1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đánh giá các xác định độ thuần của các dòng đột biến lúa ưu việt ở thế hệ thứ 7

39 467 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 343,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong chiến lược đó cây lúa nước Oryza sativa là một trong những đối tượng được tập trung nghiên cứu, phát triển nhiều nhất bởi vì trên thế giới có tới 65% dân số thế giới coi lúa gạo l

Trang 1

Lời cảm ơn

Tôi xin chân thành cảm ơn ban chủ nhiệm khoa sinh - KTNN, các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Di truyền - Tiến hoá và các bạn sinh viên đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc tới thầy giáo - Th.S Nguyễn Như Toản, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành đề tài này

Để đề tài được hoàn thiện hơn tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến, bổ sung của các thầy cô giáo và các bạn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2007

Người thực hiện

Trần Đức Tuân

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan những gì trình bày trong luận văn tốt nghiệp này đều

là sự thực, tất cả các số liệu đều được thu thập từ thực nghiệm và qua xử lý thống kê, không có sự sao chép và không trùng với bất cứ tài liệu nào

Trong đề tài của tôi có trích dẫn một số dẫn liệu trong đề tài của một số tác giả khác Tôi xin phép tác giả được trích dẫn để bổ sung cho khoá luận của mình

Trang 3

Mục lục

Trang

Lời cảm ơn……… 1

Lời cam đoan ……… 2

Mục lục ……… 3

Danh mục các bảng biểu và các kí hiệu viết tắt 5

Mở đầu ……… 7

1 lý do chọn đề tài……… 7

2 mục đích nghiên cứu……… 9

3 nội dung nghiên cứu……… 9

4 ý nghĩa của đề tài……… 9

Chương 1 tổng quan tài liệu 1.1 nguồn gốc và giá trị kinh tế của cây lúa ……… 10

1.1.1 nguồn gốc cây lúa ……… 10

1.1.2 giá trị của cây lúa ……… 10

1.2 đặc điểm sinh học của cây lúa ……… 11

1.2.1 Đặc điểm phân loại ………

1.2.2 Đặc điểm hình thái ………

1.2.3 Quá trình sinh trưởng và phát triển………

11 12 13 1.3 ứng dụng của đột biến trong quá trình chọn tạo giống lúa ……… 15

1.3.1 lược sử nghiên cứu của đột biến thực nghiệm……… 15

1.3.2 tác dụng của các tác nhân đột biến lên cây lúa……… 16

1.4 tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới và Việt Nam……… 17

1.4.1 tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới……… 17

1.4.2 tình hình nghiên cứu lúa ở việt nam……… 17

Trang 4

Chương 2 đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.1 đối tượng nghiên cứu……… 19

2.2 phương pháp nghiên cứu……… 19

2.2.1 phương pháp thí nghiệm đồng ruộng……… 19

2.2.2 phương pháp thu thập số liệu……… 19

2.2.3 phương pháp xử lý số liệu……… 20

2.2.4 địa điểm và thời gian nghiên cứu……… 21

Chương3 kết quả nghiên cứu và thảo luận 3.1 khả năng sinh trưởng của các dòng lúa đột biến……… 22

3.1.1 tỉ lệ nảy mầm và khả năng sống sót……… 22

3.1.2 khả năng đẻ nhánh……… 23

3.1.3 chiều cao cây lúa……… 25

3.2 đặc điểm các yếu tố cấu thành năng suất……… 27

3.2.1 chiều dài bông ……… 27

3.2.2 số bông/khóm……… 29

3.2.3 số hạt chắc/bông và tỉ lệ hạt chắc……… 31

3.2.4 trọng lượng 1000 hạt và ……… 33

Kết luận và đề nghị 1 kết luận………

2 đề nghị………

35 37 Tài liệu tham khảo… 38 Phụ lục

Trang 5

Danh mục các bảng biểu và các kí hiệu viết tắt

1 Các bảng

Bảng 3.1 Tỉ lệ nảy mầm và khả năng sống sót

Bảng 3.2 khả năng đẻ nhánh Bảng 3.3 chiều cao cây

Biểu đồ 3.3 chiều cao cây

Biểu đồ 3.4 Chiều dài bông

Biểu đồ 3.5 Bông/khóm

Biểu đồ 3.6 Số hạt chắc/bông và tỉ lệ hạt chắc

Biểu đồ 3.7 Trọng lượng 1000 hạt và năng suất lý thuyết

Trang 6

3.Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

And: AxÝt deroxiribonucleic

Arn: AxÝt ribonucleic

Trang 7

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay dân số thế giới đang gia tăng một cách mạnh mẽ, tính đến năm 2005 dân số thế giới đã là trên 6 tỉ người Đây chính là áp lực đối với ngành nông nghiệp sản xuất lương thực, thực phẩm Vì thế tất cả quốc gia hiện nay đều có những chương trình phát triển cây lương thực để đảm bảo vấn đề

an ninh lương thực cho quốc gia mình Trong chiến lược đó cây lúa nước

(Oryza sativa) là một trong những đối tượng được tập trung nghiên cứu, phát

triển nhiều nhất bởi vì trên thế giới có tới 65% dân số thế giới coi lúa gạo là nguồn lương thực chính (theo thống kê của tổ chức FAO)

Sự bùng nổ dân số cũng làm tăng nhanh nhu cầu về nhà ở, nhu cầu đô thị hoá, công nghiệp hoá làm diện tích đất nông nghiệp, đất trồng lúa ngày càng bị thu hẹp Đây cũng là một khó khăn đối với ngành nông nghiệp Để

đảm bảo cung cấp đủ lương thực cho dân số thế giới trong khi diện tích đất nông nghiệp giảm, tổ chức FAO đã đưa ra hai biện pháp kĩ thuật, đó là:

- luân canh tăng vụ

- tạo giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt thay thế cho các giống cũ…

trong đó việc áp dụng luân canh tăng vụ chỉ giải quyết được phần nào

về sản lượng lúa mà không thể giải quyết thoả đáng cho nhu cầu lương thực chỉ có biện pháp thứ hai là sử dụng giống mới có năng suất, chất lượng cao hơn thay cho giống cũ trong sản xuất mới có khả năng làm tăng sản lượng lúa

đáp ứng nhu cầu lương thực cho nhân loại

Việc tìm ra giống mới để áp dụng vào sản suất là một khâu rất quan trọng trong biện pháp này phương pháp truyền thống trong việc tạo ra giống mới là lai giữa các dòng với nhau để tạo ra con lai có những đặc tính tốt của cả

Trang 8

bố và mẹ, có năng suất và chất lượng tốt hơn phương pháp này tuy đơn giản nhưng chậm có kết quả, hiệu quả kém

Một phương pháp nữa để tạo ra giống mới đó là áp dụng kĩ thuật chuyển gen tạo ra những giống lúa biến đổi gen thành tựu của phương pháp này đã

rõ ràng, đã tạo ra những giống mới có năng suất cao trong thời gian nghiên cứu ngắn tuy nhiên những giống lúa này chưa được người tiêu dùng chấp nhận vì độ an toàn của sản phẩm, đồng thời đây là phương pháp đòi hỏi kĩ thuật cao, những nước đang phát triển rất khó thực hiện (Phạm Xuân Hội, Trần Duy Quý, 2002), [5]

Phương pháp tạo giống mới hiện nay được áp dụng rộng rãi là phương pháp chọn dòng đột biến Phương pháp này kết hợp giữa tạo dòng đột biến sau

đó chọn lọc đánh giá qua các thế hệ ưu điểm của phương pháp này là không quá phức tạp, dễ áp dụng, thời gian cho kết quả ngắn…một số công trình nghiên cứu đã được ghi nhận về chọn tạo giống lúa đột biến như các công trình của trần duy quý, bùi huy thuỷ, đào xuân tân…trên các đối tượng lúa khác nhau (Đào Xuân Tân, 1996), [11]

Để góp phần công sức vào việc tạo giống lúa mới cho nông nghiệp và

để khẳng định phẩm chất của một số giống lúa được tạo ra từ việc xử lý đột biến (Co60) chúng tôi tiến hành đề tài: “ Nghiên cứu, đánh giá và xác định độ

thuần của các dòng đột biến lúa ưu việt ở thế hệ thứ 7”

Trang 9

2 Mục đích nghiên cứu

2.1 nghiên cứu, đánh giá và xác định độ ổn định ở thế hệ thứ 7 của các dòng

đột biến lúa ưu việt, cụ thể là các dòng: CL2, CL3, CL5, d52-10, d52-11, d52-12, d52-13, d52-14, d52-15

2.2 chọn tạo một số dòng đột biến lúa ưu việt có độ ổn định cao về năng suất,

chất lượng, thời gian sinh trưởng, khả năng thích nghi … từ đó tạo các dòng thuần và tạo ra các giống mới thích nghi với điều kiện ở nhiều vùng sinh thái khác nhau

3 nội dung nghiên cứu

3.1 Khảo sát các đặc điểm nông sinh học của các cá thể thu được về các chỉ

tiêu như: tỉ lệ nảy mầm, khả năng sống sót, khả năng đẻ nhánh, chiều cao cây, chiều dài bông, các yếu tố cấu thành năng suất, thời gian sinh trưởng

3.2 lựa chọn một số cá thể có tiềm năng về năng suất, chất lượng… làm cơ

sở cho việc tạo dòng thuần và tạo giống mới

4 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Trang 10

chương 1 Tổng quan tài liệu

1.1 nguồn gốc và giá trị kinh tế của cây lúa

1.1.1 Nguồn gốc cây lúa

Lúa nước (Oryza sativa) là cây lương thực có vị trí quan trọng trên thế

giới Về nguồn gốc cây lúa, các nhà khoa học như: A.G.Haudricourt, LouisHedin (1944), E.Werth (1954), H.Wismann (1957)… lập luận vững chắc

và đưa ra giả thiết cho rằng vùng Đông nam á là nơi khai sinh ra cây lúa nước hiện nay Bởi vì khu vực này có khí hậu ẩm, có nhiều điều kiện lí tưởng cho phát triển nghề trồng lúa Cùng với kết quả khảo cổ học trong thời gian gần

đây ở khu vực Đông nam á, ấn Độ, Trung quốc… đã tìm ra nhiều cổ vật chứng minh rằng quê hương đầu tiên của cây lúa nước là ở vùng đông nam á Các bằng chứng cho thấy cây lúa nước đã có ở vùng này đã có cách đây khoảng 10000 năm, ở Trung Quốc chỉ cách đây khoảng 5900 năm đến 7000 năm từ đông nam á, nghề trồng lúa được du nhập vào Trung Quốc rồi lan sang Nhật Bản, Hàn Quốc, châu âu, châu mĩ, châu phi…(WiKipedia), [17] Hiện này vùng Đông Nam á vẫn còn mọc rải rác một số loài lúa dại là

tổ tiên của cây lúa hiện nay như: Oryza fatua, Oryza oficialis, Oryza

minuta đây cũng là cơ sở để các nhà khoa học khẳng định rằng nguồn gốc

của cây lúa là ở Đông nam á sau đó mới lan ra khắp thế giới Ngày nay châu

á vẫn là vùng trồng lúa nước tập trung với diện tích lớn nhất trên thế giới

1.1.2 giá trị kinh tế của cây lúa

Lúa nước là cây lương thực quan trọng được gieo trồng ở 112 nước trên thế giới, cung cấp lương thực cho hơn 65% dân số thế giới

ở những nước đang phát triển như nước ta thì số lượng lao động hoạt

động trong nghề nông nghiệp mà chủ yếu là trồng lúa chiếm phần rất lớn (hơn 80%) Như vậy, cây lúa cũng góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho một

Trang 11

lượng lớn lao động Hiện nay, sản xuất lúa gạo của nước ta không những đã đủ cung cấp trong nước mà còn xuất khẩu ra thế giới góp phần làm tăng thu nhập cho người lao động Năm 2005, Việt Nam đã xuất khẩu 5,2 triệu tấn gạo, thu

về 1,4 tỷ USD cho nền kinh tế quốc dân

Ngoài ra các phụ phẩm của cây lúa rơm, rạ, trấu, cám đều được sử dụng một cách triệt để nhằm giảm chi phí trong nông nghiệp: dùng làm chất

đốt, làm phân bón, chăn nuôi gia súc… hoặc sử dụng vào sản xuất các sản phẩm giúp tăng thu nhập ví dụ: sản xuất nấm thực phẩm, sản xuất giấy, cồn tân dược hiện nay, khoa học công nghệ đang mở rộng hướng sản xuất cồn

từ rơm rạ làm nguyên liệu để thay thế xăng, dầu có thể giảm chi phí và chống

ô nhiễm môi trường

Xét về thành phần sinh hoá, lúa gạo giàu tinh bột và đường hơn bất cứ cây lương thực nào, ngoài ra lúa gạo còn chứa khoảng 5 - 6 % protein trong đó

có nhiều axit amin cần thiết cho cơ thể như: lizin, triptophan, methiônin có thể nói lúa gạo có thành phần dinh dưỡng phong phú

Hiện nay, các nhà khoa học đã tạo ra những giống lúa đặc biệt có giá trị dinh dưỡng cao như: các giống lúa có hạt gạo chứa nhiều sắt, chứa nhiều vitamin a, protein…

1.2 đặc điểm sinh học của cây lúa

1.2.1 đặc điểm phân loại

Cây lúa nước (Oryza sativa) nằm trong họ lúa (Poacaes), bộ lúa (Poales) thuộc phân lớp một lá mầm cùng với các cây lương thực khác như:

lúa mì, ngô, kê…(Hoàng Thị Sản), [16]

Có nhiều cách phân loại lúa cụ thể:

- dựa vào thành phần sinh hoá, hình thái, cấu tạo của hạt lúa có các loại: lúa nếp, lúa tẻ, lúa hạt tròn, lúa hạt dài…

Trang 12

- dựa vào thời gian sinh trưởng có các loại: lúa chín sớm, lúa chín muộn…

- Dựa vào thời vụ gieo trồng có các loại như: lúa chiêm, lúa mùa, lúa vụ xuân, lúa hè thu

- ngoài ra một số giống lúa được phân loại và gọi tên theo đặc tính riêng, nguồn gốc xuất xứ hoặc do tác giả đặt tên ví dụ: giống ir64, khang dân, tám thơm…

1.2.2 đặc điểm hình thái

Cây lúa nước (oryza sativa ) là cây thân cỏ, sống một năm, gồm các bộ

phận như: thân, lá, rễ Sau giai đoạn làm đòng cây lúa có thêm bộ phận là bông lúa để mang hạt lúa

Cây lúa có thân khí sinh phát triển từ thân mầm Thân hình trụ, không phân nhánh, chia các gióng rỗng (khoảng 5 gióng ), giữa hai gióng có các mấu phân cách

Thân lúa là nơi ra rễ, lá, bông… là bộ phận vận chuyển nước, muối khoáng, các chất dinh dưỡng từ bộ phận này đến bộ phận khác của cây thân lúa còn là nơi chứa các chất dự trữ trước khi các chất này được đưa lên hạt (Nguyễn Đình Giao, 1999), [3]

Lá lúa được hình thành từ mầm lá ở các mấu trên thân lá mọc cách xếp hai dãy dọc theo thân cây lá lúa có phiến lá dài hình dải hẹp, mép lá có răng cưa, bẹ lá to, dài ôm lấy thân cây, hai mép của bẹ không dính nhau (Hoàng Thị Sản), [16]

Có hai loại lá lúa :

Trang 13

+ Lá không hoàn toàn (lá bao): là loại lá chỉ có bẹ lá ôm lấy thân (lá xuất hiện ngày sau khi hạt nảy mầm)

+ Lá hoàn toàn (lá thật) là loại lá có đủ bộ phận như phiến lá, bẹ lá, cổ lá, thìa lá

Lá lúa là bộ phận thực hiện quang hợp tạo ra chất hữu cơ cho toàn bộ cây lúa sử dụng và để dự trữ trong hạt lúa sau này

Rễ lúa thuộc loại rễ chùm, gồm hai loại rễ là rễ mầm và rễ phụ:

- rễ mầm: được hình thành từ phôi, chỉ hoạt động trong thời gian đầu

để cung cấp nước cho mầm lúa khi chưa hình thành rễ phụ, sau đó rễ mầm sẽ teo đi

- Rễ phụ: mọc ra từ các mấu phía dưới (gần đất) của cây lúa Trên rễ phụ còn mọc ra các rễ nhỏ khác vì thế tổng chiều dài hệ rễ của một cây lúa ở thời kì trỗ bông có thể đạt 168m [4] Càng về sau số lượng rễ phụ càng nhiều

Sau giai đoạn làm đòng cây lúa xuất hiện thêm bộ phận gọi là bông lúa Bông lúa gồm có: cuống bông, cổ bông, thân bông, gié lúa, hoa lúa và hạt thóc vì đây là bộ phận trực tiếp mang hạt cho lên nó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất mùa vụ để có năng suất cao bông lúa phải có một độ dài tương đối

để có thể mang được nhiều hạt

1.2.3 quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa

Các yếu tố cần cho sinh trưởng và phát triển của cây lúa:

- Thời vụ cấy phải phù hợp để đảm bảo các yếu tố như ánh sáng, nhiệt

độ, lượng mưa…

- Mặt ruộng phải bằng phẳng, luôn có mức nước từ 10- 15 cm để giúp cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt (thuận lợi là ở lưu vực các con sông lớn)

Trang 14

- Thời kì sinh trưởng cần lượng mưa vào khoảng 125 mm/tháng

- Thời kì lúa phơi màu, thời tiết cần khô ráo, mát mẻ để khả năng thụ phấn, kết hạt cao

- Thời kì thu hoạch cần nhiều nắng để bảo quản sản phẩm

Xét về thời gian sinh trưởng (TGST) của cây lúa dài hay ngắn tuỳ thuộc vào từng giống và điều kiện ngoại cảnh những giống ngắn ngày có tgst vào khoảng 90 - 100 ngày, giống dài ngày có tgst khoảng 150 - 180 ngày,

có những giống tgst còn dài hơn tới 270 ngày

Theo viện nghiên cứu lúa quốc tế irri, quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa được chia làm 2 thời kì và 9 giai đoạn:

- thời kì sinh trưởng sinh dưỡng:

1 Giai đoạn nảy mầm

7 Giai đoạn chín sữa

8 Giai đoạn vào chắc

9 Giai đoạn chín hoàn toàn

Thời kì sinh trưởng sinh dưỡng: cây lúa chủ yếu phát triển cơ quan sinh dưỡng như thân, lá, rễ, tích luỹ các chất dự trữ ở thân trước khi đưa lên quả (hạt lúa)

Thời kì sinh trưởng sinh thực cây lúa tạo thêm cơ quan sinh sản như:

đòng lúa, bông lúa, tạo quả, hạt…

Hai thời kỳ này có liên quan mật thiết với nhau và quyết định năng suất

vụ lúa Cây lúa có sinh trưởng sinh dưỡng mạnh mẽ thì mới tạo được một số

Trang 15

nhánh phù hợp, tạo được bông đủ dài, từ đó mới có nhiều hạt giúp năng suất mùa vụ tăng cao

1.3 ứng dụng của đột biến trong chọn tạo giống lúa

1.3.1 Lược sử nghiên cứu đột biến thực nghiệm

Lần đầu tiên năm 1925, tại viện radium leninggrad, naxon và philipop đã phát hiện khả năng gây đột biến của tia rơnghen ở nấm hạ đẳng sau đó muller (1927) và stadler (1928) cũng phát hiện hiệu quả này của tia rơnghen ở ruồi giấm và ngô

Còn khả năng gây đột biến của các hoá chất thì lần đầu tiên được stubbe (1930) và xakharov (1932) phát hiện ra Nhưng chỉ sau những công trình của rapoport và auerbach (1943) thì vấn đề này mới được nghiên cứu mạnh mẽ và được ứng dụng dần vào thực tiễn

Sau khi phát hiện ra hiệu quả gây đột biến của các dạng phóng xạ, các nhà khoa học liên xô đã sử dụng chúng vào chọn giống ngay ở những thời kỳ rất sớm Delone và didut trong những năm từ 1927 – 1938 đã tạo ra hàng trăm dạng đột biến có giá trị ở lúa mì, lúa mạch…( Lê Duy Thành), [12]

tuy nhiên trong thời gian đầu việc sử dụng phóng xạ, hoá chất vào việc chọn tạo giống mới chưa được phổ biến bởi nhiều nhà khoa học, nhiều nhà chọn giống còn nghi ngờ tác dụng của đột biến, cho rằng đột biến chỉ gây ra những biến đổi có hại nhưng chỉ 40 năm sau những phát minh của naxon, philipop, muler, stadler và 20 năm sau những phát kiến của rapoport và auerbach (1943) kỉ nguyên của chọn giống đột biến bằng phóng xạ - hoá chất mới bắt đầu chứng minh rõ ràng tác dụng ưu việt của đột biến trong chọn tạo giống mới Theo thống kê của tổ chức nông lương thế giới (FAO), năm1960 thế giới đã có tới 1870 sinh vật đột biến gen đem lại hiệu quả kinh tế lớn cho nhân loại

Trang 16

1.3.2 Tác dụng của các tác nhân đột biến lên cây lúa

Một số tác nhân đột biến thường được sử dụng trong chọn tạo giống lúa gồm các tác nhân vật lý, hoá học, sinh học.Trong đó tác nhân vật lý có vị trí rất quan trọng được sử dụng rộng rãi nhất Tác nhân vật lý chia làm hai nhóm:

 Nhóm tia bức xạ không gây ion hoá: tia tử ngoại có bước sóng 2580

A0 có tác dụng cực mạnh lên phân tử ADN vì ở bước sóng này bức xạ được ADN hấp thụ mạnh nhất (Phan Cự Nhân, 2001), [9]

 Nhóm tia bức xạ gây ion hoá gồm tia Rơnghen(X), tia gamma(  ), tia beta(), tia anpha()… Các tia này tham gia vào các phản ứng gây biến đổi trong vật chất di truyền (AND, ARN)… (Phan Cự Nhân, 2001), [9]

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc sử dụng tác nhân vật lý trong chọn tạo giống lúa

Mở đầu là công trình của các nhà khoa học Nhật Bản: Yamaha, Nacamura, Saiki nghiên cứu ảnh hưởng phóng xạ ion hoá (tia X, ,,…) lên cây lúa nước vào năm 1917 – 1918 Sau đó Sharma, Kimura nghiên cứu

ảnh hưởng của các tia phóng xạ lên hạt lúa ở Việt Nam năm 1967 – 1970 hai tác giả Trịnh Bá Hữu và Lê Duy Thành (trường ĐH Tổng Hợp) nghiên cứu tác

động của tia  đến giống lúa NN8 (Đặng Việt Hà), [4]

Năm 1983, giống lúa DT-205 (nếp cái hoa vàng đột biến) của Viện Khoa học Việt nam đã được đưa vào gieo trồng đại trà ở nhiều tỉnh thu được nhiều kết quả khả quan (Đào Xuân Tân, 1996), [11] Năm 2004 giống lúa nếp PD2 của TS Đào Xuân Tân – trường ĐHSP Hà Nội 2 được công nhận là giống Quốc gia hiện đang gieo trồng đại trà ở nhiều tỉnh…

Một số các nghiên cứu khác đi tới kết luận rằng: khi xử lý chiếu xạ tia

 từ nguồn Co60 lên hạt lúa có thể làm xuất hiện một số đột biến có lợi như cây chín sớm, bông dài, hạt xếp sít…

Trang 17

1.4 tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới và Việt Nam

1.4.1 tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới

Lúa là cây lương thực quan trọng trên thế giới Cây lúa nước được gieo trồng trên 112 nước nhưng tập trung không đều, chủ yếu ở châu á (chiếm khoảng 90%) Tuỳ từng vùng và tuỳ điều kiện canh tác của mỗi nước khác nhau mà năng suất lúa khác nhau, dao động từ 3 - 7 tấn/ha Những nước có năng suất lúa cao như Australia ( 3,5 - 6,8 tấn/ha), Nhật bản (5,6 - 6,8 tấn /ha),

đặc biệt có những giống lúa được gieo trồng ở một số nước năng suất đạt 10tấn/ha Thái Lan hiện nay là nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới (khoảng 6,5 - 7 triệu tấn/năm ) nhờ việc tập trung đầu tư vốn, giống, khoa học

kỹ thuật trong nông nghiệp

Gần đây các nhà Khoa học tại Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) đang

có những chương trình nghiên cứu nhằm tìm ra dạng cây lúa mới có năng suất chất lượng cao hơn hẳn giống hiện tại để đưa vào sản xuất đại trà đáp ứng nhu cầu lương thực cho nhân loại Cụ thể đã tạo ra được dòng IR60819-34-2-1 là dòng có nhiều hạt/bông, năng suất đạt 10 tấn/ha đối với vùng nhiệt đới và 15 tấn/ha đối với vùng ôn đới

Ngay sau khi hai công ty Syngenta (công ty hạt giống và nông nghiệp Nhật Bản ) và Myriad Genetics (công ty CNSH ở Utah – Mỹ) công bố bản đồ gen của cây lúa gần như hoàn chỉnh ngày 26- 1- 2001 có thể giúp các nhà chọn giống sớm đưa ra những giống lúa có năng suất cao, chất lượng tốt (Trần Thành Vinh, 2001), [15]

1.4.2 Tình hình nghiên cứu lúa ở Việt Nam

Hiện nay Việt Nam là nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới sau Thái Lan với sản lượng 5,2 triệu tấn (năm 2005) thu về 1,4 tỷ USD cho nền kinh tế quốc dân, mặc dù hơn một thập kỷ trước Việt Nam vẫn lâm vào tình trạng thiếu lương thực trầm trọng Để có kết quả thắng lợi này là nhờ một phần không nhỏ của khoa học chọn giống, thay thế giống cũ bằng những giống mới có năng suất cao hơn, phẩm chất tốt hơn

Trang 18

ở Việt Nam những thành tựu của việc chọn tạo giống lúa trong vài ba thập niên qua đã từng làm các đồng nghiệp quốc tế khâm phục từ một số giống lúa như IR8 hay Thần Nông 8 vào những năm 70 với nỗ lực của giới khoa học nông nghiệp Việt nam, đến nay chúng ta đã có khoảng 70 – 80 giống lúa được công nhận và phổ biến có năng suất cao từ 4 – 7 tấn/ha chiếm trên 80% diện tích đất canh tác của cả nước Những giống lúa lai hiện đưa vào sản xuất có năng suất bình quân cao hơn năng suất của các giống lúa địa phương từ 20 – 40% (Vũ Mai Nam, 2000), [8] Không những thế các giống lúa lai này còn góp phần làm tăng chất lượng hạt gạo, ví dụ: từ tổ hợp lai giữa giống IR2588 và Xuân số 2, Viện cây lương thực thực phẩm đã tạo ra giống lúa P6 có hàm lượng protein trong hạt gạo cao hơn hạt gạo cổ truyền 1,5 lần (Nguyễn Văn Khôi, 2003), [6]

Tuy vậy khó khăn của Việt Nam hiện nay đó là chất lượng hạt gạo còn kém do dư lượng thuốc hoá học bảo vệ thực vật còn cao, canh tác còn sử dụng nhiều phân hoá học… vì thế giá xuất khẩu của gạo không cao hoặc không

được thị trường thế giới chấp nhận Một khó khăn nữa đó là chi phí cho nghề trồng lúa ngày một cao (do giá cả phân bón, giống lúa mới rất cao) so với giá trị của hạt gạo đây là một trong những trở ngại lớn mà nghề trồng lúa của Việt nam phải vượt qua trong thời gian tới

Trang 19

Chương 2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là những dòng đột biến lúa ưu việt trong tập đoàn các cá thể lúa đột biến thu được từ việc xử lý tia gamma (nguồn Co60) lên các giống gốc KD18 và A20 ở thế hệ thứ 7 được chúng tôi

đặt tên là:

- CL2, CL3, CL5 xuất phát từ giống gốc là KD18

- D52-10, D52-11, D52-12, D52-13, D52-14, D52-15 xuất phát từ giống gốc là A20

Các số liệu về đặc điểm hình thái gồm

1 Tỷ lệ nảy mầm

2 Khả năng sống sót

3 Khả năng đẻ nhánh

Ngày đăng: 31/10/2015, 06:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Tỷ lệ nảy mầm và khả năng sống sót - Nghiên cứu đánh giá các xác định độ thuần của các dòng đột biến lúa ưu việt ở thế hệ thứ 7
Bảng 3.1. Tỷ lệ nảy mầm và khả năng sống sót (Trang 22)
Bảng 3.6. Số hạt chắc/bông và tỷ lệ hạt chắc - Nghiên cứu đánh giá các xác định độ thuần của các dòng đột biến lúa ưu việt ở thế hệ thứ 7
Bảng 3.6. Số hạt chắc/bông và tỷ lệ hạt chắc (Trang 32)
Bảng 3.7. Trọng lượng 1000 hạt và năng suất lý thuyết (tấn/ha) - Nghiên cứu đánh giá các xác định độ thuần của các dòng đột biến lúa ưu việt ở thế hệ thứ 7
Bảng 3.7. Trọng lượng 1000 hạt và năng suất lý thuyết (tấn/ha) (Trang 33)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm