Cây hồi là một đặc sản rừng cho các sản phẩm có giá trị kinh tế lớn dùng trong nước và xuất khẩu. Lá, hoa, quả hạt đều có tinh dầu thơm, song sản phẩm chủ yếu của hồi là quả để cất tinh dầu. Tinh dầu hồi là nguyên liệu quý được sử dụng trong công nghiệp bánh kẹo, rượu, gia vị và trong dược phẩm. Về dược tính, hồi có vị cay, ngọt, mùi thơm, tính ấm; có tác dụng trừ đờm, khai vị, kiện tỳ (kích thích bộ máy tiêu hóa) tiêu thực, giảm co bóp trong dạ dày và ruột, lợi sữa, trừ phong, giảm đau, sát trùng, có thể sử dụng chế biến thức ăn chăn nuôi
Trang 1GIÁO TRÌNH NHÂN GIỐNG CÂY HỒI
Trang 2Bài 1: Giới thiệu chung về cây hồi
tỳ (kích thích bộ máy tiêu hóa) tiêu thực, giảm co bóp trong dạ dày và ruột, lợisữa, trừ phong, giảm đau, sát trùng, có thể sử dụng chế biến thức ăn chăn nuôi
Cây hồi chu kỳ kinh doanh dài, tính theo giá trung bình của 2 năm 2011
và 2012 thì trung bình 1ha rừng hồi cho thu nhập trên 480 triệu đồng (400cây/ha
x 60kg quả/cây x 20.000đồng/kg = 480.000đồng)
Sản phẩm hồi tiêu thụ ở trong nước ít, chủ yếu dùng để xuất khẩu Từ khicác nhà khoa học nghiên cứu triết xuất được Axitshikimic để sản xuất thuốcTamiflu chữa bệnh cúm, các nước trên thế giới rất quan tâm đến các sản phẩmhồi
Nhiều năm qua Lạng Sơn xác định cây hồi là cây kinh tế mũi nhọn vàchiến lược lâu dài của tỉnh Lạng Sơn Đây là cây trồng đem lại nguồn thu nhậpđáng kể cho đồng bào thiểu số miền núi tại khu vực trồng hồi, đã hình thànhvùng sản xuất hàng hóa tập trung Tuy nhiên hoa hồi Lạng Sơn vẫn chưa đượcquản lý chặt chẽ trên thực tế, để tạo điều kiện cho sản phẩm hồi tham gia hòanhập thị trường trong nước và nhất là thị trường quốc tế cũng như giúp cho việcbảo hộ quyền lợi chính đáng của người sản xuất và người tiêu dùng
Ngày 15 tháng 2 năm 2007 Cục trưởng cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam đã kýquyết định đăng bạ tên gọi xuất xứ hàng hóa Lạng Sơn cho sản phẩm hồi Đây làmột sự kiện rất có ý nghĩa trong việc phát triển kinh tế vùng trồng hồi, đồng thờitạo điều kiện cho sản phẩm hồi từng bước tham gia hòa nhập vào thị trườngtrong nước và quốc tế
Hồi chính là cây xóa đói giảm nghèo và làm giầu của nhân dân một sốhuyện của Lạng Sơn
2 Đặc điểm hình thái
Trang 3Hình 2.1.1 Cây hồi
Hồi là cây gỗ nhỏ, thường cao 6 – 8m, có khi tới 10 – 15m Đường kínhthân cây trưởng thành từ 15 – 30cm, thân thẳng tròn Tán lá rậm Cành rất giòn,tương đối thẳng Vỏ không nhẵn, mầu xám Lá mọc thành chùm, nhưng ở phíacuối cành thì mọc cách Phiến lá nguyên, dày, đầu và gốc lá thuôn nhỏ, mặt trênlục bóng hơn mặt dưới
Hình 2.1.2 Hình thái lá
Trang 4Hoa lưỡng tính, mọc thành chùm ở kẽ lá, mỗi chùm 2 – 5 hoa Cánh hoamầu hơi hung hoặc hồng Cây hồi ra hoa 2 lần một năm, không có ranh giới rõràng, vụ thứ nhất ra hoa vào tháng 3, tháng 4, quả chín thu hoạch vào tháng 8 –
10 (gọi là hồi mùa), lứa quả này to, đẹp, nhiều dầu; vụ thứ 2 ra hoa vào tháng
10, tháng 11, quả chín và thu hoạch vào tháng 4 – 5 năm sau (gọi là hồi chiêm),lứa quả nhỏ, xấu, sản lượng chỉ bằng 1/4 – 1/3 sản lượng hồi mùa
Hình 2.1.3 Cành mang hoa
Quả hồi (nhân dân gọi là hoa hồi, người Tày, Nùng gọi là mác hồi haymắc trác) lúc tươi màu xanh nhạt, khi chín thì khô cứng mầu nâu Quả phức hìnhngôi sao có từ 6 – 10 cánh, thường 8 cánh Mỗi cánh là một tâm bì, trong mỗitâm bì có 1 hạt Hạt mầu đỏ hoặc nâu sẫm, trong hạt có dầu nhờn Rễ hồi ănnông Tuy vậy, khi có gió bão cây ít bị đổ mà chủ yếu là bị gẫy cành
Hình 2.1.4 Cành mang quả
Trang 53 Yêu cầu ngoại cảnh
3.1 Vùng phân bố
Cây hồi có tự nhiên ở miền Bắc Việt Nam, ở các vùng núi Nam và Tâynam Trung Quốc (thuộc các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, đảo HảiNam) Cây hồi đã được nhập trồng thử nghiệm tại Nhật Bản, Ấn Độ, Lào,Philipin, nhưng sản lượng không đáng kể Ở Việt Nam hồi có nhiều ở các tỉnhbiên giới Việt – Trung, Cao Bằng (Đông Khê), Lạng Sơn, Quảng Ninh (BìnhLiêu) và Bắc Kạn Rải rác xuống tới Tây Bắc, Nghệ An Song vùng hồi trồngtập trung là Lạng Sơn (chiếm 80 – 90% sản lượng toàn quốc).Tại Lạng Sơn hồicũng chỉ phân bố ở một số huyện phía Bắc của tỉnh như Văn Quan , Bình Gia,Tràng Định, Văn Lãng, Cao Lộc và thành phố Lạng Sơn
3.2 Yêu cầu về đất
Cây hồi thường mọc tốt ở vùng núi thấp và trung bình, độ cao từ 400 –800m so với mặt biển Cây hồi ưa lớp đất mặt có độ dầy tầng đất > = 70cm trởlên, đất tơi xốp, đủ ẩm, nhiều mùn, pH từ 3,3 - 5, còn tính chất đất rừng, độ mùntối thiểu > = 2% Tốt nhất trên đất rừng gỗ nghèo kiệt, phát triển trên đá mẹRhyolit nghèo thạch anh
Trên đất phát triển từ phiến thạch sét, phiến thạch limông, hồi sinh trưởngtrung bình Tuyệt đối không gieo ươm hoặc trồng hồi trên đất phong hóa từ đávôi và trong lòng các khe sâu (không đủ ánh sáng, độ ẩm quá cao)
Hình 2.1.5 Rừng hồi thuần loài - vị trí chân núi
Trang 6Hình 2.1.6 Rừng hồi thuần loài - vị trí sườn núi
Hình 2.1.7 Rừng hồi thuần loài - vị trí đỉnh núi
Trang 73.3 Yêu cầu về nhiệt độ
Hồi là cây ưa sáng, song ở giai đoạn non lại cần được che bóng Cây hồisinh trưởng tốt ở nơi có nhiệt độ trung bình năm khoảng 21 – 230C và chịu đượcnhiệt độ xuống thấp tới 00C Khi nhỏ, cây hồi cũng không chụi được nhiệt độcao, về mùa hè cây con dễ bị chết (nếu không có giàn che thích hợp) Khả năngchịu rét của cây con tương đối cao, không bị chết vì sương muối Hai năm đầu,hồi cần phải che bóng, độ che thích hợp từ 50 – 75% ánh sáng, sau đó hoàn toàn
ưa sáng, là loại cây chịu nhiệt kém, thoát hơi nước mạnh
3.4 Yêu cầu về độ ẩm
Cây hồi thích hợp với những nơi có lượng mưa hàng năm lớn hơn1.000mm, độ ẩm tương đối của không khí 70 – 80%, độ ẩm đất từ 60 – 70%
4 Xác định giống hồi đem trồng
Cây hồi là loài cây có nguồn gốc phát triển lâu đời ở Lạng Sơn Trên thịtrường thế giới, hồi là tên thương mại chung cho các loại sản phẩm của hai loàithực vật khác nhau: đại hồi và tiểu hồi
Hầu hết lượng tinh dầu hồi giao dịch trên thế giới có nguồn gốc từ cây đạihồi được trồng tập trung ở Trung Quốc và Việt Nam
Tiểu hồi: tinh dầu có vị ngọt và mùi dễ chịu hơn, nhưng sản lượng kháhạn chế so với đại hồi Tiểu hồi có nguồn gốc ở vùng đông Địa Trung Hải vàTây Nam Á
Giống hồi được trồng ở tỉnh Lạng Sơn là giống đại hồi, có tên khoa học làIllicium verrum hook.F Tại tỉnh Lạng Sơn trồng hồi nhiều nhất ở các huyệnVăn Quan, Bình Gia, Tràng Định, Cao Lộc và Văn Lãng Hồi chủ yếu sản xuấtcây giống từ hạt
Hình 2.1.8 Quả hồi 8 cánh
Trang 8B Câu hỏi và bài tập thực hành
1 Các câu hỏi
Câu 1: Điền những thông tin đúng vào chỗ trống trong câu sau:
a Cây hồi là một đặc sản rừng cho các có giá trị kinh tế lớn dùngtrong nước và ;
b Lá, hoa, quả hạt đều có tinh dầu thơm, song sản phẩm chủ yếu của hồi
Câu 2: Điền những thông tin đúng vào chỗ trống trong câu sau:
a Cây hồi sinh trưởng thích hợp với những vùng có nhiệt độ bình quân nămlà 0C
b Ẩm độ không khí cần thiết cho cây hồi sinh trưởng là %, độ ẩmđất từ %
c Cây hồi thích hợp với những nơi có lượng mưa hàng năm lớn hơn mm
d Cây hồi thích hợp với các loại đất phát triển trên đá mẹ cótầng đất dầy tơi xốp, đủ ẩm;
e Cây hồi lúc nhỏ cần được che bóng %, lớn lên cần được chiếu sánghoàn toàn;
C Ghi nhớ
- Lá, hoa, quả đều có tinh dầu thơm
- Thường cao 6 – 8m, có khi tới 10 – 15m; đường kính thân cây trưởng thành từ
15 – 30cm; gỗ mầu vàng nhạt
- Hoa mọc chùm ở kẽ lá, mỗi chùm 2- 5 hoa
- Quả hồi (hoa hồi) hình ngôi sao thường 8 cánh
- Hạt mầu đỏ hoặc nâu sẫm
- Cây hồi mọc tốt ở vùng núi thấp và trung bình, độ cao từ 400 – 800m so vớimặt biển
- Đất có tầng dầy > = 70cm, đất tơi xốp, đủ ẩm, nhiều mùn, pH 3,3 - 5
Trang 9- Lúc nhỏ cần được che bóng 50 - 75%
- Độ ẩm tương đối của không khí 70 – 80%
- Hồi gây trồng ở Lạng Sơn là giống đại hồi
Trang 10Bài 2: Thiết lập vườn ươm
Mã bài: MĐ02-02 Mục tiêu:
- Nêu được khái niệm vườn ươm, phân loại vườn ươm ở nước ta, các điềukiện để xây dựng vườn ươm và quy hoạc vườn ươm;
- Lựa chọn được địa điểm lập vườn ươm nhỏ, qui hoạch hợp lý các khuthúc mầm, gieo hạt, cấy cây, khu trộn đất ruột bầu, hệ thống đường và hệ thốngtưới tiêu, hàng rào bảo vệ;
A Nội dung
1 Khái niệm và phân loại vườn ươm
1.1 Khái niệm vườn ươm
Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về vườn ươm, nhưng chúng ta cóthể hiểu vườn ươm là nơi diễn ra các hoạt động sản xuất kinh doanh cây giốnglâm nghiệp
Hình 2.2.1.Vườn ươm sản xuất cây giống lâm nghiệp 1.2 Phân loại vườn ươm ở nước ta
1.2.1 Vườn ươm tạm thời
Trang 11- Vườn ươm tạm thời dùng để gieo ươm cây con phục vụ cho một khuvực trồng rừng có diện tích nhỏ, trong một thời gian ngắn, thường được bố trí ởgần nơi trồng rừng, sử dụng các loại vật liệu tại chỗ, rẻ tiền để thiết lập vườnươm như: giàn khung dùng cọt tre, cây gỗ nhỏ Vật che phủ dùng tre nứa đan,ràng ràng hoặc vật liệu nhẹ cành lá khô ghép lại.
- Cây giống sản xuất ra thích ứng với điều kiện, hoàn cảnh nơi trồng rừng,không phải vận chuyển xa, tận dụng được diện tích gieo ươm phục vụ kịp thờicho trồng rừng
- Ưu, nhược điểm
+ Ưu điểm: chi phí tạo vườn ươm ít tốn kém, dễ thiết lập, gần nơi trồngrừng, tận dụng vật liệu tại chỗ tự kiếm hoặc mua rẻ tiền, cây giống thích ứng vớiđiều kiện, hoàn cảnh và phục vụ kịp thời cho trồng rừng
+ Nhược điểm: thời gian sử dụng ngắn, số lượng cây giống sản xuất ít, cóthể gặp những điều kiện hoàn cảnh bất lợi như sâu bệnh, thời tiết mưa bão
Hình 2.2.2 Vườn ươm tạm thời
1.2.2 Vườn ươm cố định
- Vườn ươm cố định dùng để sản xuất cây giống trong thời gian dài, trêndiện tích lớn, ươm nhiều loài cây với cường độ kinh doanh cao, có đủ các hạngmục xây dựng cơ bản và thiết bị chuyên dùng, thuận lợi cho việc cơ giới hóa, tựđộng hóa, có thể khống chế được những điều kiện hoàn cảnh bất lợi, khôngngừng nâng cao sản lượng và chất lượng cây giống
Trang 12Hình 2.2.2 Vườn ươm cố định
- Ưu, nhược điểm
+ Ưu điểm: thời gian sử dụng lâu dài, các công trình trong vườn ươmhoàn toàn mang tính chất công nghiệp, sản xuất cây giống số lượng nhiều, diệntích lớn, đáp ứng mục đích sản xuất kinh doanh cây giống
+ Nhược điểm: chi phí thiết lập vườn ươm cao, xa nơi trồng rừng, việc sửdụng trang thiết bị, máy móc và hạch toán trong thực tiễn sản xuất kinh doanhcây giống
Hình 2.2.3 Kích thước luống gieo ươm nền cứng
Trang 132 Điều kiện để xây dựng vườn ươm
2.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1 Khí hậu
Khu vực vườn ươm có điều kiện khí hậu (nhiệt độ, ẩm độ, chế độ mưa,lượng bốc hơi…) phù hợp với đặc tính sinh thái của một loài cây hoặc các loàicây sẽ gieo ươm Tốt nhất nên gieo ươm và trồng rừng trên những lập địa tương
tự như nơi mà loài cây sinh trưởng Cần tránh xây dựng vườn ươm ở nơi thấp,
ẩm ướt, không khí tù túng vì đó là môi trường rất thuận lợi cho dịch bệnh pháttriển, ảnh hưởng xấu đến cây con Nơi đặt vườn ươm phải thông thoáng nhưngcũng phải có khả năng hạn chế được ảnh hưởng của gió to và bão
2.1.2 Địa hình
Nên xây dựng vườn ươm nơi tương đối bằng phẳng, thoát nước, dốc dưới
50 để tiện cho việc áp dụng cơ giới, chăm sóc cây con và tránh được hiện tượngxói mòn, thoái hóa đất Ở vùng núi, nếu độ dốc quá lớn, cần làm thành bậc thang
để tạo mặt bằng gieo ươm Không nên chọn những nơi thung lũng hẹp, ít ánhsáng, những nơi cửa gió ở các thung lũng Nếu ở gần rừng, nên chọn vị trí cánh
xa rừng từ 20m trở lên
2.1.3 Hướng làm vườn ươm
Khi chọn hướng làm vườn ươm, cần căn cứ vào điều kiện khí hậu từngnơi, khả năng cung cấp nước và đặc tính của loài để xác định Nên chọn sườnnam, có giờ chiếu sáng dài, ấm áp về mùa đông, thông thoáng trong mùa hạ
Cần tránh xây dựng vườn ươm ở nơi bị che bóng mặt trời (cây cối, núinon, nhà cao tầng,vv…)
Trang 142.1.6 Tình hình sâu bệnh hại
Trước khi xây dựng vườn ươm, cần tiến hành điều tra tình hình sâu bệnhhại trong khu vực dự kiến sử dụng làm vườn ươm để có biện pháp phòng trừ.Nếu có mầm mống sâu bệnh, phải tiến hành tiêu trừ ngay để tránh dịch bệnh lâylan trong quá trình gieo ươm sau này
2.2 Điều kiện kinh doanh
2.2.2 Nguồn nước
Phải chọn nơi có nguồn nước sạch, đảm bảo đủ cung cấp nước quanh nămcho vườn ươm Nguồn nước tốt nhất là nước sông, suối hoặc nước hồ không bị ônhiễm Nếu nguồn nước tự nhiên khó tìm thì phải chọn nơi có điều kiện đàogiếng dễ dàng, đủ nước tưới cho cây con Không nên lập vườn ươm ở ven sônghay sát bên hồ nước, vì về mùa mưa dễ bị nước ngập hoặc mạch nước ngầm quácao, không có lợi cho sinh trưởng của cây con
2.2.3 Giao thông
Vườn ươm nên gần đường giao thông hoặc đường giao thông thuận tiện
để tiện cho việc vận chuyển vật tư (hạt giống, túi bầu, đất, phân bón, thuốcphòng trừ sâu bệnh…), trang thiết bị, máy móc và cây con
3 Quy hoạch vườn ươm
3.1 Khu vực sản xuất
3.1.1 Khu thúc mầm
Cần thiết đối với tất cả các loại vườn ươm Trước khi gieo, hạt cần được
xử lý, kích thích nẩy mầm, diệt trừ mầm mống sâu bệnh hại, để làm tăng sứcnẩy mầm, cây mạ, cây con phát triển tốt, đồng đều kích cỡ Khu thúc mầm phảithỏa mãn các yêu cầu sau:
- Có mái che mưa, nắng;
- Đảm bảo thông thoáng gió;
- Có giá đỡ cố định;
Sau khi nứt nanh, hạt được mang gieo trên luống hoặc ươm trên khay tạocây mầm, cây mạ rồi cấy vào bầu hoặc luống cấy
3.1.2 Khu gieo hạt
Trang 15Chọn nơi đất tốt nhất, bằng phẳng, ít gió, quản lý và tưới nước thuận lợi
để gieo hạt Khi cây mạ đủ tiêu chuẩn được bứng đi cấy trên luống hoặc cấy vàobầu;
3.1.3 Khu cấy cây
Là khu chính, có diện tích lớn nhất trong một vườn ươm, nhằm nuôidưỡng cây con trong một thời gian dài trước khi đem trồng;
Hiện nay, các loại cây mầm, cây mạ khi đủ tiêu chuẩn cây cấy thườngđược cấy vào bầu để thuận tiện cho việc chăm sóc và trồng rừng sau này đạt tỷ
lệ sống cao;
3.1.4 Khu trộn đất ruột bầu
Là nơi dự trữ và trộn đất ruột bầu Khu này cần có mái che mưa, nắng đểbảo quản được đất ruột bầu, đồng thời cũng là nơi để đóng bầu và xếp vào luống
để gieo hạt trực tiếp vào bầu hoặc cấy cây mầm vào bầu;
3.2 Hệ thống bổ trợ sản xuất
3.2.1 Hàng rào bảo vệ
Cần xây dựng hàng rào bảo vệ xung quanh vườn ươm Hàng rào phải chắcchắn để có thể ngăn chặn được gia súc, gia cầm… xâm nhập;
- Đối với vườn ươm tạm thời, có thể dùng tre, gỗ, cây gai để làm hàng rào
- Đối với vườn ươm cố định thì dùng cây xanh có gai (như găng, xươngrồng, aga…) trồng xung quanh vườn hoặc có điều kiện xây tường bao hoặc dâythép gai có trụ bê tông chắc chắn
Ở những nơi có gió hại cần trồng các đai rừng phòng hộ cho vườn ươm cốđịnh Nên chọn các loài cây mọc nhanh như: bạch đàn, keo, muồng đen…, hoặccác loài cây địa phương có bộ rễ ăn thẳng, không phải là cây trung gian của sâubệnh hại Đai rừng phòng hộ phải trồng cách vườn ươm từ 20m trở lên để khôngảnh hưởng đến cây con
3.2.2 Hệ thống đường
Cần bố trí hệ thống đường và bề rộng mặt đường đảm bảo cho xe cộ, máymóc hoạt động và sự đi lại của công nhận hoặc người lao động được thuận tiện
và tiết kiệm diện tích, bao gồm:
- Đường trục chính: là đường được bố trí ở trung tâm vườn, dành cho cácloại xe đi lại, vận chuyển vật tư, máy móc…Mặt đường rộng từ 6 – 8m (vườnươm lớn), từ 3 – 4m (vườn ươm vừa và nhỏ)
- Đường phụ (đường nhánh): là đường nối liền với đường trục chính, phânchia vườn thành các khu nhỏ, dành cho xe thô sơ và người đi lại Mặt đườngrộng từ 1 – 1,2m
- Đường bao quanh: ở vườn ươm cố định cần làm đường đi xung quanhvườn, bên trong hàng rào, rộng từ 1 – 1,5m, vừa để đi lại, vận chuyển phân bón,cây giống…, vừa là vùng cách ly khu gieo ươm với môi trường xung quanh
Trang 16- Hệ thống thoát nước được thiết kế và bố trí cạnh đường đi lại trong vườndưới dạng các kênh, rãnh thoát nước, vừa dễ thi công, vừa giảm bớt khối lượngđào đắp Kích thức các kênh, rãnh thoát nước có bề mặt rộng 50cm, đáy rộng40cm, sâu 30cm.
3.2.4 Nhà kho
Để chứa dụng cụ, vật tư sử dụng trong quá trình sản xuất cây con, nêmlàm ở vị trí không che khuất ánh sáng mặt trời tới luống gieo ươm hoặc luốngcây con
Hình 2.2.4 Sơ đồ quy hoạch vườn ươm
Trang 17B Câu hỏi và bài tập thực hành
Trang 18- Bề mặt rộng 50cm, đáy rộng 50cm, sâu 50cm
- Bề mặt rộng 50cm, đáy rộng 40cm, sâu 20cm
Câu 4 Điền thông tin đúng vào chỗ trống trong các câu sau:
a Khu gieo hạt: chọn nơi đất , , ít gió, quản lý và tưới nướcthuận lợi để gieo hạt
b Hình dạng vườn ươm nên là hình hoặc để dễ quy hoạch
- Vườn ươm tạm thời chi phí ít tốn kém
- Vườn ươm cố định chi phí thiết lập vườn ươm cao
- Nơi đặt vườn ươm thông thoáng, hạn chế được gió bão
- Địa hình làm vườn ươm chọn nơi bằng phẳng, thoát nước
- Ở vùng núi, nếu độ dốc quá lớn, cần làm thành bậc thang để tạo mặtbằng gieo ươm
- Không làm vườn ở những nơi hướng nắng gắt, gió mùa
- Không làm vườn ở những nơi úng, trũng hoặc những nơi đang trồng raumàu
- Vườn ươm phải gần nơi có thể dễ dàng lấy đất đóng bầu
- Trước khi xây dựng vườn ươm, cần tiến hành điều tra tình hình sâu bệnh
- Hình dạng vườn ươm nên là hình chữ nhật hoặc hình vuông để dễ quyhoạch và sử dụng cơ giới
- Phải chọn nơi có nguồn nước sạch, đảm bảo đủ cung cấp nước quanhnăm cho vườn ươm
Trang 19Bài 3: Sản xuất cây giống hồi từ hạt
Mã bài: MĐ02-03 Mục tiêu:
- Nhắc lại được yêu cầu kỹ thuật các bước trong sản xuất cây giống hồibằng phương pháp gieo hạt;
- Thực hiện được các công việc: thu hái, bảo quản hạt giống hồi; xác địnhđược thời vụ và chuẩn bị được đất gieo ươm; xử lý hạt giống; gieo hạt; cấy câymầm, ra ngôi, đảo bầu, hãm cây, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại hồi ở vườnươm đúng yêu cầu kỹ thuật đáp ứng cây giống tiêu chuẩn cho sản xuất;
- Đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh môi trường và tiết kiệm nguyên vậtliệu
Sản xuất cây giống bằng hạt là phương pháp nhân giống hữu tính, có thể
áp dụng cho hầu hết các loài cây, trước khi con người sử dụng các phương phápnhân giống vô tính như: chiết, ghép, giâm hom;
1.2 Ưu, nhược điểm sản xuất cây giống bằng hạt
1.2.1 Ưu điểm
- Kỹ thuật đơn giản, dễ làm
- Cây có bộ rễ phát triển mạnh, tuổi thọ thường cao hơn các phương phápnhân giống khác
- Cây nhân giống từ hạt sinh trưởng khỏe, tính chống chịu với ngoại cảnhcao
- Hệ số nhân giống cao
- Chi phí sản xuất thấp hơn so với các phương pháp khác
1.2.2 Nhược điểm
Nhược điểm chính của sản xuất cây giống bằng hạt:
- Nhiều biến dị, cây mẹ tốt nhưng cây con có thể xấu; những cây connhân từ một cây mẹ rất khác nhau về sản lượng, chất lượng
- Cây nhân giống từ hạt sinh trưởng chậm;
Những nhược điểm trên đã cho thấy cây giống sản xuất từ hạt còn nhữngđiểm hạn chế trong sản xuất kinh doanh, vì vậy ngày nay người dân đã áp dụng
Trang 20phương pháp sản xuất cây giống bằng vô tính (như giâm, chiết, ghép) Đối vớicây lấy quả người dân đã chủ động mua cây giống hoặc sản xuất cây giống bằngphương pháp ghép, chiết cành.
2 Thu hái, chế biến và bảo quản hạt giống
2.1 Thu hái quả
2.1.1 Tiêu chuẩn quả giống
Quả làm giống được chọn ở những rừng cây thuần loại hồi 8 cánh ở vụ hồi mùa(tháng 8 – 10)
Chỉ sử dụng quả hồi mùa làm giống Ở tuổi cây thành thục từ 15 năm trởlên, nhưng tốt nhất là cây tuổi từ 30 – 40 năm, cây không bị sâu bệnh, sinhtrưởng tốt, thân thẳng mập, tán cân đối, quả sai đều hàng năm (ở tuổi này câycho trung bình từ 60 – 70kg quả tươi; cây sai quả có thể cho sản lượng từ 120 –140kg)
Hình 2.3.1 Cây hồi 40 năm ở Văn Quan - Lạng Sơn
2.1.2 Thời gian thu hái
Quả hồi để làm giống phải được thu hái vào sau tiết sương giáng (23tháng 10 dương lịch) từ 5 – 7 ngày, quả đã chín
2.1.3 Đặc điểm độ chín của quả
Nhận biết quả, hạt chín có những biểu hiện đặc trưng về mặt hình thái,mầu sắc và mùi vị…quả, hạt hồi khi chín vỏ thường có mầu vàng mơ, hạt bêntrong có mầu nâu đậm, bóng nội nhũ mầu trắng và cứng
Trang 21Hình 2.3.2 Quả hồi mầu vàng mơ
Hình 2.3.3 Hạt có mầu nâu đậm, bóng
Trang 222.1.4 Cách thu hái
Để đảm bảo chất lượng hạt giống và tạo điều kiện thuận lợi trong quátrình chế biến, bảo quản, đồng thời bảo vệ cây giống phục vụ sản xuất lâu dài vàsản lượng vụ sau, khi thu hái cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Chỉ thu hái những quả đã chín (vỏ quả mầu vàng mơ), mẩy, không sâubệnh;
- Không bẻ cành, chặt ngọn cây giống
- Thu hái quả lúc trời nắng ráo
- Trèo lên cây hoặc đứng dưới đất dùng cù nèo, móc giật từng quả chín
Hình 2.3.4 Trèo hái quả hồi 2.2 Chế biến
2.2.1 Phân loại quả
Quả sau khi mang về sơ bộ nhặt bỏ tạp vật, tiến hành lựa chọn quả chín
để chế biến trước, những quả chưa chín đều cần nhặt để riêng hoặc những quảchưa thật chín hoàn toàn phải ủ một thời gian cho quả chín đều
2.2.2 Ủ quả, hong phơi
Quả chưa chín đều được ủ thành từng đống (cao từ 30 – 40cm) trên nềnnhà thông thoáng và có mái che, tránh nhiệt độ cao Thời gian ủ từ 2 – 3 ngàycho quả chín đều, mỗi ngày đảo lại 1 lần Khi quả chín đều chọn những quả 8
Trang 23cánh, mẩy, không sâu bệnh rải mỏng, phơi ở nơi thoáng mát, có thể phơi dướinắng nhẹ một lúc vào buổi sáng, không phơi dưới nắng to.
2.2.3 Tách hạt
Sau 4 – 5 ngày hạt tách ra, những hạt chưa tách ra được có thể dùng quetre để tách lấy hạt Hạt sau khi được tách ra mang cho vào nước sạch và chỉ thunhững hạt chìm xuống dưới để làm giống, hạt được vớt ra hong khô ở nơithoáng gió 4 – 5 ngày, khi hạt đã ráo nước cho vào bảo quản.Thường để lấyđược 1kg hạt cần 25 – 30kg quả tươi 1 kg hạt có từ 12.000 – 13.000 hạt Saukhi thu lấy hạt phải thu gom vỏ quả để sử dụng lấy tinh dầu
* Chú ý:
- Chọn những hạt mẩy đều có mầu cánh gián để làm giống;
1 Ủ quả 2 Phơi quả 3 Tách hạt 4 Chọn hạt mẩy 5 Để ráo nước
Hình 2.3.5 Tách quả lấy hạt
2.3 Bảo quản hạt giống
2.3.1 Chuẩn bị
- Dụng cụ: xô nhựa hoặc chun vại sành, túi nilon
- Nguyên liệu: hạt giống, cát có độ ẩm 15 – 16%
2.3.2 Bảo quản hạt giống
2.3.2.1 Bảo quản ẩm
Cách 1: Rải một lớp cát ẩm (có độ ẩm từ 15 – 16%) dầy 5cm sau đó dải
một lớp hạt dầy 3cm cứ như vậy thành đống cao không quá 60cm Bên ngoàiđống ủ phủ một lớp cát dầy 5 – 7cm
Trang 24Cách 2: Hạt được trộn đều với cát có độ ẩm từ 15 – 16% theo tỷ lệ 1 hạt
+ 3 cát (theo thể tích), được bảo quản trong xô nhựa nhưng tốt hơn là trongchum hoặc vại sành Trong quá trình bảo quản 3 – 5 ngày đảo lại 1 lượt nếu cát
bị khô phải bổ sung thêm nước (phải sàng tách riêng hạt và cát khi tưới nước).Phương thức bảo quản này có thể duy trì sức sống của hạt từ 75 – 100 ngày
* Chú ý:
- Kiểm tra độ ẩm của cát bằng cách: nắm cát chặt trong lòng bàn taykhông có nước chảy qua kẽ tay, trong tay có cảm giác mát, khi buông tay ra nắmcát vẫn còn nguyên hình chưa tơi rời
- Thường xuyên giữ ẩm cho hạt và đảo hạt định kỳ, bỏ hạt mốc, thối vànhững hạt nẩy mầm
Hình 2.3.6.Nắm cát kiểm tra độ ẩm 15 – 16%
Hình 2.3.7 Trộn hạt với cát
Trang 25Hình 2.3.8 Bảo quản ẩm cách 1
Hình 2.3.8 Bảo quản ẩm cách 2
Trang 26Hình 2.3.9 Bảo quản trong chum vại sành
2.3.2.2 Bảo quản ở nhiệt độ thấp
Hạt giống được đựng trong túi PE (nilon) hàn kín và được giữ ở nhiệt độ
ổn định 5 – 100C, phương thức này có thể duy trì sức sống của hạt được lâu hơn.2.3.2.3 Bảo quản lạnh
Nếu có điều kiện cho hạt vào trong tủ lạnh hoặc nhà lạnh để bảo quản
Hình 2.3.10 Bảo quản lạnh
Trang 273 Chuẩn bị đất gieo ươm
3.1 Thời vụ gieo ươm
Xác định thời vụ gieo hạt thích hợp, chủ yếu là căn cứ vào: điều kiện khíhậu của từng địa phương; đặc tính sinh vật học của loài cây (mùa hạt chín, khảnăng giữ sức nẩy mầm của hạt giống, sức đề kháng của cây con), khả năng cấttrữ hạt giống, thời vụ trồng rừng, tuổi cây con đem trồng, đem cấy, trình độ cơgiới hóa và mức độ thâm canh
Nhìn chung đại bộ phận các loài cây gieo ươm vào mùa xuân hoặc thu,tuy nhiên có một số loài cây gieo vào các mùa khác nhau Ở miền Bắc thườnggieo hạt vào mùa khô từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau Ví dụ: hồi thời gian gieohạt đến khi xuất vườn 1 năm, nhân giống cây hồi bằng phương pháp ghép thờigian nuôi cây trong vườn 2 năm Do đó, khi tính thời điểm gieo hạt, ghép câyphải lấy thời vụ trồng rừng trừ đi thời gian nuôi cây con ở vườn ươm (hoặcchăm sóc cây sau ghép) Ví dụ: mùa trồng hồi ở Tràng Định từ là tháng 3 – 6hàng năm do vậy, ta phải tiến hành gieo ươm từ tháng 2 – 3 năm trước (trướcmùa trồng rừng 1 năm)
* Chú ý:
- Gieo ươm tháng 1, 2 cấy cây tháng 3, 4, 5
- Nên gieo hạt làm vài đợt, mỗi đợt cách nhau 5 – 6 ngày để có thể bố trícác công việc rải đều hợp lý như: cấy cây, tưới nước, tưới phân, làm cỏ, xớiváng…và có đủ cây giống xuất vườn đều đặn trong suốt mùa trồng rừng
3.2 Tạo luống gieo ươm
3.2.1 Chuẩn bị
- Dụng cụ: cuốc, bàn trang, cọc, dây
- Hiện trường: đất đã cầy bừa
3.2.2 Làm đất
Đất được cày bừa kỹ loại bỏ cỏ dại trước khi gieo ươm từ 1 – 1,5 tháng.Trước khi gieo hạt từ 10 – 15 ngày đất cần được xử lý tiêu diệt nấm và sâu bệnhsẵn có ở trong đất, thuốc để xử lý đất có thể dùng PCNP (Pentachorontri benzen) với liều lượng 5 – 6 gam/m2 hoặc có thể dùng 75% PCNP + 25% Xerezan
* Chú ý:
+ Trong khi làm đất phải loại sạch cỏ dại, đặc biệt là cỏ gấu, cỏ tranh và
cỏ mần trầu chúng ta nhặt kỹ và thu gom đem đốt
+ Thời gian hạt đem gieo thành cây mạ khoảng 2 – 3 tháng nên hạt nằm trongđất gieo lâu rất dễ bị hay bị nấm bệnh Vì vậy, việc phòng bệnh cho hạt là rấtquan trọng Luống trước khi gieo hạt phải được dải một lớp mỏng vôi bột vàđịnh kỳ phun thuốc trừ nấm bằng dung dịch Boocđô nồng độ 1%
3.2.3.Lên luống nổi có gờ
Trang 28Hiện nay, loại luống nổi được áp dụng rất phổ biến vì luống nổi có bề mặtcao hơn rãnh luống, do đó thoát nước nhanh, tiện lợi cho việc chăm sóc Có 2loại luống nổi thường được sử dụng là luống nổi mặt phẳng và luống nổi có gờ.3.2.3.1 Khái niệm luống nổi có gờ
Là loại luống mà mặt luống cao hơn mặt rãnh, xung quanh mép luống có
gờ bao bọc
Hình 2.3.11 Luống nổi có gờ
3.2.3.2 Mục đích
- Giữ cho hạt không bị trôi dạt khi mưa to
- Giữ ẩm trên luống
3.2.3.3 Kích thước
- Chân luống rộng 1,3m, mặt luống rộng 1,2m,
- Dài 810m, cao 12 – 15cm
- Rãnh luống rộng 40cm
3.2.3.4 Yêu cầu kỹ thuật
- Luống thẳng, mặt luống phẳng, đất trên mặt luống nhỏ (đường kính 2 5mm), sạch cỏ, không có sỏi đá
- Gờ thẳng, phẳng, cao 3 5cm, rộng 3 5cm
- Má luống và mép gờ được đập chặt nghiêng một góc so với mặt luống
45 500
Trang 293.2.4 Trình tự các bước lên luống nổi có gờ
Bước 1: Định hình luống
Căng dây, kéo cự định hình luống
Hình 2.3.12 Định hình luống
Bước 2: Tạo hình luống
Dùng cuốc bàn lấy hết 1/2 đất ở rãnh kéo lên mặt luống
Hình 2.3.13 Tạo hình luống
Trang 30Bước 3: Tạo gờ luống
Dùng bàn trang gạt đất từ giữa luống ra rìa luống để tạo gờ
Hình 2.3.14 Tạo gờ luống
Bước 4: Đập má luống, mép gờ
Dùng mặt sau thân cuốc đập chặt má luống và mép gờ
Hình 2.3.15 Đập má luống, mép gờ
Trang 31Bước 5: San mặt luống
Dùng bàn trang kéo đất ở rìa luống vào giữa luống
Hình 2.3.16 San mặt luống 3.3 Tạo bầu gieo ươm
- Đất sàng được vận chuyển về vườn ươm để trong nhà có mái che (kho)hoặc để trên luống ngoài trời phải được che đậy khi mưa
3.3.3 Thành phần hỗn hợp ruột bầu
- Đất màu: Thường sử dụng đất tầng AB dưới tán rừng, sàng lấy đất nhỏ
- Phân chuồng đã và phân xanh ủ hoai, sàng nhỏ
- Phân lân (P)
Ngoài các thành phần trên có thể trộn thêm trấu, mùn ràng ràng, mùncưa tuỳ từng điều kiện cụ thể
Trang 32Hình 2.3.17 Thành phần ruột bầu
3.3.4 Công thức hỗn hợp bầu
Đối với gieo ươm hồi chúng ta áp dụng công thức hỗn hợp bầu ươm nhưsau: 70% đất rừng (tầng A + B) + 25% phân hữu cơ (phân chuồng và phân xanhhoai mục) + 5% phân vô cơ (supelân)
+ Đảo xuôi chiều gió để hỗn hợp không bay vào người
+ Phải có đầy đủ bảo hộ lao động (quần áo, giầy, mũ, khẩu trang)
Hình 2.3.18 Trộn hỗn hợp
Trang 333.3.6 Các loại vỏ bầu
- Sử dụng tre, nứa đan thành vỏ bầu
Hình 2.3.19 Vỏ bầu bằng tre nứa
- Sử dụng ống nứa làm vỏ bầu
Hình 2.3.20.Vỏ bầu bằng ống nứa
Trang 34- Sử dụng rơm băm nhỏ trộn với đất làm thành vỏ bầu
Hình 2.3.21.Vỏ bầu bằng đất + rơm
- Sử dụng lá chít tạo vỏ bầu
Hình 2.3.22.Vỏ bầu bằng lá chít
Trang 35- Vỏ bầu bằng nilon (Polyetylen)
Hình 2.3.23.Vỏ bầu Polyetylen
Trong các loại vỏ bầu đã kể ở trên thì vỏ bầu Polyetylen (P.E) đang đượcdùng phổ biến hiện nay; vỏ bầu sử dụng để đóng gieo ươm hồi thường có kíchthước: đường kính 12cm, cao 16cm, túi bầu có đáy, có dập lỗ tròn xung quanh
Hình 2.3.24.Vỏ bầu bằng P.E
Trang 363.3.7 Trình tự các bước đóng bầu
3.3.7.1 San nền
Nền luống đặt bầu: bằng phẳng rộng 1,2cm, dài 8 – 10m hoặc theo chiềudài luống thực tế khi san nền; nền luống rắc vôi bột 0,1kg/m2 để chống giun, dếlàm hỏng bầu
Hình 2.3.25.Căng dây chia ô
3.3.7.2 Đóng bầu
Bước 1 Lấy và mở miệng túi bầu bằng tay không thuận
Hình 2.3.26.Lấy và mở miệng túi bầu
Trang 37Bước 2 Dồn hỗn hợp vào bầu
1) Dồn hỗn hợp lần 1: đổ hỗn hợp vào 2/3 chiều cao bầu, nén chặt theochiều thẳng đứng
Hình 2.3.27 Nén hỗn hợp lần 1
2) Dồn hỗn hợp lần 2: đổ hỗn hợp đầy bầu, nén nhẹ tạo độ xốp trong bầu
và đổ đầy san phẳng mặt bầu
Hình 2.3.28 Nén hỗn hợp tạo độ xốp và san mặt bầu
Trang 38Bước 3 Xếp bầu vào luống
- Xếp so le hoặc thẳng hàng
- Xếp từ giữa luống về phía người ngồi
Hình 2.3.29 Xếp bầu vào luống
Bước 4 Áp đất tạo má luống
- Kéo đất ở rãnh áp vào luống bầu tạo má luống
Trang 394 Xử lý hạt giống và gieo ươm
4.1 Chuẩn bị
- Dụng cụ: xô, chậu, rá, túi vải, bao tải, sảo tre
- Vật liệu: hạt giống, rơm đã khử trùng, nước sạch
Trang 40Hính 2.3.32.Ngâm hạt trong nước lã
Hính 2.3.33.Vớt hạt