Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy một bộ phận giáo viên chưa ý thức đầy đủ tiếp cận hệ thống được vận dụng trong phần sinh học Vi sinh vật, chưa thấy được mối liên hệ phát triển nội d
Trang 1PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thế giới khách quan ngày nay trên Trái Đất bao gồm toàn là các hệ thống có cấu trúc, tính chất và quy mô rất khác nhau, từ những hệ thống vô cơ đơn giản cho đến các hệ thống xã hội nhân văn phức tạp Các hệ thống xuất hiện, tiến hóa, suy thoái, tan rã theo những quy luật riêng Tuy nhiên, con người nhận diện và hiểu biết về hệ thống lại rất muộn
Sự nhận diện các hệ thống khá muộn màng là hệ quả của một quá trình lâu dài mà khoa học đã kiên trì việc chia nhỏ sự vật để nhận thức (tư duy phân tích), từ
đó mà hình thành ra các lĩnh vực chuyên ngành và các chuyên gia có chuyên môn sâu về một lĩnh vực hẹp
Năm 1940 đánh dấu sự xuất hiện của tiếp cận hệ thống với công trình của nhà sinh vật học người Áo có tên là Ludwig von Bertalanffy đó là “Học thuyết chung về hệ thống” Ông cho rằng “Hệ thống là một tổng thể, duy trì sự tồn tại bằng
sự tương tác giữa các tổ phần tạo nên nó”
Học thuyết của Bertalanffy chỉ rõ cách thức đúng đắn mà con người xây dựng khái niệm về thực tại xung quanh mình, đồng thời cũng là một tiếp cận sắc sảo
để giải quyết các vấn đề được đặt ra Tiếp cận hệ thống không chỉ sử dụng kiến thức chuyên sâu của một ngành khoa học, mà còn sử dụng kiến thức đa ngành và liên ngành Ở đâu có sự đa dạng kiến thức khoa học được sử dụng chồng chập trong cùng một hệ phương pháp để giải quyết cùng một vấn đề, ở đó tiếp cận hệ thống được ứng dụng và phát triển
K Mark và S Đacuyn là những người có công lao to lớn và thành công trong việc vận dụng tiếp cận hệ thống vào nghiên cứu đối tượng phức tạp trong tự nhiên
và xã hội, xây dựng thành những khoa học quan trọng Nhiều nhà khoa học vận dụng tiếp cận hệ thống như là phương pháp luận trong nghiên cứu và dạy học SH, tiêu biểu là Papvlốp, I.I VaViLop, V N Xucatsov, I.I Vernadxki, W.Voigt, P.I Gupalô, K.M.Khailôp, A.A Marilôpxki,V.A Alêcxâyep…
Ở Việt Nam, năm 1999, tác giả Dương Tiến Sỹ đã vận dụng tiếp cận hệ thống vào tích hợp giáo dục môi trường qua dạy học Sinh thái học Tác giả Nguyễn Phúc Chỉnh (năm 2004) đã sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống làm cơ sở phương pháp luận của việc chuyển hoá graph toán học thành graph dạy học sinh học
Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy một bộ phận giáo viên chưa ý thức đầy
đủ tiếp cận hệ thống được vận dụng trong phần sinh học Vi sinh vật, chưa thấy được mối liên hệ phát triển nội dung từ thấp đến cao Đây là nguyên nhân dẫn đến thực
Trang 2trạng một bộ phận giáo viên chủ yếu giảng dạy theo phương pháp phân tích cấu trúc, chưa chú trọng đến phương pháp tổng hợp hệ thống Kết quả, HS chỉ học được
“Vi sinh vật học” không phải là “Sinh học Vi sinh vật”,… Chỉ thấy được trạng thái
tĩnh chưa thấy được trạng thái động của một hệ sống
Việc thiết kế và dạy học bài ôn tập chương theo tiếp cận hệ thống giúp giáo viên khắc phục được các nhược điểm nêu trên Nhờ đó, HS có điều kiện rèn luyện khả năng tư duy và năng lực giải quyết vấn đề mới phát sinh trong học tập cũng như trong thực tiễn
Từ các lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Vận dụng tiếp cận hệ thống trong thiết kế và dạy học bài ôn tập chương phần Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10 nâng cao”
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cơ sở lí thuyết của tiếp cận hệ thống và vận dụng vào việc thiết kế các quy trình soạn giáo án và tổ chức dạy học bài ôn tập chương phần sinh học Vi sinh vật Sinh học 10 (Nâng cao) nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, đồng thời rèn luyện cho HS kỹ năng tư duy hệ thống
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Lí thuyết hệ thống, tiếp cận hệ thống, vận dụng tiếp cận hệ thống trong dạy học Sinh học, quy trình soạn giáo án và tổ chức dạy học theo quan điểm tiếp cận hệ thống
3.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học Sinh học 10 THPT
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu vận dụng quan điểm tiếp cận hệ thống vào thiết kế và dạy học các bài ôn tập chương phần sinh học Vi sinh vật Sinh học 10 (Nâng cao) sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, đồng thời phát triển cho học sinh kỹ năng tư duy hệ thống
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về hệ thống, tiếp cận hệ thống, vận dụng tiếp cận hệ thống trong dạy học Sinh học
- Điều tra thực trạng nhận thức của giáo viên dạy Sinh học THPT về tính hệ thống của chương trình, vận dụng tiếp cận hệ thống vào dạy học Sinh học
- Xác định mục tiêu dạy học, phân tích nội dung các chương, phần sinh học
Vi sinh vật theo tiếp cận hệ thống
Trang 3- Nghiên cứu đề xuất logic cấu trúc và quy trình thiết kế bài ôn tập các phần sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10 nâng cao theo tiếp cận hệ thống
- Thiết kế bốn bài ôn tập chương phần sinh học Vi sinh vật theo tiếp cận hệ thống
- Đề xuất quy trình tổ chức dạy học bài ôn tập chương theo quan điểm tiếp cận hệ thống
- Vận dụng quy trình để tổ chức dạy học bài ôn tập chương phần III – Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10 nâng cao
