DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN DO: Hàm lượng oxi hoà tan PHCGT: Phân hữu cơ gây tảo HTXNN: Hợp tác xã nông nghiệp DANH MỤC BẢNG TRONG LUẬN VĂN Bảng 1: Các yếu tố thuỷ lý hoá khác
Trang 1DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
DO: Hàm lượng oxi hoà tan PHCGT: Phân hữu cơ gây tảo HTXNN: Hợp tác xã nông nghiệp
DANH MỤC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
Bảng 1: Các yếu tố thuỷ lý hoá khác
Bảng 2: So sánh kết quả nuôi trồng thuỷ sản với trồng lúa sau khi chuyển đổi
Bảng 3: Tổng kết kết quả nuôi tôm Sú năm 2005 - 2006
Bảng 4: Tổng kết sản lượng nuôi gối hai vụ năm 2005 - 2006
Bảng 5: Các yếu tố môi trường ao nuôi phù hợp cho thả giống
Bảng 6: Công thức kết hợp phân bón đã dùng
Bảng 7: Công thức bón vôi phù hợp với độ pH của đất
DANH MỤC SƠ ĐỒ TRONG LUẬN VĂN
Sơ đồ 1: Nguồn chất lắng tụ
Sơ đồ 2: Cơ chế suy thoái chất lượng nước trong ao nuôi
Sơ đồ 3: Hệ thống ao lắng lọc
Sơ đồ 4: Mô hình ao nuôi kinh tế
Sơ đồ 5: Hiệu quả kinh tế
Sơ đồ 6: Chuyển hoá các chất nhờ vi sinh vật
Sơ đồ 7: Mô hình ao nuôi sinh thái
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xã Thái Đô (Thái Thụy, Thái Bình) là một xã ven biển, ở đây các đồng
lúa là kết quả của việc quai đê, lấn biển và thau chua rửa mặn Vì thế năng
suất lúa bấp bênh, thu nhập từ trồng lúa ít ổn định, đời sống của những người
nông dân nơi đây cũng không cao hơn diện đói nghèo là bao
Những năm gần đây, phong trào nuôi tôm Sú phát triển ở các tỉnh ven
biển miền Bắc, trong đó có tỉnh Thái Bình theo mô hình chuyển đổi các đồng
lúa ven biển thành đầm nuôi tôm Sú và thuỷ hải sản Việc chuyển đổi này đã
đem lại thu nhập cao và ổn định, nhiều hộ trở nên giàu có nhờ nuôi tôm Sú
Chính quyền và hội khuyến nông, khuyến ngư, của xã Thái Đô được sự
tập huấn nuôi chuyển giao qua huyện đã vận động bà con chuyển đổi nuôi
tôm Sú thương phẩm trên các ruộng cấy lúa Năng suất tôm nuôi vụ đầu cao,
làm tăng thu nhập cho những người chuyển đổi từ trồng lúa sang nuôi tôm
Nhưng phần lớn cách làm là: mạnh ai người ấy làm, làm theo phong trào,
thiếu đầu tư kỹ thuật, thiếu kinh nghiệm tổng kết thực tiễn mà năng suất các
đầm tôm chuyển đổi sút giảm thậm chí có những hộ không trả được nợ vay
vốn ngân hàng
Để góp phần giữ vững và phát triển các đầm nuôi tôm chuyển đổi này ở
xã Thái Đô (Thái Thụy, Thái Bình) Chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Một số cải
tiến cho quy trình nuôi tôm Sú thương phẩm trên ruộng cấy lúa chuyển
đổi thành đầm nuôi ở vùng ven biển xã Thái Đô, huyện Thái Thụy, tỉnh
Thái Bình”
Trang 32 Mục đích của đề tài
+ Đánh giá quy trình nuôi tôm Sú hiện tại ở các ruộng lúa chuyển đổi
thành đầm nuôi ở xã Thái Đô qua các khâu: ao nuôi, chất lượng nước nuôi,
con giống và mật độ thả, thức ăn, sục khí, dịch bệnh, thu hoạch
+ Tìm ra nguyên nhân làm giảm sút năng suất tôm nuôi, từ đó rút ra các
