1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cấu trúc mật độ và tỷ lệ thành phần các nhóm chân khớp bé (microarthropoda) ở đai cao của vườn quốc gia xuân sơn phú thọ

68 434 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 2,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Động vật đất có vai trò quan trọng trong tự nhiên, là thành phần không thể thay thế trong các quá trình sinh học xảy ra trong đất và trong sinh quyển nói chung.Việc nghiên cứu sinh vật đ

Trang 1

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

mục lục

Trang Lời cảm ơn

Lời cam đoan

Danh mục bảng

Danh mục biểu đồ

Danh mục hình + Kí hiệu viết tắt

Mục lục

1.1 Tình hình nghiên cứu Chân khớp bé trên thế giới 4

1.2 Tình hình nghiên cứu Chân khớp bé ở Việt Nam 5

Chương 2 Đối tượng, thời gian, địa điểm và phương pháp

nghiên cứu

11

2.4.2 Phương pháp tách lọc mẫu động vật 12 2.4.3 Xử lý, phân tích mẫu và số liệu 13 2.5 Vài nét về điều kiện tự nhiên của vùng nghiên cứu 14 2.5.1 Vị trí địa lý, địa hình, đất đai 14

Trang 2

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

3.1 Cấu trúc mật độ và tỷ lệ thành phần của quần xã Chân

khớp bé theo tầng phân bố ở đai cao 300- 600m

3.2 Cấu trúc mật độ và tỷ lệ thành phần của quần xã Chân

khớp bé theo tầng phân bố ở đai cao 600-1000m

3.3 Cấu trúc mật độ và tỷ lệ thành phần của quần xã Chân

khớp bé theo tầng phân bố ở đai cao 1000-1600m

Trang 3

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

Lời cảm ơn

Để hoàn thành bản luận văn này tôi đã nhận được sự giúp đỡ, động viên

và tạo điều kiện của:

 Các thầy cô trong khoa Sinh - KT NN, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

 Phòng thí nghiệm động vật học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

 Các cán bộ thuộc trạm Kiểm lâm vườn Quốc gia Xuân Sơn

 Chính quyền và nhân dân xã Xuân Sơn, huyện Thanh Sơn, Phú Thọ

 NCS Đào Duy Trinh, các anh chị K31CN Sinh và các bạn sinh viên

K32, K33 trong nhóm nghiên cứu động vật đất khoa Sinh- KTNN,

trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Đặc biệt với tấm lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cảm ơn NCS

Đào Duy Trinh đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình hoàn thành công

trình nghiên cứu này

Cuối cùng tôi xin cảm ơn tất cả người thân, bạn bè, đã luôn giúp đỡ,

động viên và khích lệ để tôi vượt qua những khó khăn, hoàn thành bản luận

văn này

Hà Nội, tháng 05 năm 2010

Đặng Thị Hải

Trang 4

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan:

Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Tất cả các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được ai công bố hay sử dụng để bảo vệ một học vị nào từ trước đến nay

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đều đã được cảm ơn Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, tháng 05 năm 2010

Sinh viên

Đặng Thị Hải

Trang 5

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

DANH MụC BIểU Đồ

Biểu đồ 3 Cấu trúc mật độ các nhóm phân loại của Acarina,

Collembola, Microarthropoda khác ở đai cao 300 - 600m

24

Biểu đồ 4 Tỷ lệ thành phần các nhóm phân loại của Acarina,

Collembola, Microarthropoda khác của tầng rêu ở đai cao 300 -

600m

24

Biểu đồ 5 Tỷ lệ thành phân các nhóm phân loại của Acarina,

Collembola, Microarthropoda khác của tầng thảm lá ở đai cao

300 - 600m

25

Biểu đồ 6 Tỷ lệ thành phân các nhóm phân loại của Acarina,

Collembola, Microarthropoda khác của tầng đất ở đai cao 300 -

Biểu đồ 9 Cấu trúc mật độ các nhóm phân loại của Acarina,

Collembola, Microarthropoda khác ở đai cao 600 - 1000m

33

Biểu đồ 10 Tỷ lệ thành phần các nhóm phân loại của Acarina,

Collembola, Microarthropoda khác của tầng rêu ở đai cao 600 -

1000m

33

Biểu đồ 11 Tỷ lệ thành phần các nhóm phân loại của Acarina,

Collembola, Microarthropoda khác của tầng thảm lá ở đai cao

600 - 1000m

34

Biểu đồ 12 Tỷ lệ thành phần các nhóm phân loại của Acarina,

Collembola, Microarthropoda khác của tầng đất ở đai cao 600 -

1000m

34

Trang 6

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

Biểu đồ 13 Cấu trúc mật độ của quần xã Chân khớp bé ở đai cao 1000

Biểu đồ 15 Cấu trúc mật độ các nhóm phân loại của Acarina,

Collembola, Microarthropoda khác ở đai cao 1000- 1600m

42

Biểu đồ 16 Tỷ lệ thành phần các nhóm phân loại của Acarina,

Collembola, Microarthropoda khác của tầng rêu ở đai cao

1000- 1600m

42

Biểu đồ 17 Tỷ lệ thành phần các nhóm phân loại của Acarina,

Collembola, Microarthropoda khác của tầng thảm lá ở đai cao

1000- 1600m

43

Biểu đồ 18 Tỷ lệ thành phần các nhóm phân loại của Acarina,

Collembola, Microarthropoda khác của tầng đất ở đai cao

1000- 1600m

43

Trang 7

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

Bảng 3 Cấu trúc mật độ và tỷ lệ thành phần của quần xã Chân

khớp bé theo tầng phân bố ở đai cao 600 – 1000m

Bảng 5 Cấu trúc mật độ và tỷ lệ thành phần của quần xã Chân

khớp bé theo tầng phân bố ở đai cao 1000 – 1600m

36

Bảng 6 Cấu trúc thành phần các nhóm phân loại của Acarina,

Collembola, Microarthropoda khác ở đai cao 1000 – 1600m

41

Trang 8

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

DANH MụC HìNH

Hình 1 Vườn Quốc gia Xuân Sơn, Phú Thọ 16

kí hiệu viết tắt Oribatei : O

Trang 9

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Thế giới sinh vật rất đa dạng và phong phú, chúng bao gồm đại diện của hầu hết các ngành động vật không xương sống, từ đơn bào tới đa bào và đại diện của một số lớp động vật có xương sống, v.v

Động vật sống trong đất có số lượng và sinh khối lớn, chiếm hơn 90% tổng sinh khối sinh vật cạn và 50% tổng số loài động vật trên trái đất