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng giả thuyết
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các tài liệu, công trình khoa học có liên quan đến đề tài: các tài liệu về lý thuyết hệ thống, tiếp cận hệ thống trong dạy học, sách giáo khoa, sách giáo viên Sinh học 10 nâng cao, tài liệu về Lý luận dạy học Sinh học
6.2 Phương pháp chuyên gia
Gặp gỡ, trao đổi với những người giỏi về lĩnh vực đang nghiên cứu, lắng nghe sự tư vấn của các chuyên gia để định hướng cho việc triển khai đề tài
6.3 Phương pháp điều tra
- Điều tra hiểu biết của một số giáo viên Sinh học THPT về tiếp cận hệ thống, việc vận dụng quan điểm vào việc thiết kế bài ôn tập chương bằng phương pháp trắc nghiệm
- Dự giờ và trao đổi trực tiếp với giáo viên, tham khảo các ý kiến, các giáo án của giáo viên Sinh học THPT
6 4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Chúng tôi tiến hành thực nghiệm ở trường THPT Lấp Vò I – Đồng Tháp, chúng tôi chọn hai lớp: một lớp ĐC và một lớp TN
Tại lớp ĐC, GV dạy theo giáo án do chính GV thiết kế và thực hiện theo tiến trình dạy học thông thường Tại lớp TN, GV dạy theo giáo án TN Giáo án TN được biên soạn theo đúng chương trình SGK, có vận dụng tiếp cận quan điểm hệ thống trong soạn dạy
Thực nghiệm tiến hành song song giữa lớp TN và ĐC Sau mỗi bài, chúng tôi tiến hành kiểm tra chất lượng lĩnh hội và khả năng vận dụng kiến thức của HS ở
cả lớp TN và ĐC với cùng thời gian, cùng đề và cùng biểu điểm
6.5 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
Sử dụng một số công thức toán học để xử lí các kết quả điều tra và thực nghiệm sư phạm:
Trang 4X i
- Phương sai: S2 = X i Xn i
n
2 1
Khi có hai số trung bình cộng khác nhau, độ lệch chuẩn khác nhau thì phải xét đến hệ số biến thiên (Cv)
+ Cv = 0-10% : Dao động nhỏ, độ tin cậy cao
+ Cv = 10-30% : Dao động trung bình
+ Cv = 30-100% : Dao động lớn, độ tin cậy nhỏ
- Kiểm định độ tin cậy sai khác giữa 2 giá trị trung bình:
td =
2
2 2 1
2 1
2 1 X
n
S n S X
S là phương sai của mỗi phương án
Sau khi tính được td, ta so sánh với giá trị t được tra trong bảng phân phốiStuden với mức ý nghĩa =0,05 và bậc tự do f= n1+n2-2
+ Nếu td t: Sự khác nhau giữa X1 và X2 là có ý nghĩa thống kê + Nếu td t: Sự khác nhau giữa X1 và X2 là không có ý nghĩa thống
kê
Trang 57 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về hệ thống, tiếp cận hệ thống, vận dụng tiếp cận hệ thống trong dạy học Sinh học
- Bước đầu đánh giá được thực trạng nhận thức của giáo viên Sinh học THPT
ở một số trường về tiếp cận hệ thống, khả năng vận dụng tiếp cận hệ thống trong dạy học Sinh học
- Phân tích nội dung sinh học 10 nâng cao và phần sinh học Vi sinh vật theo logic cấu trúc hệ thống, làm cơ sở để thiết kế bài ôn tập chương phần sinh học Vi sinh vật
- Đề xuất logic cấu trúc vào quy trình thiết kế bài ôn tập chương phần sinh học Vi sinh vật theo tiếp cận hệ thống
- Đề xuất quy trình tổ chức dạy học bài ôn tập chương theo quan điểm tiếp cận hệ thống và vận dụng quy trình để dạy học
- Xây dựng bộ giáo án ôn tập chương phần sinh học Vi sinh vật theo phương pháp tiếp cận hệ thống, có thể làm tài liệu tham khảo cho giáo viên Sinh học THPT
- Bước đầu đánh giá hiệu quả của của việc dạy bài ôn tập chương theo phương pháp tiếp cận hệ thống qua thực nghiệm sư phạm
Trang 6PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 TỒNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Năm 1940 L.V.Bertalanffy đưa ra “Lý thuyết chung của các hệ thống” [15]
để mô tả các hệ thống mở và các trạng thái cân bằng động Từ lĩnh vực sinh học các nguyên tắc của lý thuyết này được chuyển sang giải quyết những vấn đề kỹ thuật và quản lý xã hội
Trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu vận dụng phương pháp tiếp cận hệ thống vào việc xây dựng các giáo trình sinh học như: K Mark và S Đacuyn Họ là những người có công lao to lớn và thành công trong việc vận dụng tiếp cận hệ thống vào nghiên cứu đối tượng phức tạp trong tự nhiên và xã hội, xây dựng thành những khoa học quan trọng Nhiều nhà khoa học vận dụng tiếp cận hệ thống như là phương pháp luận trong nghiên cứu và dạy học sinh học, tiêu biểu là Papvlốp, I.I VaViLop, V N Xucatsov, I.I Vernadxki, W.Voigt, P.I Gupalô, K.M.Khailôp, A.A Marilôpxki,V.A Alêcxâyep…
1.1.2 Ở Việt Nam
Đã có nhiều tác giả nghiên cứu và xuất bản các công trình khoa học về lí thuyết hệ thống như: Hoàng Tụy (1987) với “Phân tích hệ thống và ứng dụng”; Trần Đình Long (1999) với “Lí thuyết hệ thống”; Nguyễn Văn Thanh (2000) với tác phẩm, “Sự hình thành và phát triển lí thuyết hệ thống”; Nguyễn Đình Hòe – Vũ Văn Hiếu (2007) viết tác phẩm “Tiếp cận hệ thống trong môi trường và phát triển” …
Lí thuyết hệ thống cũng đã được vận dụng trong lĩnh vự nghiên cứu sinh học
và xây dựng các giáo trình sinh học, xây dựng các đề tài luận án như: “Những vấn
Trang 7đề cải cách giáo trình sinh học đại cương trường phổ thông nước Việt Nam dân chủ cộng hòa” (Nguyễn Như ất, 1973); “Tiếp cận hiện đại hoạt động dạy học” (Đỗ Ngọc Đạt, 1997); “Giáo dục môi trường qua dạy học Sinh thái học” (Dương Tiến
Sỹ, 1999), “Sử dụng tiếp cận hệ thống hình thành khái niệm trong chương trình sinh học 11” (Đỗ Thị Hà, 2002) Đặc biệt, trong việc xây dựng chương trình và sách giáo khoa THPT hiện nay của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã vận dụng phương pháp tiếp cận hệ thống…
Tuy nhiên, chưa có tác giả nào vận dụng tiếp cận hệ thống để dạy bài ôn tập chương phần Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10 nâng cao THPT
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.2.1 Lí thuyết hệ thống
Lý thuyết hệ thống thực ra là sự phối hợp của các các bộ môn khoa học (sử học, kinh tế học, sinh học, logic học, toán học, tin học, xã hội học ) nhằm nghiên cứu và giải quyết các vấn đề theo quan điểm toàn vẹn [2]
Quan điểm toàn vẹn là quan điểm nghiên cứu giải quyết các vấn đề một cách
có căn cứ khoa học, có hiệu quả và hiện thực dựa trên tất cả các yếu tố cấu thành nên đối tượng [2]
Để vận dụng một cách có hiệu quả “lý thuyết hệ thống” trong các lĩnh vực hoạt động của cuộc sống, cần hiểu rõ những vấn đề cơ bản của hệ thống để từ đó có những cách tiếp cận hợp lý
Theo L.V Bertalanffy, hệ thống là tập hợp các yếu tố liên kết với nhau, tạo thành một chỉnh thể thống nhất và tương tác với môi trường [14]
Dựa trên định nghĩa của L.V Bertalanffy, Hoàng Tụy đã định nghĩa: Hệ thống tức là một tổng thể gồm nhiều yếu tố (bộ phận) quan hệ và tương tác với nhau và với môi trường xung quanh một cách phức tạp [12]
Theo Đào Thế Tuấn, hệ thống là các tập hợp có trật tự bên trong (hay bên ngoài) của các yếu tố có liên hệ với nhau (hay tác động lẫn nhau) [11]
Theo quan điểm triết học, khái niệm hệ thống được hiểu là một tổ hợp các yếu tố cấu trúc liên quan chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể, trong đó mối quan
Trang 8hệ qua lại giữa các yếu tố cấu trúc đã làm cho đối tượng trở thành một chỉnh thể trọn vẹn [6]
Nhìn chung, mọi sự vật - hiện tượng đều tồn tại trong những hệ thống nhất định, có nghĩa là các hệ thống tồn tại một cách khách quan Tuy nhiên, định nghĩa khái niệm hệ thống lại mang tính chủ quan tuỳ theo từng cách tiếp cận, điều đó giải thích tại sao có nhiều cách định nghĩa khác nhau về hệ thống
Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau về “hệ thống” nhưng những định
nghĩa đó đều có những điểm chung đó là tập hợp những yếu tố liên hệ chặt chẽ với nhau và tương tác với môi trường bên ngoài để tạo thành một chỉnh thể toàn vẹn Điều cơ bản nhất của hệ thống đó là các yếu tố liên hệ và quan hệ với nhau
theo những quy luật xác định của tự nhiên Chính những mối quan hệ này đã tạo nên những tính chất khác nhau của các hệ thống
Như vậy có thể định nghĩa một cách khái quát, hệ thống là tập hợp các phần
tử có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, có sự tác động chi phối lên nhau và tương tác với môi trường bên ngoài theo những quy luật nhất định để trở thành một chỉnh thể; làm xuất hiện những thuộc tính mới của hệ thống mà những thuộc tính này không thể có ở từng yếu tố riêng lẻ
1.2.1.2 Những tính chất cơ bản của hệ thống
Theo Đinh Quang Báo (năm 2006 - Một số vấn đề về phương pháp giảng
dạy sinh học) các phần tử trong hệ thống đã liên hệ với nhau tạo nên những tính
chất cơ bản của hệ thống, đó là:
- Tính ổn định tương đối: Cơ cấu của hệ thống có tính ổn định tương đối
trong một thời điểm xác định Trong một phạm vi nhất định, tính ổn định này sẽ tạo
ra một trật tự bên trong của các phần tử, điều đó làm cho cơ cấu được coi như một
tổ chức, một trật tự của các phần tử - một chỉnh thể thống nhất tạo ra “thế năng của
hệ thống”
- Tính cân bằng động: Sự tác động của các phần tử tạo ra sự cân bằng của
hệ thống Nhưng cơ cấu của hệ thống luôn luôn biến đổi, tạo ra “động năng” của hệ thống, bắt đầu từ sự thay đổi của các quan hệ giữa các phần tử, các bộ phận, các phân hệ trong khuôn khổ của cơ cấu cũ; đến một mức độ nào đó sẽ làm cho cơ cấu thay đổi, nó chuyển sang một trạng thái khác về chất hoặc trở thành một cơ cấu khác
Sự kết hợp giữa tính ổn định tương đối và tính cân bằng động trong hệ thống
đã đảm bảo cho hệ thống không ngừng vận động phát triển theo xu thế tối ưu hoá, hợp lý hoá các mối quan hệ trong một tổng thể chung
Trang 9Khi nói cấu trúc của hệ thống đã thay đổi tức là hệ đã chuyển từ trạng thái ổn định này sang trạng thái ổn định khác, các thay đổi cấu trúc có ý nghĩa hết sức quan trọng: đó là những thay đổi về chất và hơn nữa là những thay đổi không thể đảo ngược được
- Tính đa dạng: Một hệ thống thực tế có rất nhiều cơ cấu khác nhau, tuỳ
theo từng dấu hiệu quan sát, đó là sự chồng chất cơ cấu của hệ thống
1.2.2 Tiếp cận hệ thống và tư duy hệ thống
1.2.2.1 Khái niệm tiếp cận hệ thống
Tiếp cận hệ thống là cách thức xem xét đối tượng như một hệ toàn vẹn phát triển động từ lúc sinh thành và phát triển thông qua giải quyết mâu thuẫn nội tại do
sự tương tác hợp quy luật của các thành tố, là cách phát hiện ra logic phát triển của đối tượng từ lúc sinh thành đến lúc trở thành một hệ toàn vẹn [14]
Tiếp cận hệ thống định hướng phương pháp luận của nhận thức khoa học chuyên hoá mà cơ sở của nó là xem đối tượng nghiên cứu là các hệ thống, hướng nghiên cứu vào khám phá tính chỉnh thể của đối tượng và các cơ chế đảm bảo tính chỉnh thể đó làm sáng tỏ các mối liên hệ đa dạng của các đối tượng phức tạp
1.2.2.2 Tư duy hệ thống
Tư duy hệ thống là quan điểm nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện, có tính động, chú ý vào quan hệ hơn sự việc, chú ý vào các quá trình hơn vào hiện trạng, chú ý vào phức tạp tổng thể hơn vào sự phức tạp chi tiết (Đinh Quang Báo – 2006
“Một số vấn đề về phương pháp giảng dạy sinh học”)
Do sự tiến hóa mà các hệ thống ngày càng trở nện phức tạp với một lượng thông tin ngày càng lớn hơn làm cho các nhà phân tích bị cuốn vào chi tiết mà không phát hiện ra các mối quan hệ cơ bản và chủ chốt Tư duy hệ thống phải làm sao để quy cái phức tạp thành cái đơn giản hơn nhưng cốt lõi hơn, đơn giản hóa những cái phức tạp
Đặc điểm chủ yếu của tư duy hệ thống là ở cái nhìn toàn thể và do cách nhìn toàn thể mà thấy được những thuộc tính hợp trội của hệ thống Hợp trội là sản phẩm của tương tác, qua tương tác mà có cộng hưởng tạo nên những giá trị cao hơn tổng gộp đơn giản các giá trị thành phần Để tạo nên những thuộc tính gộp trội có chất lượng cao của hệ thống thì phải can thiệp vào quan hệ tương tác, chứ không phải vào hành động của các thành phần
Tính mở là một thuộc tính cốt lõi của tư duy hệ thống Các hệ thống trong tự nhiên là các hệ mở, nghĩa là có tương tác với môi trường Để hiểu được một hệ thống đang phát triển, điều hết sức quan trọng là phải hiểu được các mối tương tác với môi trường trong trạng thái động và luôn nhớ rằng trong môi trường có những
Trang 10yếu tố con người có thể điều khiển được, nhưng có rất nhiều yếu tố không thể điều khiển được
1.2.3 Các phương pháp tiếp cận hệ thống
Theo Nguyễn Đình Hòe - Vũ Văn Hiếu (2007 - Tiếp cận hệ thống trong môi
trường và phát triển), có hai hướng tiếp cận vấn đề khi thực hiện các nghiên cứu
trong thực tế, tiếp cận dựa trên các thành tố và tiếp cận dựa trên tổng thể Có các
phương pháp tiếp cận hệ thống như sau :
1.2.3.1 Hộp đen và những rủi ro
Nếu nhìn nhận một hệ thống hay hệ thống phụ (phụ hệ) như một "hộp đen", bước đầu các thành tố và các mối quan hệ bên trong hệ thống tạm thời sẽ không được xem xét, một hộp đen do đó có tính chất của một thành tố Nói cách khác, hệ thống sẽ chỉ được xem xét từ bên ngoài
Phần lớn các hệ thống trong tự nhiên là các hệ thống mở nên chúng có sự tương tác, trao đổi với môi trường Do đó, hệ thống mở có tính chất của một quá trình Khi nghiên cứu chức năng của quá trình đó cần phải xem xét đầu vào là gì, dẫn tới đầu ra như thế nào và dựa trên phương pháp quy nạp để đi đến các kết luận liên quan đến hành vi hệ thống của hộp đen
Cách tiếp cận này thường có rủi ro Chúng ta có thể thấy, hầu hết các nghiên cứu thống kê dựa trên nguyên tắc hộp đen Một ví dụ được nhiều người biết đến về một nghiên cứu thống kê ở Thụy Điển: nghiên cứu về mối tương quan giữa số lượng loài Cò đặc hữu của một vùng với số lượng trẻ em sinh ra trong vùng đó Kết luận được rút ra từ nghiên cứu là "trẻ em do Cò mang tới" Nghiên cứu thống kê được thực hiện không cần xem xét bên trong hộp đen để đưa ra mối quan hệ nhân quả giữa hai hiện tượng có thể dẫn tới các kết luận vô giá trị [8]
Nếu hình dung phương pháp phân tích hệ thống là những thao tác đi từ cái toàn thể đến cái bộ phận thông qua việc xác định thành phần và cấu taọ của hệ
Trang 11thống, thì phương pháp tổng hợp hệ thống là những thao tác đi từ cái bộ phận đến cái toàn thể thông qua việc xác định cấu trúc – hệ thống
Thành phần Cấu tạo
Hệ thống Cấu trúc
Bảng 1.1 So sánh các điểm đặc trưng của hai cách tiếp cận phân tích và tổng hợp
Tiếp cận phân tích Tiếp cận tổng hợp
Cô lập, tập trung vào từng thành tố Hợp nhất và tập trung vào tương tác giữa
tượng được xem như có thể đảo ngược
Hợp nhất với thời gian và không thể đảo
ngược Xác nhận sự kiện thông qua các thí
nghiệm kiểm chứng trong phạm vi một
học thuyết
Xác nhận sự kiện thông qua so sánh hành
vi của mô hình vẫn thực tế khách quan
Sử dụng các mô hình chính xác và chi
tiết ít có ứng dụng trong thực tế
Sử dụng các mô hình thiếu chặt chẽ để có thể được sử dụng như nền tảng của tri thức nhưng hữu ích trong việc ra quyết
Dẫn tới hành động được lập trình chi
tiết
Dẫn tới hành động được xác định thông
qua các mục tiêu
Sở hữu các chi tiết ít xác định mục tiêu Sở hữu các kiến thức về mục tiêu, các chi
tiết không thể hiện rõ ràng
Theo Rosnay (1979)
Trang 12Cách nhìn của chúng ta về thế giới là một dạng mô hình Tất cả các hình ảnh trong tư duy của chúng ta đều là một hệ thống mờ nhạt không hoàn chỉnh và được
sử dụng làm nền tảng ra quyết định
Khi nghiên cứu các hệ thống phức tạp với một số lượng lớn biến, việc xây dựng các mô hình tương đồng đơn giản là không phù hợp Nếu không có sự trợ giúp của máy tính và các hệ thống mô phỏng, chúng ta không thể làm cho hệ thống trở nên sống động Sự mô phỏng có thể làm cho hệ thống trở nên sống động bằng cách đưa vào đồng thời tất cả các biến của hệ thống
Xây dựng mô hình là thiết lập một mô hình từ các dữ liệu có từ giai đoạn phân tích hệ thống Đầu tiên một sơ đổ hoàn chỉnh về các mối quan hệ nhân quả giữa các thành tố của hệ thống phụ được thiết lập Sau đó, trên nền ngôn ngữ máy tính phù hợp, các công thức mô tả các tương tác và các quan hệ giữa các thành tố của hệ thống được thiết lập
Mô phỏng xem xét hành vi động của hệ thống phức tạp Thay cho việc sử dụng từng biến, mô phỏng đưa vào các nhóm biến số nhằm thiết lập một tình huống thực tế phức hợp hơn Mô phỏng được sử dụng ngày nay trong rất nhiều lĩnh vực nhờ sự phát triển của các ngôn ngữ mô phỏng mạnh hơn, nhưng vẫn đơn giản và sự phát triển của công nghệ truyền dán dữ liệu giữa các mạng máy tính
Mô phỏng được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau: mô hình hóa môi trường - dự báo tác động của các chất ô nhiễm không khí đất, nước, nồng độ của chất ô nhiễm trong chuỗi thức ăn; quy hoạch thành phôi sự tăng trưởng của các thành phố, sự xuất hiện của các khu ổ chuột, giao thông cơ giới; vật lý học thiên thể
- sự ra đời và tiến hóa của các ngân hà, "các thí nghiệm" sản xuất khí quyển ở các hành tinh khác; vật lý - dòng electrons trong thiết bị bán dẫn, tính chống chịu của vật liệu, sốc sóng, các dòng chất lỏng, sự hình thành sóng; kinh tế và chính trị - dự đoán công nghệ, mô phỏng các mâu thuẫn."các mô hình thế giới"; quản lý công nghiệp - các chính sách thị trường, thâm nhập thị trường, đưa ra sản phẩm mới
Cho dù các ứng dụng nhiều về số lượng và da dạng về chủng loại, nhưng cũng không thể trông đợi quá nhiều từ sự mô phỏng Mô phỏng không thể đưa ra giải pháp tối ưu hoặc chính xác cho một vấn đề xác định Nó chỉ có thể đưa ra các
Trang 13chiều hướng chung về hành vi của một hệ thống - các hướng tiến hóa có thể của hệ thống đó - đồng thời đề xuất các giả thuyết mới
Mô phỏng cho phép xác minh các tác động của một số lượng lớn các biến số lên chức năng chung của hệ thống, nó xếp hạng vai trò của mỗi biến theo mức độ quan trọng, nó cũng khám phá ra các điểm khuếch đại hoặc ức chế thông qua đó có thể gây ảnh hưởng lên hành vi cửa hệ thống
Tuy nhiên, một trong số các nhược điểm của mô phỏng là sự lựa chọn tự do các biến, người sử dụng có thể thay đổi các điều kiện ban đầu chỉ để "xem điều gì sẽ xảy ra", dẫn đến lạc lối trong vô số các biến số
1.2.3.4 Tiếp cận hệ thống trong tập quyết định
Tiếp cận hệ thống hiện nay nhìn chung vẫn còn giữ một vai trò nhỏ bé trong việc lập các quyết định về môi trường và phát triển Ví dụ, trong rất nhiều vấn đề quản lý tài nguyên và ô nhiễm, người ta thường đơn giản hóa đến mức coi sự phản ứng của các hệ là tuyến tính mặc dù trên thực tế là phi tuyến Nhận thức về tác dụng của những biến động lâu dài và chậm chạp, ví dụ các tai biến tiềm ẩn thường không
đủ mức, và các yếu tố của hệ thống thường được phân tích tách rời mà đáng lẽ phải coi chúng như những bộ phận hữu cơ của một cơ thể thống nhất
Các hệ phức tạp có thể tạo ra các kết quả vừa phụ thuộc vào các tương tác rất
đa dạng, vừa có tính nhạy cảm cao đối với các điều kiện xuất phát và trọng số của các yếu tố Ngoài ra, một số nhóm hệ thống phức tạp sẽ có hành vi nhiễu loạn trong một số điều kiện nào đó, và các hệ thống nhiễu loạn, trên nhiều phương diện, lại phổ biến hơn là các hệ có tính ổn định cao
Tuy nhiên, cũng đã có những cố gắng nhằm sử dụng tư duy hệ thống vào việc quản lý, bao gồm hai tiếp cận: tiếp cận cứng và tiếp cận mềm
(3) Tổng hợp hệ thống: xác định các hệ thống thay thế có thể có
(4) Phân tích hệ thống: phân tích và lượng giá các hệ thống được giả định, dưới ánh sáng của các mục tiêu
(5) Lựa chọn hệ thống: lựa chọn hệ thống có hứa hẹn nhất
(6) Phát triển hệ thống: phát triển hệ thống đã chọn đến giai đoạn mô hình hóa
Trang 14(7) Chính xác hóa hệ thống: thực tế hóa hệ thống, xác định các quá trình giám sát hệ thống, chuẩn hóa hệ thống nếu cần thiết
Mô hình cơ bản này có thể được mở rộng bằng nhiều cách để bao gồm cả các chỉ số từ mảng kinh tế xã hội hoặc các tiêu chuẩn đa diện khác Việc lập các quyết định về kinh tế hay chính tả được tiến hành dựa trên cơ sở đa mục tiêu Tuy nhiên, những quyết định như vậy thường được tạo dựng trên cơ sở hiểu biết thiếu toàn diện, ví dụ như bằng cách nào mà những mục tiêu đó có thể tạo ra các xung đột Theo nguyên tắc chung thì tất cả các quyết định đều có ẩn dấu một hoặc nhiều kỳ vọng quá mức
Vai trò của việc phân tích hệ thống không thay thế cho quá trình lập quyết định, nhưng hỗ trợ cho các quyết định; nó tăng cường chất lượng cũng như hệ thống hóa các thông tin có được, và làm cho quá trình lập quyết định trở nên công khai hơn và hiệu quả hơn
Clayton (1997) đã cải biến chút ít tiếp cận cứng, chủ yếu tập trung vào chi phí và lợi ích của các chương trình thay thế [3] Tiếp cận cải biên gồm những bước sau đây:
(l) Xác định mục tiêu: làm rõ mục tiêu và mục đích mong muốn
(2) Mô tả các kỹ thuật hoặc hệ thống thay thế: có thể có được nhằm mục tiêu
(5) Xây dựng các tiêu chuẩn để lựa chọn và liên kết các mục tiêu chi phí và tài nguyên để có thể chọn được các giải pháp tối ưu hoặc mong muốn
Sẽ nảy sinh nhiều vấn đề khi tiếp cận cứng được sử dụng cho hệ mở, nhất là các hệ sinh thái nhân văn Tiếp cận cứng nhằm vào việc cung cấp giải pháp cho một vấn đề đã xác định rõ và do đó mà tất cả các yếu tố nhìn chung đã được cho trước Tuy nhiên, đối với các hệ mở, thì điều thường thiếu nhất lại chính là mục tiêu, mà Merton (1965) đã gọi là "Sự tìm kiếm những giải pháp hùng mạnh cho một mục đích không thể xác minh được" [3]
Trang 15không thể xác định một cách toàn diện và khách quan Trong khi tiếp cận cứng có thể dược sử dụng để giải quyết các vấn đề có cấu trúc mạch lạc, thì tiếp cận mềm lại thích hợp với các vấn đề không được cấu trúc mạch lạc Với các vấn đề không có cấu trúc, thì ngay cả định nghĩa của vấn đề và thiết kế mục tiêu tự chúng cũng thiếu mạch lạc Khi mà việc xác định vấn đề còn phụ thuộc vào quan điểm được chấp nhận, thì điều cốt yếu là phải làm cho quan điểm ấy trở nên rõ ràng, dứt khoát, và tiếp đó là thiết lập kết quả của hệ thống từ đó
Điều đó cũng có nghĩa là kết quả chính xác của các giai đoạn phân tích tình huống và triển khai giải pháp không thể được duy trì mãi Đó là vì tự thân vấn đề thường đòi hỏi, phải được tái xác định trong suất quá trình, và cũng cần thiết phải được chuẩn bị để trở lại giai đoạn đầu tiên, và tốn nhiều thời gian để tái xét vấn đề Thậm chí có thể là ngay cả khách hàng mà vấn đề được giải quyết vì họ, cũng cần được tái xác định như là một phần của quá trình này Hệ thống có sự tham gia của con người luôn luôn có tính đa giá trị
Các giai đoạn của tiếp cận mềm là:
(1) Điểm qua (tổng quan) về hiện trạng các vấn đề không có cấu trúc rõ rệt (2) Làm rõ và trình bày hiện trạng vấn đề
(3) Xác định các hệ thống tương thích (kể cả các phân hệ) bất kể là chính thức hay không chính thức
(4) Xây dựng mô hình khái niệm, kịch bản và làm rõ sự giống nhau
(5) So sánh các mô hình này với hiện trạng đã được trình bày
(6) Xúc tiến các thay đổi vừa có tính mềm dẻo, vừa thỏa mãn mong đợi (7) Xác lập các hành động nhằm cải thiện hiện trạng vấn đề
Quá trình này bao gồm việc xác định và tái xác định mục tiêu bằng cách xây dựng các mô hình, phát triển các tiêu chuẩn, so sánh mô hình với hiện trạng và cả hai việc tái cấu trúc mô hình và giải quyết hiện trạng phải thực hiện trong một quá trình đòi hỏi liên tục phản hồi, liên tục quay trở lại từ đầu và liên tục lặp lại
Nói tóm lại, phương pháp tiếp cận mềm cần nhiều phản hồi hơn tiếp cận cứng, với việc liên tục so sánh giữa các giai đoạn Kiểu tư duy hệ thống này tự nó
đã là một đầu vào của việc thay đổi tổ chức
Tiếp cận mềm phổ biến hơn tiếp cận cứng Phân tích cứng chỉ được sử dụng khi hệ được xác định rõ rệt
Trong thực tế, tiếp cận mềm là một tiếp cận có kết thúc để ngỏ, là thực sự cần thiết ở bất cứ chỗ nào mà kết quả chưa được tiên lượng chính xác Tiếp cận mềm, xét cho cùng cũng chỉ là một quá trình học hỏi liên tục, rút kinh nghiệm liên tục
Trang 161.2.4 Vận dụng tiếp cận hệ thống trong dạy học Sinh học
Mọi sự vật và hiện tượng trong vũ trụ đều tồn tại trong những hệ thống xác định, trong đó có hệ thống sinh giới (hệ sống)
Hệ sống luôn luôn vận động và phát triển trong mối quan hệ giữa các yếu tố trong hệ thống và giữa hệ thống với môi trường của nó Tách rời môi trường, các hệ sống không tồn tại được
Hệ sống là những hệ mở, thường xuyên trao đổi vật chất, năng lượng và thông tin với môi trường
Hệ sống luôn có xu hướng tự điều chỉnh để tạo ra trạng thái cân bằng tương đối trong một môi trường xác định vào những thời điểm nhất định Trạng thái cân bằng đó là trạng thái cân bằng động, vì môi trường của các hệ sống thường xuyên biến đổi
Hệ thống sinh giới tồn tại ở các cấp độ tổ chức từ nhỏ đến lớn, từ cấp độ phân tử đến hệ sinh thái và sinh quyển Trong đó các bộ phận của hệ thống lớn có thể trở thành toàn thể của hệ thống ở cấp độ nhỏ hơn Phân tử Tế bào Cơ thể
Quần thể - loài Quần xã - hệ Sinh thái Sinh quyển
Tiếp cận cấu trúc được thể hiện trong việc xây dựng chương trình và sách giáo khoa Sinh học THPT
Chương trình sách giáo khoa Sinh học THPT bao gồm: Sinh học 10 nghiên cứu đến cấp độ tổ chức tế bào và cơ thể đơn bào, Sinh học 11 nghiên cứu cấp độ tổ chức cơ thể và Sinh học 12 nghiên cứu các cấp độ tổ chức trên cơ thể (quần thể, quần xã, sinh quyển)
Tóm lại: Lý thuyết hệ thống ra đời đã có nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Tiếp cận cấu trúc hệ thống là một phương pháp đã mang lại hiệu quả cao trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khoa học Sinh học nhằm tìm ra những quy luật bản chất của sự sống Tiếp cận cấu trúc hệ thống đã góp phần nâng cao hiệu quả dạy học các môn học ở trường phổ thông nói chung và trong dạy học Sinh học nói riêng
1.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.3.1 Điều tra thực trạng về hiểu biết và vận dụng tiếp cận hệ thống trong dạy học của giáo viên Sinh học THPT
1.3.1.1 Cách tiến hành
Chúng tôi đã điều tra hiểu biết về quan điểm hệ thống và vận dụng tiếp cận
hệ thống trong dạy học Sinh học bằng phiếu điều tra với các câu hỏi trắc nghiệm và câu hỏi mở [xem phiếu điều tra số 1 - phụ lục 1] Ngoài ra, chúng tôi cũng đã điều
Trang 17tra thực trạng vận dụng tiếp cận hệ thống trong thiết kế và dạy học bài ôn tập chương
Chúng tôi đã điều tra các GV sinh học ở các trường: THPT Lấp Vò 1, THPT Hồng Ngự 3, THPT Châu Thành 1, THPT Phú Điền, THPT Thống Linh
1.3.1.2 Kết quả điều tra
Thực trạng về hiểu biết và vận dụng tiếp cận hệ thống trong dạy học của giáo viên Sinh học THPT
Kết quả điều tra được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.2 Kết quả điều tra hiểu biết của giáo viên về tiếp cận hệ thống và
vận dụng tiếp cận hệ thống trong dạy hoc Sinh học
Hiểu biết về phương pháp tiếp cận
hệ thống Vận dụng tiếp cận hệ thống Tổng số
GV được
điều tra Hiểu rõ Không
hiểu rõ
Không biết
Thường xuyên
Không thường xuyên
Không vận dụng
40 9 (22.5%) 22(55%) 9(22.5%) 4(10%) 5(12.5%) 31(77.5%)
Qua bước đầu khảo sát sự hiểu biết của giáo viên về tiếp cận hệ thống và vận dụng tiếp cận hệ thống trong dạy học Sinh học chúng tôi rút ra một số nhận xét sau: Chỉ có 9/40 (22,5%) số GV được điều tra trả lời hiểu rõ về phương pháp tiếp cận hệ thống, 22/40 (55%) GV là chỉ nghe về khái niệm này nhưng không rõ và 9/40 (22.5%) GV trả lời không biết về phương pháp tiếp cận hệ thống Như vậy, rõ ràng
là đối với các GV được điều tra, khái niệm tiếp cận hệ thống là tương đối xa lạ và mới mẻ, hoặc cũng có thể trong quá trình dạy học họ có vận dụng phương pháp này nhưng không biết cách gọi tên phương pháp
Thực trạng vận dụng tiếp cận hệ thống trong thiết kế và dạy học bài
ôn tập chương
Kết quả điều tra được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.3 Kết quả điều tra ý kiến GV về vận dụng tiếp cận hệ thống trong
thiết kế và dạy bài ôn tập chương
Ôn tập thường xuyên Ôn tập không thường
Không vận dụng tiếp cận
hệ thống
Vận dụng tiếp cận hệ thống
Không vận dụng tiếp cận hệ thống
Trang 18Về thực hiện tiết ôn tập sau mỗi chương, qua trao đổi với giáo viên chúng tôi thấy rằng nguyên nhân chủ yếu của việc không ôn tập hoặc ôn tập không thường xuyên là do không có trong phân phối chương trình, không đủ thời gian cho ôn tập
Vì vậy tỉ lệ giáo viên ôn tập thường xuyên theo từng chương còn rất thấp (22.5%), tỉ
lệ GV không ôn tập sau mỗi chương còn khá cao(55%) Một số giáo viên có thể ôn tập được sau mỗi chương là do vận dụng linh hoạt như sử dụng bài ôn tập vào tiết thực hành (qua trao đổi với GV cho thấy ở các trường không có phòng thí nghiệm hoặc có phòng thí nghiệm nhưng không có đầy đủ hóa chất và dụng cụ thí nghiệm), tranh thủ thời gian của tiết cuối chương hoặc đầu chương mới…
Về phương pháp ôn tập do chưa ý thức đầy đủ tiếp cận hệ thống được vận dụng trong phần sinh học Vi sinh vật, phần lớn giáo viên vẫn sử dụng PP truyền thống như thuyết trình- giảng giải để dạy các bài ôn tập Các phương pháp tích cực cũng được sử dụng nhưng hiệu quả DH không cao một phần do GV còn lúng túng hoặc do HS chưa thực sự chủ động tích cực trong hoạt động trên lớp.Việc sử dụng tiếp cận hệ thống trong thiết kế bài ôn tập chiếm tỉ lệ còn thấp (10% thường xuyên, 12.5% không thường xuyên).Tuy nhiên theo đánh giá hiểu biết về tiếp cận hệ thống của giáo viên thì tỉ lệ GV vận dụng tiếp cận hệ thống trong dạy học bài ôn tập chương sẽ còn thấp hơn nhiều
Tất cả các GV được điều tra đều cho rằng nên có bài ôn tập sau mỗi chương
1.3.2 Phân tích cấu trúc nội dung kiến thức phần Sinh học Vi sinh vật
1.3.4.1 Về cấu trúc chương trình
Bảng 1.4 Thời lượng chương trình sinh học 10 nâng cao
Phần I: Giới thiệu chung về thế giới sống
Phần II: Sinh học tế bào
Phần III: Sinh học Vi sinh vật
Ôn tập và kiểm tra
Trang 19Bảng 1.5 Thời lượng phần sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10 nâng cao
Chương I: Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở Vi sinh vật
Chương II: Sinh trưởng và phát triển ở Vi sinh vật
Chương III: Virut - Bệnh truyền nhiễm
Như vậy phần sinh học Vi sinh vật không có bài ôn tập, điều này gây không
ít khó khăn cho giáo viên trong việc ôn tập cho HS ở cuối mỗi chương
- Nêu được hô hấp hiếm khí, hô hấp kị khí và lên men
- Nêu được đặc điểm chung của các quá trình tổng hợp
và phân giải chủ yếu ở Vi sinh vật và ứng dụng của các quá trình này trong đời sống và sản xuất
Chương II: Sinh
trưởng và phát
triển ở Vi sinh vật
- Trình bày được đặc điểm chung của sự sinh trưởng ở
Vi sinh vật và giải thích được sự sinh trưởng của chúng trong điều kiện nuôi cấy liên tục và không liên tục
- Phân biệt được các kiểu sinh sản của Vi sinh vật
- Trình bày được những yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của Vi sinh vật và ứng dụng của chúng
Chương III: Virut -
Trang 20CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG TIẾP CẬN HỆ THỐNG TRONG THIẾT KẾ VÀ DẠY HỌC BÀI ÔN TẬP CHƯƠNG PHẦN SINH HỌC VI SINH VẬT – SINH
Phần Sinh học Vi sinh vật, nội dung kiến thức thể hiện ba đặc trưng cơ bản
của cấp độ tổ chức sống ở cấp độ cơ thể đơn bào đó là chuyển hóa: Chương I:
Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở Vi sinh vật, Chương II: Sinh trưởng và phát triển ở Vi sinh vật Còn Chương III: Virut - Bệnh truyền nhiễm, Virut thực chất chưa được xem là cơ thể sống nhưng nó được ứng dụng nhiều trong thực tiễn, do vậy chương này thể hiện ứng dụng của vi sinh vật trong thực tiễn đời sống và cách phòng chống các bệnh do virut gây ra
Trong mỗi chương, nội dung được sắp xếp theo logic hệ thống
Chương I: Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở Vi sinh vật
Các nội dung của chương được phân bố theo hệ thống, bao gồm các kiến thức về dinh dưỡng chuyển hóa vật chất và năng lượng ở vi sinh vật (bài 33), kiến thức về quá trình tổng hợp (bài 34), quá trình phân giải của vi sinh vật (bài 35) Các nội dung kiến thức thể hiện các quá trình đặc trưng của cơ thể vi sinh vật, các quá trình này tác động qua lại với nhau giúp cho vi sinh vật chuyển hóa vật chất và năng lượng, quá trình này làm cơ sở cho quá trình kia và ngược lại Có thể hình dung nội dung kiến thức chương I theo sơ đồ sau:
Trang 21Sơ đồ 1 BĐKN chuyển hóa vật chất và năng lượng ở VSV
Chương II: Sinh trưởng và sinh sản ở Vi sinh vật
Các nội dung kiến thức của chương cũng thể hiện cấu trúc hệ thống, các kiến thức đó bao gồm: sự sinh trưởng của vi sinh vật, sự sinh sản và các các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và sinh sản của vi sinh vật (bài 40, 41) Các nội dung kiến thức này thể hiện hai đặc trưng cơ bản của vi sinh vật và chúng liên quan chặt chẽ với nhau, quá trình sinh trưởng, phát triển là cơ sở cho quá trình sinh sản
và sinh sản lại tác động trở lại sinh trưởng và phát triển Các nội dung kiến thức của chương thể hiện trong sơ đồ sau:
Trang 22Sơ đồ 2 BĐKN Sinh trưởng và sinh sản ở VSV
Chương III: Virut - Bệnh truyền nhiễm
Chương III bao gồm các nội dung kiến thức như: cấu trúc của virut, phân loại virut, Sự nhân lên của virut, các bệnh truyền nhiễm và miễn dịch Các nội dung này thể hiện mối quan hệ với nhau rất chặt chẽ, việc phân loại virut phải dựa vào cấu tạo của nó, để hiểu được sự nhân lên của virut cũng cần hiểu về cấu trúc và phân loại Biết được cấu trúc và sự nhân lên của virut thì mới hiểu được cách lan truyền bệnh của nó và cách phòng chống các bệnh do virut gây ra Nội dung kiến thức của chương có thể khái quát theo sơ đồ sau:
Trang 23Sơ đồ 3 Virut và bệnh truyền nhiễm
2.1.2 Vận dụng tiếp cận hệ thống thiết kế và dạy học bài ôn tập chương
Theo hướng tiếp cận vấn đề khi thực hiện các nghiên cứu trong thực tế, tiếp cận dựa trên các thành tố và tiếp cận dựa trên tổng thể, cùng với việc tham khảo ý kiến của các giáo viên có nhiều kinh nghiệm, chúng tôi vận dụng tiếp cận hệ thống
để thiết kế và dạy học các bài ôn tập chương theo các bước:
Tổng quan về nội dung của chương được vận dụng ở phần đầu bài ôn tập chương GV giới thiệu nội dung khái quát của phần hoặc chương, đặt ra các yêu cầu nghiên cứu cho mỗi phần hoặc chương bằng sơ đồ graph, nội dung (bản đồ khái niệm dạng phân nhánh)
Trang 24Phân tích cấu trúc được vận dụng ở phần giữa bài ôn tập chương bằng các sơ
đồ, bảng biểu nội dung Phân tích cấu trúc để HS hiểu được các khái niệm, mô tả cấu trúc và chức năng của mỗi thành phần trong hệ thống…
Tổng hợp hệ thống được vận dụng vào phần cuối bài ôn tập chương Tổng hợp hệ thống giúp HS thấy được mối quan hệ giữa các thành phần trong hệ thống (cấu trúc, chức năng), giữa hệ thống với môi trường từ đó tìm ra các đặc tính sống của hệ thống
Khi dạy phần sinh học Vi sinh vật GV phải làm nổi bậc các đặc trưng cơ bản của Vi sinh vật như: chuyển hóa vật chất và năng lượng, sinh trưởng và sinh sản, virut và bệnh truyền nhiễm
2.2 CẤU TRÚC CỦA BÀI ÔN TẬP CHƯƠNG
2.2.1 Cấu trúc của bài ôn tập chương
Một bài ôn tập chương có thể được trình bày theo logic sau:
- Phân tích thành phần: dùng các câu hỏi, bài tập, bảng biểu, tranh ảnh…
để phân tích, trình bày các thành phần kiến thức của chương
- Xác lập mối quan hệ: dùng các câu hỏi, bài tập để tìm mối quan hệ qua lại
về cấu trúc và chức năng của mỗi thành phần kiến thức, mối quan hệ qua lại giữa các thành phần với nhau (trong chuyển hóa vật chất và năng lượng, trong sinh trưởng và phát triển…) và giữa cơ thể Vi sinh vật với môi trường… từ đó có thể tìm
ra các đặc trưng cơ bản của Vi sinh vật
- Tổng kết (tổng hợp hệ thống): Hình thành và thiết kế sơ đồ theo hệ thống
kiến thức đã ôn tập
Ôn tập chương giúp HS hệ thống lại các kiến thức, rèn luyện khả năng tự học, khả năng tư duy hệ thống…
2.2.2 Ví dụ về cấu trúc của bài ôn tập chương
Cấu trúc bài ôn tập chương III: VIRUT VÀ BỆNH TRUYỀN NHIỄM
- Phân tích thành phần: Sử dụng câu hỏi để xác định hệ thống các khái
niệm kiến thức có trong chương III
GV yêu cầu HS hãy liệt kê các khái niệm có trong các bài của chương III? Các khái niệm trong chương III bao gồm:
Trang 25- Xác lập mối quan hệ: Sử dụng hệ thống câu hỏi xác lập mối quan hệ của
các khái niệm
GV yêu cầu HS thiết lập mối quan hệ giữa các khái niệm vừa nêu và phân tích bộ phận các khái niệm chính để thành lập BĐKN về Virut và bệnh truyền nhiễm thông qua các câu hỏi định hướng sau:
- Virut là gì?
- Phân tích cấu trúc của Virut? Vai trò của mỗi thành phần cấu trúc?
- Các tiêu chí phân loại Virut và các loại Virut?
- Phân biệt các loại cấu trúc của Virut? Nêu ví dụ cho mỗi loại cấu trúc?
- Các giai đoạn nhân lên của Virut trong tế bào vật chủ?
- Thế nào là bệnh truyền nhiễm?
- Cách thức lan truyền của bệnh truyền nhiễm do Virut gây nên?
- Phân tích khái niệm miễn dịch?
Với việc trả lời xong các câu hỏi gợi ý của GV giúp HS hoàn thành BĐKN về nội dung kiến thức của chương
- Tổng kết (tổng hợp hệ thống): HS hoàn thiện BĐKN về Virut và bệnh
truyền nhiễm
GV đưa ra BĐKN hoàn chỉnh về Virut và bệnh truyền nhiễm
GV yêu cầu HS so sánh những điểm giống và khác nhau giữa bản đồ các em
đã thiết kế và bản đồ mẫu Thông qua bản đồ HS hệ thống hóa được các khái niệm
và nội dung kiến thức trong chương
Sau khi hoàn thành bản đồ khái niệm, GV đặt thêm một số câu hỏi cụ thể hóa
về các nội dung kiến thức trong chương, hoặc các câu hỏi nhằm phân biệt, so sánh, chứng minh các nội dung kiến thức khác để thấy được tính hệ thống của các kiến thức trong chương
Bản đồ khái niệm Virut và bệnh truyền nhiễm được hình dung như sau: