1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tổng quan về selen và các dạng thuốc chứa selen

47 820 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vói nhiều hợp chất hữu cơ của Lưu huỳnh, Selen có thể thay thế vị trí của Lưu huỳnh trong các hợp chất đó, cho những hợp chất tương tự của Selen như: Thioure và Selenoure, Cystein và Sel

Trang 1

B ộ Y TÊ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ■ ■ Dược HÀ NỘI ■ ■

VŨ THỊ PHƯƠNG THẢO

TỔNG QUAN VỂ SELEN

VÀ CÁC DẠNG THUỐC CHỨA SELEN

(KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Dược SỸ KHÓA 1997-2002)

Người hướng dẫn: PGS.TSKH Lê Thành Phước Nơi thực hiện: Bộ môn Vô cơ - Hoá lý

Thời gian thực hiện: Tháng 5 năm 2002

Trang 2

ÍỜ ÍC Ả M Ơ N

Tr-uớũ tièn, tòixỉn Ấàỷ tỏ ểònỷ ầỉểt ơn gàu sắũ đén Pổf£, 7~s/ctf, íè 7~kàẬ Phư.ởữf

Kỷư.ữitkà(ỷ> (Ế tà« tÌKầ/ hơLỚKỷ dẫn tôiỊioàn thành /Ckoá ểmn 7~ết KỷkỉèỊ) Kầcỷ,

Xin ỷ ả ỉ ểờỉ cảm ơn Bở mởn ỉ/ò ũơ - /fớá ểýtf Traơtiỷ Đ aỉ ko& Dtiơữ //à /Vớ/da tao moi

điền £ièn tết nhất ôko tôỉ tro Kỷ CỊaả trình/ ểàm /Ckoá ểaẵf(.

Cdếỉ cầnỷ, tò i m cảm ơn ữác tkầíf>t ũẽt ỷỉa đình ơ-à ếan ế i ẩa ẩÔKý (Hèn, ỷiấị) ẩơ ơ-à

đó Kỷỷóp nkữ.Kỷ ệ ùển (Ịtíỷ ểáu đễ kình thành nền /Ckoả ểu.àn Kầỷ.

Xi* ôhân t(vànk ÔỎM ơn.

//à Ạ/ôt] tkánỷ 05 năm2002,

£ỉ«k u-ỉín ị/u 7~ỉvỉPk(iffnỷ 7~kảo.

Trang 3

3 4 4 4 5 5 6 7

8 8

9 11

11

12 12 13

13 15

15 16 17 17 18 18

MỤC LỤC ■ ■

MỤC L Ụ C

ĐẶT VẤN ĐỂ .

PHẦN 1 TỔNG QUAN VỂ SELEN .

1.1 Nguyên tố S e le n

1.1.1 Đặc đ iể m

1.1.2 Định tính và định lượng Selen .

1.1.2.1 Định tín h

1.1.2.2 Định lư ợng

1.1.3 Lịch sử nghiên cứu vai trò sinh học của Selen .

1.2 Phân bố, thuộc tính và chuyển hoá của Selen .

1.2.1 Phân bố c h u n g

1.2.2 Selen trong đ ấ t

1.2.3 Selen trong nước tự nhiên .

1.2.3.1 Trong nước sinh h o ạ t

1.2.3.2 Trong sông hồ và nước thuỷ lợi .

1.2.3.3 Trong nước biển và đại dương

1.2.4 Selen trong thực v ậ t

1.2.4.1 Các nguyên nhân ảnh hưởng đến hàm lượng Selen trong thực v ậ t

1.2.4.2 Ảnh hưởng của Selen đến sự phát triển của thực vật 1.2.4.3 Sự chuyển hoá Se len và các hợp chất của Seỉen trong thực vật .

1.2.4.4 Selen trong một số cây trồng .

1.2.4.5 Thuộc tính sinh học của Selen trong thực v ậ t

1.2.5 Selen trong n ấ m

1.2.6 Seỉen trong động v ậ t

1.2.6.1 Selen trong cá .

Trang 4

1.2.6.2 Sự phân b ố của Selen trong cơ thể người và động vật 18

1.2.6.3 Bẩn chất hoá học của Selen trong cơ thể và sự chuyển hoá của n ó 20

1.2.7 Vòng tuần hoàn của Selen trong tự n h iên 25

1.3 Chức năng sinh học của S elen 26

1.3.1 Vai trò antioxydant của Selen .26

1.3.2 Vai trò trong lão h o á 28

1.3.3 Selen trong bệnh ung t h ư 28

1.3.4 Vai trò trong HIV - A I D S 30

1.3.5 Vai trò trong các bệnh phóng xạ 30

1.3.6 Selen trong các bệnh tìm mạch 31

1.3.7 Selen và bệnh loạn dưỡng cơ (bệnh cơ trắng, K eshan) 32

1.3.8 Selen trong hình thành hệ thống miễn đ ịc h 32

1.3.9 Selen đối với quá trình viêm 33

1.3.10 Selen trong nhãn k h o a 33

1.3.11 Selen trong giải độc 34

1.3.12 Selen trong các bệnh lý k h á c 34

1.4 Độc tính của S e le n 35

1.4.1 Đối vói động vật .35

1.4.2 Đối với con n gư ời 36

PHẦN 2 CÁC DẠNG THUỐC CHỨA SELEN 36

2.1 Nhu cầu Selen của con người 36

2.2 Một số dạng thuốc chứa Selen 38

PHẦN 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 41

3.1 Kết q u ả 41

3.2 Bàn lu ậ n 41

KẾT L U Ậ N 42

TÀI LIỆU THAM KHẢO 43

Trang 5

ĐẶT VÂN ĐỂ

Selen là nguyên tố có mặt trong tất cả các mô của cơ thể sống Nó đóng vai trò quan trọng trong quá trình hô hấp tế bào vì liên quan đến sinh tổng hợp Co-enzym Q (ubiquinon), là thành phần cấu tạo nên Glutathion peroxidase (GSHPx) - một enzym chống lại quá trình oxy hoá Lipid bảo vệ tế bào Ngoài ra, Selen cũng xúc tác cho các phản ứng giải độc kim loại nặng như Arsen, Chì, Thủy ngân, Cadimi

Tuy nhiên, vai trò quan trọng của Selen đối với cơ thể sống nói chung và con người nói riêng không phải sớm được khẳng định Đầu tiên, người ta biết đến Selen như là một chất độc, gây què và tử vong các động vật ăn cỏ (Franke, 1834) Một số các triệu chứng điển hình ở ngựa được miêu tả như rụng lông đuôi, lông bờm, phù xương móng dẫn đến viêm móng và rụng móng có nguyên nhân liên quan đến Selen

Sau đó, một loạt các công trình khoa học nghiên cứu một cách đầy đủ các tác dụng của Selen trên cơ thể con người và động vật được tiến hành Đến năm 1960, người ta đã chính thức thừa nhận các tác dụng có lợi của Selen, coi nó là một nguyên

tố vi lượng thiết yếu cho người và động vật Ngoài ra, người ta cũng nghiên cứu hiệu quả của Selen trong phòng ngừa và điều trị một số bệnh như ung thư, tim mạch, lão hoá

Nhờ những tác dụng có lợi như vậy của Selen, cùng với sự phát triển nhanh chóng của các ngành khoa học và công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp dược, người

ta đã ứng dụng để sản xuất ngày càng nhiều dạng thuốc chứa Selen, đặc biệt là Selen hữu cơ có trong nấm men Những dạng thuốc này đã được dùng rất có hiệu quả trong phòng chống và điều trị nhiều quá trình bệnh lý

Chính vì những tác động của nguyên tố Selen: vừa có ích, vừa có hại, cùng vói

sự ra đòi rất nhanh chóng của rất nhiều dạng thuốc chứa Selen, chúng tôi chọn đề tài

“Tổng quan về Selen và các dạng thuốc chứa Selen” với các mục tiêu sau:

- Đưa ra một cái nhìn tổng thể về nguyên tố Selen

- Các tác động của Selen đối với cơ thể sống

- Cập nhật một số thông tin về các loại thuốc chứa Selen trên thị trường hiện nay

Trang 6

Vói nhiều hợp chất hữu cơ của Lưu huỳnh, Selen có thể thay thế vị trí của Lưu huỳnh trong các hợp chất đó, cho những hợp chất tương tự của Selen như: Thioure và Selenoure, Cystein và Selenocystein, Methionin và Selenomethionin, các enzym chứa nhóm -SeH tương tự như các enzym chứa nhóm -SH, các chất đạm có chứa các Selenoacid amin

Ở mức oxy hoá +4, Selen tổn tại dạng Selen dioxyd (Se02), acid Selenơ (H2Se03) và muối Selenit (Se03 2 ) Selen nguyên tố cháy trong không khí thành dạng Se02

Selen tồn tại dạng acid Selenic (H2Se04) hoặc muối Selenat (Se04 2 ) là do có

số oxy hoá +6 H2Se04 là dạng acid mạnh hình thành do quá trình oxy hoá Selen hoặc H2Se03 dưới xúc tác của các tác nhân oxy hoá mạnh như NaBr03 / NaHC03

hoặc Br2,Cl2 H20 2/ H2 0

Trang 7

Khi ở mức oxy hoá -2, Selen tổn tại dưới dạng Selenid (Se2') Hydro Selenid (H2Se) là một acid khá mạnh Ở thể khí, nó không màu và có độc tính khá cao H2Se được hình thành do sự thuỷ phân của hợp chất Selenid kim loại hoặc do Selen nguyên

tố bị phân huỷ trong không khí ở điều kiện 400°c H2Se không bền trong không khí,

nó dễ dàng phân huỷ thành Selen và H20

Các hợp chất Selen đáng chú ý trong dinh dưỡng và sức khoẻ là các dạng methyl hoá của Selen như: (CH3)2Se, (CH3)2Se+, các dạng Selen hữu cơ là các Selenoacid amin như: Selenocystein, Selenocystin, Selenomethionin

1.1.2 Định tính và định lượng Selen

1.1.2.1 Định tính

• Phương pháp khử Selen (IV,VI) về Selen nguyên tố

Khử các hợp chất của Selen (IV) hoặc Selen (VI) về trạng thái nguyên tố Se° Nếu hàm lượng Selen trong mẫu cao sẽ xuất hiện tủa đỏ Nếu hàm lượng Selen trong mẫu thấp hơn thì sẽ tạo thành dung dịch keo có màu từ đỏ - đỏ cam - vàng cam - vàng Ví dụ:

- Phản ứng với S 02 trong môi trường acid mạnh: tạo dung dịch đỏ cam, thêm acid nitric (H N 03) dung dịch sẽ mất màu và trở thành trong suốt Dung dịch keo nói trên Ổn định trong vài tuần

- Phản ứng với thioure trong môi trường acid mạnh sẽ tạo tủa đỏ, tủa này tan trong thioure thừa

- Phản ứng vói iodid trong môi trường trung tính sẽ cho tủa đỏ, khi thêm thioure thì màu đỏ vẫn không mất

• Phương pháp tạo phức

- Với amonimolypdat: Selen (IV) và Selen (VI) tạo thành phức xanh lơ

- Với các O-diamino thơm: phản ứng nhạy và chọn lọc, nhất là sự tạo phức giữa Selen (IV) vói 3-3’ diaminobenzidin

Trang 8

- Phương pháp động học xúc tác: Selen xúc tác cho phản ứng khử xanh metylen bằng Natri sulíid (Na2S), xanh metylen sẽ mất màu nhanh nếu mẫu thử có chứa vết Selen (so với mẫu chứng).

1.1.2.2 Định lượng

• Phương pháp phân tích khối lượng

Nguyên tắc: chuyển những hợp chất Selenat (Se042'), Selenit (Se032') trong các mẫu thử về Selen nguyên tố kết tủa đỏ nhờ các chất khử khác nhau như S 02, muối Fe2+, Cu1+, thioure sau đó lại lấy tủa, rửa, sấy khô rồi đem cân để tính kết quả

Cách khác, có thể dùng các thuốc thử O-diamino thơm tạo phức dipiazoselenol kết tủa, loại rửa tủa, sấy, cân tính kết quả

• Phương pháp đo quang

Có thể đo quang dung dịch keo Selen hoặc đo quang nhờ phản ứng tạo phức giữa Selen (IV) với các thuốc thử O-diamino thơm

Nguyên tắc của phản ứng tạo phức: Selen phản ứng rất nhạy và rất chọn lọc vói các O-diamino thơm, tạo phức piazoselenol Trong các dung môi hữu cơ, phức này có cực đại hấp thụ rất đặc trưng, do đó có thể đo quang để xác định hàm lượng Selen trong các mẫu thử Trong số các thuốc thử thì 3-3’ diaminobenzidin là được dùng phổ biến nhất Ngoài ra cũng có thể dùng 2 ,3 -diaminonaphtalen (Dược điển

Mỹ, The USP - XXIV/2001)

Tiến hành: Selen (IV) trong môi trường vô cơ hoá được chuyển sang môi trường HC1 6N Điều chỉnh pH của dung dịch đến 2-3 bằng NH40H (1:1) Thêm

complexon (III) và HCOOH 2,5M Thêm dung dịch thuốc thử 3-3 diaminobenzidin

0.5% vừa pha, để chỗ tối khoảng 1 giờ Nâng pH lên 8 và chiết bằng toluen Đo quang ở bước sóng 420 nm để định lượng Selen

• Phương pháp huỳnh quang

Nguyên tắc: Phức piazoselenol tạo thành giữa Selen (IV) và các O-diamino

thơm phát huỳnh quang ở bước sóng thích hợp Do đó, có thể đo cường độ huỳnh quang để định lượng Selen

Trang 9

- Với 3-3 diaminobenzidin: Selen (IV) sẽ tạo phức monopiazoselenol Trong dung mồi hữu cơ, phức này phát huỳnh quang ở bước sóng 580 nm, với bước sóng kích thích là 436 nm.

- Với 2 ,3-diaminonaphtalen: mẫu thử được nghiền nhỏ, vô cơ hoá trong bình Keldan bằng hỗn hợp H N 03 + HCIO4, pha loãng dịch vô cơ hoá bằng nước cất Thêm vào đó dung dịch Trilon B 0,2 M và dung dịch NH4OH 10%, đưa pH đến 2 Thêm dung dịch Hydroxylamin 1% Sau đó thêm dung dịch thuốc thử 2,3- diaminonaphtalen Đậy dung dịch và giữ ở 80°c trong 30 phút Chiết bằng n-hexan Phức piazoselenol phát huỳnh quang ở bước sóng 520 nm, với bước sóng kích thích là

380 nm

• Phương pháp cực phổ

Nguyên tắc: đưa Selen trong mẫu về dạng Selen (IV) rồi đem đo trên thiết bị cực phổ giọt thuỷ ngân với dung dịch điện ly nền là acid Dưới thế một chiều biến thiên từ 0 đến -lOOOmV, Selen bị khử ở Catod cho 2 thế bán sóng Đem đo cường độ dòng khuếch tán giới hạn tại thế bán sóng thứ 2 sẽ xác định được nồng độ Selen trong dung dịch đo, từ đó tính được hàm lượng Selen trong mẫu thử

1.1.3 Lịch sử nghiên cứu vai trò sinh học của Selen

Trong những năm đầu thế kỷ 20, hầu như chỉ có những thông báo về tác hại của các hợp chất của Selen đối với sức khoẻ con người và động vật Việc phát hiện ra Selen là nguyên nhân chính gây bệnh kiềm ở động vật ăn cỏ đã khẳng định thêm độc tính cao của Selen Súc vật ăn cỏ có chứa Selen ở nồng độ cao có thể bị què, hay cá biệt có những trường hợp bị tử vong

Đặc tính sinh học của Selen chỉ được chú ý do độc tính cao của nó Selen chính là nguyên nhân gây què và tử vong các động vật ăn cỏ sống ở vùng Dakotas và Wyomine (Franke, 1834) Một số các triệu chứng điển hình ở ngựa được Nadison và những người khác (nnk) (1860) miêu tả như rụng lông đuôi, lông bờm, phù xương móng dẫn đến viêm móng và rụng móng

Tuy nhiên sau đó, ngưòi ta cũng phát hiện ra rằng, bên cạnh các tác hại của Selen đối vói động vật, Selen còn có tác dụng có lợi Năm 1959, khi nghiên cứu về

Trang 10

hiện tượng thoái hoá gan ở chuột, Klaus Schwarz đã nhận thấy rằng, Selen có khả năng làm giảm hiện tượng này.

Tiếp theo đó, một loạt các công trình khoa học nghiên cứu một cách đầy đủ các tác dụng của Selen trên cơ thể con người và động vật được tiến hành Đến năm

1960, người ta đã chính thức thừa nhận các tác dụng có lợi của Selen, coi nó là một nguyên tố vi lượng thiết yếu cho người và động vật Ngoài ra, người ta cũng nghiên cứu hiệu quả của Selen trong phòng ngừa và điều tri một số bệnh như ung thư, tim mạch, lão hoá

Từ những khía cạnh có lợi của Selen, người ta đã ứng dụng và sản xuất các loại thuốc chữa bệnh có chứa Selen Điển hình trên thị trường hiện nay có các loại thuốc chứa Selen điều chế từ Selen hữu cơ có trong nấm men: Belaf, Youngton, Saylom, Binacle, Cigelton

1.2 Phân bố, thuộc tính và chuyển hoá của Selen

Hàm lượng Selen trong đất phụ thuộc vào bản chất khoáng thạch bị phong hoá

đã tạo thành đất đó Ngoài ra, do các hạt keo đất và Hydroxid sắt (Fe(OH)3) có khả năng lớn trong việc hấp phụ ion Selenit (Se4+), nên trong các quá trình địa chất, Selen thường tập trung ở những vùng đất có hàm lượng sắt cao Ngoài ra đất mùn hoặc đất

có hàm lượng carbonat cao cũng tạo điều kiện cho việc tập trung Selen

Trang 11

Ở những noi có hàm lượng Lưu huỳnh lớn thường tìm thấy Selen lẫn trong các khoáng vật dưới dạng tạp chất Selen được tìm thấy trong các khoáng Sulíid vói hàm lượng khoảng 0 đến 2,1 ppm Ngoài ra Selen còn có trong nhiên liệu hoá thạch vói lượng từ 1 đến 5 ppm và có trong dầu thô từ 0,06 đến 0,35 ppm Trong các quặng Sulfid kim loại nặng như pyrit, Đồng Sulíid, Bạc Sulíid có nhiều tạp chất Selen Do vậy, Selen thường được khai thác ở những nai chế biến đồng hoặc ở các xưỏng chế acid sulíuric dùng nguyên liệu là pyrit Các nhà máy superphosphat đã bắt đầu khai thác Selen từ bụi lắng trong các bể acid sulíuric.

1.2.2 Selen trong đất

Selen trong hầu hết các loại đất có hàm lượng từ 0,1 đến 2 ppm và hàm lượng Selen mà thực vật có thể hấp thụ được phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó chủ yếu do dạng tồn tại của Selen trong đất Một số vùng đất có hàm lượng Selen cao làm cho các thực vật sống trên đó có khả năng gây độc cho những động vật ăn phải được gọi

là những vùng đất độc Tuy nhiên, có một số vùng đất mặc dù hàm lượng Selen chứa trong nó rất cao, nhưng thực vật không hấp thụ được và không gây độc cho động vật thì không phải là vùng đất độc

Đất độc có chứa Selen thường có tính kiềm Ở những vùng này thường có lượng mưa thấp, trung bình ít hơn 80 mm tổng lượng mưa hàng năm Theo Beaths và nnk (1937), Se6+ là dạng Selen hoà tan trong nước chiếm ưu thế hơn cả ở những vùng đất này Các cây trồng mọc trên những vùng đất giàu Selen sẽ tập trung hàm lượng Selen cao, nên khi súc vật ăn những cây này sẽ xảy ra các trường hợp ngộ độc Tại

Mỹ, hàm lượng Selen trung bình của những mẫu đất lấy từ các vùng giàu Selen là 4,4 ppm, cao nhất có thể tới 80 ppm Năm 1957, người ta phát hiện ra bệnh kiềm ở gia súc chăn thả ở thung lũng Huleh (Israel), sau khi phân tích đã có kết quả hàm lượng Selen lớn hơn 6 ppm

Se6+ là dạng Selen hoà tan chính trong đất, Se6+ đã được thực vật đồng hoá vói lượng đủ để gây độc Nhiều loại đất có chứa lượng Selen cao nhưng nếu Selen hoà tan trong nước thấp thì thực vật ở đây có lượng Selen không đủ để gây độc cho động vật

Ví dụ như tại Hawaii, đất có chứa 6-15 ppm Selen nhưng nồng độ Selen trong thực vật ở đây lại thấp dưới mức gây độc cho động vật Điều này có thể giải thích do đất ở

Trang 12

Hawaii có pH từ 4,5-6,5 (acid nhẹ) và sự có mặt của Fe(OH) 3 đã làm Selen trong đất chuyển thành dạng mà thực vật không sử dụng được.

Vì vậy, hàm lượng Selen trong đất cao chưa hẳn đã nói lên là thực vật mọc ở

đó sẽ có hàm lượng Selen cao hơn ở những nơi khác Điều này phụ thuộc vào tỷ lệ Selen hoà tan chứa trong đất đó và tỷ lệ này lại phụ thuộc vào tính chất cơ học, lý học, hoá học của đất

Các phản ứng hoá học chính của Selen trong đất và khoáng thạch bị phong hoá được tổng kết theo chu trình của Allaway (1968) (hình 1)

sinhhọc

Hình 1 Chu trình Allaway

Các Selenid kim loại nặng có độ hoà tan trong dung dịch thấp, đặc biệt là Đồng Selenid, nên nó tồn tại rất lâu trong đất.Tuy nhiên, nó vẫn có thể bị oxy hoá tạo thành Se4+ với tốc độ chậm Chính do tốc độ chậm này và sự ảnh hưởng của các yếu

tố bên ngoài mà dạng Selen này biến đổi khác nhau trong các điều kiện khác nhau

Selen nguyên tố có trong đất vói một lượng nhỏ Nó có thể là một dạng trung gian quan trọng trong quá trình oxy hoá từ dạng Selenid (Se2') thành các dạng Selen

Trang 13

hoà tan trong dung dịch, hoặc là một thành phần chuyển tiếp giữa đất trang tính và đất acid trong quá trình khử của Selenit (Se4+) trong môi trường acid Selen nguyên tố trong đất bị oxy hoá thành dạng Selenit (Se4+).

Trong đất acid và đất trung tính, sau khi bị oxy hoá thành Se4+, chúng bị Fe(OH) 3 hấp phụ tạo thành phức chất có độ hoà tan thấp và thực vật không sử dụng được Selen ở dạng phức này Khi pH tăng tới 8 , phức này bị phân huỷ tạo lại thành dạng Selenit (Se4+) dễ hoà tan hơn

Đối với đất kiềm và đất trung tính, sau khi bị oxy hoá thành Selenit (Se4+), chúng tiếp tục bị oxy hoá thành Selenat (Se6+) vói tốc độ rất chậm Se6+ có mặt trong

dịch hoà tan của đất kiềm Người ta thấy rằng, Se6+ gần như chỉ có mặt ở điều kiện

đất kiềm, và hiếm thấy tồn tại trong các loại đất khác

Ngoài ra, Selen còn tồn tại ở dạng hợp chất hữu cơ Nguồn gốc hình thành dạng này là do Selen hữu cơ được giải phóng từ xác thối rữa của các thực vật Dạng Selen hữu cơ này có khả năng hoà tan trong đất kiềm tốt hơn đất acid

1.2.3 Selen trong nước tự nhiên

1.2.3.1 Trong nước sinh hoạt

Tiêu chuẩn do Tổ chức Y tế Thế giới quy định hàm lượng Selen trong nước sinh hoạt không được quá 1 0 p.g/l

Tuy nhiên, trong thực tế, hàm lượng Selen của nước tự nhiên cung cấp cho sinh hoạt thường thấp hơn chỉ tiêu trên Gần như tất cả các nhà máy cấp nước đều không xử lý Selen vẫn đảm bảo hàm lượng Selen trong nước sinh hoạt dưới tiêu chuẩn cho phép

Taylor (1963) đã phân tích 194 mẫu nước lấy từ các nguồn cấp nước sinh hoạt

và thấy rằng trong hầu hết các mẫu này đều có lượng Selen thấp chỉ đủ để nhận biết

có tồn tại Selen; chỉ một số ít mẫu có nồng độ cao trên 8 |ig/l Ngay tại vùng đất chứa Selen phía Nam Dakota, người ta cũng không thể phát hiện Selen tại 34/44 giếng khoan; ở 10 giếng còn lại có chứa từ 50 đến 300 Ịig/1-

Trang 14

1.2.3.2 Trong sông hồ và nước thuỷ lợi

Người ta đã tiến hành phân tích một loạt các mẫu nước lấy từ các sông trên nước Mỹ và thấy rằng, trong số rất nhiều sông, chỉ có 2 con sông có mẫu nước chứa hàm lượng Selen cao trên 10 ng/1 là sông Animas (New Mexico) 10(ig/l và sông

Missouri (St Louis) 14 ụg/ì (theo số liệu của Tổ chức Sức khoẻ, Giáo dục và Phúc lợi

của Mỹ) Dùng các phương pháp phân tích chính xác hơn, các nhà khoa học đã phát hiện ra sông Animas có hàm lượng Selen từ l-40|ug/l, trung bình xấp xỉ 10 |ig/l Các tác giả đó còn thấy rằng lượng Selen cao trong nước mặt ở Colorado có quan hệ chặt chẽ với độ pH Một vài báo cáo khoa học cho biết, nồng độ Selen trong nước sông dùng cho thuỷ lợi chảy qua vùng đất giàu Selen lên đến 2680 |!g/l Những con sông

đổ vào sông Colorado có nồng độ Selen ở điểm hợp lưu lên tới 400|ig/l

Nước hồ, kể cả hồ trong vùng chứa nhiều Selen, đều có chứa rất ít chất này Điều này có thể giải thích là do có sự kết tủa khi muối Selenit (Se4+) tác dụng với các oxid kim loại như sắt, Mangan

1.2.3.3 Trong nước biển và đại dương

Trong hầu hết các biển và đại dương, nồng độ Selen chứa trong nước vào khoảng 0,09 ịigA- Ở một số vùng khác, nồng độ Selen có thể lên tối 6 |j,g/l Tương tự như nước hồ, hàm lượng Selen trong nước biển và đại dương thấp được giải thích là

do sự kết tủa và lắng đọng giữa các muối Selenit (Se032') và oxid kim loại

Nói chung, trong nước thiên nhiên, hàm lượng Sulfat càng cao thì hàm lượng Selen càng cao Các mạch nước khoáng ở một số vùng có hàm lượng Selen rất cao Nhiều loại nước khoáng Sulíid (chứa H2S) có hàm lượng Selen khá cao và thường ở dạng khí H2Se hoà tan Những nước khoáng Sulíid ở dãy Cacpat chứa Selen tới 200|ig/l, còn ở các mẫu nước khoáng gần quặng pyrit vùng núi Ưran (Liên Xô cũ) cũng chứa tới 900 |!g/l Selen

Ngoài ra nước thải của một số xí nghiệp có quan hệ đến Selen như tinh luyện đồng, chế acid sulíuric dùng nguyên liệu pyrit và của một số cơ sở tuyển khoáng và

xử lý các quặng Sulíid kim loại nặng (quặng Sulíid đồng, bạc ) thường chứa Selen với nồng độ cao Nước thải đưa Selen đến những đất bùn xung quanh, và phần lớn

Trang 15

Selen bị lắng đọng, không vận chuyển xa được Điều này làm cho đất xung quanh các

cơ sở công nghiệp trên bị ô nhiễm Có thể lấy ví dụ ở sông Gioocdan (Mỹ) Sông chảy qua vùng tuyển quặng bạc và vàng có chứa tạp chất Selen với hàm lượng cao,

bùn ở hai bờ sông chứa tói 25 mg/kg, cỏ ở đó có chứa tới 116mg/kg Súc vật ăn cỏ ở

đó thể hiện rõ rệt những triệu chứng của bệnh kiềm ( ngộ độc trường diễn Selen)

Thực vật chỉ hấp thụ được các hợp chất Selen hoà tan, tốt nhất là các muối Selenat (Se042'), sau đó đến các hợp chất hữu cơ của Selen, rồi đến các muối Selenit (Se032-)

Trong những hợp chất không tan của Selen có những hợp chất có thể chuyển hoá từ từ sang dạng các hợp chất hoà tan do các vi sinh vật trong đất hoặc do các tác nhân hoá học Selen nguyên tố không hoà tan có thể bị oxy hoá thành Selenit, rồi thành Selenat

Các hạt keo đất sét, Hydroxyd sắt (III) hấp phụ rất mạnh các muối Selenid hoà tan, ngăn cản rễ cây lấy nguyên tố này trong đất

Độ xốp của đất tạo điều kiện cho sự vận chuyển Oxy vào những lớp đất sâu, như vậy cũng tạo điều kiện cho sự oxy hoá Selenit (Se4+) thành Selenat (Se6+) mà không bị đất sét, Hydroxyt sắt (III) hấp phụ, do đó làm tăng hàm lượng nguyên tố này trong thực vật

Điện thế oxy hoá khử của đất càng cao, Selenit (Se4+) càng dễ chuyển thành Selenat (Se6+) làm cho thực vật càng dễ hấp thụ nguyên tố này

Trang 16

Độ pH của đất cũng là một yếu tố quan trọng Trong vùng đất kiềm (pH từ 7,3 đến 7,8) cây cối hấp thụ Selen nhiều hơn hẳn vùng đất acid (pH từ 5,4 đến 6,2).

Độ ẩm của đất, của không khí có ảnh hưởng nhiều dến hàm lượng của Selen trong thực vật Vào mùa khô, hàm lượng Selen tăng lên rõ rệt

• Ảnh hưởng của loài thực vật

Quan trọng nhất là hàm lượng Selen trong thực vật phụ thuộc vào từng loại cây Có một số cây có khả năng cho hàm lượng Selen cao, nhưng đa số cây không có khả năng đó Người ta thường dùng tỷ số giữa hàm lượng Selen trong cây trên hàm lượng Selen trong đất để đo khả năng tập trung Selen của từng cây Tỷ số đó thường được gọi là hệ số tập trung Selen của cây

Thông thường xét về khả năng tập trung Selen ta có thể chia thực vật làm 3nhóm:

- Nhóm 1 gồm các loại cây ít tập trung Selen Đa số thực vật thuộc loại này

- Nhóm 2 gồm các loại cây tập trung Selen ở mức vừa phải, đặc biệt trong nhómnày, lúa mỳ là loại ngũ cốc giàu Selen nhất

- Nhóm 3 gồm một số cây có hệ số tập trung Selen cao, rất hiếm có thực vậtthuộc nhóm này

Những cây tập trung Selen thường thuộc họ Đậu, họ Cà phê Đặc biệt trên thế giới có những cây có hệ số tập trung Selen lớn như Morinda reticulata Benth (họ Cà phê) và cây Neptunia amplexicaulis Benth (họ Đậu), và cao nhất là những cây thuộc loài Astragalus

Trong những cây giàu Selen có thể có hai loại: có những cây chỉ mọc được ở những vùng đất giàu Selen, chúng thường được gọi là những cây chỉ thị Selen Dựa vào sự có mặt của các cây chỉ thị, người ta có thể điều tra được vùng đất nào giàu Selen Có nhiều cây vừa là loại tập trang Selen, vừa là loại chỉ thị Selen Tuy các cây chỉ thị Selen chỉ mọc ở những noi giàu nguyên tố này, nhưng hàm lượng của nó thay đổi rất nhiều từ cây này sang cây khác

Trang 17

1.2.4.2 Ảnh hưởng của Selen đến sự phát triển của thực vật

Vai trò của Selen trong thực vật ít quan trọng so với động vật, trừ những cây chỉ thị Selen và những cây tập trung Selen Tuy nhiên, hàm lượng Selen trong đất có ảnh hưởng rõ đến sự phát triển của thực vật nói chung Ở một vài loài không tập trung Selen, người ta bón các hợp chất Selen dưới dạng dễ hoà tan: Selenat (Se6+), Selenit ( Se4+) cho cây trong giai đoạn nảy mầm của hạt thì thấy cây sinh trưởng tốt Nếu bón cho ngũ cốc một hàm lượng lớn Selen thì độc tính của Se6+ sẽ thể hiện, làm cho cây

có những biểu hiện đặc trưng như mất màu chất diệp lục, gây vàng lá ở các thực vật có khả năng tập trung Selen cao thì không có những ảnh hưởng bất lọi như thế

Selen không gây thiệt hại cho mùa màng, trừ phi hàm lượng Selen tích lũy trong thực vật lớn hớn 300 ppm, mà hàm lượng này chưa bao giờ có ở hầu hết các vùng đất chứa Selen trên thế giới

1.2.4.3 Sự chuyển hoá Seỉen và các hợp chất của Selen trong thực vật

Trong các nghiên cứu của Franke và Painter năm 1936 đã chỉ ra rằng hầu hết Selen tồn tại trong các loài ‘thực vật không tập trung Selen’ ở dạng protein liên kết với Selenomethionin Còn ở các loài chỉ thị, hầu hết Selen ở dạng hoà tan và không liên kết vói protein Làm thí nghiệm tách hợp chất Selen hữu cơ từ thực vật, trộn cùng với dịch chiết của cây Astragalus pectinatus, người ta đã tìm ra 2 chất Cystathionin và Selencystathionin Sau đó người ta đã tách được Selen-methyl Selenocystin từ Astragalus bisulcatus Rất nhiều các hợp chất Selen khác đã được tách chiết từ thực vật gồm có Selenomethionin., Selenoglutathion, Selenocystein

Trong quá trình sinh trưởng, cây cối hấp thu Selen và đào thải nguyên tố này

ra môi trường ở dạng các hợp chất dễ bay hoi Chất bay hơi này có mùi hôi đặc biệt giống mùi của Seơ2 sinh ra khi đốt Selen Lượng Selen đào thải phụ thuộc vào mức

độ trưởng thành của cây và hàm lượng Selen trong cây

Chủ yếu Selen được đào thải qua lá, do đó, dùng than hoạt để thu hồi những hợp chất bay hơi của Selen do cây cối đào thải, đem phân tích dịch chiết từ than hoạt

ta thấy có nhiều hợp chất Selen như Dimethyl diselenid (CH3-Se-Se-CH3), Hydroselenid (H2Se) và một số chất khác Quá trình chuyển hoá Selen trong thực vật

Trang 18

tương tự quá trình chuyển hoá các hợp chất chứa Lưu huỳnh Lượng Selen hấp thu qua rễ được dùng để tổng hợp các acid amin, trong đó Lưu huỳnh được thay thế bằng Selen: Selenomethionin, Selenocystin Những acid amin này sau đó được gắn vói protein của cây theo chu trình như sau:

Đầu tiên Selenat (Se6+) và Selenit (Se4+) được rễ cây hấp thụ, rồi chuyển thành Adenosin - 5 -phosphoselenat và Adenosin - 5 - phosphoselenit Những hợp chất này được alkyl hoá, sau đó được khử hoá nhờ enzym reductase Hợp chất tạo thành được kết hợp với các acid amin hữu cơ chứa trong cây, tạo thành các acid amin chứa Selen như: Selenomethionin, Selencystein , và các sản phẩm oxy hoá của các acid amin đó như Selenotaurin

Tiếp sau đó, các acid amin đó được gắn vào protein thông qua các ARN vận chuyển, như Selenomethionin được gắn vào protein thông qua N - íbrmil - methionin

- ARN vận chuyển

1.2.4.4 Selen trong một số cây trồng

Hàm lượng Selen trong cây trồng phụ thuộc nhiều vào sự có mặt của các hợp chất Selen trong đất mà cây trổng có thể hấp thu được Điều này giải thích trường

hợp ở một số nơi trên thế giới, hàm lượng Selen có trong đất rất cao, song cây lại

không hấp thu được, dẫn đến thiếu Selen cho động vật

Trong các loại cây trồng, lúa mỳ có khả năng tập trung Selen nhiều hơn cả Một số cây ngũ cốc khác như đại mạch, tiểu mạch cũng có khả năng tập trung Selen nhưng không bằng lúa mỳ

Các loại đậu có hàm lượng Selen không lớn như các loại ngũ cốc Tuy nhiên,cũng có vài loại đậu tập trung Selen tương đương vói lúa mỳ

Các loài rau thường có hàm lượng Selen thấp

ở những đồng cỏ chăn nuôi, hàm lượng Selen trong cây trồng có tác dụng quyết định với chế độ dinh dưỡng của các súc vật sống trên đó Đây cũng chính là nguyên nhân của hai bệnh rất phổ biến là bệnh kiềm (do ngộ độc trường diễn Selen)

và bệnh cơ trắng (do thiếu Selen) ở một mức độ nhất định, điều đó cũng có ảnh

Trang 19

hưởng đến hàm lượng Selen trong thịt, sữa các gia súc, do dó ảnh hưởng đến khẩu phần Selen của con người.

Ở cùng những vùng có hàm lượng Selen trong đất cao, gọi là các vùng đất giàu Selen, hàm lượng Selen có trong thực vật lại rất khác nhau giữa các loài khác nhau Một số cây chỉ có ở vùng này, có nhu cầu rất cao về Selen thường không sinh trưởng được ở những nơi hàm lượng Selen trong đất thấp

Hàm lượng Selen trong thực vật không chỉ phụ thuộc vào lượng Selen trong đất trồng mà còn liên quan đến độ ẩm của đất Những vùng đất ẩm thì hàm lượng Selen trong cây thường thấp hơn

1.2.4.5 Thuộc tính sinh học của Selen trong thực vật

Theo một số nhà khoa học, Selen trong cỏ linh lăng có các tác dụng tương tự

như Na2Se trong việc sử dụng để ngăn ngừa các tổn thương gan ở chuột, và Selen

trong sữa của bò ăn cỏ linh lăng trên có tác dụng còn mạnh hơn Selen trong Na2Se đối với việc ngăn ngừa trạng thái tạng tiết dịch

Cantor và nnk cho rằng đối với việc ngăn ngừa quá trình xơ hoá tuỵ ở gà con thì Selenomethionin có tác dụng tốt hơn cả Se4+ và Selenocystein Vì thế, khi sử dụng lúa mì để phòng ngừa xơ hoá tụy và trạng thái tạng tiết dịch người ta thấy có kết quả rất khả quan, ban đầu xác định đó là vai trò của Selenomethionin trong lúa mì

Trong một so sánh giữa tác dụng của Selen có trong cá ngừ và Selen trong lúa

mỳ, Alexander (1982) đã sử dụng các động vật thí nghiệm và thấy rằng đối với những con chuột suy gan, Selen chiết xuất từ cá ngừ có khả năng tăng cường hoạt tính enzym Glutathion peroxydase gan Nhưng tác dụng này của Selen lấy từ cá ngừ chỉ

bằng một nửa tác dụng của Selen chiết từ các sản phẩm lúa mì trồng ở vùng đất chứa

Selen Điều này chứng tỏ hoạt tính rất cao của Selen có trong lúa mỳ

1.2.5 Selen trong nấm

Nhiều loại nấm có hệ số tập trung Selen khá cao, có thể kể đến nấm Amanita muscaria Hooker Hàm lượng Selen trong nấm thường biến đổi cùng với hàm lượng Vanadi Hàm lượng Selen có không những chỉ ở những nấm

Trang 20

ăn được Sau đây là một vài loại nấm đã được xác định là có hệ số tập trung Selen cao: Paxillus involutus Fr., Amanita mappa Batsch., Calvatia caclata Merg

1.2.6 Selen trong động vật

1.2.6.1 Selen trong cá

Cá là loài sinh vật có hàm lượng Selen khá cao Đây là nguồn chủ yếu cung cấp Selen cho con người trong khẩu phần ăn hàng ngày Trong các loại cá tươi thì cá ngừ có hàm lượng Selen cao hơn cả, sau đó đến cá nục, cá thu Nói chung, hàm lượng Selen trong cá nước ngọt cũng tương đương với cá biển Da và gan cá là nơi tập trang hàm lượng Selen cao nhất, vì vậy dầu gan cá có tác dụng rất tốt đối với sức khoẻ của con người có lẽ một phần là do vai trò của Selen

1.2.6.2 Sự phân b ố của Selen trong cơ thể người và động vật

Sử dụng các hợp chất Selen chế tạo từ đồng vị phóng xạ 75Se để theo dõi sự phân bố của Selen trong cơ thể động vật thí nghiệm Selen được đưa vào cơ thể bằng các đường uống, tiêm bắp, tiêm dưới da, tiêm tĩnh mạch, dưới dạng các hợp chất Selenit, Selenat, Selenomethionin, hoặc dùng cỏ linh lăng có bón Natri Selenid (Na2Se) cho động vật ăn Sau khi đưa Selen vào trong cơ thể, nguyên tố này tập trung

ở gan, sau đó có nồng độ cao nhất ở thận, tụy tạng, tuyến yên, rồi đến tim, cơ, não

Các mô ruột và phổi có sự tập trung khá cao hàm lượng Selen, trong khi các mô thần kinh lại có lượng Selen thấp 6 giờ sau khi Selen được đưa vào cơ thể, người ta thấy 75Se có mặt trong nhân tế bào, trong các protein của dịch tuỵ tạng, trong hồng cầu, bạch cầu, huyết thanh, cơ và trong hầu hết các tổ chức của cơ thể Cuối cùng Selen được đào thải ra khỏi cơ thể bằng qua ba con đường: đường tiêu hoá, đường tiết niệu

và đường hô hấp

Selen đào thải qua đường hô hấp chủ yếu là ở dạng Dialkyl diselenid, có lượng rất nhỏ so với hai đường còn lại Đường tiết niệu là đường đào thải chủ yếu của súc vật Khi đó Selen đào thải ra ở dạng các hợp chất có khả năng hoà tan tốt, rất dễ được thực vật hấp thu Nhưng với những loài nhai lại, như trâu b ò Selen lại chủ yếu được đào thải qua đường tiêu hoá (phân) dưới dạng các muối Selenid kim loại nặng mà cây

cỏ khó hấp thu Dạng này cũng rất khó chuyển thành dạng Selen dễ hoà tan Lượng

Trang 21

Selen đào thải qua đường tiết niệu của các loài động vật nhai lại rất thấp, do đó trên các đổng cỏ chăn nuôi gia súc, lượng Selen mà các loài thực vật có khả năng hấp thu ngày một nghèo nàn, dẫn đến hàm lượng Selen trong cây cỏ cũng dần giảm xuống.

Thời gian tồn tại của Selen trong cơ thể phụ thuộc vào lượng Selen đã sử dụng

và tuỳ thuộc vào tình trạng đủ hay thiếu Selen của cơ thể Nếu cơ thể đã bão hoà Selen và đưa Selen vào với liều lượng cao thì nó sẽ được đào thải nhanh Còn ngược lại, nếu cơ thể thiếu Selen và lượng Selen đưa vào thấp thì 75Se có thể tổn tại trong cơ thể nhiều tháng sau đó Do đó, nhiều tác giả cho rằng, cơ thể có một hàm lượng ngưỡng nhất định đối với lượng Selen hấp thu qua khẩu phần ăn hàng ngày Khi lượng Selen đưa vào cơ thể vượt quá ngưỡng này thì nó sẽ bị đào thải

Selen chứa trong cơ thể không chỉ phụ thuộc vào hàm lượng Selen chứa trong thức ăn mà còn phụ thuộc vào dạng tồn tại của Selen trong hợp chất Trên các loại gia cầm thí nghiệm, Selen được đưa vào cơ thể dưới dạng Selenomethionin thì hàm lượng Selen trong cơ cao hơn khi đưa vào cơ thể Selen dạng Selenit (Se4+) hoặc Selenocystin Các thí nghiệm tiếp theo của Lashaw và Biggert (1981) cũng cho thấy nếu trong thức ăn có Selenomethionin thì hàm lượng Selen trong trứng cũng cao hơn Các nhà khoa học cũng đã chứng minh được rằng, Selenocystin mặc dù là một Selenoacid amin nhưng sự chuyển hoá của nó lại tương tự như các hợp chất Selen vô

cơ, vì vậy có thể kết luận rằng cơ thể dễ hấp thụ Selen dạng hữu cơ hơn dạng vô cơ

Hàm lượng Selen trong thận là rất cao, người ta cho rằng thận là nơi dự trữ Selen của cơ thể, và thận còn có chức năng chuyển hoá các hợp chất Selen từ dạng ban đầu trong thức ăn sang dạng hợp chất Selen cần thiết cho cơ thể

ở gan, hàm lượng Selen tập trung cũng khá cao, Selen có trong ty lạp thể, trong microsom chủ yếu dưới dạng Selenit (Se4+), Selenat (Se6+) và một lượng rất nhỏ Selenid (Se2')

Trong cơ, người ta cũng nhận thấy sự có mặt của Selen Cơ tim là cơ hoạt động mạnh nhất, nên hàm lượng Selen có trong đó là nhiều nhất Thiếu Selen sẽ gây ra các trạng thái bệnh lý, chủ yếu là bệnh loạn dưỡng cơ Đối với tim có thể gây ra viêm cơ tim

Trang 22

Ở cơ thể người, hàm lượng Selen trong tóc cũng cao như ở súc vật do protein cấu tạo nên lông móng có các acid amin chứa Lưu huỳnh như Methionin, Cystein Selen rất dễ tác dụng với nhóm -SH của các acid amin đó để tạo thành nhóm -S-SeH, nên hàm lượng trong lông móng thường cao.

Hàm lượng Selen trong máu người cũng phụ thuộc vào lượng Selen có trong khẩu phần hàng ngày Nếu thiếu hụt nguyên tố này trong thời gian dài, hàm lượng Selen trong máu cũng giảm rõ rệt Trong các trạng thái bệnh lý, hàm lượng Selen giảm, đặc biệt trong máu các bệnh nhân ung thư thì hàm lượng này rất thấp

Selen còn có trong sữa người và động vật Dùng 75Se để theo dõi sự chuyển hoá và thòi gian để Selen có thể chuyển vào trong sữa ở bò sữa bằng cách tiêm Na2Se thì thấy thời gian cần thiết là 2 giờ sau khi tiêm Nếu thay Na2Se bằng Selenomethionin thì hàm lượng Selen trong sữa còn cao hơn nữa Sữa người chứa lượng Selen cao hơn sữa động vật

Ngoài ra, Selen rất dễ qua nhau thai vào thai nhi Thai nhi càng phát triển, hàm lượng Selen càng cao

1.2.6.3 Bản chất hoá học của Selen trong cơ thể và sự chuyển hoá của nó

• Sơ lược

Vào năm 1944, người ta nhận thấy nếu nuôi chuột cống trắng bằng casein thuỷ phân vói dung dịch NaOH 0,1 N thì sẽ phát sinh sự thoái hoá có tính hoại tử ở gan Schwarz cho rằng sự thuỷ phân đã loại mất một hợp chất cần thiết cho sự sống trong Casein, có thể đó là Vitamin E hoặc các acid amin chứa Lưu huỳnh Nhưng trong những thí nghiệm tiếp theo, sự thoái hoá có tính chất hoại tử đó vẫn xuất hiện nếu thêm Vitamin E và các acid amin có Lưu huỳnh vào thức ăn của chuột Do đó, Schwarz cho rằng trạng thái bệnh lý đó xuất hiện không phải do thiếu hai chất trên

mà do sự vắng mặt của một yếu tố thứ ba nào đó và được đặt tên là “yếu tố ba” Năm

1957, khi cho chuột ăn sản phẩm thuỷ phân trên, Schwarz thấy rằng nếu cho thêm men bia hay cao thận động vật vào thì hoàn toàn ngăn chặn được bệnh thoái hoá hoại

tử gan Năm 1958, người ta đã tìm thấy Selen trong cao thận nói trên và tiến hành lại

Trang 23

Bằng phương pháp đánh dấu đồng vị phóng xạ, hai nhà khoa học Godvvin và Fuss (1972) đã cho súc vật uống nước có chứa đồng vị phóng xạ 75Se để xác định chu trình chuyển hoá của Selen trong cơ thể động vật Kết quả cho thấy Selen dưới dạng Na2Se đã chuyển hóa vào trong các chất Dimethyl selenit, Glutathion peroxidase (GSHPx) và Selenoacid amin Lượng Selen lưu giữ trong GSHPx được phân tích chính là Selenocystein Selencystin cũng được tìm thấy với một lượng nhỏ trong các

mô của thỏ khi cho thỏ uống Se4+ được chế tạo từ 7 5Se

Tuy nhiên, cho đến nay, người ta vẫn chưa khẳng định được sự hình thành Selenomethionin trong mô từ Se+ 4 do chưa tìm thấy đồng vị phóng xạ 75Se trong chất trên

Người ta thấy rằng, trong mô thường xảy ra quá trình khử các hợp chất Selen

và các hợp chất này có thể được chuyển hoá ngay trong mô Khi tiêm Selenomethionin được chế tạo từ đồng vị phóng xạ 75Se thì thấy gan của gà con và chuột có xuất hiện Selenocystathionin, Selenoglutathion, Selenotaurin Trong nhiều thí nghiệm khác, các nhà khoa học đã nhận thấy Selenomethionin có tác dụng mạnh gấp 4 lần Se4+ hoặc Selenocystin trong việc phòng ngừa thoái hoá tụy của gà, nhưng đối với trạng thái tạng tiết dịch thì Selenomethionin lại không có hiệu quả cao

Mặc dù các Selenoacid amin rất cần cho cơ thể, nhưng cơ thể động vật lại ít có khả năng tự tổng hợp được các hợp chất đó Nhu cầu về Selenoacid amin của cơ thể chủ yếu là do thực vật cung cấp, một phần nữa là do các vi sinh vật của hệ tiêu hoá tổng hợp từ Selen vô cơ Các Selenoacid amin tiếp tục được gắn trong các protein tương tự như các quá trình chuyển hoá của các Sulíoacid amin

Sự phân bố Selen trong cơ thể sau khi bổ sung các hợp chất Selen khác nhau

có sự khác nhau Người ta cho gà mái ăn bổ sung Selenomethionin và sau đó phân

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đàm Trung Bảo, Đặng Hồng Thuý: Selen trong sinh học - NXB Y học, 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Selen trong sinh học
Nhà XB: NXB Y học
2. Lê Thành Phước, Nguyễn Quang Thường: Phức chất và gốc tự do trong y dược - Trường ĐH Dược Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phức chất và gốc tự do trong y dược
3. Lê Thành Phước: Chống gốc tự do, một mục tiêu của Y - Dược hiện đại, Trường Đại học Dược Hà Nội, 1999.4 . Mims Vietnam, 2000 / 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chống gốc tự do, một mục tiêu của Y - Dược hiện đại," Trường Đại học Dược Hà Nội, 1999.4. "Mims Vietnam
9. Beath, o . A., H. F. Eppson, and c. s. Gillbert: Selenỉum distríbution in and seasonal variation o f type vegetation occurring on seleni/erous soils - J. Am. Pharm. Assoc, 1937 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Selenỉum distríbution in and seasonal variation o f type vegetation occurring on seleni/erous soils
10. Clayton, c . c., and c. A. Baumann: Diet and azo dye tumors: Effect of diet during a period when the dye is not/eđ - Cancer Res, 1949 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diet and azo dye tumors: Effect of diet during a period when the dye is not/eđ -
11. Constans, J. et al.: One-year antioxỉdant supplementation wỉth beta- carotene or selenium fo r human immunodeýiciency virus-positive patients: a pilot study - Clinics in Iníectious Disease, volume 23, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: One-year antioxỉdant supplementation wỉth beta- carotene or selenium fo r human immunodeýiciency virus-positive patients: a pilot study -
12. Constans, J. et al.: Selenium andH IV inýection - Nutrition, volume 15, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Selenium andH IV inýection
13. Cowgill, u . M.: Selenium and human ỷertilỉty - Pittsburgh: Industrial Health Foundation, 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Selenium and human ỷertilỉty -
14. Delmas-Beauvieux, M.c. et al.: Blood antỉoxỉdant enzymatic system and glutathione status ỉn HIV-ỉnfected patients; effects o f selenium or beta-carotene supplementation - American Joumal of Clinical Nutrition, volume 64, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Blood antỉoxỉdant enzymatic system and glutathione status ỉn HIV-ỉnfected patients; effects o f selenium or beta-carotene supplementation
15. Franke, K. w .: A new toxicant occurring naturally ỉn certain samples o f plant foodstuffs - J. Nutr, 1934 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A new toxicant occurring naturally ỉn certain samples o f plant foodstuffs
16. Frost, D. V., and D. Ingvoldstad: Ecological aspects o f selenỉum and telluríum in human and animal health - Chem, Scr, 1975 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ecological aspects o f selenỉum and telluríum in human and animal health
17. Gochvin, K. o .: Abnormal electrocardiograms in rats fed a low selenium diet - Q. J. Exp. Physiol, 1965 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Abnormal electrocardiograms in rats fed a low selenium diet
18. Godwin, K. o ., c. N. Fuss: The entry o f selenium into rabbỉt proteỉn folỉowing the administration o f Na275S e0 3 - Aust. J. Biol.Sci, 1972 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The entry o f selenium into rabbỉt proteỉn folỉowing the administration o f Na275S e0 3
19. Griííin, A. c., and M. M. Jacobs: Effect o f selenium oti azo dye hepatocarcinogenesis - Cancer Lett, 1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect o f selenium oti azo dye hepatocarcinogenesis
20. Latshaw, J. D., and M. D. Biggert: Incoporation o f selenium ỉnto egg proteins aýter /eeding selenomethỉonine or sodỉum selenite - Poult, Sci, 1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Incoporation o f selenium ỉnto egg proteins aýter /eeding selenomethỉonine or sodỉum selenite -
21. Look, M.p. et al.: Serum selenium versus lymphocyte subsets and markers o f disease progression and ỉnỊlammatory resoponse in humati immunodeýicỉency virus-1 infectíon - Biological Trace Element Research, volume 56,1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Serum selenium versus lymphocyte subsets and markers o f disease progression and ỉnỊlammatory resoponse in humati immunodeýicỉency virus-1 infectíon
22. Marshall, M. V., et al: Selenỉum effect on the carcỉnogenỉcỉty and metabolỉsm o f 2-acetylaminofluorene - Cancer Lett, 1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Selenỉum effect on the carcỉnogenỉcỉty and metabolỉsm o f 2-acetylaminofluorene -
23. Rosenfeld, I., o . A. Beath: Selenium. Geobotany, Bỉochemỉstry, Toxicity and Nutrition - New York: Academic Press, 1964 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Selenium. Geobotany, Bỉochemỉstry, Toxicity and Nutrition -
24. Schwarz, K., and c. M. Foltz: Selenium as an intergral part offactor 3 against dietary necrotic liver degeneration - J. Am. Chem. Soc,1957 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Selenium as an intergral part offactor 3 against dietary necrotic liver degeneration -
25. Schwarz, K., J. A. Stesney, and c. M. Foltz: Relation between selenium traces in L-cystìne and protection agaỉnst dỉetary lỉver necrosis - Metab. Clin. Exp, 1959 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Relation between selenium traces in L-cystìne and protection agaỉnst dỉetary lỉver necrosis

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Chu trình Allaway - Tổng quan về selen và các dạng thuốc chứa selen
Hình 1. Chu trình Allaway (Trang 12)
Hình 2. Vòng tuần hoàn của Selen trong tự nhiên - Tổng quan về selen và các dạng thuốc chứa selen
Hình 2. Vòng tuần hoàn của Selen trong tự nhiên (Trang 27)
Hình 3. Vòng tuần hoàn sinh học của Selen - Tổng quan về selen và các dạng thuốc chứa selen
Hình 3. Vòng tuần hoàn sinh học của Selen (Trang 27)
Hình 4. Các gốc tự do chứa Oxy - Tổng quan về selen và các dạng thuốc chứa selen
Hình 4. Các gốc tự do chứa Oxy (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w