Động vật đất có vai trò quan trọng trong tự nhiên, là thành phần không thể thay thế trong các quá trình sinh học xảy ra trong đất và trong sinh quyển nói chung.Việc nghiên cứu sinh vật đất có ý nghĩa quan trọng đối với việc tìm hiểu các đặc tính sinh học của đất và sự đa dạng của thế giới sinh vật nói chung vì:

Nhóm động vật đất tham gia vào mọi chu trình tự nhiên và quyết định nhiều hoạt tính sinh học của môi trường nơi chúng sống Chúng có quan hệ mật thiết đến các quá trình tạo đất và làm gia tăng độ phì, cải tạo và bảo vệ môi trường đất

Nhóm động vật đất chiếm hơn 90% tổng sinh lượng hệ sinh vật ở cạn và hơn 50% tổng số sinh vật đất trên trái đất nên chúng là thành phần quan trọng tạo nên tính đa dạng của sinh giới

Đất là môi trường nuôi dưỡng và phát tán của nhiều nhóm kí sinh trùng

và nguồn bệnh vì thế nhiều động vật đất có vai trò như vectơ lan truyền hay yếu tố ngăn chặn sự lây lan của chúng qua môi trường này

Trong thành phần hệ động vật không xương sống ở đất, nhóm Chân khớp bé (Microarthopoda) với kích thước cơ thể nhỏ bé (từ 0,1- 0,2 đến 2-3 cm) thường chiếm ưu thế về số lượng so với các nhóm khác Hai đại diện

Trang 10

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

với số lượng đáng kể, còn có đại diện thuộc nhóm động vật không xương sống khác như: Nhiều chân (Myriapoda), Đuôi nguyên thuỷ…chúng tham gia tích cực vào quá trình sinh học đất, quá trình vận chuyển năng lượng và vật chất, trong quá trình làm sạch đất khỏi các ô nhiễm chất thải (hữu cơ, vô cơ), chất phóng xạ [6]

Nhiều thực nghiệm đã chứng minh rằng Microarthropoda là những

động vật rất nhạy cảm với sự thay đổi của các yếu tố môi trường như: nhiệt độ,

pH, hàm lượng các chất khoáng, lượng mùn, đặc điểm cấu tạo đất [10]

Như vậy, trong hệ động vật đất, Chân khớp bé là nhóm có vai trò quan trọng Chúng không những tham gia vào vòng tuần hoàn vật chất, có vai trò như một yếu tố chỉ thị sinh học môi trường và chỉ thị nhiều đặc tính cũng như tính chất lý hoá của môi trường đất mà còn làm tăng tính đa dạng sinh học của giới sinh vật

Từ những nhận xét về vai trò, tầm quan trọng của nhóm động vật Chân khớp bé trong khoa học và ứng dụng thực tiễn, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu về quần xã động vật Chân khớp bé

Vườn Quốc gia Xuân Sơn là một trong những khu vực còn giữ được các

hệ sinh thái rừng tự nhiên ở trạng thái bảo tồn, còn nhiều nét hoang sơ, ít bị

sự tác động của con người Tuy đã có một số công trình nghiên cứu về khu hệ

động thực vật (thú, chim, bò sát, lưỡng cư, hệ thực vật…) nhưng có rất ít các công trình nghiên cứu về động vật đất ở khu vực này.Việc nghiên cứu đầy đủ các nhóm động vật (trong đó có động vật đất) góp phần cung cấp những dữ liệu khoa học, phục vụ cho công tác dự báo, kiểm soát, quản lý và khai thác bền vững tài nguyên môi trường đất

Với tất cả các lý do trên, tôi đã chọn đề tài:

“Cấu trúc mật độ và tỷ lệ thành phần các nhóm Chân khớp bé (Microarthropoda) ở đai cao của Vườn Quốc gia Xuân Sơn - Phú Thọ”

Trang 11

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

2 Mục đích của đề tài

Bước đầu nghiên cứu đặc điểm cấu trúc mật độ và tỷ lệ thành phần của quần xã Chân khớp bé, các nhóm phân loại của Acarina, Collembola, Microarthropoda khác theo các tầng phân bố ở sinh cảnh rừng tự nhiên vườn Quốc gia Xuân Sơn, Phú Thọ

Bước đầu làm quen với nghiên cứu khoa học, xây dựng lòng say mê học tập, làm tiền đề cho phục vụ giảng dạy và nghiên cứu sau này

3 Nội dung của đề tài

Lập bảng số lượng, thành phần % các nhóm của quần xã Chân khớp bé (bao gồm: Acarina, Collembola và Microarthropoda khác)

Lập bảng số lượng, thành phần % các nhóm phân loại của Acarina, Collembola và Microarthropoda khác

Nhận xét về sự phân bố của quần xã Chân khớp bé và các nhóm phân loại của Acarina, Collembola và Microarthropoda khác theo các tầng phân bố

ở các đai cao khác nhau

Trang 12

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

CHương 1 Tổng quan tài liệu

1.1 Tình hình nghiên cứu Chân khớp bé trên thế giới

Vào những năm 40-50 của thế kỷ XX, một bộ môn khoa học sinh học mới, khoa học sinh thái đất được hình thành như một chuyên ngành khoa học riêng Sinh thái đất là bộ môn khoa học nghiên cứu các nhóm sinh vật sống trong đất cùng với các hoạt động và sự tương hỗ của chúng, nằm trong mối liên quan chặt chẽ với môi trường sống Khoa học về sinh thái đất ngày càng phát triển mạnh mẽ và đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác nhau Việc nghiên cứu sinh vật đất giúp ta có thêm những hiểu biết về tác dụng của chúng đối với môi trường đất thông qua hoạt

động của chúng Đặc biệt trong cấu trúc hệ động vật đất thì nhóm động vật Chân khớp bé (Microarthropoda) là nhóm có vai trò rất quan trọng có thể là chỉ thị sinh học của môi trường đất nên chúng ngày càng được quan tâm nghiên cứu

Microarthropoda với 2 đại diện chủ yếu là: Ve bét và Bọ nhảy cũng như các động vật đất khác đã được biết đến từ lâu, cách đây hàng trăm năm Tuy nhiên, những bước đầu nghiên cứu về chúng vẫn còn lẻ tẻ, chỉ phát triển mạnh trong vài chục năm gần đây

