mối quan hệ giữa lạm phát và thâm hụt ngân sách nhà nước việt nam giai đoạn 2000-2013
Trang 1Chương 1: Giới thiệu
1.1 Vấn đề nghiên cứu
Khủng hoảng tài chính toàn cầu và sự leo thang của nợ công, vấn đề khủng hoảng
nợ châu Âu tiếp tục cho thấy sự cần thiết phải hạn chế thâm hụt ngân sách nhà nước trongthời kỳ kinh tế thuận lợi, chủ động đối phó với thâm hụt ngân sách nhà nước bùng pháttrong thời kì suy thoái, khủng hoảng, điều tiết nền kinh tế hiệu quả hơn Đứng trước sựphục hồi kinh tế sẽ càng ngày gây áp lực lên ngân sách nhà nước Trong khoảng 12 nămnay, thâm hụt ngân sách tại Việt Nam liên tục kéo dài nên việc tìm rõ nguyên nhân gây rathâm hụt ngân sách nhà nước kéo dài liên lục là điều rất quan trọng Bên cạnh việc thâmhụt ngân sách thì việc lạm phát tăng cao cũng là một trong những vấn đề được nhiềungười quan tâm Vì vậy, bài nghiên cứu này sẽ đi sâu vào tìm hiểu mối quan hệ hai chiềugiữa lạm phát và thâm hụt ngân sách nhà nước tại Việt Nam
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu mối quan hệ nhân quả giữa lạm phát và thâm hụt ngân sách nhà nướcViệt Nam trong giai đoạn 2000-2013
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tình hình lạm phát, thâm hụt ngân sách nhà nước và mối quan hệ giữalạm phát và thậm hụt ngân sách nhà nước Việt Nam giai đoạn 2000-2013
1.4 Ý nghĩa và đóng góp của nghiên cứu
Nếu tìm rõ nhân tố nào tác động tới thâm hụt ngân sách tại Việt Nam thì sẽ giúpcác nhà kinh tế hoạch định rõ chi tiết các chính sách tài chính nhằm hạn chế thâm hụtngân sách nhà nước hay nâng cao ngân sách nhà nước Hơn thế nữa nhờ đó sẽ giảm đượcnhững vấn đề khác phát sinh thêm như: nợ quốc gia hay lạm phát tăng cao Có nhiều bàinghiên cứu tác động thâm hụt ngân sách nhà nước tới lạm phát cũng như tác động củalạm phát lên thâm hụt ngân sách nhà nước Nhưng có rất ít nghiên cứu quan tâm về mốiquan hệ tác động hai chiều giữa lạm phát và thâm hụt ngân sách nhà nước Bài nghiêncứu này góp phần làm rõ thêm những nghiên cứu mối quan hệ hai tác động giữa lạm phát
và thâm hụt ngân sách
1.5 Kết cấu nghiên cứu
Trang 2Nghiên cứu được thực hiên với kết cấu gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 1 cung cấp cho người đọc về mục tiêu, đối tượng nghiên cứu, và ý nghĩahay đóng góp của nghiên cứu này
Chương 2: Mối quan hệ giữa lạm phát và thâm hụt ngân sách nhà nước: lý thuyết
và nghiên cứu thực nghiệm
Chương 2 cung cấp những kiến thức về lạm phát, ngân sách nhà nước và vấn đềbội chi ngân sách nhà nước Đồng thời ở chương này cũng sẽ cung cấp cho chúng tanhững nghiên cứu trước đây về các nhân tố tác động như thế nào tới thâm hụt ngân sáchcũng như thâm hụt ngân sách sẽ tác động như thế nào tới các biến vĩ mô Mỗi bài nghiêncứu sử dụng những loại mô hình khác nhau từ những mô hình đơn giản như OLS cho đến
mô hình Panel Data hay mô hình VAR
Chương 3: Thực trạng lạm phát và thâm hụt ngân sách nhà nước tại Việt Nam
Chương 3 sẽ cung cấp cho chúng biết về thực trạng lạm phát và thâm hụt ngânsách nhà nước Việt Nam giai đoạn 2000 – 2013 đồng thời sẽ so sánh tình hình lạm phát,thâm hụt ngân sách nhà nước của Việt Nam với các nước trong khu vực
Chương 4: Nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa lạm phát và thâm hụt ngân
sách nhà nước tại Việt Nam
Chương 4 đưa ra từng bước thực hiện các mô hình bài nghiên cứu cũng như kếtquả và thảo luận về kết quả những mô hình
Chương 5: Đánh giá và giải pháp đề xuất
Chương 5 làm rõ mối quan hệ giữa lạm phát và thâm hụt ngân sách nhà nước tạiViệt Nam và đưa ra các giải pháp nhằm kiểm soát lạm phát và thâm hụt ngân sách nhànước Việt Nam trong thời gian tới
Trang 3CHƯƠNG II: LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
2.1 Khái niệm ngân sách nhà nước
Căn cứ luật ngân sách số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002, được sửa đổi và có hiệulực từ ngày 01/01/2004 thì Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhànước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong mộtnăm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
Trong hệ thống tài chính, ngân sách nhà nước là bộ phận chủ đạo, là điều kiện vật chấtquan trọng để thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước do hiến pháp quy định, nó còn làcông cụ quan trọng của nhà nước có tác dụng điều tiết vĩ mô của nền kinh tế xã hội,muốn sử dụng tốt công cụ này phải nhận thức được những vấn đề lý luận cơ bản của ngânsách nhà nước
Mặt khác, ngân sách nhà nước còn phản ánh các quan hệ kinh tế giữa một bên là nhànước một bên là các chủ thể trong xã hội, phát sinh khi nhà nước tham gia phân phối cácnguồn tài chính theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu Những khoản thunộp và cấp phát qua quỹ ngân sách nhà nước là các quan hệ được xác định trước, đượcđịnh lượng và nhà nước sử dụng chúng để điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế
Từ những phân tích trên, ta có thể xác định được ngân sách nhà nước phản ánh các quan
hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ chungcủa Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thựchiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định
2.2 Đặc điểm của Ngân sách nhà nước
Thứ nhất: Tạo lập và sử dụng ngân sách nhà nước gắn liền quyền lực với việc thựchiện các chức năng của Nhà nước, đây cũng chính là điểm khác biệt giữa ngân sách nhànước với các khoản tài chính khác Các khoản thu ngân sách nhà nước đều mang tínhchất pháp lý, còn chi ngân sách nhà nước mang tính cấp phát “không hoàn trả trực tiếp”
Do nhu cầu chi tiêu của mình để thực hiện nhiệm vụ kinh tế-xã hội Nhà nước đã sử dụng
Trang 4để quy định hệ thống pháp luật tài chính, buộc mọi pháp nhân và thể nhân phải nộp mộtphần thu nhập của mình cho Nhà nước với tư cách là một chủ thể
Thứ hai: Ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với Nhà nước chứa đựng lợi ích chung
và công, hoạt động thu chi ngân sách nhà nước là thể hiện các mặt kinh tế-xã hội của Nhànước, dù dưới hình thức nào thực chất cũng là quá trình giải quyết quyền lợi kinh tế giữaNhà nước và xã hội thể hiện qua các khoản cấp phát từ ngân sách nhà nước cho các mụcđích tiêu dùng và đầu tư Quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội đó thể hiện ở phạm virộng lớn
Thứ ba: Cũng như các quỹ tiền tệ khác ngân sách nhà nước cũng có đặc điểmriêng của một quỹ tiền tệ, nó tập trung lớn nhất là nguồn tài chính của Nhà nước nên ngânsách nhà nước là giá trị thặng dư của xã hội Do đó, nó mang đặc điểm khác biệt
Thứ tư: Hoạt động thu cho của ngân sách nhà nước được thể hiện theo nguyên tắckhông hoàn lại trực tiếp đối với người có thu nhập cao nhằm mục đích rút ngắn khoảngcách giàu nghèo thực hiện công bằng xã hội
2.3 Khái niệm thâm hụt ngân sách nhà nước.
Bội chi ngân sách nhà nước trong một thời kỳ (1 năm, 1 chu kỳ kinh tế ) là sốchênh lệch giữa chi lớn hơn thu của thời kỳ đó
Theo thông lệ quốc tế, có thể tóm tắt báo cáo về ngân sách nhà nước hằng năm như sau:
Bảng 2.1: Tóm tắt nội dung cân đối ngân sách nhà nước hằng năm
A Thu thường xuyên (thuế, phí, lệ phí)
B Thu về vốn (bán tài sản nhà nước)
D Chi thường xuyên
E Chi đầu tư
F Cho vay thuần (= vay mới - thu nợ gốc)
C Bù đắp thâm hụt
- Viện trợ
- Lấy từ nguồn dự trữ
- Vay thuần (= vay mới - trả nợ gốc)
Nguyên tắc cân bằng ngân sách là: A + B +C = D + E + F
Trang 5Công thức tính bội chi Ngân sách Nhà nước của một năm sẽ như sau: Bội chiNgân sách Nhà nước = Tổng chi - Tổng thu = (D + E + F) - (A + B) = C (khoản bù đắpthâm hụt)
Bội chi Ngân sách Nhà nước có thể do ngoài tầm kiểm soát nhưng cũng có thểnằm trong chiến lược phát triển kinh tế của chính phủ nhằm thực hiện chính sách kinh tế
vĩ mô
2.4 Phân loại thâm hụt ngân sách
Tài chính công hiện đại phân loại thâm hụt ngân sách thành hai loại: Thâm hụt cơcấu và thâm hụt chu kì
- Thâm hụt cơ cấu là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách tùy biếncủa chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chi cho giáodục-đào tạo, quốc phòng…
- Thâm hụt chu kì là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kì kinh tế, nghĩa làbởi mức độ cao hay thấy của sản lượng và thu nhập quốc dân Ví dụ: Khi nền kinh tế suythoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn dến thu ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi chingân sách cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên
2.5 Nguyên nhân của thâm hụt ngân sách
Có 2 nhóm nguyên nhân cơ bản gây ra bội chi ngân sách nhà nước:
- Nhóm nguyên nhân thứ nhất là tác động của chu kỳ kinh doanh Khủng hoảng làm chothu nhập của Nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên để giải quyết những khókhăn mới về kinh tế và xã hội Điều đó làm cho mức bội chi ngân sách nhà nước tăng lên
Ở giai đoạn kinh tế phồn thịnh, thu của Nhà nước sẽ tăng lên, trong khi chi không phảităng tương ứng Điều đó làm giảm mức bội chi ngân sách nhà nước Mức bội chi do tácđộng của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là bội chi chu kỳ
- Nhóm nguyên nhân thứ hai là tác động của chính sách cơ cấu thu chi của Nhà nước KhiNhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm tăng mứcbội chi ngân sách nhà nước Ngược lại, thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu dùng củaNhà nước thì mức bội chi ngân sách nhà nước sẽ giảm bớt Mức bội chi do tác động củachính sách cơ cấu thu chi gây ra được gọi là bội chi cơ cấu Trong điều kiện bình thường
Trang 6(không có chiến tranh, không có thiên tai lớn…), tổng hợp của bội chi chu kỳ và bội chi
cơ cấu sẽ là bội chi ngân sách nhà nước Trong điều kiện bình thường (không có chiếntranh, không có thiên tai lớn ), tổng hợp của bội chi chu kỳ và bội chi cơ cấu sẽ là bộichi ngân sách nhà nước
Trang 7CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG LẠM PHÁT VÀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2013
3.1 Quan niệm về thâm hụt ngân sách của Việt Nam
Theo Luật Ngân sách nhà nước (2002), ngân sách nhà nước bao gồm ngân sáchtrung ương và ngân sách địa phương Thâm hụt ngân sách nhà nước là thâm hụt ngânsách trung ương và được xác định bằng chênh lệch thiếu giữa tổng số chi ngân sáchtrung ương và tổng số thu ngân sách trung ương trong năm ngân sách Các khoản thu,chi khi cân đối ngân sách theo Luật Ngân sách nhà nước (2002) được xác định như sau:
Thu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; cáckhoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cánhân; các khoản viện trợ; thu chuyển nguồn từ năm trước, các khoản thu khác theo quyđịnh của pháp luật
Chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi đầu tư phát triển, chi phát triển
sự nghiệp kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộmáy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ, chi chuyển nguồn ngân sách từnăm trước sang năm sau và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật
Ở Việt Nam, ngân sách nhà nước (NSNN) được cân đối trên nguyên tắc tổng sốthu từ thuế, phí và lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích luỹngày càng cao vào chi đầu tư phát triển; trường hợp còn thâm hụt thì số thâm hụt phảinhỏ hơn số chi đầu tư phát triển Như vậy, nếu như xem tất cả các khoản thu từ thuế vàphí, lệ phí của Việt Nam là các khoản thu thường xuyên thì có thể thấy theo quy địnhcủa Luật Ngân sách nhà nước (2002), cán cân ngân sách thường xuyên của Việt Namluôn phải thặng dư Tuy nhiên, việc xác định phạm khoản thu, chi cân đối NSNN củaViệt Nam có sự khác biệt khá lớn so với thông lệ quốc tế Điều này cũng dẫn đến việcxác định thâm hụt của Việt Nam so với thế giới không có sự thống nhất, đây là trở ngạicủa Việt Nam so với các nước trên thế giới
3.2 Thực trạng về thâm hụt ngân sách của Việt Nam trong giai đoạn 2000-2013 3.2.1 Thực trạng về thu- chi NSNN của Việt Nam trong giai đoạn 2000-2013
Trang 8a Thực trạng thu NSNN:
Thu NSNN là một khoản thu quan trọng trong việc đáp ứng các hoạt động chi cũng nhưvận hành bộ máy nhà nước, việc vận hành bộ máy nhà nước này có tốt hay không phụthuộc vào nguồn lực kinh tế dành cho khu vực công này, chính vì thế thu NSNN luônđược Chính phủ quan tâm đặt biệt, cụ thể như sau:
Bảng 3.1: Tổng thu NSNN trong giai đoạn 2000-2013
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Năm
Tổng thu ngân sách nhànước
Năm
Tổng thu ngân sách nhà nước
Giá trị Tăng trưởng(%) Giá trị Tăng trưởng(%)
Trang 9Biểu đồ 3.1: Tổng NSNN và tốc độ tăng trưởng của NSNN qua các năm
Tổng thu NSNN Tăng trưởng (%)
Giai đoạn 2000- 2006: Trong giai đoạn này tốc độ tăng trưởng của nguồn thungân sách khá ổn định khoảng 20,66%, nguồn thu năm 2006 gấp 3 lần năm 2000 Trongphần đầu của giai đoạn có sự ổn định, chủ yếu là do nền kinh tế đang trong giai đoạnphục hồi của khủng hoảng châu Á từ Thái Lan cũng như không có sự biến động lớn vềnguồn thu qua các năm Cơ cấu nguồn thu của giai đoạn này đang có sự chuyển dịch
Bảng 3.2: Một số nguồn thu lớn của NSNN qua các năm 2000-2006
Đơn vị tính: Tỷ đồng
2000 2001 2003 2003 2004 2005 2006Thu nội địa 46233 52647 61375 78685 104577 119826 145404Thu từ dầu thô 23534 26281 26510 36773 48562 66558 83346Thu từ hải quan 18954 22949 31571 33845 34913 53114 42825Thu từ viện trợ không hoàn lại 2028 2011 2250 2969 2877 3789 7897
(Bộ Tài chính)
Trang 10Biểu đồ 3.2: Một số nguồn thu lớn của NSNN qua các năm 2000-2006
Các nguồn tăng qua các năm, nguồn thu nội địa tăng mạnh và chiếm 52% trongtổng thu NSNN, thu hải quan chiếm 15,3% năm 2006, trong khi đó năm 2000 nguồn thunội địa chiếm khoảng 50% và thu từ hải quan chiếm 20,9% Sự chuyển dịch cơ cấu trongthời gian này chủ yếu là do chính sách mở cửa của Việt Nam trong giai đoạn tăng cườnggiao thông hàng hóa, việc giảm các loại thuế xuất nhập khẩu làm cho nguồn thu từ hảiquan này giảm tỷ trọng trong cơ cấu thu NSNN Bên cạnh đó năm 2003 do thực hiệnpháp lệnh về phí và lệ phí đã bãi bỏ 140 khoản phí thuộc các bộ ngành TW và 105 khoảnphí thuộc các địa phương đã làm giảm chi phí xã hội khoảng 1.000 tỷ đồng mỗi năm.Ngoài ra kết quả thu trên địa bàn của một số địa phương vượt dự toán ban đầu như BìnhPhước, Bà Rịa - Vũng Tàu , Hải Dương 44,2%, Quảng Ninh , Đà Nẵng, Bình Dương, HàTây, Hưng Yên, Tp.HCM
Giai đoạn 2007-2009: Giá trị tăng tuyệt đối trong giai đoạn này vẫn tăng,tuy nhiên tốc độ tăng qua các năm lại có sự biến động rất lớn Năm 2008 tốc độ tăngtuyệt đối đạt 36,29% và cao nhất trong cả giai đoạn Theo báo cáo của kỳ họp thứ 4 Quốc
hội khóa XII năm 2008 thì: Thu nội địa: đạt 205.000 tỷ đồng, vượt 8,3% (15.700 tỷ đồng)
so với dự toán, tăng 17,6% so với thực hiện năm 2007, chiếm 51,4% tổng thu NSNN
Thu từ dầu thô: Đạt 98.000 tỷ đồng, vượt 49,4% (32.400 tỷ đồng) so với dự toán, tăng
Trang 1127,3% so với thực hiện năm 2007 Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu:
dự toán 64.500 tỷ đồng (trên cơ sở thu từ hoạt động xuất nhập khẩu là 84.500 tỷ đồng,hoàn thuế giá trị gia tăng là 20.000 tỷ đồng), phấn đấu thu ngân sách từ hoạt động xuấtnhập khẩu đạt 121.000 tỷ đồng; sau khi thực hiện hoàn thuế giá trị gia tăng theo chế độ,thu cân đối ngân sách cả năm đạt 91.000 tỷ đồng, vượt 41,1% (26.500 tỷ đồng) so với dựtoán, tăng 50,7% so với thực hiện năm 2007 dựa trên cơ sở tổng kim ngạch xuất khẩu cảnăm 2008 ước tính đạt 62,9 tỷ USD, tăng 29,5% so với năm 2007; kim ngạch nhập khẩukiềm chế ở mức 80,4 tỷ USD, tăng 28,3% so với năm 2007; nhập siêu của cả nền kinh tế
khoảng 17,5 tỷ USD, bằng khoảng 27,8% kim ngạch xuất khẩu Thu viện trợ: Dự toán
3.600 tỷ đồng, ước cả năm đạt 5.000 tỷ đồng, vượt 38,9% (1.400 tỷ đồng) so với dự toán,chủ yếu do tăng viện trợ của Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khókhăn (Chương trình 135) và Chương trình phát triển Nông nghiệp và nông thôn Như vậy
dù khi nền kinh tế đang khủng hoảng nhưng các khoản thu của Việt Nam vẫn tăng vàvượt dự toán, đây là những nổ lực rất lớn của chính phủ Tuy nhiên đến năm 2009 thì tốc
độ tăng lại giảm dù vẫn tăng trưởng, nguyên nhân chủ yếu là tác động của nền kinh tế thếgiới tác động đến kinh tế trong nước của Việt Nam cũng như nền kinh tế nóng nhưngkhông bền vững và bị vỡ khi gặp khủng hoảng Bên cạnh đó sự chuyển dịch cơ cấu vàgiảm nguồn thu từ dầu thô trong năm 2009 làm cho tổng nguồn thu vẫn tăng nhưngkhông ổn định
Giai đoạn 2010-2013: Đây là giai đoạn phục hồi của nền kinh tế Việt Nam, tốc độtăng trưởng của nguồn thu từ năm 2010-2012 có xu hướng giảm về tốc độc dù nguồn thutuyệt đối vẫn tăng, nguyên nhân chủ yếu là chính phủ đang tập trung tháo gỡ tình hìnhkinh doanh của các doanh nghiệp trong nước cũng như các số thuế thu nội địa khôngtăng, bên cạnh đó sự biến động giá dầu thế giới, các hoạt động xuất nhập khẩu đang tronggiai đoạn hạn chế xuất nhập khẩu các mặt hàng xa xỉ; trong khi đó cơ cấu thu năm 2012ban đầu chính phủ đã dự toán là tăng nguồn thu nội địa “ Về cơ cấu thu năm 2012, dựtoán thu nội địa chiếm 66,8% tổng thu NSNN (dự toán năm 2011 là 64,2%), thu dầu thôchiếm 11,7% (dự toán năm 2011 là 11,6%), thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩuchiếm 20,8% tổng thu NSNN (dự toán năm 2011 là 23,3%).” (trích báo cáo tình hình
Trang 12kinh tế xã hội năm 2011-2012), đây là nguyên nhân dẫn đến sự giảm sút về tốc độ tăngtrưởng Đến năm 2013 nền kinh tế có sự phục hồi, tăng tuyệt đối năm 2013 đạt 72810 tỷđồng và đạt tốc độ tăng trưởng là 9.8% đây là một sự khởi sắc mới cho nguồn thu NSNN.Việc quy mô nguồn tăng đã tạo điều kiện cho Việt Nam mở rộng nguồn chi NSNN Tuynhiên việc liệu chi tiêu của Chính phủ có phù hợp với cơ cấu thu cũng như là nền kinh tếcủa Việt Nam hiện nay?
b Thực trạng chi NSNN:
Bảng 3.3: Tổng chi NSNN qua các năm từ 2000-2013
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Tổng chi ngân sách nhànước
Tổng chi ngân sách nhànước
Giá trị Tăng trưởng(%) Giá trị Tăng trưởng(%)