
1.1.2 Phương thức chăn nuôi 7
1.2 Tìm hiểu về hội chứng tiêu chảy ở lợn 8
1.2.1 Nguyên nhân gây ra hội chứng tiêu chảy ở lợn 8
1.2.1.1 Nguyên nhân do vi khuẩn 8
1.2.1.2 Nguyên nhân do virus 11
1.2.1.3 Nguyên nhân do ký sinh trùng 11
1.2.1.4 Do điều kiện ngoại cảnh, vệ sinh, dinh dưỡng, chăm sóc lợn mẹ và lợn con kém 12
1.2.2 Cơ chế sinh bệnh 12
1.2.3 Triệu chứng 13
1.2.4 Bệnh tích 13
1.2.5 Biện pháp phòng trị 14
1.2.5.1 Phòng bệnh 14
1.2.5.2 Điều trị bằng thuốc hoá học trị liệu 15
Trang 51.2.6 Lịch sử nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy ở lợn 16
1.2.6.1 Lịch sử nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy ở lợn trên thế giới 16
1.2.6.2 Lịch sử nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy ở lợn tại Việt Nam 17
Chương 2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 19
2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 19
2.3 Phương pháp nghiên cứu 19
2.3.1 Thống kê 19
2.3.2 Phỏng vấn và quan sát trực tiếp 19
2.3.3 Phương pháp xác định cân nặng 20
2.3.4 Phương pháp xác định bệnh dựa vào đặc điểm dịch tễ học, triệu chứng lâm sàng và mổ khám gia súc chết, quan sát bệnh tích 21
2.3.5 Xác định gia súc mắc bệnh 21
2.3.6 Phân tích và xử lý số liệu 22
Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận. 23
3.1 Điều tra chung toàn xã 23
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 23
3.1.1.1 Vị trí địa lý 23
3.1.1.2 Khí hậu 23
3.1.1.3 Đất đai 23
3.1.2 Tình hình kinh tế xã hội 24
3.1.2.1 Tình hình kinh tế 24
3.1.2.2 Tình hình xã hội 26
3.1.3 Đánh giá tình hình chung 27
3.2 Tình hình chăn nuôi lợn ở xã 28
Trang 63.3 Tình hình chăn nuôi lợn tại các nông hộ của xã Võng Xuyên 29
3.3.1 Chuồng trại 30
3.3.2 Qui mô và cơ cấu đàn lợn tại các nông hộ xã Võng Xuyên 31
3.3.3 Năng suất sinh sản của lợn nái 33
3.3.4 Thức ăn chăn nuôi lợn 35
3.3.5 Công tác phòng bệnh trong chăn nuôi lợn tại các nông hộ 37
3.4 Tình hình dịch bệnh trong chăn nuôi lợn 38
3.4.1 Tình hình dịch bệnh chung trong toàn xã 38
3.4.2 Kết quả nghiên cứu hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn của xã Võng Xuyên (từ 2/2010 đến 4/2010) 40
Chương 4 Kết luận và kiến nghị. 44
4.1 Kết luận 44
4.2 Kiến nghị 45
Tài liệu tham khảo
Trang 7Danh môc c¸c ký hiÖu vµ ch÷ viÕt t¾t
Trang 8Danh mục các bảng
Trang Bảng 1.1 Năng suất sinh sản của lợn nái Yorkshire……… 6 Bảng 1.2 ảnh hưởng của nhiệt độ tới sự phát triển của lợn…… 7 Bảng 3.1 Cơ cấu đàn gia súc và gia cầm của xã Võng Xuyên qua
3 năm (2007 – 2009)……… 25 Bảng 3.2 Tình hình xã hội của xã Võng Xuyên 26 Bảng 3.3 Diễn biến đàn lợn của xã Võng Xuyên qua 3 năm
(2007 - 2009) 28 Bảng 3.4 Hoạt động sản xuất chăn nuôi lợn tại các nông hộ
của xã Võng Xuyên 30 Bảng 3.5 Tình hình chăn nuôi lợn ở xã Võng Xuyên - Phúc Thọ
- Hà Nội (tính đến ngày 01/10/2009)……… 32 Bảng 3.6 Năng suất sinh sản của lợn nái Yorkshire nuôi tại một
số trại lợn của xã Võng Xuyên……… 34 Bảng 3.7 Tỷ lệ các loại thức ăn trong khẩu phần ăn của đàn lợn
nuôi tại xã Võng Xuyên 35 Bảng 3.8 Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn tại xã Võng Xuyên
qua các năm 2007 – 2009……… 39 Bảng 3.9 Kết quả nghiên cứu hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn
của xã Võng Xuyên (từ 2/2010 đến 4/2010)………… 41 Bảng 3.10 Kết quả nghiên cứu lứa tuổi lợn mắc bệnh tiêu chảy ở
xã Võng Xuyên (từ 2/2010 đến 4/2010)……… 42
Trang 9Danh mục các hình
Trang
Hình 3.1 Cơ cấu đàn gia súc và gia cầm của xã Võng Xuyên
qua 3 năm (2007 - 2009)……… 25 Hình 3.2 Cơ cấu đàn lợn của xã Võng Xuyên qua 3 năm
(2007 - 2009) 29 Hình 3.3 Tỷ lệ các loại thức ăn trong khẩu phần ăn của đàn lợn
nuôi tại xã Võng Xuyên 36
Hình 3.4 Số lượng lợn bị mắc bệnh và chết do tiêu chảy
Hình 3.5 Số lượng lợn bị mắc bệnh và chết do tiêu chảy theo lứa
tuổi (từ 2/2010 đến 4/2010)……… 43
Trang 10Phụ lục Phiếu điều tra về đề tài
Nghiên cứu tình hình chăn nuôi lợn và hiện trạng về hội chứng tiêu chảy
trên đàn lợn nuôi tại xã Võng Xuyên - Phúc Thọ - Hà Nội
Phần I Định danh
- Họ và tên người điều tra: Trần Thị Thu
- Ngày, tháng, năm điều tra:
- Họ và tên người được phỏng vấn:
- Nơi ở người được phỏng vấn:
Phần II Kết quả nghiên cứu hoạt động sản xuất chăn nuôi lợn
- Số lượng lợn nuôi……….(con)
- Diện tích chuồng nuôi……… (m2)
- Số lứa nuôi trong một năm………(lứa)
Trang 11+ Ngô……… (%)
+ Gạo………(%)
+ Cám gạo………(%)
+ Cám mạch……….(%)
+ Cám công nghiệp……… (%)
Phần IV Kết quả nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy của lợn
- Số lượng lợn từ 1 - 60 ngày tuổi……(con)
Trong đó:
+ Số lợn bị mắc tiêu chảy:…………(con)
+ Số lợn bị chết do tiêu chảy: (con)
- Số lượng lợn thịt:……… (con)
Trong đó:
+ Số lợn bị mắc tiêu chảy:………….(con)
+ Số lợn bị chết do tiêu chảy:…… (con)
- Số lượng lợn nái:……….(con)
Trong đó:
+ Số lợn bị mắc tiêu chảy:……….(con)
+ Số lợn bị chết do tiêu chảy:……….(con)
Phần V Kết quả nghiên cứu năng suất sinh sản của lợn nái Yorkshire (dành cho các hộ gia đình nuôi lợn nái Yorkshire)
- Số con đẻ ra/ổ……….(con)
- Khối lượng sơ sinh/con……… (kg)
- Số con còn sống đến cai sữa……… (con)
- Khối lượng cai sữa/ổ……… (kg)
- Thời gian phối giống lại……….(ngày)
Trang 12Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp, có những lợi thế về tiềm năng đất đai, lao động, sinh thái cho phép phát triển nhiều loại cây trồng vật nuôi có giá trị kinh tế cao Chăn nuôi lợn là một ngành có bề dày truyền thống gắn liền với cuộc sống người lao động; cung cấp một khối lượng thực phẩm không nhỏ phục vụ cho đời sống hàng ngày của con người và cung cấp nguồn phân hữu cơ cho cây trồng Sự tác động qua lại của trồng trọt và chăn nuôi là cơ sở để phát triển một ngành nông nghiệp bền vững
Năm 2009, giá trị sản lượng của nông nghiệp đạt 71,473 nghìn tỷ đồng, tăng 1,32% so với năm 2008 và chiếm 13,85% tổng sản phẩm trong nước Trong tổng giá trị sản lượng thì chăn nuôi chiếm 32% còn lại là các sản phẩm khác Chăn nuôi lợn chiếm tỷ lệ cao nhất, chiếm 76 – 80% khối lượng thịt bán trên thị trường Theo thống kê của Cục khuyến nông Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn năm 2009 thì đàn lợn cả nước từ 2001 - 2005 có tốc độ tăng trưởng nhanh, tổng đàn lợn từ 21,8 triệu con năm 2001 tăng lên 27,43 triệu con năm 2005, tăng bình quân đạt 6,3%/năm Trong đó đàn lợn nái năm 2005 đạt 3,88 triệu con, chiếm 14,2% tổng đàn lợn [14]
Chăn nuôi lợn giữ vai trò chủ đạo trong các hoạt động sản xuất chăn nuôi ở nước ta Hiện nay, chăn nuôi lợn gia đình đang phát triển mạnh, điều này chứng
tỏ vai trò của nó trong nền kinh tế nông thôn Chăn nuôi lợn đã cung cấp sản phẩm chính là thịt lợn cho tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu Đặc biệt, chăn nuôi lợn đã giải quyết việc làm cho những lao động dư thừa ở nông thôn; lợi nhuận của chăn nuôi để tái sản xuất, xây dựng nhà cửa, mua sắm đồ dùng sinh hoạt,…
Nhưng do điều kiện về tự nhiên, các chính sách về kinh tế xã hội cũng như trình độ sản xuất chăn nuôi, am hiểu về dịch bệnh chưa đầy đủ mà trong nhiều năm qua hệ thống chăn nuôi ở nông thôn còn gặp nhiều khó khăn Công tác chăm sóc nuôi dưỡng, phòng trừ dịch bệnh cho vật nuôi chưa được chú ý đúng
Trang 13mức nên thiệt hại do dịch bệnh còn rất lớn, làm ảnh hưởng đến hiệu quả của ngành chăn nuôi
Việc xác định thực trạng chăn nuôi trong môi trường nông thôn hiện nay là vấn đề hết sức quan trọng, tuy nhiên lại có rất ít thông tin về vấn đề này Điều đó
đã gây nên hạn chế không nhỏ đến việc xây dựng kế hoạch để triển khai tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất
Để góp phần đánh giá tình hình chăn nuôi và dịch bệnh ở lợn, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình dịch bệnh ở qui mô hộ gia đình làm cơ sở cho việc tìm kiếm, xây dựng các giải pháp phát triển sản xuất ở nông thôn; chúng tôi
tiến hành thực hiện đề tài “ Nghiên cứu tình hình chăn nuôi lợn và hiện trạng
về hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn nuôi tại xã Võng Xuyên - Phúc Thọ - Hà Nội”
2 Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu
- Điều tra điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Võng Xuyên - Phúc Thọ - Hà Nội
- Nghiên cứu tình hình chăn nuôi và dịch bệnh trên đàn lợn nuôi thuộc xã Võng Xuyên, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội
- Nghiên cứu hiện trạng hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn của xã Võng Xuyên thuộc 2 lứa tuổi: từ 1 - 60 ngày tuổi và trên 60 ngày tuổi
* ý nghĩa nghiên cứu
Góp phần xác định thực trạng chăn nuôi, dịch bệnh trên đàn lợn tại xã Võng Xuyên - Phúc Thọ - Hà Nội và tìm hiểu các nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình dịch bệnh ở qui mô hộ gia đình; từ đó làm cơ sở cho việc tìm kiếm, xây dựng các giải pháp phát triển sản xuất ở nông thôn
Trang 14Chương 1 Cơ sở lý luận
1.1 tổng quan về kỹ thuật chăn nuôi lợn
1.1.1 Đặc điểm về sinh lý sinh dục của lợn
Đặc điểm sinh lý sinh dục của các loài gia súc nói chung và của loài lợn nói riêng mang tính đặc trưng cho loài, có tính ổn định với từng giống vật nuôi
Đặc điểm này được duy trì qua các thế hệ và luôn được củng cố, hoàn thiện thông qua quá trình chọn lọc Ngoài ra còn chịu sự chi phối của điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, ngoại cảnh,…
Sinh sản đó là đặc trưng quan trọng bậc nhất để duy trì nòi giống, có ý nghĩa tái sản xuất phục vụ đời sống con người Chính vì vậy, sinh sản là một trong những tình trạng được người chăn nuôi hết sức chú ý; với mục đích làm sao trong thời gian ngắn gia súc sinh sản được nhiều, đàn con sinh ra có sức sống cao nhằm thu được hiệu quả kinh tế lớn nhất
Khả năng sinh sản của lợn đực rất sớm, nhưng thường không sớm hơn 4 tháng Đến 7 - 8 tháng tuổi, lợn đực mỗi lần phóng tinh 150ml, chứa 300 triệu tinh trùng cho 1ml Với lợn cái, 5 tháng tuổi có chu kỳ rụng trứng đều đặn, chậm nhất là 7 - 8 tháng tuổi [15]
Lợn là con vật có sức phát triển nhanh Từ lúc mới sinh là 1kg thì đến 7 - 8 tháng tuổi có thể đạt 100kg, tức là tăng trọng lên 100 lần Tuy nhiên, tốc độ tăng theo từng giai đoạn: sau khi cai sữa có thể tăng trung bình 400g/ngày, tiếp theo 500g/ngày đến lúc 30kg trọng lượng, 600g/ngày đến 70kg trọng lượng; sau đó tốc độ có thể giảm Qui luật này được áp dụng vào việc nuôi lợn vỗ béo hay hướng nạc [16]
1.1.1.1 Sản phẩm thịt lợn
Vì nuôi lợn là để có sản phẩm thịt nên sau khi mổ thịt, người ta lấy lòng riêng ra, cắt đầu, phần còn lại gọi là thân thịt xẻ Tỷ lệ thịt xẻ so với trọng lượng sống của con lợn là một chỉ tiêu quan trọng vì nó thể hiện giá trị kinh tế và sử dụng của sản phẩm thịt Tỷ lệ nạc và mỡ trong sản phẩm thịt lợn là điều được chú
Trang 15ý vì hiện nay xu hướng sử dụng lợn có tỷ lệ nạc cao ngày càng được phổ biến Các chỉ tiêu đó đều phụ thuộc vào:
Về lợn con, sau khi sinh đã biết tìm đến mẹ, dần dần thành thạo rất sớm các động tác tìm vú, thúc vú và mút vú
Về lợn đực, có tính hăng, hăng hái tiếp cận con nái, sau đó nhảy cái bình tĩnh và chắc chắn cho đến khi hết giai đoạn phóng tinh
1.1.1.3 Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái
Trong thực tế, có rất nhiều chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái Tuy nhiên, các nhà chọn giống và di truyền chỉ quan tâm đến một số tính trạng có năng suất nhất định mà theo họ đó là các chỉ tiêu quan trọng trong chăn nuôi lợn sinh sản
- Số con đẻ ra/ổ
Được đánh giá bằng số lợn con sống và số con chết ngay sau khi sinh, chỉ tiêu này nói lên mức độ đẻ sai của lợn nái Số con đẻ ra/ổ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: giống, phương pháp phối giống, tỷ lệ chết phôi và chết thai trong giai
đoạn lợn nái chửa
- Số con còn sống đến 24 giờ/ổ
Số con còn sống đến 24 giờ/ổ phụ thuộc vào khả năng đẻ nhiều hay ít của giống, trình độ kỹ thuật của dẫn tinh viên và điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc lợn nái chửa Trong vòng 24 giờ sau khi sinh ra, những lợn không đạt khối lượng sơ sinh (quá bé), không phát dục hoàn toàn, dị dạng…thì sẽ bị loại thải
Trang 16- Khối lượng sơ sinh toàn ổ
Là khối lượng toàn ổ được cân ngay sau khi lợn mẹ đẻ xong con cuối cùng
và trước lúc cho con bú đầu tiên Khối lượng sơ sinh toàn ổ là một chỉ tiêu nói lên khả năng nuôi dưỡng thai của lợn mẹ, đặc điểm của giống, kỹ thuật chăm sóc và phòng bệnh cho lợn nái chửa
- Khối lượng con cai sữa/ổ
Xác định chỉ tiêu này bằng cách cân lợn con lúc cai sữa, chỉ tiêu này đánh giá khả năng nuôi con của lợn nái và khả năng nuôi dưỡng chăm sóc của người chăn nuôi đối với lợn nái, lợn con
- Số con cai sữa/ổ
Là số con còn sống đến lúc cai sữa, chỉ tiêu này đánh giá khả năng nuôi con của lợn nái và kỹ thuật nuôi dưỡng đàn lợn con của người chăn nuôi Theo kết quả đã được công bố trên tạp chí Veterinary Invesigation Service [7], các nguyên nhân chủ yếu làm lợn con chết trong giai đoạn sơ sinh đến cai sữa gồm:
do mẹ đè và bỏ đói chiếm 50%, nhiễm khuẩn chiếm 11,1%, dinh dưỡng kém chiếm 8%, di truyền chiếm 4,5% và các nguyên nhân khác chiếm 26,4%
- Số lứa đẻ/nái/năm
Đây là chỉ tiêu ảnh hưởng rất lớn đến số lợn con/nái/năm và nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố Để hoàn thành một chu kỳ sinh sản bao gồm: thời gian lợn nái mang thai, thời gian nuôi con và thời gian động dục trở lại Trong các yếu tố đó thì thời gian lợn nái mang thai có tính ổn định còn các yếu tố khác đều biến động khá lớn
- Thời gian phối giống sau cai sữa
Là số ngày bình quân tính từ khi lợn nái cai sữa cho con đến khi phối giống có chửa Thời gian này phụ thuộc vào giống lợn, thể trạng, điều kiện dinh dưỡng và thời gian cai sữa cho lợn con
Từ năm 1994, chủ trương của nhà nước ta là “Nạc hóa đàn lợn” ở các tỉnh phía bắc và chuyển đổi cơ cấu tăng đàn nái ngoại, nái lai Vì vậy, giống Yorkshire là một trong những giống đã được sử dụng trong các chương trình cấp
Trang 17nhà nước với mục tiêu tăng tỷ lệ nạc trên đàn lợn ở nước ta Lợn nái Yorkshire có rất nhiều đặc tính ưu việt như nuôi con khéo, tỷ lệ nạc cao, đẻ sai,… nếu được
đảm bảo về các khâu chăm sóc nuôi dưỡng và kỹ thuật dẫn tinh Do vậy, trong những năm gần đây đã có rất nhiều nghiên cứu về khả năng sinh sản của lợn nái Yorkshire [2]
Đặng Vũ Bình (1998) [3], thông báo năng suất sinh sản của lợn Yorkshire trong điều kiện chăn nuôi ở Việt Nam thể hiện ở bảng 1.1
Bảng 1.1: Năng suất sinh sản của lợn nái Yorkshire
1.1.1.4 Sự thích nghi của lợn đối với khí hậu nhiệt đới
Nhìn chung, lợn là con vật dễ nuôi, dễ thích nghi hơn so với những vật nuôi khác Tuy nhiên, vấn đề này ở nước ta vẫn cần được quan tâm đúng mức, xuất phát từ hai cơ sở sau:
- Con lợn là động vật có trao đổi chất với cường độ cao, sản xuất ra một số nhiệt năng lớn; vì vậy chỉ có thể được giữ thăng bằng với môi trường nếu nhiệt độ luôn luôn hơi thấp hơn một ít so với thân nhiệt
- Chúng ta thường nhập những giống cao sản mà phần lớn đều ở các vùng
có khí hậu lạnh và khô ráo hơn so với khí hậu nước ta
Trang 18Khí hậu nóng ở bên ngoài làm nóng trước tiên da con vật Lợn là loài động vật có lớp da hầu như không có tuyến mồ hôi, dưới da lại có lớp mỡ dày Sugahara và các cộng tác viên (1975) [4], nghiên cứu sự thích nghi của lợn đối với khí hậu nhiệt đới Kết quả được thể hiện ở bảng 1.2
Bảng 1.2: ảnh hưởng của nhiệt độ tới sự phát triển của lợn
Như vậy, nếu nhiệt độ tăng thì tăng trọng giảm đi 1/3 trong lúc hệ số tiêu tốn thức ăn không thay đổi ẩm độ cao cũng ngăn cản sự thoát hơi nước từ hệ thống hô hấp của lợn, từ đó càng làm tăng thêm nhiệt trung tâm
Từ những nhận xét trên người ta đã đi đến những kết luận như sau:
- Lợn cao sản nhập nội vào môi trường mới bao giờ cũng có một giai đoạn thích nghi Lợn càng có trọng lượng cao thì càng khó khăn trong thích nghi Vì vậy, việc nuôi dưỡng cần phải tạo những điều kiện thuận lợi để lợn có trọng lượng lớn dễ thích nghi
- Lợn địa phương và con lai của chúng với lợn cao sản có sức chịu đựng khí hậu nóng ẩm tốt hơn
1.1.2 Phương thức chăn nuôi
Căn cứ vào mức độ chăn nuôi tại các hộ gia đình ở địa phương, có thể chia các hộ gia đình chăn nuôi thành hai loại hình phổ biến là:
- Loại hình chăn nuôi có tính chất tận dụng
- Loại hình chăn nuôi với qui mô lớn
Trang 19Nếu số con lớn hơn 10 con/lứa thì được xem là chăn nuôi lợn với qui mô lớn; thể hiện chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa và có sự đầu tư về vốn, kỹ thuật Nếu số con dưới 5 con/lứa là chăn nuôi qui mô nhỏ với mục đích tận dụng,
đây là loại hình chăn nuôi khá phổ biến của đa số các hộ nông dân tại địa phương
1.2 Tìm hiểu về hội chứng tiêu chảy ở lợn
1.2.1 Nguyên nhân gây ra hội chứng tiêu chảy ở lợn
Tiêu chảy là một biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý đặc thù ở đường tiêu hoá Hiện tượng lâm sàng này tùy theo đặc điểm, tính chất, diễn biến, tùy theo độ tuổi mắc bệnh, tùy theo yếu tố được xem là nguyên nhân chính mà nó
được gọi với nhiều tên gọi khác nhau: bệnh lợn con ỉa phân trắng, bệnh tiêu chảy sau cai sữa, chứng khó tiêu, chứng rối loạn tiêu hóa
Thực chất tiêu chảy là một hội chứng bệnh lý liên quan đến rất nhiều yếu
tố, trong đó có yếu tố là nguyên nhân nguyên phát, có yếu tố là nguyên nhân thứ phát; việc phân biệt rạch ròi nguyên nhân gây tiêu chảy là vấn đề không hề đơn giản Song cho dù bất cứ nguyên nhân nào dẫn đến tiêu chảy thì hậu quả của nó cũng gây ra viêm nhiễm, tổn thương thực thể đường tiêu hóa và cuối cùng là một quá trình nhiễm trùng
Hội chứng tiêu chảy là một vấn đề thời sự, xảy ra ở rất nhiều địa phương gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi lợn,
từ sơ sinh cho đến độ tuổi sinh sản nhưng trầm trọng nhất là ở lợn sơ sinh đến cai sữa Việc phân biệt nguyên nhân chỉ có tính chất tương đối nhằm mục đích xác
định nguyên nhân nào là chính, xuất hiện trước, nguyên nhân nào là kế phát; từ
đó có biện pháp phòng trị cụ thể, hữu hiệu
1.2.1.1 Nguyên nhân do vi khuẩn
* Nguyên nhân do Escherichia coli (E.coli)
Escherichia coli do Escherich phát hiện năm 1885 E.coli là trực khuẩn
bắt mầu gram (-), không hình thành giáp mô và nha bào, có lông, di động, có
Trang 20kích thước từ 0,4 - 0,6à x 2 - 3à Trong cơ thể gia súc vi khuẩn có hình cầu, đứng riêng rẽ đôi khi xếp thành chuỗi ngắn
E.coli là vi khuẩn hiếu khí hoặc yếm khí tùy tiện, dễ nuôi cấy, có thể sinh
trưởng và phát triển ở nhiệt độ thích hợp 37 - 380C, pH thích hợp là 7,2 - 7,4 Vi khuẩn có sức đề kháng yếu, đa số bị tiêu diệt ở 550C trong vòng 1 giờ hoặc 600C trong vòng 15 - 30 phút Các chất sát trùng như axit phenic, Formol, có thể tiêu
diệt vi khuẩn E.coli trong 5 phút E.coli đề kháng với sự sấy khô [13]
Cấu trúc kháng nguyên của E.coli rất phức tạp, bao gồm:
- Kháng nguyên thân O được coi là yếu tố độc lực của vi khuẩn Kháng nguyên này nằm trên màng ngoài của vỏ bọc vi khuẩn và đặc trưng bởi lớp lipopolysaccaride Kháng nguyên thân O có thể giữ nguyên được tính chất ở
1000C trong 2 giờ và không bị cồn phá hủy
- Kháng nguyên K ngăn cản sự ngưng kết của vi khuẩn sống trong huyết thanh O tương ứng, khi đun nóng 100 - 1200C kháng nguyên K sẽ mất tác dụng ngăn cản này Căn cứ vào đặc tính vật lý (khả năng chịu nhiệt), khả năng hình thành ngưng kết tố và khả năng ức chế ngưng kết mà chia kháng nguyên K của
E.coli thành 3 loại là: L, A, B
- Kháng nguyên lông H kém bền vững hơn so với kháng nguyên thân O, bị phá hủy ở 600C trong vòng 1 giờ và dễ bị phá hủy bởi cồn, axit yếu Kháng nguyên lông H không có vai trò bám dính, không có ý nghĩa tạo ra miễn dịch phòng bệnh Trong thực tế, kháng nguyên này có vai trò bảo vệ cho vi khuẩn vận
động tránh khỏi bị tiêu diệt bởi tế bào thực bào [19]
* Nguyên nhân do Salmonella (Sal.)
Salmonella do D.B Salmon và Smith phân lập năm 1885, để kỉ niệm người
đầu tiên tìm ra vi khuẩn này người ta đặt tên cho vi khuẩn này là Salmonella Sal
là trực khuẩn hình gậy ngắn, hai đầu tròn, có kích thước từ 0,4 - 0,6à ì 1 - 3à,
không hình thành giáp mô và nha bào, đa số di động, bắt màu gram (-) Sal là vi
khuẩn vừa sống hiếu khí vừa sống yếm khí tuỳ tiện, nhiệt độ thích hợp là 370C,
pH thích hợp là 7,2 Sal đề kháng yếu với nhiệt độ, ở 600C tồn tại trong 1 giờ và
Trang 21ở 75C tồn tại trong 5 phút đã bị tiêu diệt Các hoá chất thông thường HgCl2 1%,
axit phenic 3% tiêu diệt Sal sau 15 - 20 phút
Cấu tạo kháng nguyên của Sal phức tạp, bao gồm:
- Kháng nguyên thân O có cấu tạo rất phức tạp, hiện nay người ta đã tìm
thấy 65 yếu tố gây bệnh khác nhau Một sal có thể có một hoặc nhiều yếu tố gây
bệnh, trong số các yếu tố đó kháng nguyên thân O được coi là yếu tố độc lực của
vi khuẩn
- Kháng nguyên lông H được chia làm 2 pha Pha 1 có tính chất đặc hiệu gồm 28 loại kháng nguyên, pha 2 không có tính chất đặc hiệu gồm 6 loại kháng nguyên
* Nguyên nhân do Clostridium (Cl.)
Do Uenso và Natar phân lập 1892; là những vi khuẩn bắt màu gram (+), sống yếm khí bắt buộc, có hình thành nha bào, phần lớn di động (chỉ trừ
Cl.Perfringens là không di động) Clostridium phân bố rộng rãi trong thiên nhiên
nhờ khả năng hình thành nha bào, phần lớn không gây bệnh (chỉ có 10 loài gây bệnh cho người và động vật) [20]
Cl.perfringens có khả năng sinh nhiều loại độc tố Căn cứ vào cấu tạo
kháng nguyên, khả năng sinh độc tố, tính gây bệnh cho người và động vật mà
chia Cl.perfringens thành 6 type là: A, B, C, D, E, F
Cl.perfringens phát triển ở nhiệt độ thích hợp là 370
C, có khả năng gây ngộ độc thức ăn, số lượng 105 vi khuẩn trong 1 gam thì gây ngộ độc cấp tính ở
người Cl.perfringens thường có mặt trong phân của người và là động vật sinh
nha bào nên có khả năng tồn tại lâu ở ngoại cảnh Vi khuẩn này được dùng làm
vi khuẩn chỉ điểm vệ sinh đối với ngoại cảnh nhiễm phân người
* Nguyên nhân do vi khuẩn Streptococus
Vi khuẩn Streptococus có dạng hình cầu, đường kính khoảng 1à Vi khuẩn
Streptococus thường xếp thành chuỗi có độ dài ngắn không đều, có thể từ 2 vi
khuẩn tạo thành song cầu và 6 - 8 vi khuẩn gọi là liên cầu khuẩn Không hình thành nha bào và giáp mô, không di động, vi khuẩn bắt màu gram (+), là vi
Trang 22khuẩn hiếu khí hay yếm khí tuỳ tiện Vi khuẩn Streptococus sinh độc tố, có khả
năng gây bệnh một mình hoặc kết hợp với các vi khuẩn khác
1.2.1.2 Nguyên nhân do virus
Các virus tác động đường tiêu hoá và gây viêm ruột ỉa chảy
- Bệnh viêm dạ dày - ruột truyền nhiễm (Transmissible Gastro Enteritis)
do một loại virus cùng tên thuộc họ Coronavidae gây nên ở lợn mọi lứa tuổi Đặc
điểm lâm sàng của bệnh là nôn mửa và ỉa chảy nhưng phân không có mùi thối
đặc trưng
- Bệnh Porcine Epidemic Diarhea do Coronaviridae virus (CV 777) gây
ra Vật mắc bệnh bị tiêu chảy trong vòng 1 tuần thường kèm theo nôn mửa Tuy nhiên, ở lợn thời gian mắc bệnh kéo dài 2 - 5 ngày
- Bệnh Rotavirus có đặc điểm là tiêu chảy mãn tính ở lợn con không biểu hiện lâm sàng như ở lợn lớn [19] [22]
1.2.1.3 Nguyên nhân do ký sinh trùng
Ký sinh trùng đường tiêu hoá là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn cũng như ở các loài gia súc khác Tác hại của chúng không chỉ lấy đi chất dinh dưỡng của vật chủ mà còn tác động lên vật chủ bằng các độc tố làm giảm sức đề kháng của vật chủ, tạo điều kiện cho các bệnh khác phát sinh
Giun đũa ở thời kỳ ấu trùng hay trưởng thành đều gây bệnh, khi giun trưởng thành ký sinh ở ruột non
Sán lá ruột, ấu trùng chui vào ký chủ trung gian là ốc nước ngọt, chúng phát triển thành các dạng khác nhau Sau một thời gian, chúng biến thành ấu trùng có đuôi chui ra khỏi ốc thành nang ấu, nang ấu bám vào rau cỏ và lợn ăn phải sẽ nhiễm bệnh
Sán lá ruột hút máu và chất dinh dưỡng nhờ giác hút Nhiễm sán lá ruột lợn chậm lớn, lông xù, đuôi cụp và ỉa chảy
Trang 231.2.1.4 Do điều kiện ngoại cảnh, vệ sinh, dinh dưỡng, chăm sóc lợn mẹ và lợn con kém
Do thời tiết quá nóng, quá lạnh, mưa gió, ẩm ướt kết hợp với chuồng trại không vệ sinh, mật độ chuồng nuôi quá đông khiến cho lợn dễ bị tiêu chảy Khi gặp lạnh đột ngột, phẩm chất thức ăn kém, cơ năng đường ruột bị rối loạn Thức ăn không tiêu hóa được sẽ bị vi sinh vật gây bệnh lên men phân giải các chất hữu cơ gây ra các độc tố như: Indol, Scatol, H2S…những chất này tác
động lên niêm mạc ruột gây xung huyết, tăng tính mẫn cảm và nhu động ruột gây
ỉa chảy [17]
Sử An Ninh (1991) [19], khi nghiên cứu stress lạnh, ẩm và tác dụng của ACTH đối với bệnh phân trắng của lợn con đã kết luận: Stress lạnh, ẩm đã làm cho lợn con không giữ được cân bằng hoạt động của trục hạ khâu não - tuyến yên
- tuyến thượng thận làm biến đổi hàm lượng Fe++, Na+ và K+ trong máu Hậu quả làm giảm sức đề kháng của lợn con, nhất là lợn con sơ sinh dễ gây viêm ruột ỉa phân trắng
Bên cạnh đó, còn có các nguyên nhân phải kể đến như việc sử dụng các thuốc hóa học trị liệu không được thận trọng, thiếu cơ sở khoa học; từ đó dẫn đến rối loạn hệ sinh vật đường ruột, tạo điều kiện cho những vi khuẩn đường ruột phát triển mạnh cả về số lượng và độc lực gây tiêu chảy
Lợn con dễ mắc bệnh ỉa phân trắng từ 1 - 21 ngày tuổi do hậu quả của việc chăm sóc lợn mẹ trong thời kỳ mang thai và sau đẻ không đúng kỹ thuật; từ đó
đã ảnh hưởng đến hàm lượng kháng thể trong sữa đầu khiến cho sức đề kháng của lợn con giảm [11]
1.2.2 Cơ chế sinh bệnh
Khi gặp một hay nhiều nguyên nhân gây bệnh kể trên, tác động đầu tiên làm dạ dày giảm tiết dịch vị, nồng độ axit HCl giảm; làm giảm khả năng diệt trùng và tiêu hoá Thức ăn không được tiêu hoá kèm theo độ kiềm cao trong
đường tiêu hoá đã tạo điều kiện cho các loại vi khuẩn trong đường tiêu hoá phát triển mạnh cả về số lượng và độc lực Vi khuẩn gây thối rữa các chất trong đường
Trang 24ruột sản sinh ra nhiều chất độc Những sản phẩm đó kích thích vào niêm mạc ruột làm tăng nhu động ruột đẩy thức ăn và các chất chứa ra ngoài Lúc đầu, tiêu chảy là phản ứng của cơ thể nhằm đẩy vi khuẩn và các chất độc ra khỏi đường tiêu hoá nhưng do nguyên nhân không ngừng gây tổn thương niêm mạc ruột, tiêu chảy kéo dài sẽ có hại [5]
Theo Đào Trọng Đạt (1979) và Đoàn Thị Băng Tâm (1987) [19], lợn đi ngoài nhiều gây mất nước, rối loạn chức năng sinh lý tiêu hoá làm rối loạn hệ sinh vật đường ruột Do sự mất nước kéo dài làm rối loạn trao đổi chất điện giải trong cơ thể gây nhiễm độc toan dẫn đến bệnh ngày càng trầm trọng hơn Lợn bị nhiễm độc trụy tim mạch mà chết, những con được chữa khỏi thì còi cọc chậm lớn
1.2.4 Bệnh tích
Khi lợn bị tiêu chảy ta thường thấy xác gầy, niêm mạc mắt và miệng nhợt nhạt Khi mổ khám ta thấy dạ dày tích thức ăn không tiêu, lổn nhổn có bọt khí màu vàng Niêm mạc ruột, dạ dày lác đác những đám xuất huyết, ruột non có
đoạn phình to, chứa đầy hơi [17]
Phùng Quốc Chướng (1995) [10], theo dõi trên lợn thực nghiệm cho biết lợn bị tiêu chảy da xanh, lông xù, có tụ máu, phổi có viêm Niêm mạc dạ dày xưng, dễ bong tróc, có nốt loét Niêm mạc ruột già phủ màng giả, dưới có nốt loét lan tràn Hạch lâm ba sưng mềm, có nốt hoại tử gan, túi mật căng
Trang 25Phạm Gia Ninh và cộng sự (1976) [19], đã dùng lò sưởi chống lạnh cho lợn con giai đoạn bú sữa, kết quả đã làm giảm tỷ lệ tiêu chảy
* Phòng bệnh bằng vaccine
Trong các biện pháp phòng bệnh cho lợn thì biện pháp phòng bệnh bằng vaccine ngày nay đang được coi là biện pháp phòng bệnh có hiệu quả nhất Dùng vaccine để phòng bệnh nhằm tăng sức đề kháng cho con vật Đối với các bệnh gây triệu chứng ỉa chảy như dịch tả, phó thương hàn thì cần đẩy mạnh công tác tiêm phòng vaccine [11]
Soejiadi và cộng sự (1981) [10], đã dùng hỗn hợp vi khuẩn đường ruột
Salmonella và E.coli được phân lập từ cơ sở chăn nuôi để chế vaccine nhằm ngăn
trở sự xâm nhập của hai loại vi khuẩn này Từ đó, họ đã đưa ra kết luận: vaccine
chế tạo được có thể ngăn cản sự bám dính và xâm nhập của Salmonella và E.coli
vào các tế bào biểu mô ruột
Trang 26* Phòng bệnh bằng cách bổ sung các chế phẩm có chứa Fe
Do lợn con phát triển nhanh, nhất là trong tuần tuổi đầu đòi hỏi phải có một lượng sắt lớn mà lượng sắt trong sữa mẹ không đảm bảo cho nhu cầu của lợn
con Bên cạnh đó, trong đường tiêu hoá của lợn con có chứa vi khuẩn E.coli, vi
khuẩn này muốn tồn tại và phát triển nó phải phân giải Hemoglobin của cơ thể
Từ các nguyên nhân trên đã đưa lợn con vào tình trạng thiếu máu, suy dinh dưỡng; vậy đòi hỏi bổ sung các chế phẩm có chứa Fe++ cho lợn con [15]
Trần Minh Hùng, Hoàng Văn Dự và Đinh Bích Thuỷ (1983) [12], đã nghiên cứu các chế phẩm Dextran - Fe để tiêm bổ sung cho lợn con; nhằm tăng sức đề kháng cho con vật, phòng thiếu máu suy dinh dưỡng và các bệnh đường tiêu hoá
1.2.5.2 Điều trị bằng thuốc hoá học trị liệu
Về việc điều trị các chuyên gia thú y đều thống nhất cho rằng: bệnh lý của hội chứng tiêu chảy gồm hai quá trình rối loạn tiêu hoá nhiễm khuẩn; nên mọi biện pháp điều trị đều nhằm khôi phục rối loạn tiêu hoá, chống nhiễm khuẩn bằng kháng sinh [8]
* Điều trị bằng kháng sinh
Những năm gần đây, biện pháp dùng kháng sinh tỏ ra kém hiệu lực vì vi
khuẩn E.coli và Salmonella gây bệnh đã có tỷ lệ kháng thuốc cao Tuy nhiên,
hiệu lực của các thuốc trong phòng trị bệnh này ở mọi lúc mọi nơi khác nhau và hiệu lực của thuốc giảm dần theo thời gian [19]
Trịnh Văn Thịnh (1995) [17], dùng Streptomycin liều từ 1,2 - 1,8 triệu UI/con và 2 lần/ngày liên tục trong 5 ngày với tỷ lệ khỏi là 60 - 80%
Đỗ Đức Diện (1999) [8], qua nghiên cứu cho biết lợn con bị tiêu chảy (Kim Bảng - Hà Nam) bên cạnh nhiễm trùng nặng ở đường tiêu hoá còn có cả
nhiễm trùng huyết bởi E.coli và Salmonella Do đó, phải vừa tiêm vừa uống thì
hiệu quả điều trị mới cao
Ví dụ:
- Tiêm bắp Norfloxacin liều 10mg/kg P: tỷ lệ khỏi là 93,33%
Trang 27- Tiêm bắp Norfloxacin liều 8mg/kg P kết hợp với cho uống Neomycin liều 10mg/kg P: tỷ lệ khỏi là 96,66%
* Điều trị bằng đông dược
Phạm Khắc Hiếu và Bùi Thị Tho (1996) [16], khi nghiên cứu tác dụng của
một số Phytoncid và thuốc hoá học trị liệu với E.coli phân lập từ bệnh lợn con
phân trắng cho thấy:
- Tỏi và Hẹ là hai dược liệu có tác dụng tốt với E coli
- Nghệ và cây Vàng đắng là hai dược liệu có tác dụng trung bình
1.2.6.1 Lịch sử nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy ở lợn trên thế giới
Trong nửa thế kỉ qua, các nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy ở lợn ngày càng được mở rộng Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu về vai trò của vi
khuẩn của E.coli và Salmonella đối với bệnh phân trắng ở lợn con Từ đó, hạn
chế được tác động có hại của hội chứng tiêu chảy đến ngành chăn nuôi lợn
Từ năm 1963, Steven trong thời gian dịch ngộ độc đường ruột đã phân lập
được 277 chủng thuộc một trong các serotyp sau: O8, O45, O98, O138, O139, O141,
O149, O157 [8]
Trang 28Paltineae và cộng sự (1975) [10], trong quá trình chuẩn đoán hội chứng tiêu chảy ở lợn đã đề nghị chú ý đến các serotyp sau: O5,O8, O55 , O64, O78, O119,
O147, O149
Các tác giả D.M Barnes, D.K Sorense, I.A Morris và cộng sự (1976) [19],
cho rằng Salmonella là tác nhân gây bệnh tiêu chảy chủ yếu ở lợn cai sữa và lợn
vỗ béo
Theo Geinger (1980) [17], trong cơ thể lợn có một số vi khuẩn E.coli nhất
định giúp cho quá trình tiêu hoá Khi gặp những điều kiện bất lợi cho cơ thể thì
E.coli trở nên độc, phát triển với số lượng lớn trở thành yếu tố có hại và gây bệnh
cho lợn
Khoon Teng Hout (1995) [5], đã thống kê được hơn 10 loại virus có tác
động làm tổn thương đường tiêu hoá gây ra hội chứng tiêu chảy ở lợn như:
Andenovirus, Enterovirus, Rotavius,…
Ngày nay, các nguyên nhân gây nên hội chứng tiêu chảy ở lợn đã trở thành vấn đề phổ biến và được nghiên cứu rộng rãi ở các nước trên thế giới
1.2.6.2 Lịch sử nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy ở lợn tại Việt Nam
Hội chứng tiêu chảy đã gây tổn thất nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi lợn của nước ta Có rất nhiều các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu về vấn đề này
Nguyễn Lương và cộng sự (1963) [10], đã phát hiện 5 serotyp E.coli trong
Phạm Khắc Hiếu và Bùi Thị Tho (1996) [19], khi nghiên cứu hội chứng
tiêu chảy ở lợn nhận thấy tính kháng thuốc của E.coli đối với một số thuốc kháng