Tiêu biểu là hai công trình nghiên cứu về khu hệ Bọ nhảy đã được coi là cơ bản và đầy đủ nhất là “ Khu hệ Bọ nhảy ở Châu Âu” của Gisin, 1960 và “

Bọ nhảy Ba Lan trong mối liên hệ với khu Bọ nhảy thế giới” của Stach,

1947-1963 [6]

Không chỉ dừng lại ở các công trình nghiên cứu về phân loại học Collembola mà còn rất nhiều các tác giả đi sâu nghiên cứu về sinh thái học, sinh học của Collembola hay ảnh hưởng của môi trường lên Collembola Đặc biệt hiện nay, khi công nghiệp, nông nghiệp, phát triển mạnh môi trường càng

Trang 13

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

sâu, thuốc diệt cỏ, phân vô cơ thì chỉ có một số ít loài có khả năng tồn tại

được [13], [14]

Khi nghiên cứu về vai trò phân huỷ thảm vụn thực vật của Bọ nhảy, Simonov (1984) đã chứng minh sự tham gia của Collembola trong phân huỷ lá rụng ở điều kiện thí nghiệm đã làm tăng cao chất lượng của mùn [1]

Nhiều tác giả Edwards, Heath, 1963; Witcamp, Grossky, 1966, Cykaskenly,

1978, đã xác nhận rằng: Tốc độ phân huỷ xác vụn thực vật có thể đạt tới hàng chục phần trăm, tức là cao hơn một ít sự đóng góp riêng của Collembola vào hệ thống năng lượng nhờ ảnh hưởng của chúng thông qua các quá trình phân huỷ vi sinh vật [8], [10]

Trong những năm gần đây, có nhiều hội nghị khoa học Quốc tế (Hội nghị Quốc tế về động vật đất họp tại Aske Budejovice, tháng 7 năm 1990; Hội nghị Quốc tế về động vật đất lần thứ 11, tại Jyvaskyla- Phần Lan tháng 8 năm 1992…), nhiều tạp chí chuyên ngành công bố và đăng khá nhiều các báo cáo

về các nhóm Chân khớp bé (Collembola, Acarina…), chủ yếu khai thác theo hướng sử dụng chúng như những chỉ thị sinh học cập nhật trong vấn đề khôi phục và bảo vệ độ phì nhiêu của đất, kiểm soát và bảo vệ môi trường đất, ngăn chặn sự phá hoại bởi các hoạt động nhân tác dưới mọi hình thức khác nhau, hoặc sử dụng chúng như một trong những tác nhân sinh học, cải tạo nâng cao chất lượng môi trường đất [6]

Có thể thấy lịch sử nghiên cứu Microarthropoda đã có từ rất lâu trên thế giới và được nghiên cứu một cách có hệ thống cả về khu hệ, sinh học sinh thái

và vai trò chỉ thị Nhưng ở Việt Nam thì hướng nghiên cứu về nhóm này mới chỉ bắt đầu trong thời gian gần đây

1.2 Tình hình nghiên cứu Chân khớp bé ở Việt Nam

Trên thế giới Microathropoda được nghiên cứu từ rất sớm nhưng ở Việt Nam mới bắt đầu nghiên cứu từ những năm 30 của thế kỉ XX, ban đầu chỉ là những nghiên cứu lẻ tẻ của các tác giả nước ngoài khi kết hợp với các nhóm

Trang 14

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

sinh vật khác Sau này chúng được nghiên cứu kĩ và có quy mô ở nhiều sinh cảnh khác nhau bởi nhóm nghiên cứu của Vũ Quang Mạnh, Nguyễn Trí Tiến, Vương Thị Hoà, Đào Duy Trinh, Nguyễn Thị Thu Anh… các công trình nghiên cứu này được tiến hành trên các khu vực trải dài khắp từ Bắc vào Nam Các kết quả nghiên cứu của các tác giả trên đã được công bố ở một số hội nghị, hội thảo trong nước và quốc tế cũng như trên các tạp chí chuyên ngành [1], [4], [8], [9], [13]

Công trình đầu tiên là của Dennis và Delamare- Debouttelville công bố năm 1948, đã mô tả một số loài Collembola thu thập ở Đà Nẵng, Nha Trang, Tây Nguyên [9]

Cùng năm đó, Dennis đã đưa ra danh sách 17 loài Collembola ở Việt Nam do Dawidoff thu thập ở các địa phương: Vĩnh Phúc, Đắc lắc, Đà Lạt, Đà Nẵng…

Tiếp theo đó là công trình Bọ nhảy ở SaPa của Stach (1965) ông đã đưa

ra danh sách gồm 30 loài thuộc 9 họ, 22 giống trong đó có 20 loài mới cho khu hệ Việt Nam và 10 loài mới cho khoa học Dẫn liệu này được công bố trong công trình “Một vài loài Collembola ở Bắc Việt Nam” in bằng Tiếng Anh Zirô Yosii- nhà phân loại học người Nhật Bản, khi nghiên cứu khu hệ Collembola ở một số nước vùng Đông Nam á (Inđonexia, Singapo ) cũng đã

đề cập đến một vài loài có phân bố ở Việt Nam [9]

Trước năm 1975, khu hệ Oribatei Việt Nam đã được các tác giả nước ngoài nghiên cứu Nhưng chỉ ở mức độ các thông báo tản mạn về loài mới, thành phần loài ở từng khu vực nhất định [5], [9] chứ chưa đánh giá được vai trò của chúng như một thành phần không thể thiếu trong cấu trúc dinh dưỡng

và chu trình luân chuyển vật chất của các quần lạc sinh vật cạn

Từ năm 1975, các nhà nghiên cứu về nhóm Microarthropoda và các nhóm động vật không xương sống khác ở đất mới bắt đầu được các tác giả Việt Nam tiến hành khá đồng bộ, trên một số địa điểm của đất nước Đặc biệt

Trang 15

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

trong những năm gần đây, các công trình nghiên cứu được thực hiện tập trung chủ yếu vào một số vườn Quốc Gia (VQG), khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) hoặc một số vùng miền, khu vực khác nhau, trải dài từ Bắc đến Nam như: VQG Tam Đảo, VQG Cát Tiên (2002 – 2004), VQG Cát Bà (2005 -2006), VQG Ba Bể (2002), KBTTN Na Hang, Tuyên Quang (2002 -2003), KBTTN

Đakrong, Quảng Trị (2002- 2003), KBTTN Thượng Tiến, Hòa Bình (2005), khu vực miền Trung

Mặc dù thời gian nghiên cứu chưa nhiều, nhưng đến nay đã thu được những kết quả đáng chú ý Có thể kể đến một số công trình luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ khoa học và Tiến sĩ chuyên ngành như:

Đầu tiên là công trình nghiên cứu của Vũ Quang Mạnh (1980) về thành phần, phân bố và số lượng của các nhóm Microarthropoda ở một số kiểu hệ sinh thái đồng bằng Sông Hồng và rừng nhiệt đới Trong công trình này tác giả cũng đã nghiên cứu về ảnh hưởng của một số nhân tố tự nhiên chính đã

ảnh hưởng tới sự phân bố và sự biến động số lượng của hai nhóm Acarina và Collembola ở đất

Tiếp theo là hàng loạt các nghiên cứu của nhiều tác giả nhằm đề xuất phương pháp nghiên cứu, xác định mật độ, thành phần loài, khu hệ (chủ yếu là nhóm Acarina và Collembola) ở một số vùng địa lý, loại đất và kiểu hệ sinh thái của Việt Nam

Năm 1989, Vũ Quang Mạnh nghiên cứu thành phần loài, quy luật phân bố, số lượng cá thể và sự ảnh hưởng của một số yếu tố tự nhiên và nhân tác chính tới cơ chế hình thành cấu trúc các quần lạc Oribatei ở miền Bắc Việt Nam và đã xác định được 73 loài Oribatei trong đó có 7 loài mới cho khoa học, 53 loài mới cho khu hệ Oribatei Việt Nam [11]

Năm 1990, Vũ Quang Mạnh đã tổng kết tất cả các công trình nghiên cứu về Chân khớp bé ở Việt Nam cho tới thời điểm đó Tác giả đã đưa ra những kết luận về thành phần, đặc điểm phân bố và số lượng Chân khớp bé,

Trang 16

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

nêu một số quy luật sinh thái quyết định sự hình thành cấu trúc định tính và cấu trúc định lượng của quần xã Oribatei ở đất Tác giả còn dẫn ra một danh sách 117 loài Oribatei đã biết ở Việt Nam, cùng với các đặc điểm phân bố của chúng theo vùng địa lý, theo loại đất và theo hệ sinh thái [5]

Vũ Quang Mạnh, Vương Thị Hoà (1995) đã giới thiệu danh sách 146 loài và phân loài Oribatei ở Việt Nam và phân tích đặc điểm thành phần loài của chúng [7]

Năm 2002: Vũ Quang Mạnh, Vương Thị Hoà có nhận xét cấu trúc quần xã Ve Giáp ở hệ sinh thái đất có liên quan rõ rệt với sự suy giảm của cây gỗ rừng Nó có thể được xem xét và đánh giá như một đặc điển sinh học, chỉ thị quá trình diễn thế của thảm rừng Tam Đảo nói riêng và của Việt Nam nói chung

Cùng với những công trình nghiên cứu về Acarina, các nghiên cứu về Collembola cũng được thực hiện

Năm 1995, công trình “Một số đặc điểm cấu trúc của Bọ nhảy (Collembola) ở các hệ sinh thái Bắc Việt Nam” là sự tổng kết kết quả nghiên cứu đồng bộ cả về khu hệ sinh thái Bọ nhảy trong thời gian gần 15 năm của Nguyễn Trí Tiến đã hoàn thành Trong thời gian 1995 – 2005, Nguyễn Trí Tiến đã mô tả và công bố 28 loài Bọ nhảy mới cho khoa học, bổ sung hàng trăm loài cho khu hệ Bọ nhảy Việt Nam Đồng thời, phân tích các đặc điểm sinh thái và phân bố của Bọ nhảy theo dải độ cao, theo loại đất, theo kiểu hệ sinh thái, lập bảng phân loại 4 nhóm Bọ nhảy Phân tích mối quan hệ của Bọ nhảy với các nhóm động vật không xương sống khác ở đất, tác giả đã sử dụng Collembola như một công cụ kiểm tra sinh thái khi đánh giá chất lượng đất và như chỉ thị sinh học tốt để đánh giá mức độ tác động của con người đến môi trường đất và mức độ ô nhiễm đất bởi các yếu tố ngoại cảnh [11]

Trang 17

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

Đồng thời với việc nghiên cứu phân loại Ve bét, Bọ nhảy, trong những năm gần đây, cũng đã có nhiều tác giả tập trung nghiên cứu đặc điểm sinh thái học và vai trò chỉ thị của Chân khớp bé Cụ thể:

Về vai trò chỉ thị sinh học của Chân khớp bé thì bước đầu đã nghiên cứu

ảnh hưởng của một số yếu tố như: pH, chất độc Đioxin, một số hoá chất bảo

vệ thực vật sử dụng trong sản xuất nông nghiệp, phân bón hữu cơ, một số phương thức canh tác, sử dụng đất, lớp thảm phủ thực vật [3], [4], [12], [13], [14],

Trên cơ sở phân tích các phản ứng của Bọ nhảy, thể hiện qua sự biến

đổi các giá trị chỉ số định lượng: Thành phần và số lượng loài, tỉ lệ các nhóm

ưu thế độ phong phú và chỉ số đa dạng, chỉ số đồng đều, chỉ số tương đồng về thành phần loài các tác giả đã đưa ra những nhận xét, đánh giá về nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của yếu tố môi trường đến Bọ nhảy đến chất lượng

đất nơi nghiên cứu và đề xuất việc sử dụng Bọ nhảy như một công cụ kiểm tra sinh thái khi đánh giá chất lượng đất nơi nghiên cứu và như chỉ thị sinh học nhạy cảm để đánh giá mức độ tác động của con người đến môi trường đất nước, tình trạng ô nhiễm, thoái hoá đất bởi các yếu tố ngoại cảnh [11]

Năm 2005, Vương Thị Hoà và các cộng sự đã nghiên cứu ảnh hưởng của một số thuốc sử dụng trong nông nghiệp như: Shachong Shuang 200SL, Butavi 60EC lên cấu trúc quần xã động vật Chân khớp bé Microarthropoda đã cho thấy: chỉ với 50ml cộng với khoảng 10 -20 lít nước cũng gây ảnh hưởng rất nhiều tới số lượng của nhóm Microarthropoda Đồng thời cho thấy trong

điều kiện thời tiết khác nhau, kể cả tác động của hai loại thuốc trên thì nhóm Oribatei luôn chiếm tỷ lệ cao nhất trong cấu trúc của nhóm Microarthropoda

