Nếu các biện pháp dự phòng có thể được thực hiện trong một khu vực nhất định, các chi phí về mặt vật chất, tài nguyên con người và môi trường có thể vượt quá những lợi ích mang lại... Ng
Trang 1Bài 1: Quyền và Môi trường
Trang 2Nguyên tắc chung của chính sách môi trường
1 Nguyên tắc phát triển bền vững
2 Nguyên tắc phòng ngừa
3 Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền
4 Nguyên tắc xử lý chất thải tại nguồn
5 Quyền môi trường trong hiến pháp
6 Bản chất kinh tế của các nguyên tắc môi
trường
7 Kết luận
Trang 3Nguyên tắc phát triển bền vững(1)
Định nghĩa phát triển bền vững là “phát triển đáp ứng những nhu cầu hiện tại nhưng không ảnh hưởng, gây tổn hại đến những khả năng
đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”
Thông qua kinh tế học bền vững: Một phát
triển bền vững sẽ đảm bảo đủ cho tất cả con
người sống hiện nay và các thế hệ tương lai
đầy đủ các chuẩn mực về sinh thái, kinh tế văn hóa-xã hội trong giới hạn chịu đựng của thiên nhiên và như vậy thực thi nguyên tắc công
bằng nội và ngoại thế hệ.
Trang 4hệ tương lai
Trang 5Nguyên tắc phát triển bền vững (3)
Nguyên tắc này nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong phạm vi những hạn chế của các nguồn tài nguyên bền vững cho tương lai.
Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu và nó phải
được thực hiện trong một thị trường chung tự
do với tỷ lệ việc làm cao, với mức độ bảo vệ
và cải thiện chất lượng môi trường cao.
Trang 6Nguyên tắc phòng ngừa (1)
Nguyên tắc này đòi hỏi một hoạt động phải được thực hiện để
ngăn chặn, hoặc kiểm soát những hành vi và hiện tượng có thể gây
tổn hại cho môi trường ở giai đoạn sớm.
Nguyên tắc này không ràng buộc pháp lý, nhưng chức năng như một hướng dẫn chính sách chung.
Một tổn thất có thể được ngăn chặn với chi phí thấp hơn nhiều so với sự mất mát của tổn thất đó.
Do vậy “Phòng bệnh hơn chữa bệnh” là một quy luật kinh tế.
Tuy nhiên xét về mặt kinh tế, công tác phòng ngừa không phải luôn luôn thích hợp hơn Các biện pháp phòng ngừa mở rộng có thể tốn kém hơn giá trị những thiệt hại đã được ngăn ngừa Nếu các biện pháp dự phòng có thể được thực hiện trong một khu vực nhất định, các chi phí về mặt vật chất, tài nguyên con người và môi trường có thể vượt quá những lợi ích mang lại.
Trang 7tư dựa trên tính toán chi phí - lợi ích có thể thực hiện
một cân bằng tương tự trên một cộng đồng hay trên một cấp độ xã hội.
Trang 8Nguyên tắc phòng ngừa (3)
• Liên kết các nguyên tắc ngăn ngừa với các nguyên tắc dự
phòng
• Nguyên tắc ngăn ngừa đi một bước xa hơn nguyên tắc
dự phòng, vì nguyên tắc ngăn ngừa cho rằng cần phải hành động như một sự ngăn chặn, nghĩa là không nên
đợi đến khi đã có bằng chứng khoa học không thể bàn
cãi về mối quan hệ nhân quả giữa một hoạt động cụ thể
và thiệt hại về môi trường
VD: Theo pháp luật môi trường quốc tế này, chúng ta cần
là phải có hành động hợp pháp để ngăn chặn các vấn đề
đe doạ môi trường như thủng tầng ôzôn và biến đổi khí
hậu, ngay cả khi không có sự chắc chắn mang tính khoa học
Trang 9Nguyên tắc phòng ngừa (4)
Tính lạc quan công nghiệp: Đó là một ngành công nghiệp gây ô
nhiễm nên được phép tiếp tục hoạt động trong trường hợp không chắc chắn chiếm ưu thế
Tính lạc quan công nghiệp từng là thái độ chiếm ưu thế ở nhiều
nước trong thế kỷ XX Niềm tin rằng lợi ích thông thường phải vượt hơn tác hại tiềm tàng của ngành công nghiệp đã được củng
cố.
Tính lạc quan công nghiệp đã mất vị trí thống trị, nhưng vẫn còn quan trọng Vì: hoạt động công nghiệp liên tục diễn ra với niềm tin rằng, lợi ích lớn hơn chi phí.
Mặt khác, sự cấm đoán và khống chế về chất độc hại, công nghệ sản xuất quá lỗi thời, v.v cũng thường xuyên xảy ra.
Do đó, nguyên tắc ngăn ngừa thường được sử dụng trong luật môi
trường của các quốc gia trong quá trình thiết lập tiêu chuẩn.
Điều này thường dẫn đến áp đặt các tiêu chuẩn xả thải chặt chẽ hơn để ngăn ngừa những rủi ro môi trường nhất định, ngay cả khi
tác động là không chắc chắn.
Trang 10Nguyên tắc phòng ngừa (5)
Nguyên tắc phòng ngừa buộc các chính quyền
và ngành công nghiệp đầu tư vào các biện
pháp khi có sự không chắc chắn khoa học đã khiến nhiều nhà công nghiệp và kinh tế nghi ngờ: có thể thực hiện các biện pháp phòng
ngừa quá tốn kém mà không chắc chắn hiệu
quả của nó mang lại (về môi trường, sử dụng nguồn lực)
Vấn đề ở đây là sự không đối xứng về thông tin theo thời gian; có nghĩa là, các chi phí của phòng chống và phòng ngừa hiện nay là có sẵn
và có thể tính toán được, trong khi những lợi
ích và chi phí cho môi trường trong tương lai
có thể rất nhiều và khó ước tính.
Trang 11Nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền (1)
Chính sách cộng đồng về môi trường phải dựa trên nguyên tắc “người gây ô
nhiễm trả tiền” Polluter Pays Principle (PPP)
Nội dung của nguyên tắc này là những người làm điều sai trái là người phải chịutrách nhiệm và chi trả chi phí làm tổn hại môi trường
Trong kinh tế học, nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền được thiết lập tốt,
nhưng cũng vẫn bị nghi vấn Kinh tế học của nguyên tắc người gây ô nhiễm trảtiền được thể hiện trong nghiên cứu của Pigou (1920)
- Các chi phí cơ hội bao gồm những nguồn lực cần thiết để sản xuất hàng hoá
và dịch vụ trên thị trường được giá cả phản ánh cho cả người bán và ngườimua
- Các thành phần trong các thị trường được chỉ dẫn và thông qua giá cả để họphối hợp đưa ra các quyết định
- Tuy nhiên, sự chính xác về thông tin giá cả phụ thuộc vào giả định rằng tất
cả những gì bị ảnh hưởng đều có trong thương mại và chấp nhận các điềukhoản
- Nếu giá cả không bao gồm phần đền bù cho tất cả các bên có liên quan thì
đó là một thiếu sót, hoặc thiếu sự nội hoá chi phí hay lợi ích, có nghĩa là, một tác động ngoại lai trong nền kinh tế.
Trang 12Nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền (2)
- Các khoản phí cho các hoạt động gây độc hại đối với môi trường, nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền thông qua phí, ví dụ, xe hơi,
đồ uống có cồn và năng lượng.
- Định lý Coase: việc phân phối các quyền - ở đây quyền gây ô
nhiễm mà không có trách nhiệm bồi thường cho nạn nhân, hoặc quyền của nạn nhân được bồi thường do ô nhiễm (PPP)
- Trường hợp nếu nạn nhân trả tiền cho những người làm sai trái để
họ không gây ô nhiễm thì gọi là nguyên tắc nạn nhân trả tiền
(VPP).
- Định lý này đề cập tới tình huống khi có hai hoặc nhiều bên có
khả năng mua bán mà không có bất kỳ chi phí giao dịch nào, tức
chi phí tìm kiếm, mặc cả, ký hợp đồng và thực thi thoả thuận.
- Các bên có chung mối quan tâm vào tối đa hoá giá trị chung của
thương mại, tức là hiệu quả Một khi tối đa hoá được lợi ích
chung, họ sẽ có lợi ích cá nhân.
Trang 13Nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền (3)
Hộp 2.4 ĐỊNH LÝ COASE: THÍ DỤ VỀ THIẾT BỊ LỌC
Giả định rằng một nhà máy thải ra khói và có ba người sống gần
đó, mỗi người đòi được bồi thường 200$ vì khói gây tổn hại đến
sức khoẻ của họ, khói thải ra chỉ ảnh hưởng đến ba nạn nhân, bỏ qua thực tế rằng khói thải làm hại môi trường.
Các nạn nhân không có cách nào ngăn ngừa sự tổn hại đến sức khoẻ của họ.
Nhà máy bằng cách lắp đặt một thiết bị lọc với chi phí 300$, để loại bỏ tất cả các khí thải
Kết quả tối ưu xã hội đòi hỏi là gì: có lắp đặt thiết bị lọc hay
không?
Có thể tránh được mức chi phí 600$ (3 nạn nhân, mỗi người đòi
được bồi thường 200$) bằng cách đầu tư chỉ 300$, giải pháp tối
ưu rõ ràng là lắp đặt thiết bị lọc.
Có thể di dời nhà máy sản xuất hoặc di dời các nạn nhân, nhưng chúng ta giả định rằng các chi phí thực chất là cao hơn chi phí lắp đặt thiết bị lọc là 300$.
Trang 14Nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền (4)
Hộp 2.4 ĐỊNH LÝ COASE: THÍ DỤ VỀ THIẾT BỊ LỌC Bằng cách lắp đặt thiết bị lọc chi phí 300$, nhà máy có thể tránh được việc phải trả tiền bồi thường cho nạn nhân (600$) Theo cơ chế pháp lý này, gọi là cơ chế PPP, kết quả đem lại sẽ là tối ưu.
Nếu nhà máy không chịu trách nhiệm và nạn nhân tự
chịu thiệt hại theo cơ chế “quyền gây ô nhiễm” hay
nguyên tắc nạn nhân trả tiền (VPP)
Giả thiết không có chi phí giao dịch, các nạn nhân sẽ tụ tập lại với nhau và cùng thương lượng với nhà máy để
thuyết phục nhà máy lắp đặt thiết bị lọc.
Bằng cách trả tiền thiết bị lọc cho nhà máy, các nạn nhân vẫn có lợi hơn vì tổng chi phí của các thiệt hại cao hơn
đáng kể so với chi phí của thiết bị lọc.
Do đó, trong cả hai trường hợp, nguyên tắc PPP hay
VPP, kết quả đem lại vẫn có hiệu quả.
Trang 15Nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền (5)
Nhận xét:
1 Giá mà nạn nhân trả cho nhà máy trong cơ chế VPP là không rõ ràng, tuỳ thuộcvào sức mạnh thương lượng, nhà máy cũng có thể đòi hỏi được nhiều hơn 300$cho việc lắp đặt thiết bị lọc Các nạn nhân có thể phải trả tới (hầu như) 600$ chothiết bị lọc nếu nhà máy mặc cả đến giá đó mới đồng ý Khi đó, lợi ích của việclắp đặt là thuộc về nhà máy
2 Hỗn hợp quy tắc PPP và VPP chiếm ưu thế nếu quyền được bồi thường chỉ
được trao cho một trong ba nạn nhân Trong trường hợp này, kết quả đem lạicũng vẫn hiệu quả Giả định rằng chỉ có một nạn nhân A có quyền được bồi
thường Thoạt nhìn, nó có vẻ tốt hơn cho bên gây ô nhiễm chỉ phải trả 200$
thay vì lắp đặt thiết bị lọc Tuy nhiên, nạn nhân B và C, mỗi người sẵn sàng trả200$ cho bên gây ô nhiễm để lắp đặt bộ lọc Phần thanh toán của họ cho ngườigây ô nhiễm này, cộng với tiền bồi thường đã trừ đi cho nạn nhân người A, làmcho bên gây ô nhiễm càng có lợi nhuận kinh tế khi lắp đặt thiết bị lọc
3 Kết luận chung có thể được rút ra từ ví dụ này là khi có vài bên liên quan,
quyền gây ô nhiễm hoặc quyền được bồi thường có thể được đặt vào bất kỳ bên
nào với kết quả như nhau, với điều kiện chi phí giao dịch là không đáng kể
Trang 16Nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền (6)
Các nhà kinh tế học kế tiếp Pigou (1951) biện hộ rằng, các ngoại ứng như ô nhiễm môi trường nên áp một loại thuế hoặc phí phạt vào hoạt động gây ô nhiễm.
Một mức phí bằng với chi phí do khói từ các nhà máy
gây ra, $600, sẽ tạo ra một động lực để giảm thiểu ô
nhiễm bằng cách lắp đặt thiết bị lọc.
Phí là một phương án lựa chọn duy nhất.
Định lý Coase phản đối phương pháp tiếp cận tập trung vào phí và cho rằng hoặc là quy tắc PPP, hoặc quy tắc VPP sẽ đem lại hiệu quả
Coase nhấn mạnh bản chất thuận nghịch của tác hại Trong trường hợp này, bản chất đó là một thực tế rằng ô nhiễm không chỉ bị gây ra bởi nhà máy phát thải chất
gây ô nhiễm; một trong số đó có thể được xem xét
tương đương như trường hợp mà sự có mặt của các
hàng xóm làm giới hạn các quyền của nhà máy.
Do đó, sẽ có ích hơn khi xem đây như là một trường
hợp mâu thuẫn sử dụng các quyền sở hữu.
Trang 17Mô hình hóa Nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền
Khi hoạt động của 1 người ảnh hưởng tới phúc lợi của 1 người khác thỏ a hiệp 1 dạng thỏa hiệp là đền bù Quyền sở hữu: ai thanh toán cho ai?
Phân tích: xét 2 tình huống quyền sở hữu Các phần tử phân tích:
PMC _ chi phí cận biên cá nhân; MD _ thiệt hại cận
biên, SMC _ chi phí cận biên xã hội; SMB _ lợi ích cận biên xã hội, nhưng giả thiết chung là SMB = PMB _ lợi
ích cận biên cá nhân (tiêu dùng hàng hóa không tạo ra ngoại ứng)
Phương trình: SMC = PMC + MD
Trang 19Công ty có quyền sở hữu
Khi không có thỏa thuận, công ty sẽ chọn
mức đầu ra sao cho p = PMC, tức là = q 0 Thiệt hại cận biên của xã hội là khoảng
cách thẳng đứng giữa SMC vàSMB
Tổng thiệt hại = chi phí phúc lợi của ngoại
ứng = diện tích abc.
Hai bên có thểthương lượng với nhau để
giảm thiệt hại vàđểđầu ra hạ xuống q *
Tuy nhiên kết quả thương lượng còn tùy
thuộc vào kỹnăng thương lượng của mỗi bên.
Trang 20- XH ĐƯỢC GIẢM THIỆT HẠI abcd
- THANH TOÁN LỚN NHẤT MÀ
XH MUỐN ĐƯA RA LÀ CẮT GIẢM
THIỆT HẠI DO TĂNG q, i.e DT abcd
- XH KHÔNG LỢI GÌ, VÀ KHÔNG BỊ
THIỆT HẠI GÌ
- CTy MẤT KHOẢN LỢI = DT acd
VAI TRÒ CỦA THƯƠNG LƯỢNG:
XÁC ĐỊNH RA PHÂN CHIA LỢI ÍCH GIỮA CÔNG TY VÀ HÀNG XÓM TRONG PHẠM VI
LÀ THU NHẬP CỦA
XÃ HỘI KHI CẮT GIẢM ĐẦU RA
CÔNG TY CÓ QUYỂN GÂY Ô NHIỄM
Trang 21Những người hàng xóm có quyền sở hữu
Khi không thương lượng, những người
hàng xóm sẽ tránh tất cả các thiệt hại
bằng cách không cho công ty sản xuất.
Kết cục dẫn đến không hiệu quả???
Tại các mức sản lượng thấp, giá trị đơn vị của hàng tiêu dùng > giá trị của thiệt hại
(SMB > SMC).
Thương lượng sẽ được tiến hành để thiết lập thỏa thuận giữa công ty và những
người hàng xóm.
Trang 22- THANH TOÁN NHỎ NHẤT MÀ
XH CHẤP NHẬN ĐỀN BÙ DO THIỆT
HẠI CTy GÂY RA = DT adef
- HÀNG XÓM KHÔNG LỢI, KHÔNG BỊ
THIỆT HẠI GÌ
- LỢI NHUẬN CỦA CTY LÀ DT adep
- THANH TOÁN LỚN NHẤT MÀ
CTy MUỐN ĐƯA RA LÀ LỢI NHUẬN
- CTy KHÔNG LỢI GÌ, VÀ KHÔNG BỊ
THIỆT HẠI GÌ
- XH ĐƯỢC HƯỞNG LỢI ÍCH RÒNG
VAI TRÒ CỦA THƯƠNG LƯỢNG:
XÁC ĐỊNH RA PHÂN CHIA LỢI ÍCH GIỮA CÔNG TY VÀ HÀNG XÓM TRONG PHẠM VI
Trang 23Định lý Coase
Vai trò của QSH đối với xã hội là hiệu quả:
Việc gán quyền sở hữu một cách rõ ràng tạo
điều kiện cho thương lượng giữa các bên có
liên quan.
Thương lượng dẫn dắt tới một kết cục hiệu quả Pareto trong bất kỳ trường hợp gán quyền sở hữu nào.
Các kết cục thương lượng trong các trường
hợp khác nhau của QSH đat được hiệu quả
nhưng phân phối thu nhập khác nhau.
Trang 24Nguyên tắc xử lý rác thải tại nguồn (1)
Một mục đích chung trong chính sách môi trường là giảm
lượng chất thải khổng lồ tạo ra từ quá trình sản xuất, đặc biệt
là ở các nước phát triển cao về công nghệ.
Một ý tưởng cơ bản trong khía cạnh này là chất thải cần được
xử lý và nếu có thể loại bỏ tại nguồn.
Nếu không thể loại bỏ được chất thải, có thể tái chế vật liệu, hoặc đốt Chôn lấp và nghiền rác được xem là lựa chọn tồi tệ nhất.
Nguyên tắc xử lý rác thải tại nguồn này dường như là công
việc quản lý nội vi, nhưng lại có những hạn chế đáng kể về kinh tế.
Cũng như tất cả các loại hàng hoá khác, một biện pháp xử lý chất thải hiệu quả, yêu cầu bên có lợi thế tương đối thực hiện.
Do đó, một sự thay thế hiệu quả để xử lý chất thải tại nguồn
thường là mua bán chất thải với các bên khác có thể xử lý
được nó.
Trang 25Nguyên tắc xử lý rác thải tại nguồn (2)
Một lý do khác cho sự ưu tiên và bảo vệ thương mại tự do là tầm quan trọng cơ bản của nó trong hệ thống kinh tế thị trường.
Cũng như loại các hàng hoá và dịch vụ khác, chất thải thường có thể
được giao dịch mua bán theo cách thức cùng có lợi vì có những ưu điểm tương đối và việc tận dụng các nền kinh tế quy mô.
Ví dụ, người Pháp có thể đốt chất thải với chi phí thấp hơn so với
Hà Lan hoặc Bỉ Thương mại chất thải từ Bỉ hoặc Hà Lan đến Pháp trong trường hợp đó sẽ có lợi.
Thương mại như vậy là được phép theo Công ước Basel năm 1992, quy định về vận chuyển chất thải xuyên biên giới và lệnh cấm
thương mại không áp dụng nếu chất thải được tái sử dụng hoặc tái
chế.
Tuy nhiên, có một mối nguy hiểm khi chất thải được chuyển qua
biên giới đó là việc thiếu giám sát của các cơ quan hành chính có thể làm tăng khả năng chất thải bị mất kiểm soát và do đó xả thải bất hợp pháp.
Trang 26Nguyên tắc xử lý rác thải tại nguồn (3)
Tất cả các bên tham gia có thể đạt được mục đích nếu các quốc gia được phépvận chuyển chất thải đến các nước được trang bị tốt nhất để xử lý
Nước xuất khẩu chất thải sẽ trả một mức giá thấp hơn chi phí xử lý trong
nước và nước nhập khẩu chất thải có thể tạo lợi nhuận bằng cách cung cấpmột dịch vụ với chi phí tương đối thấp
Trong những trường hợp đó, câu hỏi phát sinh là liệu các nước thành viên EU
có quyền buộc ngành công nghiệp quốc gia sử dụng phương pháp xử lý chấtthải đắt tiền trên cơ sở nguyên tắc xử lý chất thải tại chỗ, hoặc liệu lệnh cấmxuất khẩu nên được xem là bất hợp pháp
Toà án Tư pháp châu Âu đã quyết định chống “sự lạm dụng” nguyên tắc xử
lý chất thải tại chỗ để biện minh cho một lệnh cấm xuất khẩu rác thải
Lệnh cấm xuất khẩu chung như vậy (bởi Hà Lan) đã được giữ nhằm tránh canthiệp vào Luật châu Âu