giải pháp cải tiến cho quy trình nuôi tôm Sú thương phẩm, nhằm giữ vững và
phát triển nghề nuôi tôm hiện có của xã Thái Đô
3 Ý nghĩa của đề tài
+ Những giải pháp cải tiến cho quy trình nuôi tôm hiện có ở xã Thái Đô
sẽ góp phần giữ vững và phát triển nghề này của địa phương làm cho nghề
nuôi tôm tồn tại, giúp cho bà con làm giàu được từ con tôm thương phẩm
+ Có thể chuyển giao quy trình cải tiến này cho các vùng nuôi tôm khác
của huyện Thái Thụy hoặc của các vùng khác đang thực hiện mục đích
chuyển đổi ruộng lúa ven biển thành đầm nuôi tôm Sú hoặc nuôi các đối
tượng thuỷ hải sản khác
4 Điểm mới của đề tài
+ Các đề tài trước nghiên cứu ở vùng chuyển đổi lần một và các phương
pháp cải tiến cho quy trình nuôi còn chung chung, nay đề tài này nghiên cứu
cải tiến cho vùng chuyển đổi lần hai và các biện pháp cải tiến cụ thể cho một
số khâu trong quy trình nuôi tôm
Trang 4CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Đặc điểm của Tôm Sú (Penaeus monodon)
1.1 Đặc điểm phân loại - phân bố
Trên thế giới tôm Sú (P.monodon) phân bố chủ yếu ở vùng Ấn Độ
Dương, Thái Bình Dương Ở Việt Nam trước kia phân bố chủ yếu ở các tỉnh
từ Quảng Bình đến Vũng Tàu Ở Miền Nam hầu như không gặp trừ vùng biển
Kiên Giang Hiện nay ngành nuôi tôm Sú phát triển phổ biến ở các tỉnh ven
biển nước ta
1.2 Đặc điểm sinh học chủ yếu của tôm Sú từ thời kỳ ấu niên đến thiếu
niên
1.2.1 Đặc điểm sinh trưởng
Trong thực tế sản xuất nuôi tôm Sú, ương giống P10 có chiều dài thân
0,9 - 1,1 cm, sau 7 - 10 ngày đạt cỡ từ 1 - 2 cm, sau 15 - 20 ngày đạt cỡ 3 - 5
cm, sau 25 - 30 ngày đạt cỡ 4 - 6 cm Sau 4 tháng nuôi đa số tôm đạt kích cỡ
thương phẩm 30 - 40 con/kg Ở những ao nuôi điều kiện tốt (độ mặn thấp từ
10 - 20 0
00) tăng trưởng nhanh sau 2,5 - 3 tháng có thể thu hoạch tôm thương
phẩm cỡ 30 - 40 con/kg
Trang 51.2.2 Đặc điểm dinh dưỡng
Thời kỳ ấu niên đến trưởng thành tôm Sú, thể hiện tính ăn của loài: ăn
tạp, thiên về thức ăn động vật chủ yếu là giáp xác (Crustacea), thân mềm,
giun nhiều tơ (Polychaeta), cá nhỏ, một số rong tảo, mùn bã hữu cơ, xác động
thực vật chết Trong quá trình nuôi tôm thương phẩm hiện nay chủ yếu sử
dụng thức ăn công nghiệp cho tôm
1.2.3 Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của
tôm Sú
- Nhiệt độ:
Nhiệt độ thích hợp nhất cho tôm Sú từ 25 - 300C Ngoài giới hạn
trên tôm có thể giảm ăn, hoặc bỏ ăn dẫn đến tăng trưởng chậm, dễ mắc bệnh,
00 Ngoài giới hạn trên độ mặn < 10 ‰ tôm nuôi dễ mắc bệnh mềm vỏ và một số bệnh khác, độ
mặn > 25 0
00 tôm tăng trưởng chậm khó lột vỏ
- Độ kiềm và độ pH:
+ Độ kiềm giữ vai trò làm hệ đệm giúp giữ cho pH được ổn định và
duy trì tốt cho sự phát triển của các sinh vật phù du và kể cả tôm Độ kiềm
thích hợp cho tôm Sú từ 80 - 120 mg CaCO3/lit
+ Độ pH thích hợp cho tôm Sú là 7,5 - 8,5
- Độ trong:
Độ trong biểu hiện sự phát triển của sinh vật phù du Trong ao nuôi
sinh vật phù du phát triển bình thường và ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi
cho đời sống của tôm Độ trong thích hợp đối với ao nuôi tôm là 30 - 40 cm
Trang 6
Bảng1: Các yếu tố thủy lý hoá khác
Chỉ tiêu môi trường Giới hạn tốt nhất Mức độ chịu đựng
Oxy hoà tan 5 - 7 ppm Không nhỏ hơn 4 ppm
( Http: www ninhthuanpt.com.vn/chuyenmuc/thuysan/tom)
2 Sơ lƣợc về sự phát triển của nghề tôm Sú ở Việt Nam và thế giới
Nghề nuôi tôm Sú xuất hiện đầu tiên ở Ấn Độ và đã có lịch sử phát triển
lâu dài Người dân chài Ấn Độ đã dùng các giống loài giáp xác, sử dụng các
phương tiện truyền thống và kinh nghiệm bản địa khôn khéo trong nuôi tôm
để cải thiện điều kiện sống của họ
Theo cách nuôi truyền thống thì các ấu thể và hậu ấu thể này xuất hiện tự
nhiên, được bẫy và nhốt trong vùng có nước triều để chúng lớn thêm trong
những giai đoạn ngắn trước khi bắt để lấy con giống Những ao này được xây
dựng trong khu nước lợ ven biển thích hợp là nơi có đất triều tốt và cung cấp
con giống dồi dào
Nuôi trồng thuỷ sản nói chung đã có nhiều thay đổi trong những năm
1960 - 1970 khi quy trình công nghệ đã được ứng dụng nhiều vào ngành này
Nhiều vùng đất và vùng ngập mặn đã biến thành ruộng nuôi tôm theo quy mô
công nghiệp, nhiều công ty đa quốc gia đã đầu tư lớn với nhiều tỉ đô la vào
ngành này, ở Ấn Độ sự bùng nổ thật sự của ngành này bước sang thập kỷ 80
Trong nghề nuôi tôm hiện tại người ta đã sử dụng rộng rãi các hệ thống
bán thâm canh và quảng canh cải tiến nước mặn từ trong đầm phá và vừa
được sử dụng nhiều để nuôi tôm suốt dọc ven biển
Trang 7Ở Việt Nam nghề nuôi tôm cũng phát triển mạnh mẽ trong những năm
gần đây Nông dân bắt đầu đổ xô vào nuôi tôm vì họ có thể kiếm được những
khoản thu nhập cao chỉ trong vòng 1 hoặc 2 năm Việt Nam có tiềm năng rất
lớn vì có bờ biển dài 3260 km, có thể đem lại nhiều lợi nhuận góp phần rất
lớn vào tăng trưởng kinh tế của đất nước Tuy nhiên do chỉ nuôi theo kinh
nghiệm truyền thống là chủ yếu, cùng với sự hiểu biết về các virus gây bệnh
tôm còn hạn chế, bệnh tôm lây lan nhanh đã gây ảnh hưởng nặng nề cho nghề
nuôi tôm và ảnh hưởng đến năng suất của nghề nuôi trồng thuỷ sản
Trang 8CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU -
THỜI GIAN - ĐỊA ĐIỂM
1 Đối tượng nghiên cứu
Quy trình nuôi tôm Sú của xã Thái Đô
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Nghiên cứu thực địa
2.1.1 Phương pháp trực tiếp
Đến các đầm nuôi tôm để tìm hiểu về hệ thống cấp thoát nước; quy trình
nuôi tôm hiện tại ở xã Thái Đô
2.1.2 Phương pháp gián tiếp
- Tiến hành điều tra qua việc phỏng vấn các hộ dân nuôi tôm của địa
phương
- Thu thập số liệu của hợp tác xã nông nghiệp toàn xã Thái Đô, huyện
Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
2.2 Xử lý số liệu
Phân tích số liệu điều tra, quản lý xử lý số liệu theo phương pháp thống
kê thông thường trên phần mềm Excel
3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 6/2006 đến 4/2008
4 Địa điểm nghiên cứu
Xã Thái Đô, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
Trang 9CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1 Sơ lược điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội của xã Thái Đô
1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Thái Đô nằm ở khoảng 200
20 vĩ độ Bắc và 106030độ kinh Đông, nằm về phía Đông Nam huyện Thái Thụy với tổng diện tích tự nhiên là
1.164.95 ha Mật độ dân số khoảng 500 người/km2
- Phía Bắc giáp xã Thái Thượng
- Phía Nam giáp xã Đông Hải huyện Tiền Hải
- Phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ
- Phía Tây giáp xã Mỹ Lộc, Thái Hoà
Xã Thái Đô có vị trí khá thuận lợi nằm giáp biển và nằm cách trung tâm
huyện 10 km cùng hệ thống giao thông thuỷ bộ khá phát triển, tạo điều kiện
cho Thái Đô trong việc giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội cũng như trong việc
tiếp thu các thành tựu khoa học công nghệ, thu hút vốn đầu tư cho các doanh
nghiệp trong và ngoài tỉnh
1.1.2 Địa hình địa mạo
Xã Thái Đô mang nét đặc trưng của vùng châu thổ sông Hồng, được bồi
đắp bởi hai con sông lớn: sông Thái Bình và sông Trà Lý tạo cho địa hình của
xã khá bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 1% thấp dần từ khu dân cư ra sông
Địa hình của xã Thái Đô nhìn chung bằng phẳng dốc dần từ Bắc xuống Đông
Nam
1.1.3 Đặc điểm khí hậu
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, song với đặc thù là một xã
gần biển nên nơi đây ngoài khí hậu lục địa còn mang đặc trưng của khí hậu
Trang 10duyên hải được điều hoà với biển cả (mùa đông thường ấm hơn, mùa hè
thường mát hơn so với khu vực nằm sâu trong lục địa)
+ Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình hằng năm từ 23 - 240C, nhiệt độ cao
nhất là 390C vào các tháng VI, VII, VIII Nhiệt độ thấp nhất từ 50C đến 90
C vào tháng I và tháng II Biên độ nhiệt dao động giữa ngày và đêm khoảng 8 -
100C, giữa ngày nóng và ngày lạnh khoảng 15 - 200
C
+ Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình hằng năm tương đối lớn khoảng
1788 mm, lượng mưa cao nhất 1860 mm vào các tháng IV, V và tháng VII,
VIII, lượng mưa thấp nhất là 1716 mm vào tháng XI và tháng XII số ngày
mưa khoảng 150 ngày/năm, phân bố không đồng đều trong năm và được chia
thành 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô
+ Chế độ gió: Mùa hè hướng gió thịnh là gió Đông Nam mang theo
không khí ẩm, tốc độ gió trung bình là 2 - 5 m/s, thời gian này thường hay có
bão xuất hiện từ tháng VI đến tháng X, nhiều nhất là tháng VIII (32,5%),
tháng IX(25%) và tháng VII (22,5%) Mỗi năm có từ 2 - 3 cơn bão, có năm
tới 6 cơn bão, cấp gió trung bình từ cấp 8 đến cấp 11
Nhìn chung thời tiết khí hậu của xã Thái Đô khá thuận lợi cho sản xuất
nông nghiệp, đa dạng hoá cây trồng Tuy nhiên do sự phân hoá của thời tiết
theo mùa cùng những hiện tượng thời tiết như bão, giông, gió mùa đông bắc
khô hanh gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất của người dân
1.1.4 Thuỷ văn
Là xã nằm sát biển, thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, Thái Đô có hệ
thống sông hồ tương đối lớn, sông ngòi, kênh mương tương đối hoàn thiện, có
sông Trà Lý dài khoảng 3 km và hàng chục km kênh mương nội đồng có khả
năng tưới tiêu tốt phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
Nhìn chung hệ thông sông, kênh mương của xã có nguồn nước dồi dào
thuận lợi cho việc thau chua rửa mặn, phát triển các loại cây trồng
Trang 111.2 Điều kiện kinh tế
Là một xã được tách từ hai xã Thái Hoà và Mỹ Lộc từ năm 1976, do đó
Thái Đô mới có hơn 30 năm hình thành và phát triển Lúc đầu nhân dân chủ
yếu cấy lúa, trồng cói, trồng đay, làm muối Trong mấy năm gần đây nền
nông nghiệp của xã đã có sự chuyển biến rõ rệt đặc biệt là ngành Thuỷ sản
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm đạt 8 - 9% giai đoạn
1999 - 2004 Năm 2005 bình quân giá trị sản xuất trên đầu người đạt 6,61
Nhìn chung cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch: Ngành Thuỷ sản và
thương mại tăng, cơ cấu các ngành phát triển theo hướng tích cực
2 Đánh giá kết quả nuôi trồng thuỷ sản qua các năm 2004, 2005, 2006
Vùng ven biển xã Thái Đô được sự bồi tụ phù sa bởi sông Hồng và sông
Thái Bình và giáp biển nên có nồng độ muối cao, hàm lượng SO3
2-
nhiều do
đó vừa mặn hoá vừa phèn hoá Trồng lúa năng suất thấp lại phải phụ thuộc
vào việc thau chua rửa mặn với chi phí cao Đến cuối năm 2001 xã Thái Đô
đã chuyển đổi diện tích trồng lúa sang nuôi trồng thuỷ sản lần một và tiếp tục
đến năm 2003 xã được Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn phê duyệt
quyết định 5336 ngày 31/1/2003, được sự nhất trí của tỉnh và huyện chuyển
đổi tiếp giai đoạn hai Diện tích vùng chuyển đổi lần hai là 275 ha, nâng tổng
diện tích đầm ao nuôi lên 513,3 ha
- Kết quả thu hoạch năm 2004 vùng chuyển đổi lần hai:
+ Năng suất trung bình đạt 540 kg/ha
+ Tổng thu toàn vùng 148,5 tấn
Trang 12+ Giá trị thu 65000 đồng/kg
+ Tổng giá trị thu nhập 9.652.500.000 đồng
+ Chi phí sản xuất 55% tổng giá trị thu nhập gồm: thức ăn, giống,
thuốc xử lý môi trường ao nuôi
+ Như vậy thu lãi cho toàn vùng dự án 4.345.000.000 đồng
- Sau khi thu hoạch tôm Sú vụ xuân hè ngư dân tiếp tục thả vụ hai gồm
các loại như cua xanh, rô phi đơn tính, tôm rảo và tận dụng thu tôm cá tự
nhiên Kết quả thu hoạch như sau:
+ Ước tính vụ hai tổng thu đạt 9.000.000 đồng/ha
+ Tổng thu toàn vùng đạt 2.475.000.000 đồng
+ Chi phí vụ hai là 50% tổng thu toàn vùng
+ Còn lại 1.237.500.000 đồng
Tổng thu cả năm 2004 (hai vụ) là 5.582.500.000 đồng
- So sánh với lúa khi chưa chuyển đổi
+ Năng suất đạt 200 kg/sào/năm
+ Giá trị 2000 đồng/kg
+ Chi phí 70% = 280.000 đồng/sào/năm
+ Lãi thu được là 120.000 đồng/sào/năm
+ Thu lãi trên 1 ha 3.330.000 đồng/ha/năm
+ Tổng thu lãi trên toàn vùng là 3.330.000 x 275 = 915.750.000
đồng
Bảng 2: So sánh kết quả nuôi trồng thủy sản với trồng lúa sau khi
chuyển đổi
Thu lãi trên 1 sào là: 751.550 đồng Thu lãi trên 1 sào là 120.000 đồng
Thu lãi trên 1 ha là 20.300.000 Thu lãi trên 1 ha là 3.330.000 đồng
Thu lãi toàn vùng là Thu lãi toàn vùng là
Trang 135.582.500.000 đồng 915.750.000 đồng
(Số liệu HTXNN toàn xã Thái Đô)
Nhận xét: Như vậy qua bảng số liệu trên ta thấy rằng việc nuôi trồng thuỷ
sản đạt năng suất cao lãi toàn vùng gấp 6,1 lần so với cấy lúa
Bảng 3: Tổng kết kết quả nuôi tôm Sú năm 2005 - 2006
2 Diện tích vùng chuyển đổi Ha 275 275
4 Giá tôm trung bình Đồng 70.000 70.000
Thành tiền (đồng)
Sản lượng (kg)
Thành tiền (đồng) Cua biển
Trang 14Tôm gai, Cá tạp 22700 227.000.000
Rô phi 136300 1.635.600.000
(Nguồn số liệu bảng 3 và bảng 4: Số liệu HTXNN toàn xã Thái Đô)
Nhận xét: Tổng kết qua các vụ nuôi thì năng suất thuỷ sản đạt được có
xu hướng giảm dần
3 Quy trình sản xuất tôm thương phẩm của ngư dân
3.1 Chuẩn bị cải tạo ao
- Tháo cạn nước, phơi khô 15 ngày, tu sửa bờ ao, cống cấp và tiêu nước
- Thau rửa 2 lần
- Bón vôi CaCO3, liều lượng 500 kg/ha Sau đó phơi đáy đầm tôm khô
nứt chân chim
- Lấy nước: Lấy trực tiếp từ kênh tưới tiêu, sử dụng túi lọc 100 lỗ/cm2
- Gây màu nước (gây nguồn thức ăn tự nhiên) Chỉ có phân vô cơ gồm
đạm Urea 30 kg và Super lân 20 kg sử dụng cho 1 ha đầm nuôi
3.2 Thả giống
- Sau thời gian cải tạo ao từ 5 - 7 ngày tiến hành thả giống Chú ý nên
chọn tôm giống có màu sắc trong sáng, không thương tích, đều cỡ, hoạt động
nhanh nhẹn Tôm thon dài đuôi xoè hình quạt, khi lội râu khép lại hình chữ V
- Nguồn gốc giống tôm: chủ yếu ở các tỉnh phía Nam như: Đà Nẵng,
Nha Trang, Ninh Thuận, Bình Thuận, một số ít ở Quảng Ninh, Hải Phòng
song tập trung với số lượng lớn ở hai tỉnh Đà Nẵng và Nha Trang
Bảng 5: Các yếu tố môi trường ao nuôi phù hợp cho thả giống
Độ sâu mực
nước (m)
Độ trong (cm)
Độ mặn (0
Trang 150,6 - 0,8 30 - 40 10 - 20 7,5 - 8,5 25 - 28
Chú ý: Không nên thả tôm vào thời điểm giao mùa vì tôm rất dễ mắc
bệnh
Trang 163.3 Chăm sóc quản lý đầm nuôi của ngư đân
3.3.1 Điều tiết nguồn nước
Trong ao đầm nuôi các yếu tố môi trường cần được duy trì thường
xuyên Chất lượng nước là yếu tố quyết định đến năng suất và sản lượng tôm
Thay nước là cơ sở cho việc điều chỉnh các yếu tố môi trường nước
Ở tháng nuôi thứ nhất không thay nước nhằm hạn chế thay đổi môi
trường Trong tháng nuôi thứ 2, 3 căn cứ vào lịch thuỷ triều chu kỳ con nước
thường từ 3 - 4 ngày, mỗi ngày thay 10 - 15% mực nước trong ao đầm nuôi
đảm bảo các yếu tố môi trường không bị biến đổi đột ngột
3.3.2 Sử dụng thức ăn
Chủ yếu có ba dạng thức ăn sau:
- Thức ăn tự nhiên: Sinh vật phù du, động vật phù du chỉ ăn ở giai đoạn
đầu rất quan trọng, nên phải làm sao cho ao thật nhiều thức ăn tự nhiên thì
tôm mới có sức tăng trưởng nhanh
- Thức ăn chế biến:
+ Thức ăn tươi sống: Don (Glaucontya chineis), ốc sử dụng cho
tháng nuôi cuối cùng
+ Thức ăn nông dân tự chế tại địa phương: Bột đỗ tương, bột ngô,
cá tạp, thức ăn nấu chín được sử dụng cho tháng nuôi thứ nhất, cung cấp chất
dinh dưỡng cho tháng nuôi thứ nhất cho tôm
- Thức ăn viên: Do các công ty chế biến, cho ăn bổ sung khi tôm nuôi
đạt 1 - 2 tháng tuổi
Phương pháp cho ăn: Được rải đều trên vùng bãi cao của ao đầm nuôi
Chú ý: Tôm rất thích sống riêng lẻ, ăn tạp, gặm nhấm nếu cho thức ăn
thiếu và kích cỡ thức ăn không phù hợp sẽ dẫn đến hiện tượng phân đàn và ăn
lẫn nhau
Trang 173.3.3 Sử dụng phân bón
Phân bón được sử dụng nhằm duy trì độ trong của nước cung cấp chất
dinh dưỡng cho động vật phù du và thực vật phù du
Bao gồm:
- Phân hữu cơ gây tảo (PHCGT) đầy đủ thành phần dinh dưỡng
- Đạm Urea 46 % P2O5
- Phân vô cơ tổng hợp
Khi sử dụng phân bón gây màu nước trong ao đầm nuôi thường vào thời
điểm 9 - 11 giờ sáng, ngày trời nắng phân được hoà nước té đều trên mặt
Tùy vào điều kiện nguồn nước lấy vào nhiều hay ít chất phù sa mà lựa
chọn các loại và điều chỉnh phân bón
Bảng 6: Công thức (CT) kết hợp phân bón đã dùng
Công thức
bón phân
Đạm Urea (%)
Super lân (%)
NPK (%)
PHCGT (%)
CT1 có sử dụng phân hữu cơ gây tảo thì màu nước ổn định và bền hơn
so với sử dụng toàn bộ phân vô cơ
3.4 Thu hoạch tôm
Tùy theo từng hộ gia đình mà cách thu hoạch khác nhau, sau đây là 3
cách thu hoạch chủ yếu ở xã:
3.4.1 Thu hoạch bằng đó: Đây là cách thu hoạch nhỏ lẻ
- Dùng đó thưa để thu tỉa những tôm đạt giá trị thương phẩm từ cuối
tháng nuôi thứ 3 đến đầu tháng nuôi thứ 4
Trang 18- Đó được điều chỉnh khe hở của các nan để bảo đảm giữ được cá thể
>30g, những cá thể nhỏ hơn có thể thoát ra ngoài
- Khi đánh đó sử dụng mồi là Don (Glaucontia chinesis) tươi để thu hút
tôm vào
3.4.2 Thu tôm bằng te (xiếc): có sử dụng xung điện 16 (V), áp dụng cho thời
gian thu kiệt tôm
- Phương pháp đánh bắt: Tháo gần cạn nước trong đầm ao, giữ lại mực
nước 20 - 30 cm Dùng te (xiếc) đẩy theo từng hàng, tôm bị xung điện làm tê
liệt trong thời gian 5 - 10 phút Có thể tôm dắt vào lưới hoặc một vài người đi
sau để mò tôm
- Ưu điểm của phương pháp này: Thu hoạch tôm nhanh và triệt để
Nhưng chú ý điều chỉnh số Vôn của xung điện từ 12 - 16 (V) sẽ làm cho tôm
bị liệt trong thời gian ngắn an toàn cho người và môi trường
3.4.3 Thu tôm bằng phương pháp xả đáy
- Phương pháp này cũng áp dụng cho những ao, đầm đến thời điểm thu
hoạch triệt để Mắc đọn (đáy) vào cống sau đó mở cống cho tôm theo ra
- Ưu điểm: thu hoạch nhanh gọn
- Nhược điểm: Tôm dễ bị bầm dập, xây sát do vận tốc nước chảy lớn tôm
bị ép vào nuôi đọn (đáy) Phương pháp này chỉ thực hiện vào buổi tối và có
thêm nước mồi vào ao đầm
3.5 Vận chuyển tôm
- Do nhu cầu của thị trường tiêu thụ nội địa mà một phần nhỏ tôm Sú
thương phẩm được vận chuyển sống về nơi tiêu thụ Quãng đường vận
chuyển từ nơi vận chuyển đến nơi tiêu thụ khoảng 40 km là Thành phố Thái
Bình
- Phương tiện vận chuyển: xe gắn máy