Năm 2006, Vũ Quang Mạnh, Đào Duy Trinh đã nghiên cứu Ve giáp trong cấu trúc của nhóm Chân khớp bé Microarthropoda ở các đai cao địa lý của Vườn Quốc gia Xuân Sơn, Phú Thọ, kết quả cho thấy: ảnh hưởng của thời

Trang 18

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

tiết lên sự phân bố của nhóm Microarthropoda theo tầng là rất cao và phát hiện

được 8 họ [8]

Vẫn còn nhiều các công trình nghiên cứu, các báo cáo khoa học về Microarthropoda đang và đã được thực hiện và đạt được những kết quả đáng chú ý Tuy nhiên, những kết quả đã đạt được mới chỉ là những kết quả bước

đầu mang tính chất thăm dò định hướng, vẫn còn nhiều hạn chế và nhiều điều chưa biết đến Để thực sự hiểu được một cách thấu đáo ý nghĩa vai trò của Microarthropoda trong môi trường đất và khai thác những mặt tích cực của chúng để ứng dụng vào thực tiễn, phục vụ con người thì còn phải tích cực đẩy mạnh việc nghiên cứu chúng trong tương lai

Trang 19

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

Chương 2 Đối tượng, thời gian, địa điểm và

phương pháp nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Chân khớp bé thuộc ngành Chân khớp (Arthropoda) sống trong môi trường đất, với các đại diện chính: Acarina thuộc lớp Hình nhện (Arachnida), Collembola thuộc phân lớp Không cánh nguyên thuỷ (Apterygota) và một số Chân khớp bé khác: Nhiều chân (Myriapoda), Chân đều (Isopoda), Nhện (Aranei), Côn trùng và ấu trùng côn trùng (Insecta, Larva)…(Theo Thái Trần Bái, 1998) [3]

2.2 Thời gian nghiên cứu

Thu mẫu tại vườn Quốc gia Xuân Sơn vào ngày 25/05/2008 Việc xử lý mẫu thu từ thực địa được thực hiện trong phòng thí nghiệm của phòng Động vật Trường ĐH Sư Phạm Hà Nội 2

2.3 Địa điểm nghiên cứu

Các đợt thực địa thu mẫu được thực hiện tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn, Phú Thọ Mẫu được thu ở sinh cảnh rừng tự nhiên trên các đai cao khí hậu khác nhau (300- 600m, 600-1000m, 1000-1600m) với tổng 45 mẫu định lượng Mỗi đai cao tiến hành thu 15 mẫu ở các tầng: rêu, thảm lá, tầng đất (sâu từ 0– 10cm)

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp lấy mẫu ở thực địa

Mẫu đất được thu từ độ sâu 0 – 10 cm (từ mặt đất) với kích thước mỗi mẫu là (5x5x10) cm Mẫu thảm lá (tầng 0): Thu tất cả các thảm lá, vụn lá trên mặt đất với kích thước (20 x 20) cm Mẫu rêu thu ở độ cao từ 0 – 100 cm (từ mặt đất): thu tất cả các thảm rêu từ độ cao 0 – 100 cm trên thân cây hay quanh gốc cây, với mỗi mẫu có trọng lượng từ 250g đến 500g

Trang 20

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

Các mẫu định lượng của đất, lá, rêu đều được thu lặp lại 5 lần cho mỗi

đợt điều tra và cho vào túi polyetylen, bên trong có ghi đầy đủ các thông số: ngày tháng, địa điểm, kiều sinh cảnh… và buộc chặt

Trong khi thu mẫu, còn mang theo sổ thực địa ghi nhật kí thu mẫu

2.4.2 Phương pháp tách lọc mẫu động vật

Các mẫu đất sau khi thu ở thực địa về, chúng tôi tiến hành tách Chân khớp bé ra khỏi đất theo phương pháp phễu lọc "Berlese - Tullgren" dựa theo tập tính hướng đất dương và hướng sáng âm của động vật đất [16]

Dụng cụ lọc mẫu gồm có:

- Rây lọc: Hình trụ, thành là vành kim loại, đường kính 15 cm, cao 4cm, lưới lọc bằng sợi nilon, kích thước mắt lưới 1.5x1.5mm

- Phễu lọc: Bằng thuỷ tinh, cao 30cm, đường kính miệng là 18cm,

- Mẫu đất được rải đều lên rây lọc, rây để lên phễu được đặt trên giá,

đáy phễu có gắn ống nghiệm nhỏ có chứa formon và đựng nhãn Các mẫu bị khô dần từ lớp mặt và Chân khớp bé chui dần xuống lớp sâu hơn, chui qua lưới lọc, rơi vào phễu và trượt theo thành bình rơi vào ống nghiệm

- Sau 7 ngày đêm, thu các ống nghiệm nhỏ gắn dưới đáy phễu lại, dùng bông không thấm nước nút kín ống nghiệm và dùng dây chun bó các ống nghiệm cùng tầng và cùng sinh cảnh với nhau rồi cho vào lọ nhựa có chứa formon, có nhãn chung để khi phân tích không bị hỏng mẫu và nhầm lẫn [16]

Trang 21

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

2.4.3 Xử lý, phân tích mẫu và số liệu

Đặt giấy lọc có chia ô lên phễu lọc, đổ dung dịch có chứa trong ống nghiệm lên tờ giấy lọc đó Tráng lại nhiều lần bằng nước cất để tránh sót mẫu Sau khi đã lọc hết nước, đặt các tờ có chứa mẫu vào đĩa petri và tiến hành phân tích dưới kính hiển vi Dùng kim phân tích nhặt từng cá thể động vật để tập trung lại một góc của đĩa petri, nhận dạng và ghi số lượng từng nhóm vào

sổ nhật ký phòng thí nghiệm Tất cả các mẫu phân tích sau khi được ThS.Đào Duy Trinh kiểm tra, sẽ được cho vào ống nghiệm nhỏ có chứa dung dịch định hình, trong có nhãn ghi địa điểm, thời gian, sinh cảnh tầng đất rồi nút bằng bông không thấm nước

Trong khi phân tích mẫu, chúng tôi đã tách riêng một số nhóm động vật

và tính toán số lượng của từng nhóm, cụ thể như sau:

Với Acarina, chúng tôi tách ra 4 nhóm phân loại:

- Oribatei (kí hiệu là: O)

- Gamasina (kí hiệu là: G)

- Uropodina (kí hiệu là: U)

- Acarina khác ( bao gồm các nhóm Ve bét còn lại, ngoài 3 nhóm trên, kí hiệu là: A#)

Với Collembola, chúng tôi tách ra 3 nhóm phân loại:

Trang 22

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

Số liệu trong các bảng đã được tính toán, quy ra tính mật độ trung bình của từng nhóm trên 1m2 (hay số lượng cá thể trung bình/m2) đối với mẫu đất, mẫu thảm lá và mật độ trung bình của từng nhóm trên 1kg (hay số lượng cá thể trung bình/kg) đối với mẫu rêu

2.5 Vài nét về điều kiện tự nhiên của vùng nghiên cứu

2.5.1 Vị trí địa lý, địa hình, đất đai

Vườn Quốc gia Xuân Sơn có tổng diện tích là 15048 ha, trong đó khu bảo vệ nghiêm ngặt 11148 ha, phân khu phục hồi sinh thái: 3000 ha và 900 ha dành cho phân khu hành chính, dịch vụ [15]

Vườn Quốc gia Xuân Sơn nằm chủ yếu trên địa bàn xã Xuân Sơn, thuộc huyện Thanh Sơn của tỉnh Phú Thọ, tiếp giáp với hai tỉnh Hoà Bình và Sơn La

Có toạ độ địa lý 2105 – 21011 vĩ độ Bắc, 104050 – 104058 kinh độ Đông [15]

Vườn Quốc gia Xuân Sơn nằm ở cuối dãy núi Pulông, với khoảng 40% tổng diện tích đất đai phân bố độ cao trên 700 m Phía Tây Bắc khu bảo tồn thiên nhiên là dãy núi cấm, với đỉnh cao khoảng 1140 m, còn phía Tây Nam là dãy núi Voi với hai đỉnh Voi và Ten, tương ứng cao khoảng 1390 m và 1250

m, dọc Đông Bắc là dãy núi đất, nằm cao trung bình 0 – 700 m, với hai hệ thống sông suối chính là Thanh và Chiềng [15]

Trang 23

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

2.5.3 Tài nguyên sinh vật

Rừng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với môi trường sống của con người ở Việt Nam, rừng nhiệt đới đa dạng và phong phú Đây là một kho tài nguyên sinh vật quý báu chứa một hệ sinh vật vô cùng phong phú gồm nhiều loại động vật, thực vật quý hiếm trong đó có hệ động vật đất Đặc biệt Vườn Quốc gia Xuân Sơn cũng mang nhiều đặc điểm của rừng nhiệt đới Việt Nam,

có nhiều thuận lợi cho quá trình phát triển của sinh vật [15]

Vườn Quốc gia Xuân Sơn tuy có diện tích không lớn, nhưng có mức độ

đa dạng cao cả về hệ động vật và thực vật

Các kết quả nghiên cứu về khu hệ động, thực vật của vườn cho thấy:

- Hệ thực vật nơi đây có 465 loài bậc cao thuộc 311 chi,105 họ với nhiều loài quý hiếm và có giá trị kinh tế cao: lát, sến mật, chò chỉ, nghiến, củ dòm, rau sắng, dây ngót, rùng [15]

- Hệ động vật có 282 loài động vật có xương sống, trong đó có 23 loài lưỡng cư, 30 loài bò sát, 168 loài chim và 61 loài thú Có 46 loài quý hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam và 18 loài có tên trong sách đỏ thế giới [15]

2.5.4 Điều kiện kinh tế - xã hội

Điều kiện kinh tế xã hội, văn hoá và giáo dục của cộng đồng dân cư tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn có 5 xóm với 181 hộ, 1.039 người ở, 2 dân tộc Mường và Dao Nhìn chung, điều kiện kinh tế xã hội các xã vùng đệm còn lạc hậu, nghèo nàn, diện tích nông nghiệp ít, đời sống người dân còn rất nhiều khó khăn [15]

Như vậy, với số lượng loài thực vật và động vật rất phong phú và đa dạng, Vườn Quốc gia Xuân Sơn quả là một bảo tàng tự nhiên vô giá Do đó chúng tôi đã lựa chọn địa điểm này, đặc biệt là đai cao địa lý (thuộc núi Ten)

để nghiên cứu

Trang 24

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

Hình 1 Vườn Quốc gia Xuân Sơn, Phú Thọ [15]

Trang 25

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

Chương 3 kết quả nghiên cứu

3.1 Cấu trúc mật độ và tỷ lệ thành phần của quần xã Chân khớp bé theo tầng phân bố ở đai cao 300-600m

3.1.1 Cấu trúc mật độ và tỷ lệ thành phần của quần xã Chân khớp bé 3.1.1.1 Cấu trúc mật độ

Bảng 1 và biểu đồ 1 là các số liệu về cấu trúc mật độ của quần xã Chân khớp bé ở đai cao 300- 600m bao gồm: Acarina, Collembola và Microarthropoda khác Qua bảng 1 và biểu đồ 1 ta nhận thấy:

ở tầng rêu: Trong tổng số Microarthropoda (8263 cá thể/kg), Acarina chiếm số lượng cao nhất (4302 cá thể/kg), sau đó là Microarthropoda khác (2943 cá thể/kg), thấp nhất là Collembola (1018 cá thể/kg)

ở tầng thảm lá: Trong tổng số Microarthropoda (1970 cá thể/m2), Acarina chiếm số lượng cao nhất (950 cá thể/m2), sau đó là Microarthropoda khác (590 cá thể/m2), thấp nhất là Collembola (430 cá thể/m2)

ở tầng đất: Trong tổng số Microarthropoda (10520 cá thể/m2), nhóm Microarthropoda khác chiếm số lượng cao nhất (9360 cá thể/m2) chứ không phải như tầng thảm lá và tầng rêu, sau đó là Acarina (760 cá thể/m2), thấp nhất là Collembola (400 cá thể/m2)

3.1.1.2 Tỷ lệ thành phần

Bảng 1 và biểu đồ 2 là các số liệu về tỷ lệ thành phần của quần xã Chân khớp bé Qua bảng 1 và biểu đồ 2 cho ta thấy:

ở tầng rêu: Acarina chiếm tỷ lệ cao nhất (52,1%), sau đó là Microarthropoda

khác (35,6%), thấp nhất là Collembola (12,3%)

ở tầng thảm lá: Acarina vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất (48,2%), sau đó là

Microarthropoda khác (30%) và thấp là Collembola (21,8%)

Trang 26

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

ở tầng đất: Nhóm Microarthropoda khác lại là nhóm chiếm tỷ lệ cao

nhất (89%), sau đó là Acarina (7,2%) và thấp nhất là Collembola (3,8%)

3.1.1.3 Nhận xét

Nhóm Acarina chiếm ưu thế cả về số lượng và tỷ lệ thành phần ở cả tầng rêu và tầng thảm lá (dao động từ 48,2% đến 52,1%) ở tầng đất thì Acarina chiếm số lượng và tỷ lệ thành phần ít (7,2%)

Nhóm Collembola: ở cả 3 tầng đều chiếm số lượng và tỷ lệ thành phần nhỏ nhất so với 2 nhóm còn lại (chỉ dao động từ 3,8% đến 21,8%)

Nhóm Microarthropoda khác: Phân bố tương đối đều nhau ở cả 2 tầng rêu và thảm lá có số lượng và tỷ lệ thành phần gần bằng nhau (30% và 35,6%) Riêng ở tầng đất: Microarthropoda khác chiếm tỷ lệ cao (89%)

Bảng 1 Số lượng và tỷ lệ thành phần của quần xã Chân khớp bé theo

tầng phân bố ở đai cao 300- 600m

Các nhóm

Chân khớp

bé Tầng phân bố

Acarina Collembola Microarthropda

Trang 27

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

0 2000

Acarina Collembola Microathropoda khác Tổng

Biểu đồ 1 Cấu trúc mật độ của quần xã Chân khớp bé ở đai cao 300 - 600m

Acarina Collembola Microarthropoda khác

Biểu đồ 2 Tỷ lệ thành phần của quần xã Chân khớp bé ở đai cao 300-600m

Trang 28

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

3.1.2 Cấu trúc mật độ và tỷ lệ thành phần các nhóm phân loại của Acarina, Collembola, Microarthropoda khác

3.1.2.1 Cấu trúc mật độ

Kết quả phân tích đặc điểm cấu trúc các nhóm phân loại của Acarina, Collembola, Microarthropoda khác được trình bày ở bảng 2 và biểu đồ 3 cho thấy:

ở tầng rêu: Trong tổng số 4302 cá thể Acarina/kg, nhóm O chiếm số

lượng cao nhất (3038 cá thể/kg), sau đó số lượng giảm dần theo thứ tự : nhóm

G (905 cá thể/kg)  nhóm A# (259 cá thể/kg), thấp nhất là U (100 cá thể/kg)

Trong tổng số 1018 cá thể Collembola/kg, nhóm E có số lượng cao nhất (533 cá thể/kg), sau đó là P (356 cá thể/kg), thấp nhất là S (129 cá thể/kg) Trong tổng số 2943 cá thể Microarthropoda khác/kg, nhóm Atct có số lượng cao nhất (2828 cá thể/kg) Ba nhóm còn lại chiếm số lượng không đáng kể, với số lượng giảm dần theo thứ tự : nhóm N (67 cá thể/kg)  nhóm Cđ (32 cá thể/kg) nhóm Nc (16 cá thể/kg)

ở tầng thảm lá: Với 950 cá thể Acarina/m2, nhóm G có số lượng cao nhất (390 cá thể/m2), sau đó số lượng giảm dần theo thứ tự: nhóm O (320 cá thể/m2)  nhóm A# (235 cá thể/m2), thấp nhất là U (5 cá thể/m2)

Với 430 cá thể Collembola/m2, nhóm E có số lượng cao nhất (250 cá thể/m2), tiếp đó là nhóm S (145 cá thể/m2), thấp nhất là P (35 cá thể/m2)

Với 590 cá thể Microarthropoda khác/m2, nhóm Atct có số lượng cao nhất (585 cá thể/m2), nhóm N chiếm số lượng rất ít (5 cá thể/m2) Nhóm Cđ và

Nc không có mặt ở tầng này

ở tầng đất: Trong tổng số 760 cá thể Acarina/m2, nhóm G vẫn là nhóm

có số lượng cao nhất (480 cá thể/m2), sau đó tới nhóm O (280 cá thể/m2), nhóm A# và nhóm U vắng mặt ở tầng này

Trang 29

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

Trong tổng số 400 cá thể Collembola/m2, nhóm có số lượng cao nhất là

E (240 cá thể/m2), sau đó là 2 nhóm P và S có số lượng bằng nhau, chỉ bằng 1/3 số lượng nhóm E (80 cá thể/m2)

Đối với các nhóm phân loại của Microarthropoda khác thì ở tầng đất này chỉ có nhóm Atct số lượng cao nhất (9360 cá thể/m2); ba nhóm N, Nc và Cđ vắng mặt ở tầng này

3.1.2.2 Tỷ lệ thành phần

Kết quả phân tích tỷ lệ thành phần các nhóm phân loại của Acarina, Collembola, Microarthropoda khác được trình bày ở bảng 2 và biểu đồ 4, 5, 6 cho ta thấy:

ở tầng rêu: Trong các nhóm phân loại của Acarina, nhóm O chiếm tỷ

lệ cao nhất (70,6%), sau đó giảm dần theo thứ tự: nhóm G (21%)  nhóm A#

(6%)  nhóm U (2,4%)

Trong các nhóm phân loại của Collembola, nhóm E chiếm tỷ lệ cao nhất (52,4%), sau đó là P (35%), thấp nhất là S (12,6%)

Trong các nhóm phân loại của Microarthropoda khác, nhóm Atct chiếm

tỷ lệ ưu thế nhất (96,1%) Ba nhóm còn lại chiếm tỷ lệ nhỏ, giảm dần theo thứ tự: nhóm N (2,3%)  nhóm Cđ (1,1%)Nhóm Nc (0,5%)

ở tầng thảm lá: Với các nhóm phân loại của Acarina, nhóm G chiếm

tỷ lệ cao nhất (41,1%), sau đó giảm dần theo thứ tự: nhóm O (33,7%)  nhóm

A# (24,7%)  nhóm U (0,5%)

Với các nhóm phân loại của Collembola, nhóm E chiếm tỷ lệ cao nhất (58,1%), sau đó là S (33,7%), thấp nhất là P (8,2%)

Với các nhóm phân loại của Microarthropoda khác, nhóm Atct chiếm tỷ

lệ ưu thế nhất (99,2%), sau đó nhóm N với tỷ lệ không đáng kể (0,8%) Hai nhóm Cđ và Nc không có mặt ở tầng thảm lá này

Trang 30

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

ở tầng đất: Với các nhóm phân loại của Acarina, nhóm G vẫn là nhóm

chiếm tỷ lệ cao nhất (63,2%), sau đó là nhóm O (36,8%) Hai nhóm U và A#

vắng mặt ở tầng này

Với các nhóm phân loại của Collembola, nhóm E chiếm tỷ lệ cao nhất (60%) Nhóm S và P có tỷ lệ bằng nhau và bằng 1/3 tỷ lệ của nhóm E (20%)

Với các nhóm phân loại của Microarthropoda khác: ở tầng đất này chỉ

có măt nhóm Atct (100%) Ba nhóm còn lại không xuất hiện

3.1.2.3 Nhận xét

Với nhóm Acarina: ở tầng rêu và tầng thảm lá có đủ 4 nhóm, riêng tầng

đất : chỉ có 2 nhóm O và G, vắng mặt nhóm A# và U ở cả 3 tầng, sự phân bố của Oribatei cũng khá lớn (36,8% đến 70,6%) Đặc biệt O chiếm ưu thế cao nhất là ở tầng rêu (70,6%) Ngược lại, ở tầng thảm lá và tầng đất thì sự ưu thế

đó thuộc về nhóm G (41,1% đến 63,2%) Nhóm A# và U chiếm số lượng và tỷ

lệ rất ít

Với nhóm Collembola: Sự phân bố của 3 nhóm phân loại ở cả 3 tầng là tương đối đều nhau Trong các nhóm phân loại của Collembola thì nhóm E chiếm ưu thế nhất về tỷ lệ thành phần ở cả 3 tầng (52,4% đến 60%) Nhóm P chiếm ưu thế ở tầng đất và tầng rêu (20% và 35%) so với tầng thảm lá (8,2%) Ngược lại, ở tầng thảm lá thì sự ưu thế thuộc về nhóm S (33,7%)

Với nhóm Microarthropoda khác: Nhóm Atct chiếm ưu thế nhất về cả số lượng và tỷ lệ thành phần ở cả 3 tầng (dao động 96,1% đến 100%) ở tầng rêu thì có đủ 3 nhóm còn lại với tỷ lệ rất nhỏ (Nc: 0,5%, N: 2,3%, Cđ: 1,1%) ở tầng thảm lá chỉ có sự có mặt của nhóm N (0,8%) Riêng tầng đất vắng mặt cả

3 nhóm Nc, N, Cđ

Trang 31

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

Bảng 2 Cấu trúc mật độ và tỷ lệ thành phần các nhóm phân loại của Acarina, Collembola, Microarthropoda khác

theo tầng phân bố ở đai cao 300- 600m

 Chú thích: O – Oribatei, G – Gamasina, U – Uropodina, P – Poduromorpha, E – Etomobryomorpha, S – Symphypleona, Cđ - Chân đều, Nc – Nhiều chân, N – Nhện, Atct – ấu trùng côn trùng

Trang 32

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

Biểu đồ 3 Cấu trúc mật độ các nhóm phân loại của Acarina, Collembola,

Microarthropoda khác ở đai cao 300- 600m

Acarina

O 70,6

%

U 2,4%

E 52,4%

S 12,6%

Microarthropoda khác

Atct 96,1%

N 2,3%

1,1%

Nc 0,5%

Biểu đồ 4 Tỷ lệ thành phần các nhóm phân loại của Acarina, Collembola,

Trang 33

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

Acarina

U

0,5%

O 33,7%

E 58,1%

P 8,2%

Microarthropoda khác

N 0,8%

Atct 99,2%

Biểu đồ 5 Tỷ lệ thành phần các nhóm phân loại của Acarina, Collembola, Microarthropoda khác của tầng thảm lá ở đai cao 300- 600m

Acarina

G

63,2%

O 36,8%

Collembola

E60%

S20%

P20%

Microarthropoda khác

Actc 100%

0%

Biểu đồ 6 Tỷ lệ thành phần các nhóm phân loại của Acarina, Collembola,

Trang 34

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp

3.2 Cấu trúc mật độ và tỷ lệ thành phần của quần xã Chân khớp bé theo tầng phân bố ở đai cao 600- 1000m

3.2.1 Cấu trúc mật độ và tỷ lệ thành phần của quần xã Chân khớp bé 3.2.1.1 Cấu trúc mật độ

Bảng 3 và biểu đồ 7 là các số liệu về cấu trúc mật độ của quần xã Chân khớp bé ở đai cao 600-1000m Qua bảng 3 và biểu đồ 7 ta nhận thấy:

ở tầng rêu: Trong tổng số Microarthropoda (1241 cá thể/kg), nhóm

Acarina chiếm số lượng cao nhất (715 cá thể/kg), sau đó là Microarthropoda khác (360 cá thể/kg), thấp nhất là Collembola (166 cá thể/kg)

ở tầng thảm lá: Trong tổng số Microarthropoda (1560 cá thể/m2), nhóm Acarina vẫn chiếm số lượng cao nhất (930 cá thể/m2), sau đó là Microarthropoda khác (540 cá thể/kg), thấp nhất là Collembola (90 cá thể/kg)

ở tầng đất: Trong tổng số Microarthropoda (4880 cá thể/m2), nhóm chiếm số lượng cao nhất là Acarina (1840 cá thể/ m2), tiếp đó là Collembola (1760 cá thể/m2), thấp nhất là Microarthropoda khác (1280 cá thể/m2)

3.2.1.2 Tỷ lệ thành phần

Kết quả phân tích ở bảng 4 và biểu đồ 8 cho ta thấy tỷ lệ thành phần của quần xã Chân khớp bé là:

ở tầng rêu: Acarina chiếm tỷ lệ cao nhất (57,6%), sau đó là Microarthropoda

khác (29%), thấp nhất là Collembola (13,4%)

ở tầng thảm lá: Acarina vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất (59,6%), sau đó là

Microarthropoda khác (34,6%), thấp nhất là Collembola (5,8%)

ở tầng đất: Tỷ lệ tương đối gần bằng nhau giữa các nhóm: Nhóm

Acarina vẫn là nhóm chiếm tỷ lệ cao nhất (37,7%), sau đó là Collembola (36,1%), thấp nhất là Microarthropoda khác (26,2%)

Ngày đăng: 31/10/2015, 06:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Số lượng và tỷ lệ thành phần của quần xã Chân khớp bé theo - Cấu trúc mật độ và tỷ lệ thành phần các nhóm chân khớp bé (microarthropoda) ở đai cao của vườn quốc gia xuân sơn phú thọ
Bảng 1. Số lượng và tỷ lệ thành phần của quần xã Chân khớp bé theo (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm