Hoạt động cầu tài lộc tại Đền còn là nơi để mỗi người bày tỏ lòng tri ân đến tới vị anh hùng dân tộc, là nơi để mỗi người thể hiện niềm mong ước, khát vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn,
Trang 1Đại Hội Đảng, các chủ trương chính sách phát triển văn hoá nước nhà
Đảng và nhà nước ta đã nhận định “tôn giáo, tín ngưỡng là một hiện tượng xã hội còn tồn tại lâu dài, nó chứa đựng những giá trị văn hoá và đạo
đức nhất định, nó còn là một trong những động lực góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội ” Tín ngưỡng ở Việt Nam đã tồn tại qua hàng ngàn năm lịch sử và được phát triển đến tận ngày nay Tín ngưỡng ra đời cùng với sự xuất hiện của xã hội loài người, nó gắn liền cùng với các lễ hội truyền thống
và là món ăn tinh thần không thể thiếu được của mỗi người dân Việt Nam Đó
là niềm tin của con người vào thần linh vào các vị anh hùng, vào các danh nhân văn hoá…
Tín ngưỡng Việt Nam là sự giao thoa của nhiều loại hình tín ngưỡng, nhưng những giá trị truyền thống vẫn giữ vai trò chủ đạo Lễ hội Việt Nam mang nhiều màu sắc 54 dân tộc với 54 phong tục khác nhau tạo nên nền văn hoá Việt Nam phong phú và đa dạng Góp chung vào kho tàng văn hoá dân tộc, Bắc Ninh quê hương hội tụ của nhiều dấu tích văn hoá và tôn giáo, vùng
đất nổi tiếng với nhiều công trình kiến trúc văn hoá Đình, Đền, Chùa được công nhận là di tích Lịch sử - Văn hoá Bên cạnh những giá trị vật thể đó là những giá trị phi vật thể vô giá, các hoạt động tâm linh, lễ hội khi diễn ra thu
Trang 2ngưỡng ở Đền Bà Chúa Kho là một tiêu biểu với hoạt động tín ngưỡng cầu tài lộc Khi hoạt động này của Đền diễn ra đã thu hút hàng vạn lượt du khách mỗi năm
Đền Bà Chúa Kho không chỉ là nơi lưu giữ nhiều giá trị lịch sử mà còn
đóng vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của nhiều người dân Việt Hoạt động cầu tài lộc tại Đền còn là nơi để mỗi người bày tỏ lòng tri ân đến tới vị anh hùng dân tộc, là nơi để mỗi người thể hiện niềm mong ước, khát vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn, xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh
Chính giá trị tâm linh đã đi sâu vào ý thức hệ giải thích vì sao Đền Bà Chúa Kho lại tồn tại và có sức sống mãnh liệt đến vậy trước bao thăng trầm của lịch sử
Hiện nay đứng trước nền kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hoá, những giá trị văn hoá tín ngưỡng của Đền có nguy cơ bị mai một Điều đó đặt
ra những thách thức cho vấn đề về quản lý, quy hoạch đối với các cấp chính quyền địa phương, các vấn đề tuyên truyền giáo dục cho người dân tại địa phương và du khách tham gia lễ hội để bảo tồn và giữ gìn những giá trị của
Đền
Để đánh giá những mặt tích cực - hạn chế khi hoạt động cầu tài lộc diễn
ra đến môi trường xã hội và nhân văn, nhằm đề ra một số giải pháp hạn chế những mặt tiêu cực góp phần bảo tồn và phát triển những giá trị của Đền nên
tôi đã chọn đề tài “Hoạt động cầu tài lộc tại Đền Bà Chúa Kho, x∙ Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh - các vấn đề môi trường x∙ hội và giải pháp”
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu hoạt động cầu tài lộc tại Đền Bà Chúa Kho một loại hình văn hoá tín ngưỡng dân gian Việt Nam từ xưa đến nay
Nghiên cứu thực trạng môi trường xã hội xung quanh hoạt động cầu tài lộc tại Đền Bà Chúa Kho Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm phát huy những
Trang 3mặt tích cực giảm thiểu những mặt tiêu cực, bảo tồn những nét đẹp vốn có của hoạt động cầu tài lộc tại Đền Bà Chúa Kho
3 ý nghĩa của đề tài
Việc giải quyết những mục tiêu trên góp phần khẳng định giá trị văn hoá tín ngưỡng dân gian đặc sắc của Đền Bà Chúa Kho và các vấn đề môi trường xã hội còn tồn tại xung quanh hoạt động cầu tài lộc Từ đó dự báo các nguy cơ có thể làm mất dần bản sắc của văn hoá tín ngưỡng dân gian nếu chúng ta không biết giữ gìn trước sức ép của nền kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hoá Xây dựng giải pháp quy hoạch tổng thể, chính sách quản lý phù hợp, nhằm đem lại lợi ích cho người dân xung quanh Đền, gợi ý cho các cơ quan văn hoá, thoả mãn mục đích tâm linh của người đi cầu và bảo tồn những giá trị văn hoá tín ngưỡng của di tích Đền Bà Chúa Kho
Trang 4Chương 1: Tổng quan tμi liệu
1.1 Sơ lược lịch sử khu di tích Đền Bà Chúa Kho
Đã có truyền thuyết kể lại rằng: Ngày xưa ở đất Kinh Bắc, tháng 3, tháng 9, nước ngập trắng xoá cả một vùng, đồng thời hoang hoá, tưởng như sự sống chẳng thể nào có được ở nơi đây Bấy giờ, ở làng Quả Cảm có người con gái rất đẹp, nhan sắc tuyệt trần lại đảm đang tài giỏi Lúc đó, Bà đeo trên mình một bị trấu xuống tận núi bài (Nham Biền) vừa lội đồng vừa vung trấu xuống nước, trấu trôi đến đâu Bà lập ấp đến đó, khoanh vùng, trị thuỷ, dạy dân cày cấy Từ đó các làng Đại Tảo Sở, Cô Mễ, Quả Cảm, Thượng Đồng… (72 trang ấp), dân cư đông đúc, vạn vật tốt tươi cuộc sống no đủ, giàu có
Tiếng đồn về người con gái xứ Bắc đến kinh thành vua Lý, vua liền đón
Bà về cung và lấy làm vợ, Bà trở thành vị Hoàng Phi của triều Lý Ngày ngày
ở nơi cung đình, Bà luôn nhớ về quê hương, lòng thương dân không dứt Một hôm, Bà xin nhà vua cho Bà về chốn cũ mong giúp dân làng làm ăn Tin tưởng
ở tài năng, đức độ, lòng trung thực, tính chắt chiu của Bà, nhà vua đồng ý giao cho Bà trọng trách trông coi kho lương thực của triều đình ở ven sông Cầu để tiếp tế cho tướng sĩ trên chiến tuyến Như Nguyệt chống giặc Tống, đồng thời cai quản một số tù binh do nhà Lý bắt được trong chiến tranh Bà dùng những người này vào cai quản ngày một đầy thêm, đủ cung cấp cho quân Đại Việt phòng chống giặc Tống ngoại xâm
Cũng từ đó núi Cô Mễ mang tên núi Kho, làng Thượng Đồng được gọi
là làng Lẫm (làng Kho) Sau đó Bà đã anh dũng hi sinh vì sự nghiệp đánh giặc giữ nước vào ngày12 tháng giêng âm lịch (1077) Nhà vua thương tiếc phong cho Bà làm Phúc Thần Nhân dân nhớ thương công ơn của Bà lập Đền trên núi
Trang 5Kho Nơi đặt kho lương xưa trở thành trung tâm thờ phụng và lễ hội của vùng Mọi người vẫn gọi Bà với niềm tôn kính, thân thuộc Bà Chúa Kho
Ban đầu Đền Bà Chúa Kho chỉ là một ngôi miếu nhỏ dân ở làng tuần rằm nhang khói Đến đời Lê Huy Tông, niên hiệu Chính Hoà (1680 - 1705) miếu được xây dựng thành Đền lớn Toàn bộ công trình, kiến trúc quý như: Sắc phong, tượng, hoành phi, câu đối đỏ…đều được tạo dựng trong thời gian này Ngoài ra, nhiều công trình: Đền Trình, Cổng Tam Quan, Sân Giải Vũ, Toà Tiền Tế, Cung Đệ Nhị, Hậu Cung…trung tâm thờ tự tôn nghiêm với tượng Bà Chúa Kho được tạo khắc rất công phu, tài nghệ, gần 200 năm sau công trình bị xuống cấp
Đời Nguyễn Dực Tông niên hiệu Tự Đức (1848-1883) dân làng Cô Mễ
đã trùng tu lại và diện mạo cơ bản của khu đền đã được tái tạo Qua thời gian chiến tranh tàn phá, Đền Bà Chúa Kho tuy được thường xuyên tu bổ, nhưng
đến năm 30 của thế kỉ XIX Đền bị sụp đổ hoàn toàn Sau đó, Đền được khắc phục, dựng lại nhưng lại bị phá tan trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ
Mặc cho nắng khát mưa nhuần, thời gian khắc nghiệt, chiến tranh tàn khốc đã làm cho ngôi Đền bị hoang phế, mọi dáng vẻ xưa của Đền bị chìm vào quá khứ, nhưng tín ngưỡng về Bà Chúa Kho vẫn còn nguyên giá trị trong tâm thức người dân Kinh Bắc và du khách thập phương
Sự hồi sinh thực sự của ngôi Đền được bắt đầu từ tháng 1 năm 1989, khi nhà nước chính thức ra quyết định công nhận toàn bộ khu di tích Lịch sử - Văn hoá của làng Cô Mễ gồm Đền, Đình, Chùa là di tích Lịch sử - Văn hoá
Từ khi được xếp hạng là di tích Lịch sử - Văn hoá cộng với việc tuyên truyền của địa phương thì tín ngưỡng về Bà Chúa Kho được phát triển
Năm 1991, dưới sự lãnh đạo của chính quyền địa phương và ngành văn hoá các cấp cùng bách gia trăm họ, công đức tiền của dân làng Cô Mễ đã
Trang 6toạ lạc trên đầu rồng (núi Cô Mễ, Thị Cầu) nối liền về phía Tây Nam là những quả đồi lớn nhỏ kéo dài đến Từ Sơn thì dừng lại, giống như hình con rồng
đang uốn lượn phun châu nhả ngọc Và tên đất, tên làng cũng tạo nên từ đó, gắn với bao truyền thuyết của một vùng văn hoá cổ xứ Bắc, quê hương của tám vị vua triều Lý, với những làn điệu dân ca quan họ Bắc Ninh Đặc biệt là pho tượng Bà Chúa Kho đã được đúc lại bằng đồng và hoàn thành vào ngày 29 tháng 5 năm 1993 (tức ngày mùng 10 tháng 8 năm Quý Dậu) Bà Chúa Kho
được an vị trong khám thờ của cung thượng Toàn bộ tượng được thếp vàng rực rỡ, ánh sáng của những ngọn nến bạch lạp đặt ở phía dưới khám thờ càng tôn thêm vẻ huyền ảo và tôn kính của ban thờ Bà
Từ trung tâm thành phố Bắc Ninh du khách theo quốc lộ 1 (đi Lạng Sơn)
đến với suối Hoa rẽ 1000m là tới chân núi Kho, với hệ thống điện thờ trong khuôn viên 6000m, tổng thể kiến trúc độc đáo Leo qua 15 bậc gạch đến khu sân thứ nhất (chiếu nghỉ) Qua 13 bậc nữa đến khu sân thượng, tiếp thêm 11 bậc là nhà Tiền Tế Toà nhà này xưa là 3 gian 2 trái, phần khung gỗ làm kiểu rốn rồng kẻ tràng, 4 góc mái là 4 đầu đao cong vút Ngày 29/10/1997, Công ty thương mại Bến Thành công đức trùng tu nguyên mẫu cũ bằng chất liệu quý bền chắc hơn Tiếp đó là 3 toà nhà đường bệ, trầm mặc trên đỉnh núi thoáng tĩnh, đây là trung tâm của Đền gồm 3 cung: Cung Thượng, Cung Đệ Nhị, Cung Đệ Tam
1 Cung Thượng: Gian giữa thờ Bà Chúa Kho, Gian bên phải đặt ban thờ
Đức Ông, gian bên trái đặt ban thờ Chầu Bà
2 Cung Đệ Nhị: Là ban thờ Tam Toà Thánh Mẫu
3 Cung Đệ Tam: Gian giữa (ban trên) thờ Tứ Phủ Công Đồng, ban dưới thờ Ngũ Hổ, gian bên phải thờ ông Hoàng Bơ (Ba) Kế cạnh là 2 gian nhà thờ
đặt ban thờ Cô, ban thờ Cậu
ở phía Tây khu Đền, đặt ban thờ Mẫu Cửu Trùng Thiên (dân gian còn
Trang 7Ngoài ra còn một số công trình kiến trúc khác phục vụ du khách nghỉ ngơi, sửa soạn hành lễ Các công trình này vừa mới được xây dựng khang trang mang đậm bản sắc phương Đông
Sau ngôi Đền Bà Chúa Kho là nhà thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh được xây dựng năm 1998 để tưởng nhớ đến vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam
Đến nay dù trải qua những thăng trầm của lịch sử, chiến tranh tàn phá, cùng những hiểu biết khác nhau của người dân thì tín ngưỡng về Bà Chúa Kho vẫn giữ nguyên giá trị Đó là món ăn tinh thần không thể thiếu được trong đời sống tâm linh của mỗi người dân Việt Nam Tín ngưỡng về Bà Chúa Kho từ lâu là chỗ dựa tinh thần cho dân làng Cô Mễ và hoà vào mạch nguồn tín ngưỡng dân tộc Cùng với những giá trị lịch sử và giá trị tâm linh góp phần làm giàu thêm kho tàng văn hoá Việt Nam Hiện nay, Đền Bà Chúa Kho được chính quyền các cấp tỉnh, địa phương, Đảng, nhà nước và nhân dân dành nhiều sự quan tâm hơn
1.2 Hoạt động Đền Bà Chúa Kho phát triển qua các giai đoạn
Đền Bà Chúa Kho nằm trong vùng thờ Mẫu cửa sông Ngũ Huyện Khê, xã Hoà Long (thờ Vua Bà thuỷ tổ quan họ, Mẫu Tam Phủ (Đền Cùng) thờ Bà Chúa Quả Cảm) Năm vùng lịch sử tiêu biểu là kháng chiến chống Tống năm
1077 đã có nhiều truyền thuyết kể về Bà Chúa Kho:
1 Bà là Bà Chúa Quả Cảm (1 trong 72 trang ấp thờ)
2 Bà là người cai quản kho lương thời Lý
3 Đền thờ Mẫu làng Cô Mễ
Theo nhiều tài liệu sử sách xưa Đền Bà chúa Kho chỉ là một ngôi miếu nhỏ (đầu thế kỷ XX) được dân làng thờ cúng và dân ở một số làng xã xung quanh tuần rằm nhang khói Đến năm 1989 khi Đền được xếp hạng là di tích Lịch sử - Văn hoá cùng với việc tuyên truyền của địa phương thì tín ngưỡng về
Bà Chúa Kho phát triển
Trang 8Các hoạt động tín ngưỡng lễ hội tại Đền Bà Chúa Kho diễn ra rất sôi
động vào các dịp lễ hội chính đã thu hút hàng chục ngàn người mỗi năm Đặc biệt là hoạt động tín ngưỡng cầu tài lộc một hình thức tín ngưỡng dân gian đặc sắc
Về với hoạt động cầu tài lộc tại Đền Bà Chúa Kho không phải là một cuộc vui chơi thông thường mà là về với hoạt động tâm linh, về với nét văn hoá tín ngưỡng xưa để con người cân bằng lại tinh thần.Về với Đền Bà Chúa Kho cũng là dịp để con người hiểu thêm về lịch sử giữ nước của dân tộc Có lẽ
đây cũng chính là lý do khiến cho Đền Bà Chúa Kho ngày càng đông đảo về
số lượng và đa dạng về thành phần đến vậy
Các hoạt động du lịch, số lượng du khách ngày một đông kéo theo các hoạt động thương mại trong lễ hội chưa thực sự được quản lý tốt sẽ gây ảnh hưởng không tốt tới hình ảnh Đền Bà Chúa Kho trong mắt du khách khi hành hương về Đền
1.3 Các công trình nghiên cứu liên quan đến Đền Bà Chúa Kho
Khu di tích Lịch sử - Văn hoá Đền Bà Chúa Kho có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống văn hoá tâm linh của nhiều người dân Việt, đã thu hút nhiều tác giả, nhiều nhà khoa học nghiên cứu trên các lĩnh vực khác nhau đó là: Khảo cổ, kiến trúc, văn hoá dân gian, lịch sử, du lịch…
Trong đề án phát triển du lịch của tỉnh Bắc Ninh (2006), công trình nghiên cứu đã đề cập đến Đền Bà Chúa Kho như: mục đích đến Đền của du khách, lượt khách trung bình đến Đền hàng năm
Trong sách Non nước Việt Nam - Sách hướng dẫn du lịch của Tổng Cục
Du Lịch Việt Nam - Nxb Hà Nội (2006), đã giới thiệu khái quát về lịch sử
Đền Bà Chúa Kho, kiến trúc Đền, mục đích của người đi cầu
Tất cả những nghiên cứu trên đều nhằm mục đích tìm hiểu về Lịch sử - Văn hoá Đền Bà Chúa kho, bảo tồn và phát triển những giá trị của khu di tích
Trang 9Hiện nay, cùng với hoạt động tín ngưỡng cầu tài lộc, bên cạnh đó là các hoạt động du lịch, thương mại tại khu di tích còn nảy sinh nhiều vấn đề bất cập mà các nhà tổ chức và các cơ quan chức năng chưa kiểm soát được Đồng thời, cùng với sự tự ý thức chưa đầy đủ của người dân phục vụ lễ hội có thể sẽ dẫn đến sự lãng quên truyền thống, bản sắc riêng của văn hoá tín ngưỡng dân
gian, biến chốn tâm linh thành nơi “buôn thần bán thánh” Do vậy tôi đã
chọn đề tài “Hoạt động cầu tài lộc tại Đền Bà Chúa Kho, x∙ Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh - các vấn đề môi trường x∙ hội và giải pháp” làm
hướng nghiên cứu cho mình
Trang 10Chương 2: Đối tượng, thời gian, địa điểm,
phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Môi trường xã hội - nhân văn tại khu di tích Đền Bà Chúa Kho gồm: + Những giá trị vật thể như các công trình kiến trúc đền thờ
+ Những giá trị phi vật thể như các hoạt động lễ hội: hoạt động cầu tài lộc, các tục được truyền, văn hoá ứng xử tại lễ hội
2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 1 năm 2007 đến tháng 3 năm 2009
2.3 Địa điểm nghiên cứu
Tại Đền Bà Chúa Kho thuộc thôn Cô Mễ, xã Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp quan sát - điều tra
- Phương pháp quan sát các hoạt động tế, lễ diễn ra tại lễ hội
- Quan sát hoạt động của người tham gia lễ hội
- Quan sát công tác quản lý và tổ chức lễ hội
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu và tài liệu có liên quan
- Thu thập số liệu về lượng hành khách đến Đền, các hàng quán phục vụ lễ hội
- Thu thập tài liệu liên quan đến Đền Bà Chúa Kho
Trang 11Chương3: Kết quả nghiên cứu vμ thảo luận
3.1 Hoạt động cầu tài lộc tại Đền Bà Chúa Kho
3.1.1 Các thời điểm hoạt động trong năm
Hiện nay, việc tổ chức hoạt động tín ngưỡng tại Đền Bà Chúa Kho tuân theo quyết định số 100 VHQĐ ngày 21/01/1989 về việc công nhận Đền Bà Chúa Kho là di tích Lịch sử - Văn hoá, việc quản lí di tích lịch sử Đền Bà Chúa Kho do Ban Quản lý di tích Sở Văn hoá Thông tin tỉnh Bắc Ninh quản lý cùng các ban ngành chính quyền địa phương và dân làng Cô Mễ
Theo Ban Quản lý lễ hội Đền Bà Chúa Kho xưa lễ hội diễn ra vào một ngày, đó là ngày giỗ Bà Chúa Kho Đến nay, lễ hội được mở chủ yếu vào 3 tháng đầu năm (từ mùng mười tháng giêng âm lịch hàng năm đến hết tháng 3
âm lịch) và 3 tháng cuối năm (từ tháng 10 đến hết tháng 12 âm lịch) Ngoài ra,
để đáp ứng nhu cầu của du khách Đền được mở vào bất kể ngày nào, mùa nào trong năm
Trong thời điểm mùa lễ hội nhằm đáp ứng nhu cầu đông đảo của du khách Ban Quản lý di tích Đền đã tổ chức các hoạt động sau:
Thứ nhất: Hoạt động quản lý, Ban Quản lý cử người trông nom Đền, thay phiên theo ca trực, thường là các cụ bô lão trong làng cùng một số người trung tuổi khác Đồng thời, là các cơ quan ở địa phương như: Ban An ninh, Uỷ Ban Nhân Dân xã Vũ Ninh, các lực lượng công an của Thành phố tham gia vào giữ gìn trật tự an toàn tại Đền
Thứ hai: Hoạt động bày lễ, Ban Quản lý Đền sắm mâm, khay, chiếu…phục vụ nhu cầu của du khách thập phương Các vị trí bày lễ có trải chiếu, quạt và có các cụ hướng dẫn du khách
Trang 12Như vậy hoạt động cầu tài lộc tại Đền Bà Chúa Kho được diễn ra quanh
năm, khi đời sống nhân dân được nâng cao, kinh tế phát triển thì “phú quý sinh lễ nghĩa” tín ngưỡng lễ hội Đền Bà Chúa Kho được lan truyền rộng rãi
3.1.2 Số lượng người tham gia theo thời điểm
Theo tín ngưỡng dân gian Việt Nam, mùa xuân là mùa khởi đầu của một năm, mùa để vạn vật sinh sôi nảy nở, đồng thời là mùa có nhiều dịp lễ hội quan trọng: Tết Nguyên Đán, rằm Tháng giêng (tết Nguyên tiêu), lễ hội Chùa Hương (tháng giêng), lễ hội Đền Hùng (mùng 10 tháng 3 âm lịch)
Theo quan niệm của người Việt Nam đầu năm còn là dịp để đi cầu may mắn, bình an, cầu duyên… Chính vì vậy mỗi địa danh lại thường được gắn với một biểu tượng cụ thể, một mong ước cụ thể, gắn với các hoạt động tín ngưỡng dân gian, một loại hình sinh hoạt văn hoá tâm linh đặc sắc, đa dạng như: Để cầu con cái lên Chùa Hương (Hà Nội), để cầu quan chức lên Phủ Giầy (Nam Định), Đền Hùng (Phú Thọ), để cầu tình duyên lên Chùa Hương, để cầu xuất ngoại lên Bia Bà (La Khê, Hà Đông, Hà Nội) Nhưng về tài lộc có thuyết
đã nói Bà Chúa Kho được phong làm Phúc Thần, Người đã khéo tổ chức sản xuất, tích trữ lương thực, trông nom kho tàng quốc gia trong và sau chiến thắng Như Nguyệt (1076), đi cầu ở Đền được Bà ban phát lộc, lộc làm ăn buôn bán… Bà được nhân dân tôn thờ không chỉ vì công ơn của Bà trong việc giúp nhà vua đánh giặc giữ nước mà vì Bà đã ban phúc cho họ
Mỗi du khách hành hương về Đền đều mong muốn là được Bà ban phát tài, lộc…niềm mong ước muốn được cuộc sống ấm no hạnh phúc rất bình dị của mỗi người dân
Theo Ban Quản lý di tích Đền Bà Chúa Kho, lượng du khách hành hương về Đền hàng năm tăng đáng kể vào các dịp lễ hội (vào 3 tháng đầu năm
và 3 tháng cuối năm), (ảnh 1- phụ lục) Ngoài ra số lượng khách hành hương, khách vãng lai vào các dịp khác trong năm đều tăng
Trang 13Theo thống kê ước tính của Sở Văn hoá - Thể thao - Du lịch tỉnh Bắc Ninh lượng khách trung bình đến điểm này đạt 25.000 đến 30.000 lượt / năm vào năm 2006 trong đó chủ yếu là vào các dịp lễ hội Đến năm 2007, 2008 lượng khách đến Đền tăng gấp 2 đến 3 lần
Nếu trước đây lượng khách đến Đền đa số là người dân ở địa phương và xung quanh vùng như: Bắc Ninh, Bắc Giang Nay, lượng du khách đến Đền từ mọi miền của Tổ Quốc như: Thành phố Hồ Chí Minh, Thái Nguyên, Hải Dương, Hà Nội…lượng khách quốc tế đến điểm này cũng tăng, và đa dạng về thành phần Đa số họ đến đây với mục đích tâm linh là chủ yếu như: Cầu lộc, cầu tài, xin, vay của Bà Chúa Kho Lượng du khách đến Đền ngày một tăng cũng là một thách thức đặt ra cho chính quyền địa phương, các nhà quản lý, các cơ quan có chức năng cũng như các vấn đề về môi trường nảy sinh xung quanh hoạt động cầu tài lộc
3.1.3 Hình thức hoạt động cầu tài lộc hiện tại ở Đền Bà Chúa Kho
Theo nhiều tài liệu sử sách xưa, Đền Bà Chúa Kho vốn là một ngôi miếu nhỏ được dân làng thờ cúng Một số làng xã xung quanh Đền cũng đến dâng hương thờ cúng để cầu may, cầu lộc, cầu tài Xưa, lễ hội Đền vào dịp chính hội 12 tháng giêng âm lịch hàng năm, lễ hội được tổ chức đơn giản: Người dân trong làng cùng dân ở các làng xã xung quanh đến dâng hương, lễ vật lên cho Bà Khi Nho giáo vào Việt Nam, các nghi thức trong lễ hội diễn ra quy củ
và chặt chẽ hơn theo nghi thức của lễ hội Đền
Đến nay, trước sức ép của nền kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ, quy mô tổ chức lễ hội về cơ bản vẫn diễn ra theo nghi thức truyền thống: Tế lễ, dâng hương… (ảnh 2a, 2b- phụ lục) Song bên cạnh những nghi thức của truyền thống xưa, bây giờ nhiều du khách về Đền để cầu
được lộc, được tài, xin, vay… Các hoạt động tín ngưỡng này lan truyền rộng rãi, phổ biến và trở thành tập tục lớn diễn ra sôi động tại Đền Bà Chúa Kho
Trang 14Hiện nay hoạt động cầu tài lộc tại Đền Bà Chúa Kho rất đa dạng với nhiều hình thức nhưng phổ biến nhất vẫn là hình thức xin lộc rơi, lộc vãi và vay, trả
3.1.3.1 Xin lộc rơi, lộc vãi
Theo quan niệm của người dân khi trái đất chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, những dịp đầu xuân nếu đi cầu chúc nhiều thì sẽ được may mắn,
được lộc trong cả năm Đó là nét đẹp trong đời sống văn hoá tín ngưỡng của mỗi người dân Việt Nam Hình thức xin lộc phổ biến trong các hoạt động lễ hội ở nhiều Đền, Chùa Việt Nam đặc biệt là hình thức xin lộc rơi, lộc vãi
Đối tượng tham gia vào hình thức xin lộc rơi, lộc vãi phổ biến nhất tại
Đền bà Chúa Kho và đa dạng về thành phần Đa số khách hành hương về Đền
là những người buôn bán nhỏ, nông dân, nhà doanh nghiệp… họ đi cầu với nhiều mục đích khác nhau như: Cầu được may mắn, cầu được lộc buôn bán,
ăn lên làm ra, phát tài, phát lộc, cầu thăng chức tước, cầu cho xuôi chèo mát mái…Tất cả những mục đích đó của họ đều phản ánh những mong muốn khát vọng rất bình dị của đại đa số người dân về một cuộc sống ấm no, hạnh phúc hơn
Tham gia vào hoạt động cầu tài lộc với hình thức xin lộc rơi, lộc vãi, tuỳ theo hiểu biết của mỗi người mà những nghi thức được thực hiện cũng rất đa dạng Nhìn chung, hoạt động xin lộc rơi, lộc vãi diễn ra theo các nghi thức của một hoạt động tín ngưỡng xưa: Từ việc chuẩn bị lễ vật, cách bài trí, sắp đặt lễ vào các ban, thứ tự đặt lễ vật ra sao, cách khấn, hạ lễ cũng rất khác nhau, không hề có tính gò ép mà hoàn toàn dựa vào sự hiểu biết và tuỳ tâm
Thứ nhất: Chuẩn bị lễ vật cơ bản, lễ vật gồm có 3 loại: Lễ chay, lễ mặn,
lễ đồ sống
Lễ chay: Gồm hương, hoa, trà, quả, phẩm oản… dùng để lễ ban Phật, ban Thánh Mẫu (thường người ta thêm một số hàng mã để dâng cúng như: tiền, vàng, nón, hài…)
Trang 15Lễ mặn: Gồm có gà, lợn, giò, chả… các thực phẩm đã được nấu chín thường được đặt ở ban Công Đồng
Lễ đồ sống: Gồm có trứng, gạo, muối hoặc thịt, lễ này đặt ở ban Công
Đồng Tứ Phủ Ngoài ra kèm theo lễ này còn có thêm tiền, vàng, mã
Cỗ mặn Sơn Trang: Thường gồm những đồ: cua, ốc, bún, ớt, chanh quả… Theo quan niệm dân gian khi sắm lễ mặn Sơn Trang người ta thường sắm theo con số 15, vì con số này ứng với 15 vị được thờ tại ban Sơn Trang (1
vị chúa, 2 vị hầu cận và 12 cô Sơn Trang)
Lễ ban thờ Cô, Cậu: Thường sắm các loại oản, quả, hương, hoa, hài, nón, áo… (đồ vàng mã), gương, lược…những đồ chơi thường làm cho trẻ nhỏ
Lễ vật này cầu kì được bao trong túi nhỏ, xinh xắn
Việc chuẩn bị các lễ vật là tuỳ theo hiểu biết của mỗi người, cũng như tuỳ vào tâm của mỗi người là chủ yếu
Thứ hai: Thứ tự bài trí lễ vật, hành lễ cũng tuỳ theo sự hiểu biết của mỗi người và tuỳ tâm Cơ bản thứ tự của nghi thức này diễn ra như sau:
Trước tiên là lễ thần Thổ Địa, Thủ Đền (lễ trình tại Đền Trình) Tiếp sau người ta sửa sang lễ vật, mỗi lễ vật được sắp ra mâm, khay chuyên dùng vào việc cúng lễ của nhà Đền rồi đặt vào các ban Khi dâng lễ người dâng lễ cũng cần phải kính cẩn, dùng hai tay dâng lễ vật, đặt vào ban thờ Lễ vật được đặt từ ban chính trở ra ban ngoài cùng
Sau khi đặt xong lễ vật lên các ban thờ, họ mới tiến hành thắp hương, thứ tự thắp hương theo thứ tự đặt lễ từ ban chính rồi đến các ban tiếp theo và sau cùng là ban thờ Cô, Cậu Việc thắp hương cũng phải tuân thủ nguyên tắc
số lẻ: 1, 3, 5, 7 thường là 3 nén Trong quá trình dâng hương cũng phải theo nghi thức dùng 2 tay đưa lên ngang trán và kính cẩn cắm hương vào ban thờ Theo quan sát của chúng tôi việc bài trí lễ vật, các nghi thức thắp hương theo nghi thức các bước trên cũng chỉ gặp ở một số người, còn đa số là các nghi
Trang 16Trình có người không, có người thắp hương có người không, có người đưa một tay, có người dùng 2 nén hương, có người chỉ thắp ban chính không thắp các ban phụ…
Ngoài những lễ vật, hương, hoa có mặt trong các nghi thức trên thì thêm vào đó đa số người đi cầu thường làm các thủ tục viết sớ tại các quầy bán hàng mã, cửa hàng viết sớ thuê…nhờ họ viết hộ (ảnh 3- phụ lục) Hoặc nếu không
định viết thì khách hành hương cũng được giới thiệu qua các chủ hàng…
Qua tìm hiểu tại các quầy viết sớ chúng tôi được biết thường thủ tục viết
sớ gồm có 3 loại sớ: sớ xin lộc, sớ Bà Chúa Kho, sớ Chúa Sơn Trang
Sớ xin lộc: nội dung của một lá sớ xin lộc gồm:
Tên, tuổi, địa chỉ của bản thân và người thân
Nội dung cầu
Màu lá sớ (màu vàng)
Sớ Bà Chúa Kho: (màu đỏ) nội dung tương tự sớ xin lộc
Sớ Chúa Sơn Trang: (màu xanh) nội dung tương tự sớ xin lộc
Một bộ 3 lá sớ trên cũng lần lượt được đặt theo thứ tự: Sớ màu vàng đặt vào ban Tứ Phủ Công Đồng; sớ Bà Chúa Kho đặt vào ban thờ Mẫu; sớ màu xanh được đặt vào cung Sơn Trang
Sau khi lễ xong, sớ tấu trình được đặt tại ban Công Đồng Khi khấn vái xong du khách thường đi tham quan các nơi thờ tự sau đó là đi khấn vái, hạ lễ Trong đó số tiền, vàng (đồ mã) được hoá tại am hoá vàng tại nhà Đền Thứ tự hạ lễ theo quy tắc thường hạ từ ngoài, sau đó là đến Ban chính Nhưng việc hạ
lễ này cũng tuỳ vào hiểu biết khác nhau của du khách, có người hạ từ ban chính trước, có người hạ các ban ngoài trước, có người tiện đâu hạ đấy, không
hề theo một trật tự nào
Hoạt động xin lộc rơi, lộc vãi tại Đền Bà Chúa Kho ngoài việc du khách thực hiện các nghi thức tại các ban của nhà Đền để xin lộc ra thì du khách có
Trang 17(đồ mã)) đã đặt tại các ban thờ đưa cho chủ kho, đặt lễ tiền giấy (thật) vào hòm tại nhà phát lộc và chủ cai quản kho sẽ đưa lại cho khách xin lộc một, hai
lễ (đồ mã), và lễ này thì theo chủ kho lễ này được đặt tại bàn thờ đến 23 tết âm lịch hoá tại gia.Việc xin lộc này của đa số người dân nhằm mục đích ăn lên làm ra
Hoạt động xin lộc rơi, lộc vãi diễn ra rất sôi nổi tại Đền Bà Chúa Kho,
nó thể hiện những mong ước rất bình dị của người dân về một cuộc sống tốt
đẹp hơn Chính hoạt động tín ngưỡng dân dã này của người dân đã tạo nên một nét sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng dân gian độc đáo trong hoạt động đời sống tâm linh của mỗi con người Hoạt động tín ngưỡng này rất đơn giản không cầu kỳ, không nhất thiết phải trả lễ tại nhà Đền Chính vì vậy, việc xin lộc rơi, lộc vãi đầu năm là rất phổ biến tại Đền Bà Chúa Kho, số lượng du khách tham gia vào hoạt động này cũng rất đa dạng về thành phần
Đền Bà Chúa Kho thì làm ăn khấm khá, gấp 5 gấp 10 lần, được Bà phù trợ Chính vì vậy mà hoạt động vay, trả này đã thu hút khá nhiều du khách tham gia
Thứ nhất: hình thức vay:
Phổ biến vào các dịp đầu năm cũng có khi vào các dịp khác Đối với những người tham gia vào hình thức vay cũng làm các thủ tục như: viết sớ, bài