1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Diễn ngôn giới và tính dục trong cuộc sống muôn màu

101 378 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 5,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những chủ đề xoay quanh đường biên của quan niệm xã hội về vai trò của người nữ trong gia đình, tình dục và mại dâm đã vén mở phần nào những khúc mắc trong một xã hội hãy còn dang dở

Trang 2

DIỄN NGÔN - GIỚI VÀ TÍNH DỤC TRONG CUỘC SỐNG MUÔN MÀU

Bản quyền © 2014

ISBN: 978-604-908-860-5 Thiết kế bìa: KiMi Trần Biên tập viên Alpha Books: Nhữ Vân

Không phần nào trong xuất bản phẩm này được phép sao chép

hay phát hành dưới bất kỳ hình thức hoặc phương tiện nào

mà không có sự cho phép trước bằng văn bản của Công ty Cổ phần Sách Alpha.

Chúng tôi luôn mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp của quý vị

độc giả để sách ngày càng hoàn thiện hơn.

Góp ý về sách, liên hệ về bản thảo và bản dịch: publication@alphabooks.vn

Liên hệ hợp tác về nội dung số: ebook@alphabooks.vn

Liên hệ hợp tác xuất bản & truyền thông trên sách: project@alphabooks.vn

Liên hệ dịch vụ tư vấn, đại diện & giao dịch bản quyền: copyright@alphabooks.vn

NHÀ XUẤT BẢN TRI THỨC

VIỆN NGHIÊN CỨU XÃ HỘI, KINH TẾ VÀ MÔI TRƯỜNG

Trang 3

DIỄN NGÔN vốn là tên gọi được lựa chọn cho diễn đàn trực tuyến của Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) với những hàm ý về mối quan hệ đa chiều của ngôn ngữ, tri thức và quyền lực Mượn ý tưởng

về diễn ngôn (discourse) của nhà triết học Pháp Michel Foucault, chúng tôi muốn khởi lập một diễn đàn học thuật liên ngành để khám phá những vấn đề của đời sống văn hóa-xã hội Việt Nam từ nhiều góc nhìn mới

DIỄN NGÔN được tạo lập nên từ tri thức và những quan hệ quyền lực đa dạng trong cuộc sống DIỄN NGÔN, đến lượt nó, cũng là phương cách tạo lập nên tri thức, cùng với những thực hành xã hội, các dạng thức của chủ thể và mối quan hệ quyền lực Được bắt rễ từ trong ngôn ngữ, DIỄN NGÔN tạo ra niềm tin, niềm tin biến thành tri thức,

và tri thức tạo nên quyền lực Bởi vậy sẽ không có tri thức nào là chân lý tuyệt đối và hoàn toàn khách quan Chúng tôi tin rằng có nhiều chân lý cùng tồn tại trên cuộc đời này, mọi

Trang 4

6

tiếng nĩi đều cĩ giá trị, và sự “đa thanh” đĩ làm nên muơn

màu của cuộc sống

Bộ sách DIỄN NGƠN ra đời như một hình thức

thể hiện vật chất của những ý tưởng và gĩc nhìn đã được

lưu chuyển trên khơng gian sơi động của diễn đàn www

dienngon.vn Bộ sách cùng với diễn đàn trực tuyến DIỄN

NGƠN mong muốn trở thành nơi đối thoại về tri thức,

ý tưởng và sự trải nghiệm của những người tâm huyết với

việc xây dựng một xã hội Việt Nam đa dạng, cơng bằng và

tràn đầy tình yêu thương

Chúng tơi hy vọng sẽ cĩ sự đồng hành của các bạn

trong thời gian tới, vì một tương lai tươi đẹp ấy

Ban biên tập Diễn Ngơn

Mục lục

Bình đẳng giới  9

Quyền đa dạng giới tính  59

Bên kia giới tính  73

Hướng tới tương lai  135

Trang 5

Phần I

BÌNH ĐẲNG GIỚI

Trang 6

và phổ biến nhất của loài người Và có lẽ, nó chính là rào cản lớn nhất vì nó hiện hữu hàng ngày

Quay lại khái niệm cơ bản về vai trò giới, đó là quan niệm xã hội quy định các công việc, trách nhiệm hoặc tính cách (nam tính, nữ tính) là chuẩn mực cho nam giới và nữ giới Ví dụ đơn giản, phụ nữ làm các công việc nhẹ, thuần thục việc nội trợ gia đình, và nên ăn nói nhẹ nhàng, e thẹn Nam giới làm các việc nặng, là trụ cột kinh tế gia đình,

và nên giao lưu xã hội rộng rãi Đây là các “quan niệm xã hội” do con người quy định, được xã hội chấp nhận và trở

Lịch sử “cuộc chiến giới tính” của loài người cho đến nay

căn bản vẫn đang viết những chương tiếp theo về chiến

thắng của nam giới trước nữ giới về mọi mặt: địa vị xã hội,

địa vị gia đình, quan niệm xã hội về vai trò nam-nữ, các

định kiến đạo đức về hôn nhân và tình dục Sự phát triển

của khoa học xã hội cùng những thay đổi trong kết cấu xã

hội phần nào đã vãn hồi một “sự quan tâm” của toàn thể

xã hội tới thân phận của người nữ, nhưng ánh sáng từ một

ngọn đèn vẫn không xua nổi bóng đêm Nữ quyền vẫn đặt

trong phạm vi nam giới, và cho đến khi nào Eva vẫn chỉ

là một xương sườn của Adam, thì thân-phận người nữ vẫn

giống “lời nguyền rủa của Thượng đế” hơn là một phép lạ

Các tác giả cũng nhận ra điều ấy Những chủ đề

xoay quanh đường biên của quan niệm xã hội về vai trò

của người nữ trong gia đình, tình dục và mại dâm đã vén

mở phần nào những khúc mắc trong một xã hội hãy còn

dang dở như Việt Nam Có lẽ, ấn tượng nhất trong các

phân tích là cuộc tấn công vào quan niệm của xã hội Việt

Nam về mại dâm - tình dục, vốn là những lĩnh vực xã hội

đang xảy ra cuộc chuyển biến mạnh mẽ nhất, mặc dù đây

cũng là mấu chốt của những nguy cơ khủng hoảng xã hội từ

bên trong nền tảng của nó Mặc dù, chính vấn đề mại dâm

cũng khiến người ta nhận ra rằng, thật đáng đau đớn, cuộc

chiến chống lại những sức ép của định kiến giới lại xảy ra

nơi người phụ nữ bị xã hội lạm dụng nhất

Trang 7

mạnh mẽ, quyết đoán, nóng tính và hào phóng là của nam giới Điều này tưởng như hiển nhiên, nhưng nó tạo ra rào cản cho phụ nữ làm lãnh đạo vì đa số người dân coi nam tính (mạnh mẽ, quyết đoán) là tố chất cần thiết của lãnh đạo Nói cách khác, “nam tính” và “lãnh đạo tính” trùng nhau nên tạo lợi thế cho nam giới trong việc thăng tiến Trong công việc cũng có sự phân định về nam tính và

nữ tính Phụ nữ bị gắn với các nghề có thu nhập thấp hơn,

ví dụ như nhân viên văn phòng, thợ may, giáo viên tiểu học hay phụ giúp việc Nam giới được gắn với những việc

có thu nhập cao như quan chức chính phủ, cảnh sát và lập trình viên Phụ nữ thích các công việc ổn định, dành nhiều thời gian cho gia đình, còn nam giới thích việc có thu nhập cao và có thể chu du thiên hạ

Đây là lát cắt cho thấy những định kiến giới vẫn đeo bám trong giới trẻ Việt Nam Tuy nhiên, điều gây bất ngờ lớn nhất đó là phụ nữ lại là người đang níu kéo những giá trị bất lợi cho vị thế của chính mình Không có nghĩa nam giới không còn định kiến giới, nhưng dường như họ lại

“thoáng” hơn trong việc chấp nhận những giá trị có tính

“giải phóng phụ nữ”

Theo một nghiên cứu của viện iSEE, Trung tâm

CGFED và Quỹ châu Á, đa số phụ nữ mong đợi bạn đời của họ kiếm được thu nhập cao trong khi chỉ chưa đến 20% nam giới mong đợi phụ nữ làm điều này Đa số phụ

nữ muốn mình ở thế “bị động” và mong đợi nam giới phải

thành chuẩn mực Tuy nhiên, vì là sản phẩm của con người

và xã hội nên nó thay đổi theo thời gian Ví dụ trước đây

phụ nữ không có quyền bầu cử, nay phụ nữ đã được tham

gia vào hoạt động chính trị bình đẳng

Nhưng trên thực tế, phụ nữ vẫn chưa được bình đẳng

như nam giới Các số liệu thống kê ở Việt Nam và nhiều

nước trên thế giới vẫn chỉ ra khoảng cách lớn giữa nam và

nữ trong nhiều lĩnh vực khác nhau Ví dụ ở Việt Nam chỉ

có 10% bộ trưởng, 8% thứ trưởng và 24% đại biểu quốc

hội là phụ nữ Tương tự như vậy, ở Mỹ chỉ có 14% dân

biểu và 16% thống đốc bang là phụ nữ Bất bình đẳng

trong gia đình còn nặng nề hơn, đặc biệt về thời gian và

khối lượng việc nhà, hoặc bạo lực gia đình phụ nữ phải

gánh chịu

Như vậy, rào cản để xóa bỏ những bất công mà phụ

nữ đang phải gánh chịu là gì? Có phải đàn ông muốn duy

trì lợi thế của mình? Có phải phụ nữ cam chịu hoặc hy sinh

hạnh phúc vì chồng con? Vì sao nỗ lực của chính phủ, cũng

như hàng chục phong trào nữ quyền và hàng trăm tổ chức

xã hội dân sự hoạt động vì quyền của phụ nữ mà vẫn bất

lực trước thực trạng này?

Nhiều nghiên cứu về giới gần đây đã soi chiếu nguyên

nhân cốt lõi ngăn cản tiến bộ trong bình đẳng giới Đa số

giới trẻ vẫn tin rằng các đặc tính như làm việc chăm chỉ,

chịu thương chịu khó, khéo léo và khiêm nhường là các

đặc trưng của phụ nữ Tương tự như vậy, các tố chất như

Trang 8

14 Bình đẳng giới 15

cách, là nguyên nhân của đổ vỡ gia đình, họ chịu sức ép to lớn từ chính những người phụ nữ khác và phải chui vào vỏ bọc chuẩn mực xã hội

Nhưng có lẽ, một trong những nguyên nhân quan trọng nhất chính là phong trào thúc đẩy bình đẳng giới ở Việt Nam bị xé lẻ, thiếu thủ lĩnh và không nhận được sự ủng hộ của quảng đại phụ nữ Phong trào nữ quyền vẫn gói gọn ở trong một số tổ chức xã hội dân sự, chưa trở thành câu chuyện hàng ngày của phụ nữ và nam giới Hơn nữa, nhiều nhà hoạt động lại đòi hỏi các ưu tiên riêng biệt cho phụ nữ, coi phụ nữ như một nhóm yếu thế hơn là một nhóm phải được đối xử bình đẳng như với nam giới Đây chính là nguyên nhân dẫn đến tư duy và triết lý hoạt động dựa vào sự ban phát hơn là quyền và bình đẳng

Không ai có thể đòi quyền của mình mạnh bằng chính bản thân mình Người da đen không thể có quyền bình đẳng nếu họ không dũng cảm đấu tranh và thách thức sự phân biệt chủng tộc Người đồng tính không thể kết hôn nếu họ giấu mình và mong chờ sự ban ơn của người dị tính Đã đến lúc, phụ nữ phải thực hiện quyền bình đẳng của mình, và bắt đầu từ một câu hỏi đơn giản trong gia đình: Ai rửa bát sau khi ăn cơm?

là người chủ động trong mối quan hệ yêu đương Hơn nữa,

chính phụ nữ lại ít bất bình hơn khi thấy đa số lãnh đạo

là nam, và nhiều phụ nữ hơn nam giới muốn sếp mình là

đàn ông Rõ ràng, chính phụ nữ đang tiếp tay cho sự bất

bình đẳng giới trong công việc, gia đình và cả trong quan

hệ tình cảm

Có nhiều cách giải thích khác nhau cho hiện tượng

này, một trong số đó là trẻ em gái được giáo dục khắt khe

hơn trẻ em nam về việc tuân thủ các chuẩn mực xã hội

Chính những người mẹ đã giáo dục con gái mình phải đảm

đang, biết nấu ăn, chăm sóc chồng và chịu nhịn khi “cơm

chẳng dẻo, canh chẳng ngọt” Những người mẹ chồng

cũng khắt khe hơn với con dâu và mong họ phải tuân thủ

chuẩn mực hy sinh, tuân thủ lễ giáo nhà chồng Điều này

đã ảnh hưởng sâu sắc đến suy nghĩ của phụ nữ về giá trị của

tự do và bình đẳng

Bên cạnh đó, các diễn ngôn phổ biến trong xã hội

cũng như của các cơ quan đại diện cho phụ nữ đang cổ

súy cho người phụ nữ chịu trách nhiệm chính trong việc

duy trì sự êm ấm của gia đình Những phẩm chất đạo đức

của người phụ nữ gắn liền với sự hy sinh, tính chịu thương

chịu khó và nhẫn nhịn vì hạnh phúc gia đình Điều này

mạnh đến mức, ngay những người phụ nữ hoạt động trong

phong trào nữ quyền, ngoài xã hội có thể đấu tranh rất

hăng nhưng về nhà lại trở lại nhiệm vụ “gìn giữ gia phong.”

Những người phụ nữ muốn thể hiện mình bị coi là phá

Trang 9

cãi lại chồng Người khác cho rằng tuy nam giới có quyền

“dạy” vợ, nhưng cũng nên dùng lời, biện pháp chuyên chính thay vì bạo lực Dù vậy, vẫn khẳng định vợ và con cái trong nhà phải “theo chồng, theo cha” Rất ít người cho rằng nam giới không nên có uy quyền, lấn át vợ và quan hệ

vợ chồng phải bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau

Một đặc trưng nữa thường có liên hệ với quan niệm

về nam tính, cũng như quan điểm về uy quyền của đàn ông, là người cha phải là người đóng vai trò chính trong dạy dỗ con cái, nhất là con trai Đặc tính này được thể hiện theo hai cách: người cha phải quản lý việc học hành ở trường của con, đồng thời phải biết chỉ bảo con cái trong cuộc sống Cha dạy con bao gồm giúp con làm bài tập ở nhà, dạy cho con cả những bài học về xã hội, như làm người đàn ông thì phải thế nào Có mối quan hệ giữa uy quyền – đặc trưng chính trong quan niệm về nam tính ở Việt Nam – và cách nam giới thể hiện uy quyền thông qua việc dạy bảo cả vợ lẫn con cái Chính vì vậy, việc bị thách thức uy quyền thường được coi là một lý do chính đáng để nam giới sử dụng vũ lực

Như vậy, là người chỉ giáo, biết giữ nền nếp, kỷ cương

và có uy quyền là những đặc trưng chính trong quan niệm thế nào là đàn ông Đây là những quan điểm phổ biến, được đa số nhất trí ở tất cả các đối tượng, bất kể địa vị xã hội, vị trí địa lý Điều này cho thấy mức độ phổ biến của những đặc trưng này, cũng như những nếp sống liên quan,

“Nam tính nho nhã”, “nam tính cơ bắp” đều phải

dạy vợ để gìn giữ gia phong?

Đào Thế Đức

Đặc trưng phổ biến nhất về nam tính ở Việt Nam

là quan niệm cho rằng nam giới (thường là chồng, cha)

phải là trụ cột và là người ra quyết định chính trong nhà

Nhiều nghiên cứu cho thấy người chồng có vị trí cao hơn

người vợ và là người đứng đầu gia đình Các thành viên tin

“quyền quyết định lúc nào cũng phải là của người chồng,

trước đây, hiện nay và sau này cũng vậy” Con cái thể hiện

sự ngưỡng mộ về cách cha mình thực thi uy quyền, kỷ luật

trong gia đình

Cách nam giới thể hiện uy quyền, cũng như quan

niệm về mức độ uy quyền bất khả xâm phạm của mình

cũng có sự khác biệt Một số người cho rằng chồng phải

biết “dạy” vợ để vợ phục tùng họ Dạy ở đây bao gồm dạy

để vợ không được cãi chồng và phải biết tuân phục chồng

Theo họ dạy vợ là “quyền của đàn ông” Có người đề cập

đến đòn roi như một biện pháp “dạy” hay “ngăn cấm” vợ

Trang 10

vì như vậy mới đủ sức “chiến đấu”, được nể sợ, và con gái mới thích vì có khả năng bảo vệ cho họ Nam giới ở Hà Tây thường xuyên nhắc đến với đặc tính nóng tính, nóng nảy nên nếu vợ “hỗn” thì bị chồng đánh là bình thường, trừ khi có người can ngăn Như vậy, phụ nữ phải tránh lúc chồng “nóng tính” và phải biết “nhịn” khi chồng đang nóng Những ý kiến về việc nam giới nóng tính này phù hợp với kết quả nghiên cứu hiện nay về quan niệm văn hóa trong sự khác biệt giữa phụ nữ (âm) và nam giới (dương)

ở Việt Nam

Những khác biệt rõ ràng giữa Huế và Hà Tây cho thấy vai trò của những yếu tố xã hội, kinh tế, địa lý trong việc hình thành nên một số (dù không phải là tất cả) các quan niệm phổ biến về nam tính, đồng thời cũng cho biết cách hiểu của nam giới về hình mẫu đàn ông lý tưởng chủ yếu được xây dựng dựa trên các giả định về uy quyền của nam giới so với phụ nữ Tuy các đặc tính của nam tính có khác nhau do yếu tố vùng miền, văn hóa mang lại, nó đều tựu chung về một điểm: Nam giới phải nam tính và phải dạy vợ, con để ổn định gia phong, và củng cố vị thế bá quyền của mình

trong quan niệm bá quyền ở xã hội Việt Nam Tuy nhiên,

những đặc trưng về quan niệm nam tính có khác nhau, do

ảnh hưởng của các yếu tố xã hội, kinh tế, địa lý Hình mẫu

đàn ông lý tưởng theo mô tả của các nam giới ở Huế, phần

lớn là những người được học hành, lớn lên trong những

gia đình trung-thượng lưu, khá khác biệt so với những nam

giới được phỏng vấn ở Phú Xuyên, Hà Tây, đa số ít được đi

học, lớn lên trong các gia đình nghèo

Ở Huế, hình mẫu đàn ông lý tưởng là phải “lịch sự”,

“có tri thức”, “có học” Sức mạnh cơ bắp thường không

được nhấn mạnh trong quan niệm thế nào là người đàn

ông thực sự So với nam giới ở các khu vực khác, đàn ông

Huế thường điềm đạm, ít nói hơn Việc đàn ông Huế làm

thơ là điều bình thường, vì đối với phụ nữ Huế, đây là

một nét hấp dẫn Chính vì vậy, “con trai mà vai u thịt

bắp thì hay bị xem là thô kệch”, cho nên phải “điềm đạm,

ít nói, thư sinh” Vì “Huế nổi tiếng là đất văn hiến” nên

người dân ở đây cũng coi trọng học hành hơn (vì như vậy

mới tìm được việc làm tốt) so với những hoạt động khác

như thể thao Những người gốc Huế cho rằng, trước đây

phụ nữ thường thích nam giới giỏi học hành, thứ mới đến

những người giỏi lao động chân tay, “Nhất là học hay, nhì

là cày giỏi” Con gái thường không thích con trai “to khỏe,

thích đánh nhau” Rất ít người cho rằng “đàn ông thực sự”

phải khỏe mạnh, đồng thời phải là “chỗ dựa cho vợ con cả

về vật chất, tinh thần, sức khỏe”

Trang 11

đại kỹ năng và giá trị của mình khi đàm phán để có mức lương cao và cơ hội tốt hơn Phụ nữ, ngược lại thường đánh giá thấp giá trị công việc của mình, quan tâm đến các vấn đề nội tâm hơn là công việc, và thường tham chiếu với mức lương thấp hơn sẵn có của phụ nữ khi đàm phán Hậu quả là phụ nữ nhận lương thấp hơn cho

dù làm công việc như nam giới Các hành vi này được ủng hộ bởi chuẩn mực xã hội Thái độ tự tâng của nam giới thường được chấp nhận hơn là thái độ tự tâng của

nữ giới, đặc biệt là từ phía đàn ông Tương tự, đàn ông thường nghiêm khắc với những người đàn ông khiêm nhường hoặc “yếu đuối” trong khi phụ nữ lại ủng hộ những người phụ nữ hiền lành Như vậy, cả đàn ông và đàn bà đều cổ súy cho chuẩn mực tự tâng của đàn ông và hiền dịu của phụ nữ

Các nghiên cứu về tâm lý còn cho thấy nam giới và phụ nữ giao thiệp rất khác nhau Phụ nữ thường nói một cách ngập ngừng hơn đàn ông, và họ thường nói ngập ngừng với đàn ông hơn là với phụ nữ Nam giới lại thích những người phụ nữ ăn nói dịu dàng, và họ bị ảnh hưởng bởi phong cách ngập ngừng của phụ nữ hơn Như là hậu quả, phụ nữ thường nói nhẹ nhàng và bị giảm cơ hội của họ

có được những vị trí lãnh đạo trong quản lý, chính trị Điều này là do các thuộc tính của lãnh đạo thường được gắn với

“mạnh mẽ, quyết đoán”, và rõ ràng là không phù hợp với phụ nữ hiền dịu

Dịu dàng là vũ khí hay gông cùm của phụ nữ?

Mạnh Hải

Bình đẳng giới là vấn đề toàn cầu Đã có nhiều giải

pháp khác nhau, tốn kém nhưng dường như chưa thực sự

mang lại hiệu quả Ở cả các nước phát triển và đang phát

triển, tỉ lệ phụ nữ trong vai trò lãnh đạo còn rất thấp Phụ

nữ chỉ chiếm 15,7% cán bộ quản lý trong các tập đoàn

kinh tế và 11,4% trong các vị trí CEO Đại diện của nữ

trong các vị trí lãnh đạo chính trị cũng thấp Ví dụ ở Mỹ

chỉ có 14% dân biểu và 16% thống đốc bang là phụ nữ

Tương tự như vậy, ở Việt Nam chỉ có 10% bộ trưởng và

24% đại biểu quốc hội là phụ nữ Hầu hết các nghiên cứu

và phân tích nguyên nhân cho rằng, sự khác biệt giữa nam

và nữ là do các yếu tố sinh học, điều kiện kinh tế và cơ hội

giáo dục Rất ít các phân tích về nguyên nhân tâm lý gây ra

bất bình đẳng giới

Các thí nghiệm tâm lý đã cho thấy, có những hành

vi cụ thể làm nặng thêm định kiến giới dẫn đến bất bình

đẳng giới Ví dụ đàn ông thường tự tiến cử mình, khuếch

Trang 12

Các thông điệp mang tính định hướng sử dụng để cổ

vũ cho những hành vi tốt nên nhấn mạnh tính phổ biến của nó trong xã hội Bằng cách nêu bật tính “đa số” của hành vi tốt, mọi người sẽ tuân thủ một cách tốt hơn Cùng với các chiến lược về giáo dục và kinh tế, phương pháp tiếp cận tâm lý sẽ bổ sung và đóng góp vào việc xóa bỏ định kiến giới và bất bình đẳng giới, đặc biệt trong các chiến dịch truyền thông

Như vậy, các chuẩn mực và khuôn mẫu giới được cổ

súy bởi xã hội, đặc biệt bởi đàn ông Nếu những chuẩn

mực và khuôn mẫu này không được đánh đổ thì bất bình

đẳng giới sẽ chỉ càng trở nên nghiêm trọng Một chiến

lược hiệu quả có thể đóng góp giải quyết vấn đề này đó là

“cấy những thông điệp chuẩn mực” tích cực để thay đổi

diễn ngôn về giới

Trong cuộc sống, người ta thường làm những gì

mà được xã hội chấp nhận hoặc coi là phổ biến Ví dụ ở

Singapore, đường phố sạch sẽ nên không ai vứt rác ra đường

và giữ vệ sinh chung được coi là hành vi chuẩn mực Ở Việt

Nam lại có đầy rác ở ngay cả nơi treo biển “cấm đổ rác” nên

mọi người tiếp tục vứt rác ra đường vì đó là hành vi được

coi là phổ biến Chính vì vậy, các thông điệp truyền thông

về bình đẳng giới nên thay đổi cách nói về vai trò của phụ

nữ và nam giới Cần nhấn mạnh, việc phụ nữ mạnh mẽ,

quyết đoán, dấn thân, thành công là bình thường và phổ

biến Tương tự, việc nam giới nhẹ nhàng, không xông pha

trong xã hội là bình thường và không phải là hiếm Diễn

ngôn này sẽ cân bằng với các chuẩn mực hiện có, tạo ra sự

đa dạng và bình đẳng hơn trong lựa chọn cho cả nam và nữ

Bên cạnh đó, để các thông điệp về bình đẳng giới, ví

dụ phòng chống bạo lực gia đình như “đánh vợ là vi phạm

pháp luật và không được xã hội chấp nhận” có hiệu quả,

cần tránh kèm theo các số liệu chỉ ra rằng hành vi đánh vợ

là khá phổ biến Nếu nói việc này khá phổ biến, có nghĩa

Trang 13

đạo đức và pháp luật của việc mua bán dâm, chúng ta hãy xem cách xã hội phân biệt đối xử với phụ nữ như thế nào Thay vì lên án những người bán dâm nam, báo chí và dư luận xã hội lại tập trung vào dè bỉu những người phụ nữ đi mua dâm, lên án lối sống “trác táng” và nhu cầu “dị biệt” của họ Trong khi nam giới đi mua dâm, tất nhiên cũng với các cô gái trẻ, thì xã hội lại tập trung phê phán những người phụ nữ bán dâm Trong trường hợp nào, phụ nữ cũng là người có lỗi và cần phải điều chỉnh hành vi tình dục của mình Tại sao lại như vậy?

Lý do đầu tiên là quan niệm xã hội cho rằng phụ nữ phải là người “bị động” trong quan hệ yêu đương và đặc biệt trong quan hệ tình dục Khi nam giới đi “chinh phục” phụ nữ hoặc được nhiều cô gái thích thì anh ta được coi là

“sát gái” hoặc “đào hoa” Còn khi phụ nữ chủ động hoặc có nhiều người đàn ông thích thì bị khép vào tội “lăng nhăng” hoặc “dâm đãng” Điều này có nghĩa phụ nữ cần phải gìn giữ trinh tiết và sống “chính chuyên”, dù có nhu cầu tình dục cũng phải kìm nén Nếu họ chủ động, có nghĩa họ đã phá vỡ khuôn mẫu xã hội tạo ra, và bị lên án bởi cả nam giới và những người phụ nữ khác trong xã hội

Thứ hai, từ trước đến nay phụ nữ bị coi là phải phục

vụ đàn ông trong cuộc sống tình dục Khi được đòi hỏi, phụ nữ phải cắn răng thỏa mãn nhu cầu của chồng dù không muốn Nếu không, họ có thể phải đối mặt với bạo lực gia đình vì “làm vợ” là một “thiên chức” của người phụ

Tình dục, mại dâm và sự thiệt thòi của phụ nữ

Thu Hiền

“Nam nữ thụ thụ bất thân” là một giá trị “lâu đời”

của nhiều người Kinh Cho đến ngày nay nó vẫn được duy

trì ở cả nông thôn và thành thị Trên thực tế, nó được sử

dụng để “quản lý” hành vi tình dục của phụ nữ nhiều hơn

là đàn ông Điều này được thể hiện qua các hình phạt như

“cạo đầu bôi vôi” ngày xưa, hoặc những câu châm ngôn cay

độc “gái không chồng mà chửa” được dùng ngày nay nhằm

lên án và ngăn cản các hành vi quan hệ tình dục trước hôn

nhân, hoặc ngoài hôn nhân của phụ nữ Trong những vụ

việc này, người đàn ông dường như vô can và không chịu

hình phạt nào của xã hội

Tương tự như vậy, gần đây rộ lên những bàn luận về

chuyện mại dâm nam mà khách hàng là những người phụ

nữ trung niên Do những hoàn cảnh khác nhau như độc

thân, không thỏa mãn nhu cầu tình dục với chồng, hoặc

đơn giản muốn tìm cảm giác lạ mà những người phụ nữ

này tìm đến các chàng trai trẻ Khoan hãy bàn về khía cạnh

Trang 14

Như vậy, con người có quyền dùng cơ thể và sức lao động của mình cho việc bán dâm Điều này cũng giống như những người sử dụng cơ thể và sức lao động của mình để làm tiếp viên hàng không, nhân viên văn phòng, người mẫu hoặc

ca sĩ Mọi người tự do lựa chọn nghề nghiệp, tự do làm hay không làm việc Không ai có quyền cấm hoặc bắt ép người khác làm việc vì như vậy là vi phạm quyền con người vì lao động bắt buộc (forced labor) và tình trạng nô lệ (slavery) là phi pháp Câu hỏi đặt ra là tại sao những nghề khác được tôn

nữ Mà làm vợ, có nghĩa là thực hành chức năng của “giống

cái” – thỏa mãn nhu cầu tình dục của giống đực và sinh

con đẻ cái Chính vì vậy, khi nam giới phải phục vụ nữ giới

trong tình dục đã đi ngược lại vai trò giới trong quan hệ

tình dục Nó đe dọa vị thế và nam tính của người đàn ông

Đây là lý do để nhiều người chĩa mũi dùi vào người phụ

nữ đi mua dâm

Nhưng có lẽ, nguyên nhân quan trọng nhất đó là

quan niệm về tình dục vẫn tồn tại trong xã hội: tình dục

phải gắn với hôn nhân và duy trì nòi giống Đối với nhiều

người, tình dục phải gắn với “tính loài” nên tình dục ngoài

hôn nhân và không gắn với sinh sản là vi phạm đạo đức

nghiêm trọng Nó đi ngược lại thuần phong phong mỹ

tục Để duy trì đức hạnh, người phụ nữ phải kìm nén và

hy sinh nhu cầu tình dục của mình

Rõ ràng người phụ nữ đi mua dâm đang bị lên án

nhiều hơn người đàn ông đi mua dâm Xét trên khía cạnh

quyền bình đẳng, phụ nữ cũng như người đàn ông đều có

quyền có cuộc sống tình dục an toàn và thỏa mãn Nếu quan

hệ tình dục của người phụ nữ không vi phạm những giá trị

đạo đức (như ngoại tình hoặc quan hệ cận huyết) hoặc sức

khỏe (như lây nhiễm bệnh tật) thì cũng cần phải được tôn

trọng Chính vì vậy, việc người phụ nữ đi mua dâm (nếu

mại dâm được hợp pháp hóa) cũng cần coi là bình thường

và được tôn trọng như người đàn ông đi mua dâm

Trang 15

bán dâm có thể là cả nam giới và nữ giới vì cả phụ nữ và đàn ông đều có nhu cầu mua dâm Thứ hai, những người phụ

nữ bán dâm không đại diện cho giới phụ nữ nói chung Họ chỉ đại diện cho bản thân họ như những con người độc lập, riêng rẽ và có nhân phẩm Nói cách khác, phụ nữ bán dâm cũng như phụ nữ bán hàng rong, phụ nữ trí thức, phụ nữ giáo viên đều không thể đại diện cho giới phụ nữ nói chung Chính vì vậy, việc đánh đồng việc phụ nữ bán dâm có nghĩa

là hạ thấp nhân phẩm của phụ nữ là không hợp logic

Có ý kiến cho rằng, cho phép mại dâm sẽ dẫn đến

sự tan vỡ của gia đình vì vợ hoặc chồng sẽ có quan hệ tình dục ngoài hôn nhân Suy luận này là sai lầm vì việc quan hệ tình dục ngoài hôn nhân hay không là quyết định cá nhân dựa trên giá trị đạo đức của họ chứ không phải dựa trên việc có dịch vụ mại dâm hay không Nếu một người cho rằng quan hệ tình dục ngoài hôn nhân là xấu, là vi phạm đạo đức thì họ sẽ không bao giờ thực hiện điều đó Ngược lại, nếu đó không phải là giá trị đạo đức họ coi trọng thì họ

sẽ có quan hệ tình dục ngoài hôn nhân với bạn tình hoặc người bán dâm, dù cấm hay không

Ngoài ra, mại dâm cũng tuân theo quy luật cung cầu của thị trường Khi có cầu thì tất có cung Nhiều người đàn ông và phụ nữ đến tuổi trưởng thành đều có nhu cầu quan hệ tình dục Nhiều người có người yêu, có bạn tình

để thỏa mãn nhu cầu của mình Nhiều người không có nên phải lựa chọn hoặc là thủ dâm, hoặc là tìm đến dịch vụ mại

vinh còn nghề mại dâm thì bị lên án, thậm chí bị thu gom và

phạt hành chính?

Xét bản chất của mại dâm, ta thấy đây là một hoạt

động dựa trên hợp đồng (thường là bằng miệng) giữa hai

người trưởng thành, theo nguyên tắc “có đi có lại” Người

bán dâm có trách nhiệm cung cấp dịch vụ, đó là cơ thể và

kỹ năng của mình để cho người mua dâm thỏa mãn nhu

cầu tình dục Người mua dâm có nghĩa vụ trả tiền cho

người bán dâm theo thỏa thuận hợp đồng Vì người bán

dâm sở hữu cơ thể của mình, nên họ hoàn toàn có quyền

làm điều đó Còn người mua dâm là công dân nên có tư

cách pháp nhân thực hiện giao dịch dân sự này

Tranh cãi về mại dâm thường xuất phát từ giá trị đạo

đức của việc mua bán dâm Nếu xét về đạo đức, chúng ta có

thể xem xét từ hai khía cạnh: bản chất của việc bán dâm và

ảnh hưởng/hậu quả của việc mua bán dâm Như thảo luận ở

trên, việc mua bán dâm là một việc tự nguyện, người bán dâm

đối xử tốt với khách hàng của mình, còn người mua dâm tôn

trọng người cung cấp dịch vụ cho mình Cả hai đều đạt được

mục đích, một người có thu nhập một người được thỏa mãn

Chính vì vậy, bản thân hoạt động mua bán dâm không vi

phạm đạo đức vì hai người liên quan không bị lợi dụng hoặc

tổn hại gì

Nhiều người cho rằng cho phép mại dâm sẽ hạ thấp giá

trị của người phụ nữ vì đa số người bán dâm là phụ nữ Ở

đây, có hai vấn đề cần phải làm rõ Thứ nhất, những người

Trang 16

30 Bình đẳng giới 31

những chèn ép, quỵt tiền, hoặc hành hung, đánh đập họ

vì đối tác có nhiều quyền lực hơn, sẵn sàng tố cáo họ hành nghề phi pháp Nhiều người bị ép phải quan hệ tình dục vượt quá sức chịu đựng, hoặc theo cách rủi ro gây đến tổn hại về sức khỏe và bệnh tật Rõ ràng việc cấm mại dâm đã làm tổn hại ghê gớm đến quyền của những người bán dâm,

và đây chính là vấn đề đạo đức cần xem xét

Thứ ba, việc cấm mại dâm dẫn đến hoạt động này được thực hiện trong thế giới ngầm không thể quản lý được Nhiều người tham gia vào việc môi giới mua bán dâm, thu lợi và thậm chí chèn ép cả khách hàng lẫn người bán dâm gây ra nhiều vấn đề xã hội Về bản chất, việc môi giới mua bán dâm cũng giống như việc môi giới mua bán nhà đất Tuy nhiên, vì mại dâm đang bị cấm nên việc môi giới là phạm pháp Nếu mại dâm được hợp pháp hóa thì

rõ ràng việc quản lý dịch vụ này sẽ rõ ràng hơn, minh bạch hơn và những người tham gia vào dịch vụ môi giới có thể đăng ký kinh doanh và nộp thuế Thuế sẽ được sử dụng cho việc quản lý cũng như chăm sóc y tế cho những người tham gia hoạt động mại dâm

Nhiều người lo lắng nếu hợp pháp hóa mại dâm thì sẽ làm cho hoạt động này bùng nổ Lo lắng này là không cần thiết vì khi mại dâm là một hoạt động kinh tế bình thường thì việc tăng hay giảm cũng là điều bình thường, nó cũng

sẽ tuân theo quy luật cung cầu của thị trường Nhà nước

có thể tham gia điều tiết thông qua quy hoạch, đánh thuế

dâm Đây là điều bình thường trong xã hội vì quan hệ tình

dục là nhu cầu bình thường của đa số mọi người Còn quan

hệ như thế nào, với ai thì là quyền của mỗi người, tùy vào

giá trị đạo đức, tôn giáo cũng như điều kiện kinh tế, xã hội

của họ Rõ ràng, nhu cầu này là độc lập với gia đình vì họ

là những người trưởng thành, chưa lập gia đình

Như vậy, hoạt động mua bán dâm không vi phạm

quyền con người của ai, không làm thấp giá trị của ai,

không làm tổn hại giá trị đạo đức tốt đẹp nào, và không

phải là nguyên nhân phá vỡ gia đình Ngược lại, việc cấm

hoặc tội phạm hóa mại dâm lại có những vấn đề về công

bằng và đạo lý mà chúng ta cần phải phân tích

Thứ nhất, như đã nói ở phần đầu, con người là tự do

và bình đẳng, có quyền sở hữu cơ thể của mình, sử dụng

sức lao động của mình vào những việc không làm tổn hại

đến quyền của người khác Cấm mại dâm, có nghĩa là tước

đi quyền sở hữu cơ thể và sức lao động của những người

phụ nữ và nam giới bán dâm Điều này cũng có nghĩa là

họ bị đối xử không bình đẳng như những con người khác

trong việc lựa chọn nghề nghiệp của mình

Thứ hai, những người vẫn thực hiện hoạt động bán

dâm vô hình chung trở thành yếu thế trong giao dịch hợp

đồng mua bán dâm với khách hàng của mình Khi hoạt

động của họ là phi pháp, có nghĩa họ không được bảo

vệ, không có quyền lực để đàm phán và bắt khách hàng

thực thi nghĩa vụ trả tiền theo hợp đồng Điều này dẫn tới

Trang 17

Đàn ông Việt Nam: bạo lực và ngoại tình?

và việc thờ cúng, coi trọng việc có con trai, cũng như coi

sử dụng bạo lực như một cách để thể hiện vai trò làm chủ trong gia đình Người đàn ông đó sẽ bị xem là kém cỏi, mất mặt, hay mất danh dự nếu không phải hay không thể là trụ cột gia đình, không coi trọng việc thờ tự và quan hệ dòng

họ, không có con trai, và không “biết” dạy vợ

Các tác giả nước ngoài viết về nam tính ở Việt Nam, như Helle Rydstrøm (2003, 2006) cũng theo lối phân tích kể trên Theo Helle thì việc đàn ông sử dụng bạo lực đối với vợ của họ có liên quan đến quan niệm dân gian về “tính nóng”

và “tính lạnh”, những xúc cảm mà các cựu binh mang về từ chiến trường, và các chuẩn mực đạo đức Khổng giáo Helle

cũng như thúc đẩy các bàn luận về đạo đức cá nhân, gia

đình và xã hội để cho mọi người tự quyết định cho hành vi

đúng sai của mình

Việc hợp pháp hóa mại dâm là việc đúng nên làm, vì

rõ ràng nó không vi phạm giá trị đạo đức cũng như quyền

của bất kỳ ai Ngược lại, việc cấm mại dâm đang vi phạm

quyền sở hữu thân thể và sức lao động của những người

bán dâm Nó tạo ra sự bất bình đẳng và yếu thế cho những

người bán dâm Đây chính là vấn đề đạo đức của việc cấm

mại dâm cần được gỡ bỏ Khi đó, việc hợp pháp hóa mại

dâm cũng giúp cho nhà nước quản lý tốt hơn, minh bạch

hơn và nhân văn hơn

Trang 18

34 Bình đẳng giới 35

tình dục, thì người đàn ông ngoại tình bỗng trở thành đối tượng giám sát của ngành y tế công cộng (Choi et al., 1994; Mitsunaga et al., 2005) Ở Việt Nam, từ giữa những năm

1990 trở lại đây, do ảnh hưởng của trào lưu này, nhiều nghiên cứu đã tập trung vào chủ đề quan hệ tình dục ngoài hôn nhân của nam giới, và gần đây hơn, thì đã tập trung vào quan hệ tình dục trước hôn nhân của nam giới Hầu hết các nghiên cứu này đều gắn hành vi quan hệ ngoài hôn nhân với các nguy cơ mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục, và việc làm lây lan các bệnh đó cho những người ‘bình thường’ khác

Một ví dụ tiêu biểu cho loại nghiên cứu này là công trình của Phinney (2008) Khi nghiên cứu những biến đổi

về kinh tế, xã hội thời kỳ sau Đổi Mới ở Hà Nội, Phinney nhận thấy rằng những biến đổi này, như là sự dư dả về tiền mặt, sự bùng nổ của các dịch vụ giải trí, quảng cáo hướng đến nam giới và nam tính, và sự sẵn có của các cơ hội ngoại tình khác, đã góp phần hình thành và thúc đẩy sự ngoại tình ở nam giới Phinney đã rất giỏi trong việc vận dụng những câu “tục ngữ mới” của người dân Hà Nội vào việc

mô tả hiện tượng ngoại tình Ví dụ, câu “chán cơm, thèm phở” được tác giả dùng ngay làm tiêu đề cho bài báo, đã tạo được sự thú vị rất lớn cho người đọc “Cơm” là từ lóng để chỉ “người vợ”, còn “phở”, một thứ được cho là ngon hơn cơm, thỉnh thoảng mới được ăn trong thời kỳ bao cấp, là

từ lóng để chỉ “người tình” thời nay

mô tả rằng tính cách của nam giới được cho là có thuộc

tính “nóng” một cách tự nhiên, còn của phụ nữ thì có tính

“lạnh” Tính nóng ấy, nói cách khác, được cho là một phần

tự nhiên của nam tính Nam giới thể hiện ‘tính nóng’ thông

qua việc sử dụng bạo lực trong việc dạy con (nhất là con trai)

và trong quan hệ với vợ, qua đó, thể hiện nam tính của họ

Sự thể hiện “tính nóng” có thể trở nên bạo lực hơn khi nam

giới đã uống rượu, hoặc trải qua các cơn đau do chấn thương

thời chiến tranh tái phát Phụ nữ có tính “lạnh” và bị canh

giữ bởi những chuẩn mực đạo đức Khổng giáo, cho nên họ

có xu hướng chấp nhận sự bạo lực của đàn ông

Như vậy, Helle Rydstrøm và nhiều tác giả khác đã

cung cấp một quan điểm khá cứng nhắc về nam tính ở Việt

Nam Có thể thấy rằng trong các nghiên cứu của họ thì

nam giới thường được mô tả là những người tạo ra vấn đề

cho phụ nữ và trẻ em chứ không phải là những người cũng

đang phải chịu đựng những vấn đề của riêng họ Các nhà

nghiên cứu dường như phụ thuộc quá nhiều vào các quan

niệm Khổng giáo truyền thống để mô tả về nam tính và nữ

tính mà chưa tính đến tác động của những biến đổi kinh

tế, xã hội mạnh mẽ ở nông thôn Việt Nam trong những

thập kỷ gần đây đối với những hình mẫu nam tính và nữ

tính theo truyền thống Khổng giáo đó

Khi trào lưu nghiên cứu về tính dục trở nên nở rộ

vào giữa những năm 1980s, thời điểm mà người ta tìm

thấy mối liên hệ giữa sự truyền nhiễm HIV và quan hệ

Trang 19

tình là các nhóm ‘có nguy cơ’ phản ánh sự vượt trội của các chương trình nghiên cứu được tài trợ bởi các quỹ hay các tổ chức có mục đích chính là nâng cao sự bình đẳng giới cho phụ nữ, hay phòng chống sự lan truyền của HIV/AIDS ở Việt Nam

Theo mạch này, ngày càng nhiều ‘nhóm nguy cơ’ mới

sẽ được phát hiện Ví dụ, gần đây đã có một số người nói đến sự cần thiết phải nghiên cứu nguy cơ nhiễm HIV/AIDS trong nhóm nam quan hệ tình dục cùng giới (MSM) hoặc nam thành phố lao động tự do Đặc điểm chung của những người bị gán mác ‘có nguy cơ’ là họ là nhóm yếu thế hơn, hay nói cách khác là cách làm đàn ông của họ không được những nhóm khác có nhiều quyền lực hơn ủng hộ Những người càng yếu thế thì càng khó có khả năng kháng

cự lại cái nhãn ‘có nguy cơ’ mà người ta gán cho họ Việc này dẫn đến định kiến kỳ thị, tạo ra hình ảnh xấu xí của người đàn ông Việt Nam Hơn nữa, nó có thể dẫn đến tự định kiến và gây ra những khó khăn cho việc tham gia của đàn ông vào việc phòng chống HIV cũng như bình đẳng giới thật sự

Khi mô tả đô thị như là một nơi nam giới có thể dễ

dàng có quan hệ tình dục ngoài hôn nhân, Phinney cho

rằng điều này có thể làm gia tăng nguy cơ lây nhiễm HIV/

AIDS trong cộng đồng Cuối bài viết tác giả khuyến nghị

rằng cần có biện pháp để nam giới Việt Nam sử dụng bao

cao su nhiều hơn, và cần phải có cách để cải thiện sự giao

tiếp giữa vợ chồng (hay là những người bạn tình) để có thể

phòng tránh sự lây lan của HIV tốt hơn

Có vấn đề gì trong lập luận rằng ngoại tình đang có xu

hướng tăng lên và rằng ngoại tình có liên quan đến sự lây

lan HIV/AIDS như ta thấy trong nghiên cứu của Phinney

không? Hiện tại, không hề có bằng chứng chắc chắn nào

nói rằng ngoại tình đã tăng lên, hoặc là tình dục của những

người nam giới ngoại tình là không an toàn Việc gắn ngoại

tình với HIV/AIDS có thể gây ra những hệ quả không

mong muốn khi mà sự kết hợp của diễn ngôn đạo đức (ví

dụ, người ngoại tình là “bạc bẽo”, “không biết giữ mình”,

“không chung thủy”) và diễn ngôn y tế công cộng (ví dụ

người ngoại tình “có nguy cơ nhiễm HIV cao”) sẽ chỉ làm

cho những người này che giấu hành vi của mình hơn để đối

phó lại sự kỳ thị chống lại họ

Rõ ràng việc tập trung vào người đàn ông bạo lực và

người đàn ông ngoại tình mà các nghiên cứu về nam tính

ở Việt Nam trình bày trong bài viết chưa thể hiện được sự

đa dạng của các loại nam tính Hơn nữa, việc một số học

giả cố gắng định nghĩa nhóm nam giới bạo lực hay ngoại

Trang 20

38 Bình đẳng giới 39

Chính quan niệm Nho giáo này đã đẩy người phụ nữ vào thế bị động, như hạt mưa sa vào trong giếng nước, gặp giếng trong thì hạnh phúc, gặp giếng đục thì tủi hờn Vị thế

“yếu và phụ thuộc”, do quan niệm xã hội tạo ra, làm người phụ nữ không dám phản kháng lại những bất công, bạo lực đối với mình Có người cũng muốn thoát ra, nhưng ngay lập tức bị bủa vây bởi định kiến xã hội, cho rằng gia đình tan vỡ

là do người phụ nữ không biết nhường nhịn, “chín bỏ làm mười” Họ bị đổ lỗi là nguyên nhân thất bại trong việc giữ lửa cho gia đình Điều này một lần nữa đẩy người phụ nữ quay lại với cuộc sống địa ngục có tên là bạo lực gia đình

Có những người phụ nữ vượt qua được lễ giáo, và sẵn sàng bỏ qua dư luận để giải thoát mình Tuy nhiên, họ lại

bị ràng buộc bởi suy nghĩ “hy sinh đời mẹ vì hạnh phúc của đời con” Họ bị thuyết phục rằng ly dị có nghĩa là tạo ra một gia đình tan vỡ, con sẽ phải sống với mẹ, hoặc với cha Một gia đình không “tròn trịa”, thiếu cha hoặc thiếu mẹ,

sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của con cái Chính vì vậy, việc chạy trốn khỏi bạo lực gia đình bị xem như là hành vi ích kỷ, chỉ nghĩ đến bản thân, không quan tâm đến con cái Người mẹ nào cũng thương con, và vì con, họ lại chịu đựng cuộc sống tủi nhục của mình

Nhiều nghiên cứu khác nhau, ví dụ của Judith S Wallerstein, cho thấy ly hôn có tác động đến sự phát triển của trẻ Sự chia tay của cha mẹ, có thể để lại một vết sẹo tiêu cực, làm cho trẻ khó khăn hơn trong quá trình trưởng

Ai nhốt phụ nữ trong địa ngục gia đình?

Thu Hiền

Có những người phụ nữ không muốn ly dị dù bị đánh

đập, bạo dâm, và hạ nhục, thậm chí phải tự tử để giải thoát

mình Tại sao họ lại cam tâm chịu đựng? Tại sao họ không

dám từ bỏ người chồng vũ phu, không yêu thương mình, để

thoát khỏi địa ngục trần gian, tìm một tương lại tốt đẹp hơn?

Tại sao họ bị nhốt trong nhà tù có tên là bạo lực gia đình?

Có nhiều lý do, nhưng đầu tiên đó là quan niệm về

gia đình, và vai trò của người phụ nữ trong gia đình Tam

tòng, tứ đức vẫn là những giá trị còn tồn tại dai dẳng trong

xã hội Việt Nam Tam tòng (tại gia tòng phụ, xuất gia tòng

phu, phu tử tòng tử) nói lên vai trò phụ thuộc, phục dịch

của người phụ nữ cho dòng họ nhà chồng Chuẩn mực của

một người vợ tốt là tứ đức gồm công (khéo léo may vá, bếp

núc, chăm sóc chồng con ), dung (biết chăm sóc thân thể của

mình để đẹp cho chồng), ngôn (ăn nói dịu dàng, mềm mỏng

đề vừa lòng chồng ), hạnh (nết na, hiền thảo, kính trên nhường

dưới, chiều chồng thương con)

Trang 21

Sự bất công, dường như đã được định sẵn khi họ ký vào

tờ giấy kết hôn Khi họ muốn từ bỏ sự bất công, thì xã hội lại thuyết phục họ hy sinh mình vì cái gọi là “gia đình” hay

“tương lai con cái” để sống chung với bạo lực Đây là lý do làm nhiều người phụ nữ bị đánh đến tàn phế, hoặc bức tử

vì không còn lối thoát nào

Ngày nay, có nhiều nỗ lực trong luật pháp và hoạt động của các tổ chức phi chính phủ để đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ, như việc ban hành các luật Hôn nhân gia đình, Luật bình đẳng giới, và Luật phòng chống bạo lực gia đình Tuy nhiên, các nỗ lực này chỉ có tác dụng nếu nó thực sự coi gia đình là kết hợp dân sự bình đẳng, là môi trường yêu thương và chăm sóc lẫn nhau Nếu vẫn coi gia đình là nơi duy trì nòi giống (cho dòng họ nhà chồng),

là tế bào của xã hội nên phải giữ gìn và “hoàn thiện”, nghĩa

là có một vợ, một chồng và các con, thì các nỗ lực này còn lâu mới có kết quả

Và cuối cùng, người phụ nữ là tự do và bình đẳng

Họ lập gia đình để mưu cầu hạnh phúc Nếu gia đình không đảm bảo hạnh phúc cho họ, họ không nên khư khư giữ nó, các đoàn thể và cơ quan hòa giải không nên ép họ giữ nó Đây là lý lẽ đơn giản để ly dị là một giải pháp, chứ không phải là một điều tồi tệ cho những người phụ nữ bị bạo hành

thành Nhiều đứa trẻ khi lớn lên lo lắng về khả năng thiết

lập quan hệ yêu thương, hoặc cam kết lâu dài với người

khác Đặc biệt, một số trẻ lớn lên tiếp nhận những hành

vi rủi ro cao, như ma túy, rượu và quan hệ tình dục không

an toàn

Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu của Hội nhi khoa Hoa

Kỳ đã chỉ ra rằng, việc phát triển của trẻ phụ thuộc rất lớn

vào chất lượng quan hệ trong gia đình, giữa người lớn và

trẻ Nếu quan hệ đó là yêu thương, chia sẻ, thì trẻ sẽ phát

triển tốt Nếu là quan hệ bạo lực, lừa dối, hoặc bất bình

đẳng, thì sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của chúng

Nói cách khác, những ảnh hưởng tiêu cực của việc ly dị

lên trẻ, có thể ít hơn rất nhiều so với những ảnh hưởng

của một môi trường gia đình đầy bạo lực Đây cũng chính

là kết luận của nhiều nghiên cứu, trong đó có E Mavis

Hetherington và John Kelly, cho rằng về ngắn hạn ly dị có

thể ảnh hưởng đến trẻ, nhưng về lâu dài hầu như không

có nhiều ảnh hưởng Trong quá trình trưởng thành, trẻ sẽ

vượt qua những tác động của ly dị, và trở thành những

người vợ hoặc chồng có trách nhiệm với gia đình của mình

Nếu coi hôn nhân là một hợp đồng dân sự, thì rõ

rằng những người phụ nữ này đã bị thiệt thòi khi phải

mang theo rất nhiều trách nhiệm Họ phải phụng dưỡng

chồng, bố mẹ chồng, gia đình nhà chồng Họ phải sinh con

đẻ cái, nối dõi tông đường cho nhà chồng Họ phải tuân

thủ “thuần phong mỹ tục” và những lễ giáo của nhà chồng

Trang 22

Không nhất thiết Nhiều quốc gia đi theo mô hình không hình sự hoá hành vi mua và bán dâm, nhưng cấm các hành vi tổ chức xung quanh như dẫn khách, mở nhà thổ v.v… với mục đích đánh vào những kẻ ăn bám trên lưng người phụ nữ Nói cách khác, ở đây làm “gái gọi” độc lập thì hợp pháp, nhưng làm má mì thì không

3 Mại dâm không phải là một ngành kinh tế đáng mong đợi

Vì sao ngành đánh bốc lại đáng mong đợi hơn? Ở đó thiên hạ trả tiền xem hai người đánh nhau bật máu, gãy răng Đau đớn lắm

4 Không thể tách rời giữa buôn nguời và mại dâm, chúng liên quan rất mật thiết với nhau

Tách rời được Mại dâm hay được chia ra làm ba loại: Đứng đường, trong nhà chứa, và làm việc độc lập (call girl)

Ở các nước Tây Âu, mại dâm đứng đường là nguy hiểm nhất cho người bán dâm vì nguy cơ gặp khách bạo lực, côn

đồ lớn hơn ở các dạng kia Ở Việt Nam, các nhà chứa là nơi tiềm ẩn nạn buôn người lớn nhất Mô hình cấm nhà thổ nói trên đánh vào vấn đề này, chuyển nhu cầu mua dâm sang gặp phần cung khác

5 Mại dâm đi liền với ma tuý

Mại dâm như một chiến lược của phụ nữ?

Đặng Hoàng Giang

Sau khi đọc xong các bài và các ý kiến độc giả gần đây

trên Diễn Ngôn chung quanh chủ đề nên hay không nên

hợp pháp hoá mại dâm, tôi xin phép được tập hợp lại 11 lý

do phản đối việc hợp pháp hoá mại dâm, cũng như các suy

nghĩ của tôi vì sao những lý do này có vấn đề Ngoài ra, tôi

xin nêu ra ba biện pháp để giảm thiểu mại dâm, cũng như

một gợi ý về mối liên quan giữa hôn nhân và mại dâm

1 Người bán dâm không phải là tự nguyện, mà họ buộc phải

lựa chọn vì mưu sinh của mình

Ở đây chúng ta phải phân biệt giữa trường hợp người

bán dâm bị ép hay bị lừa vào làm công việc này, hay bị bộ

máy vận hành (ví dụ chủ nhà chứa) tước khả năng thoát

ra ngoài, và trường hợp người bán dâm tự chủ và đầy đủ ý

thức quyết định làm việc này, như một lựa chọn tốt nhất

cho cá nhân họ trong thời điểm đó Ép, lừa, buôn người

cần phải bị đấu tranh triệt để, và kinh nghiệm của nhiều

nước chỉ ra rằng hợp pháp hoá mại dâm hữu hiệu hơn để

Trang 23

9 Mại dâm là một việc vô đạo đức Tình dục chỉ nên xảy

ra giữa những người yêu nhau Mại dâm làm mất đi cái thiêng liêng của tình dục

Vậy ta cấm luôn các gia đình hay các đôi nam nữ vẫn sinh hoạt tình dục với nhau trong khi không còn yêu nhau nữa? Bởi vì không còn yêu nhau nữa mà vẫn làm tình với nhau thì còn gì là thiêng liêng? Tiện thể cấm luôn cả thủ dâm, vì thủ dâm thì thiêng liêng với ai?

10 Tôi không muốn Việt Nam nổi tiếng vì công nghệ tình dục

Hà Lan nổi tiếng vì công nghiệp tình dục, 5% tổng thu nhập quốc dân của họ tới từ ngành công nghiệp này May quá, chúng ta không phải là người Hà Lan

11 Người Việt Nam vốn đã lười, hợp pháp hoá mại dâm thì các cô gái sẽ làm gì?

Hoá ra các cô gái Việt Nam vốn lười biếng, chỉ chăm chăm đi vào con đường mại dâm Lại may quá, ta có pháp luật ngăn lại!

Vậy khi quy kết mại dâm là tội phạm không phải là biện pháp hữu hiệu để giảm thiểu nó thì có cách nào khác không? Theo các nhà nghiên cứu kinh tế và xã hội, có ba nỗ lực chúng ta có thể làm để giảm thiểu mại dâm:

Tăng thu nhập của phụ nữ ở những ngành khác:

Khi cơ hội thu nhập cao ở những lĩnh vực khác nhiều lên, sẽ ít phụ nữ chọn mại dâm là công việc để nuôi sống bản thân và gia đình Các khảo sát chỉ ra rằng ở Tây Âu tỉ

Ca sĩ và người mẫu cũng đi liền với hút, chích, lắc Ta

cấm luôn cả hai nghề này cho tiện

6 Mại dâm phá hoại phẩm giá của phụ nữ, không thể dùng

tiền để mua phụ nữ

Ta nên lập luôn một hội đồng xét duyệt các trường

hợp các cô gái trẻ cặp với đại gia Các đại gia phải chứng

minh được là các chu cấp vật chất của mình là xuất phát

từ đáy lòng, chứ không phải để “mua” một cô gái trẻ Và

cô gái cũng phải chứng minh là nếu không có chu cấp vật

chất thì tình cảm của mình với đại gia cũng không suy

chuyển Một trong hai bên không chứng minh được thì đôi

đó phạm luật Mà nghĩ cho kỹ thì nên xét duyệt tất cả các

hôn nhân và các quan hệ mà trong đó bên nữ đồng ý làm

tình với bên nam, không chỉ các cặp gái trẻ - đại gia

7 Hợp pháp hoá mại dâm sẽ làm nó tăng trưởng hơn

Sai Mại dâm có nhiều hơn ở các nước nghèo, nơi

nhiều phụ nữ chọn lựa chọn này Nó không nhiều hơn ở

nước được hợp pháp hoá nếu so với những nước khác có

cùng mức sống

8 Mua bán dâm phá hoại hạnh phúc gia đình

Vậy ta chỉ cho những người chưa có gia đình, những

người goá bụa và ly dị mua dâm? Người bán dâm mà tiếp

người đã kết hôn thì sẽ bị phạt nặng? Mức phạt sẽ do các

bà vợ đặt ra? Ta có nên cung cấp cho người bán dâm danh

sách đàn ông đã kết hôn ở địa phương, cập nhật hàng

tháng, để họ biết mà tránh?

Trang 24

46 Bình đẳng giới 47

dâm, nhưng không thể là cả hai Nếu hôn nhân là một nguồn thu nhập cho phụ nữ thì công việc mại dâm cần phải được trả giá xứng đáng cho chi phí cơ hội mà cô ấy bị mất trên thị trường hôn nhân… Nhìn nhận mại dâm như một chiến lược của phụ nữ sẽ giúp chúng ta hiểu hơn về quá trình tiến hoá của hôn nhân.”

lệ người bán dâm hồi đầu thế kỷ 20 cao hơn bây giờ rất

nhiều Hiện nay, người bán dâm ở những quốc gia này chủ

yếu là người nhập cư, những người có cơ hội hạn chế hơn

ở các lĩnh vực khác

Tăng thu nhập của đàn ông: Các nghiên cứu cũng

chỉ ra đàn ông thu nhập thấp mua dâm nhiều hơn Lý do

là đàn ông thu nhập cao có nhiều điều kiện để có bạn gái

hoặc lập gia đình hơn Một nghiên cứu ở Scotland năm

2008 cho thấy 52% người mua dâm thuộc nhóm thu nhập

thấp nhất

Tăng cơ hội có tình dục trước hôn nhân: Trước cách

mạng tình dục ở phương Tây, 80% đàn ông có quan hệ

tình dục đầu tiên với gái mại dâm, bởi vì đó là cách duy

nhất họ đến với trải nghiệm tình dục Hiện nay, con số này

là dưới 20% Ở Việt Nam, tình dục trước hôn nhân sẽ là

yếu tố quan trọng giảm thiểu nhu cầu mua dâm

Cuối cùng, mại dâm và hôn nhân liên quan tới nhau

như thế nào? Nhiều hơn bạn tưởng Chủ đề dài và phức

tạp, tôi chỉ muốn lưu ý là nếu các bạn google “Marriage is

a form of prostitution” (“Hôn nhân là một hình thức mại

dâm”), các bạn sẽ có 33.300.000 kết quả trong vòng 0.35

giây Các bạn có thể bắt đầu bằng nghiên cứu “A Theory

of Prostitution” (“Một lý thuyết về mại dâm”) năm 2001

của hai giáo sư Lena Edlund và Evelyn Korn của trường

Đại học Columbia, Mỹ Phần tóm tắt của nghiên cứu có

đoạn này: “Một phụ nữ chỉ có thể là vợ hay là người bán

Trang 25

nữ Nhiều nghiên cứu chỉ ra trẻ em gái và phụ nữ ở các gia đình nghèo, khó khăn, và thiếu thông tin là các nạn nhân đầu tiên của các băng đảng Chúng nhắm đến những gia đình yếu thế, dễ bị dụ dỗ để “tuyển dụng”, mà thực chất

là ép buộc hoặc lừa đảo Khi đã tham gia, toàn bộ hệ thống bảo kê, tội phạm, ma cô và quản lý sẽ ép buộc họ làm việc như nô lệ tình dục trong các nhà thổ Theo UNICEF, hàng năm có hàng triệu phụ nữ bị buôn bán và ép buộc gia nhập ngành công nghiệp mại dâm, và khoảng 30% trong số họ

là trẻ vị thành niên, thậm chí dưới 13 tuổi

Nhiều người cho rằng vấn đề buôn bán người không liên quan đến vấn đề mại dâm Nhiều chính phủ còn đề nghị phải phân nhóm những người bị buôn bán thành hai loại, một loại bị ép buộc và một loại đồng thuận Họ còn

đề nghị nạn nhân bị buôn bán phải tự đưa ra bằng chứng

bị ép buộc của mình nếu muốn được coi là nạn nhân Các quốc gia ủng hộ việc tách biệt này chủ yếu là những nước

đã hợp pháp hóa mại dâm, hoặc có ngành công nghiệp du lịch tình dục phát triển

Tuy nhiên, không thể tách rời giữa tình trạng buôn nguời và mại dâm vì hai vấn đề này liên quan rất mật thiết với nhau, như cung (buôn bán người) và cầu (mại dâm)

Kể cả những người phụ nữ được coi là “đồng thuận” tham gia, thực chất vẫn là bị ép buộc Họ thường là những người yếu thế, nghèo, không còn lựa chọn nào khác, do hoàn cảnh họ phải đồng thuận Bên cạnh đó, nhiều người bị

Hợp pháp hóa mại dâm việc sai không được làm

Lệ Quyên

Hoạt động mua bán mại dâm tưởng là bình đẳng,

nhưng thật ra là một việc làm phi đạo đức và không công

bằng Hai cơ thể con người, sinh ra tự do và bình đẳng,

thì phải được đối xử công bằng như nhau Trong mại dâm,

một người phải đưa thân xác ra mua vui cho một người; cơ

thể người mua dâm có được khoái cảm và thỏa mãn dục

vọng; cơ thể người bán dâm không có khoái cảm, thậm

chí đau đớn Việc “tự nguyện” tham gia hợp đồng mua bán

dâm chỉ đúng với người mua dâm vì họ chủ động đi thỏa

mãn nhu cầu và sẵn sàng trả tiền Còn với người bán dâm

không phải là tự nguyện, mà họ buộc phải lựa chọn vì cuộc

mưu sinh của mình Hoạt động mua bán dâm thể hiện sự

bất bình đẳng giữa hai con người

Hợp pháp hóa mại dâm cũng đồng nghĩa với việc hợp

pháp hóa các đường dây cung cấp “hàng mới” cho các nhà

chứa Điều này cũng có nghĩa là toàn bộ hệ thống buôn

người, ma cô, bảo kê sẽ được huy động để săn lùng phụ

Trang 26

50 Bình đẳng giới 51

một món hàng, người phụ nữ bán dâm cũng khó từ chối vì

nó liên quan đến sinh kế và cuộc sống của họ

Nếu cho rằng việc đánh đập hoặc ép buộc quan hệ không an toàn không nằm ở bản chất của mại dâm, mà nằm ở việc quản lý của nhà nước cũng như trình độ của đội ngũ ma cô và chủ nhà chứa là sai lầm Năng lực quản

lý của nhà nước, đặc biệt ở những nước như Việt Nam cho một ngành dịch vụ phức tạp này là rất yếu, đấy là chưa nói đến tham nhũng và cấu kết bảo kê Hơn nữa, khi hoạt động hợp pháp, các chủ chứa và ma cô càng lộng hành vì

họ được pháp luật bảo hộ Phụ nữ mại dâm, với “chứng chỉ hành nghề mại dâm” không cải thiện được vị thế, cũng như quyền lực của họ trong quan hệ kinh tế này Và kết quả là

trước đây họ bị bóc lột một cách bất hợp pháp thì giờ đây

họ bị bóc lột hợp pháp

Như vậy, hợp pháp hóa mại dâm tưởng như là cách để bảo vệ quyền của phụ nữ, vô hình chung lại chỉ hợp pháp hóa sự mua dâm của đàn ông Hơn nữa nó sẽ tăng thêm sức hút, biến nhiều người phụ nữ và trẻ em gái thành nạn nhân của hoạt động buôn bán người, hoặc nô lệ tình dục

Nó hợp pháp hóa sự bất bình đẳng về cơ thể giữa người mua dâm và người bán dâm Đáng buồn, lợi nhuận thu được sẽ được chia đều cho những người tham gia, thậm chí cho cả nhà nước, và người bị hành hạ trên thân xác của mình, cuối cùng lại là người phụ nữ!

cung cấp thông tin sai lệch, một chiều hoặc thậm chí dối

trá để tham gia vào công việc này Đến khi phát hiện bị lừa

thì họ đã bị ràng buộc, kiểm soát, dọa dẫm hoặc thậm chí

bạo lực phải phục vụ như nô lệ tình dục

Việc coi mại dâm là một nghề hợp pháp vì nó đóng góp

vào GDP, bảo vệ phụ nữ hành nghề mại dâm khỏi bạo lực

và bệnh tật là một lý luận không dựa trên công lý và sự công

bằng Thứ nhất, phải đặt câu hỏi liệu mại dâm có phải là một

ngành kinh tế đáng mong đợi hay không? Rõ ràng là không,

vì những người phụ nữ tham gia vì không còn lựa chọn nào

khác, nên đó là một lựa chọn bắt buộc Điều này đồng nghĩa

họ phải lao động trái với mong muốn của mình Việc lao

động trái với mong muốn của mình, trong chừng mực nào

đó đồng nghĩa với nô lệ tình dục Một ngành kinh tế dựa

vào sự chịu đựng của phụ nữ, cũng như sự đối xử mang tính

ép buộc của hệ thống là không có đạo đức Thứ hai, như

đã thảo luận ở trên, mại dâm là một trong những nguyên

nhân dẫn đến tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em Nó là

một sức hút vô hình, đẩy nhiều con người, đặc biệt những

người yếu thế vào con đường cụt, không có tương lai Thứ

ba, mối quan hệ quyền lực giữa phụ nữ bán dâm và nam giới

mua dâm là không bao giờ công bằng cho dù mại dâm được

hợp pháp hóa Việc hợp pháp hóa mại dâm chỉ biến những

người đàn ông thành những người mua dâm “đàng hoàng

và hợp pháp”, và vô hình chung tăng thêm quyền lực cho họ

ép buộc và hành hạ tình dục với món hàng của mình Khi là

Trang 27

được nói đến, cho dù đó là một trong những nguyên nhân gốc rễ khởi đầu cho sự lây lan HIV

Những người đang trong độ tuổi quan hệ tình dục thường có các quan hệ rủi ro cao và không được bảo vệ cho dù họ biết rất rõ về mối hiểm nguy của HIV/AIDS Điều này là do họ nghĩ chỉ những người “số đen” mới

bị dính HIV, còn sự kém may mắn này sẽ không xảy ra với họ Hiện tượng “định kiến lạc quan” này là do các chiến dịch truyền thông thường gắn HIV với các nhóm

có rủi ro cao như mại dâm, ma túy hay nam quan hệ tình dục cùng giới (MSM) Hiển nhiên tôi không thuộc các nhóm trên, không quan hệ với họ nên tôi không thể dính HIV Đây là hậu quả của sự tự huyễn hoặc, cho rằng mình kiểm soát được tình hình và biết tự bảo vệ mình như thế nào

Bên cạnh việc coi bản thân mình là “miễn nhiễm” với HIV, nhiều người cũng nghĩ là bạn tình của mình cũng không bị nhiễm, và vì vậy không cần sử dụng bao cao su khi quan hệ Việc không sử dụng bao cao su như một biểu hiện của lòng chung thủy rất nguy hiểm, vì không ai kiểm soát được các quan hệ tình dục của bạn tình Nhiều nghiên cứu cho thấy đa số người làm nghề mại dâm không sử dụng bao cao su khi quan hệ với người yêu hoặc bạn tình thường xuyên vì nghĩ rằng những người này không có HIV Đây cũng là một yếu tố dẫn đến việc lây lan HIV vào các nhóm

xã hội khác nhau

Sự lạc quan chết người và nguy cơ nhiễm HIV cho bất

kỳ ai

Đỗ Toàn

Sau nhiều năm chiến đấu, đại dịch HIV đã phần nào

bị làm chậm lại, tuy nhiên nó vẫn là một trong những nguy

cơ hiện hữu lớn nhất ảnh hưởng đến sinh mạng và sự phát

triển của nhiều cá nhân, cộng đồng và quốc gia Sự lây lan

của HIV làm giảm tỉ lệ tăng trưởng kinh tế, suy yếu lực

lượng lao động, phá hủy điều kiện sống và thậm chí giảm

tuổi thọ trung bình Tuy nhiên, việc phòng chống HIV ở

Việt Nam vẫn còn rất nhiều khó khăn và trở ngại, đặc biệt

trong thay đổi thái độ và hành vi về tình dục

Nhiều nghiên cứu cho thấy sự lây truyền HIV vẫn

tiếp diễn và thậm chí gia tăng ở một số nhóm dân cư do (i)

thái độ bất cẩn của người dân đối với tình dục; (ii) thái độ

tiêu cực của công chúng với người có HIV, và (iii) sự tiếp

cận của người có HIV đối với các dịch vụ xét nghiệm và

chăm sóc Hai vấn đề sau đã được thảo luận và tập trung

cải thiện khá nhiều Tuy nhiên, trở ngại đầu tiên ít khi

Trang 28

Do nhiều người nghĩ HIV luôn gắn với tệ nạn xã hội

nên họ là những người “không mong muốn của xã hội”,

họ xứng đáng với bệnh tật và đau khổ Điều này dẫn đến

định kiến và kỳ thị, làm những người có HIV tự che giấu,

xa lánh hoặc không tự bảo vệ mình và bạn tình trong quan

hệ tình dục Sự che giấu này càng làm cho nhóm có HIV

trở nên “vô hình”, củng cố thêm quan điểm là chỉ những

ai thuộc nhóm nguy cơ cao như mại dâm ma túy mới có

HIV Còn những người “bình thường” khác thì nguy cơ lây

nhiễm HIV là rất thấp, trong đó có bản thân mình

Như vậy, một trong những giải pháp quan trọng là

xóa bỏ “định kiến lạc quan” cho rằng mình là người may

mắn, kiểm soát được tình hình nên không thể bị lây nhiễm

HIV Thông điệp truyền thông và giáo dục không nên chỉ

tập trung vào nhóm có nguy cơ cao tạo cảm giác mình an

toàn vì mình không thuộc, hoặc không quan hệ với nhóm

đó Ngược lại, thông điệp truyền thông nên tập trung vào

hậu quả của việc nhiễm HIV như sức khỏe, những bất lợi

khi bị nhiễm HIV cho bản thân, gia đình cũng như những

người thân yêu Và quan trọng hơn, bất cứ ai cũng có thể

bị lây nhiễm HIV vì HIV không gắn với tệ nạn, mà gắn với

hành vi quan hệ tình dục không an toàn

Tuy nhiên, cách làm truyền thông phải tạo ra được sự

gợi nhớ và liên tưởng để hình thành thói quen và văn hóa

tự bảo vệ mình Một trong những cách làm hiệu quả, là tạo

sự tiếp xúc với bệnh nhân AIDS giai đoạn cuối ở bệnh viện

Trang 29

xét sự sống nào đáng sống và sự sống nào không đáng sống,

và tiêu chí duy nhất được đặt ra là giới tính của phôi Nhiều người cho rằng khi phôi thai còn nhỏ, thường dưới ba tháng tuổi, thì nó chỉ tồn tại như một bộ phận

“gắn thêm” vào cơ thể người mẹ, vì phôi ở giai đoạn này chưa có ý thức Người mẹ có toàn quyền giữ hay loại bỏ

nó như mong muốn của mình, giống như họ có muốn cắt

bỏ ruột thừa sớm hay không Tuy nhiên, phôi thai khác với ruột thừa vì phôi là một con người tiềm năng trong tương lai, và như vậy việc phá thai cũng là giết một con người tiềm năng

Hơn nữa, nếu cho rằng phôi thai là chưa có bản ngã hay bản năng độc lập của mình nên có thể bị loại bỏ, cũng

sẽ tương đương với một đứa trẻ dưới ba tuổi, vì dưới ba tuổi trẻ chưa là một người tự do và có bản ngã riêng Điều này gợi nhớ tới những tội ác của chủ nghĩa Hít Le cho rằng những người khuyết tật và thiểu năng trí tuệ vào hạng

“không đáng sống” và giết họ

Trong những trường hợp có thai ngoài ý muốn, ví dụ như trong những quan hệ tình dục ngoại tình hoặc bị hiếp dâm, thì liệu người phụ nữ có quyền nạo phá thai không? Liệu phôi thai kia có phải là “hàng lậu” vì không dựa trên

sự tự nguyện và có thể “hủy bỏ” như hàng cấm nhập vào một quốc gia? Tuy nhiên, nếu cho rằng việc giết một thai nhi vì nó được tạo ra không dựa trên hôn nhân và tình

Phụ nữ có quyền phá thai?

Kenly

Phôi thai được hình thành từ khi trứng gặp tinh

trùng Sự hội ngộ này có thể được tạo ra trong quan hệ

của các cặp vợ chồng trong hôn nhân, cũng có thể giữa

hai người yêu nhau nhưng chưa kết hôn, qua một quan

hệ ngoại tình, hoặc thậm chí hiếp dâm Như vậy, khi nào

phụ nữ có quyền quyết định việc giữ hoặc loại bỏ phôi thai

trong bụng mình?

Khi phôi sinh ra trong quan hệ yêu đương tự do giữa

hai người, gắn bó với nhau trong quan hệ hôn nhân (hoặc

không hôn nhân như sống chung không đăng ký, hoặc

người mẹ đơn thân), phôi sẽ phát triển, người phụ nữ sẽ

sinh hạ, và những đứa trẻ sẽ ra đời Ở nhiều nước, trong đó

có Việt Nam, do tư tưởng muốn có con trai nối dõi tông

đường nhiều bậc cha mẹ lựa chọn giới tính khi sinh

Việc lựa chọn giới tính khi sinh, ngoài việc dẫn đến sự

mất cân bằng giới tính trong dân số, còn kéo theo những

vấn đề đạo đức Rõ ràng, cha mẹ đã cho mình quyền phán

Trang 30

58 Quyền đa dạng giới tính 59

yêu, thì cũng đồng nghĩa với việc giết một người trưởng

thành nếu như anh/chị ta không sinh ra từ tình yêu và

trong hôn nhân?

Trên thế giới, nhiều nước quy định việc phá thai chỉ

được xảy ra trước 3 tháng tuổi, đơn giản vì sau đó thì nguy

hiểm cho tính mạng của người mẹ, chứ không phải là vì sự

trưởng thành và phát triển bản năng sống của phôi Như

vậy, việc phá thai phụ thuộc vào việc giảm đau khổ hay tăng

hạnh phúc của người mẹ, và như vậy, hạnh phúc của người

mẹ lớn hơn và xứng đáng hơn hạnh phúc của thai nhi

Nếu chỉ dựa vào hạnh phúc hay khổ đau của mình

để quyết định người khác nên sống hay chết thì có phần

ích kỷ, và phi đạo đức Thế giới sẽ rơi vào vòng hỗn loạn,

vì chắc ai cũng mong một ai đó biến mất khỏi trái đất để

mình hạnh phúc hơn

Việt Nam là một trong những nước có tỉ lệ nạo phá

thai cao nhất thế giới Những người theo chủ nghĩa nữ

quyền cho rằng “cơ thể của tôi, quyền của tôi” và điều đó

dường như đang thắng thế Nếu trẻ vị thành niên được

giáo dục về giới tính và tình dục tốt hơn, chắc sẽ giảm

nhiều những dằn vặt của những người trẻ khi phải quyết

định, giữ hay bỏ cái thai đang lớn dần trong bụng mình

Và việc tuyên truyền chống lựa chọn thai nhi theo giới tính,

bên cạnh lý do mất cân bằng nam nữ, cần có thêm một

thông điệp về đạo đức nữa

Phần II

QUYỀN ĐA DẠNG

GIỚI TÍNH

Trang 31

Thừa nhận cái tôi đồng tính

Mạnh Hải

Mỗi con người đều có bản dạng của mình, hiểu đơn giản đó là một cái nhãn mà người ta nhận vào mình và là đại diện cho cái tôi trong một môi trường xã hội cụ thể Thông thường, bản dạng quy về một vị trí trong phân loại

xã hội, ví dụ như người đồng tính, phụ nữ, nam giới, con, cha, mẹ, nông dân hoặc trí thức Một người có nhiều cái nhãn (bản dạng) khác nhau, ví dụ như vừa là mẹ, vừa là trí thức và vừa là nhân viên văn phòng Tùy vào bối cảnh cụ thể mà một bản dạng trội hơn, khi đó các bản dạng khác

có thể bị rơi vào trạng thái “ngủ” Khi ở nhà, vai trò làm

mẹ hoặc vợ là quan trọng nhất nhưng khi ở văn phòng, bản dạng “nhân viên văn phòng” lại nổi trội Cái tôi được coi như là tổng hoà của tất cả các bản dạng dù ở trạng thái ngủ hay thức

Lý thuyết phân đoạn cho rằng quá trình phát triển bản dạng đồng tính bắt đầu khi cá nhân cảm nhận được các cảm giác tình ái hoặc hành vi tình ái đồng tính Tùy

Sau thế kỷ XX, sau chiến tranh và tiếp tục những khát vọng

giàu có, nhân loại bắt đầu quên đi những triết lý thanh sáng

của thế kỷ XVII-XVIII, rằng con người nên được thừa nhận

“quyền tự nhiên”, nghĩa là được sống bằng những gì “đúng

là con người” Pháp luật phối hợp với định kiến cùng những

phương tiện lưu chuyển ác ý của đám đông lại luôn giúp số

đông phát tác những ức chế của mình trong cuộc “bạo hành tư

tưởng” với thiểu số Quyền tự nhiên có lẽ đã trở thành “quyền

tự nhiên được mọi người thừa nhận”, hoặc không gì cả.

Những người đồng tính trong xã hội Việt Nam, dù đã

có khi bứt lên giới hạn của định kiến, vẫn là thiểu số bị lên

án-nạn nhân của những định kiến về khuôn dạng giới và sự

phù hợp giữa hình dạng và giới tính có sẵn trong truyền thống

xã hội Họ đang lên tiếng, có vẻ cũng hiền lành, như tác giả

Mạnh Hải đã nói, về quyền “đa dạng giới tính” Dĩ nhiên,

đó chỉ là một lời kêu gọi, không thể lớn tiếng được trong một

xã hội thế này: “ Người đồng tính không cô đơn vì trong xã

hội có rất nhiều người đang sống trong vỏ bọc của mình

Khi định kiến được xóa bỏ, con người được sống là chính mình

thì xã hội sẽ có nhiều động lực để phát triển hơn Quan trọng

hơn nữa, sẽ không còn nhiều người phải hối tiếc lúc hấp hối vì

đã không thực sự sống đúng bản thân mình ” Có lẽ, những

người đồng tính, trong cuộc đấu tranh vì quyền đa dạng giới

tính của mình, sẽ phải nắm chặt tay nhau hơn nếu muốn giành

được cuộc sống giới tính mà họ thực sự muốn sống.

Trang 32

62 Quyền đa dạng giới tính 63

dẫn đến việc chuyển từ “tôi có thể là một người đồng tính”

qua việc “tôi là một người đồng tính.” Trong giai đoạn mới này, lòng tự hào về bản dạng đồng tính được phát triển Người đồng tính tôn vinh sự khác biệt của mình, đồng thời thể hiện sự bực tức với những bất công trong xã hội Quá trình “come out” được đẩy mạnh với nhiều người xung quanh hơn và và bản dạng này trở nên bền vững

Trong một thời gian sau khi thừa nhận “tôi là người đồng tính”, bản dạng đồng tính là quan trọng nhất đối với bản thân Nhưng theo thời gian, sự phân chia thế giới nội tại cũng như niềm tự hào đồng tính và sự bực tức với kỳ thị giảm dần – các khía cạnh đồng tính đã được hoà nhập với cái tôi Cuối cùng, bản dạng đồng tính không còn là bản dạng quan trọng nhất nữa Thay vào đó, nó chỉ là một trong rất nhiều bản dạng mà một con người có

Đây không phải là con đường duy nhất mà tất cả những người đồng tính đi qua trong quá trình phát hiện, tìm hiểu và thừa nhận bản dạng đồng tính của mình Một

số nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng, các giai đoạn có thể được ghép, bỏ qua, hoặc xảy ra đồng thời Ví dụ, một người chỉ phát hiện ra mình là đồng tính khi có quan hệ cùng giới (tình cờ) với một người khác, hoặc có người thừa nhận mình là đồng tính ngay khi mới phát hiện bản dạng mới mà không cần qua giai đoạn thử nghiệm

Dù sao con đường thừa nhận cái tôi đồng tính xảy ra như thế nào cũng đều được hình thành và phát triển khi

vào môi trường gia đình, xã hội mà cái tôi hiện tại phản

ứng khác nhau với bản dạng mới phát sinh này Với một

số người, cảm giác tình dục đồng giới bị chối bỏ do những

lo sợ bị định kiến kỳ thị trong xã hội, hoặc trái với niềm

tin tôn giáo và giá trị đạo đức hiện có Điều này dẫn đến

những tổn hại về lòng tự trọng của họ Những người này

có thể phủ nhận hoặc che giấu bản dạng đồng tính của

mình và sống một cuộc sống của người dị tính Có nhiều

người không chịu được, hoặc tự kỳ thị mà dẫn đến những

hậu quả tâm lý như tự kỷ, sử dụng chất kích thích, chất

gây nghiện, thậm chí tự tử

Phần lớn những người còn lại sẽ chuyển qua giai đoạn

kế tiếp: Thử nghiệm bản dạng đồng tính bằng cách trải

nghiệm qua các hành vi tình dục và tình cảm với người

cùng giới Các thử nghiệm này được thực hiện nhờ kết nối

với cộng đồng người đồng tính Trong giai đoạn này, các cá

nhân có thể cam kết tạm thời với bản dạng đồng tính của

mình Cam kết này ngày càng chắc chắn qua thời gian Cho

dù đồng tính có thể không được cho là bản dạng lý tưởng

(so với dị tính) nhưng bản dạng đồng tính vẫn được cá nhân

thừa nhận Có một điều thú vị là dù thừa nhận bản dạng

đồng tính của mình, nhiều cá nhân vẫn đánh giá tiêu cực về

đồng tính luyến ái, đồng điệu với thái độ xã hội nơi họ sống

Sau thời gian thử nghiệm, cá nhân thấy thích tiếp xúc

và giao lưu với người đồng tính khác, và việc đánh giá về

đồng tính luyến ái trở nên tích cực hơn Giai đoạn này đã

Trang 33

Khát vọng được là chính mình

Mạnh Hải

Triển lãm “Mở Bằng Yêu” diễn ra ở công viên Vincom

Hà Nội từ ngày 28 tháng 12 năm 2012 đến ngày 12 tháng

1 năm 2013 đã thể hiện khát khao của người đồng tính

được sống là chính mình Tác phẩm Mặt nạ khắc họa

những người đồng tính phải che giấu xu hướng tình dục của mình bằng cách sống như “một trong số họ” Là tác

phẩm Hạ màn miêu tả cuộc sống tình cảm của người đồng

tính, một nửa sống trong bình phong với người khác giới như vợ chồng, một nửa sống thật với người yêu cùng giới

Là tác phẩm Ngã rẽ khắc họa sự bối rối của các bạn trẻ đồng

tính khi phải quyết định mình sống thật hay sống như “lẽ thường” đó là lập gia đình, sinh con để cuộc đời bị cầm tù trong chính vỏ bọc của mình

Những câu chuyện qua ảnh trong triển lãm rung lên một hồi chuông cảnh báo về hậu quả của định kiến và kỳ thị mà người đồng tính, người dị tính và cả xã hội đang gánh chịu Vì kỳ vọng “trai lớn phải lấy vợ, gái lớn phải gả

giao tiếp với người xung quanh trong môi trường mình

sinh sống Chính vì vậy, quá trình hình thành bản dạng

đồng tính bị ảnh hưởng sâu sắc bởi môi trường xã hội và

gia đình Nếu xã hội kỳ thị và hiểu sai về đồng tính sẽ làm

cho người đồng tính khó khăn thừa nhận bản dạng của

mình hơn Nếu xã hội bao dung, có kiến thức đúng thì sẽ

giúp người đồng tính không tự kỳ thị, dễ dàng hội nhập

bản dạng đồng tính vào cái tôi chung, một cái tôi tự trọng

và tự do để cùng phát triển

Trang 34

66 Quyền đa dạng giới tính 67

thường cho dù lẽ thường đi ngược lại tự do cá nhân và tinh thần sáng tạo Đây chính là những hậu quả tai hại của định kiến và kỳ thị vì chúng tạo ra các rào cản ngăn sự phát triển của xã hội Định kiến không phải tự nhiên mà có, nó được học ở gia đình, nhà trường và cộng đồng Khi con người bị

áp đặt suy nghĩ một chiều và né tránh phản biện họ dễ dàng

có thái độ tiêu cực với những khác biệt Họ luôn coi những

gì mình có là đúng, là chuẩn để phán xét và kỳ thị người khác Những định kiến kỳ thị này thường dựa trên những khác biệt về giới tính, xu hướng tính dục, bản dạng giới, tình trạng cơ thể, sắc tộc, vùng miền, tuổi tác, tư tưởng hoặc niềm tin tôn giáo

Như vậy người đồng tính chỉ là một trong những nạn nhân của định kiến kỳ thị xã hội Họ sống trong vỏ bọc vì xã hội đang mong họ sống thuận theo số đông Triển lãm “Mở Bằng Yêu” là những bước đầu tiên để người đồng tính bước

ra ánh sáng, sống là chính mình và gỡ bỏ những vỏ bọc ngăn cản hạnh phúc con người Những người đi tiên phong có thể gặp phải sự phản đối, kỳ thị thậm chí là đánh đập vì họ thách thức những định chuẩn truyền thống Tuy nhiên, họ là những người mở đường cho xã hội làm quen với sự khác biệt, dần chấp nhận sự đa dạng về tình dục để những người đồng tính có thể yêu nhau và chung sống với nhau Khi người đồng tính được sống thật là chính mình, hạnh phúc chỉ tăng lên vì không còn người dị tính phải làm bình phong và không còn những gia đình đổ vỡ vì hôn nhân giả dối

chồng” mà các bậc cha mẹ thường ép buộc con em mình

phải lập gia đình Họ không biết có từ 3% đến 5% người

đồng tính không tuân theo “lẽ thường” đó Những con em

đồng tính không muốn lập gia đình với người khác giới

Họ yêu và muốn lập gia đình với những người cùng giới

Điều này vẫn khó chấp nhận trong một xã hội còn coi hôn

nhân là để duy trì nòi giống và gia đình “lý tưởng” phải có

đủ cha mẹ, con trai và con gái Những khác biệt bị coi là

“lệch chuẩn” và bị kỳ thị Đó là lý do người đồng tính phải

lấy người khác giới tạo ra các “tổ lạnh” nơi tất cả mọi người

là nạn nhân của định kiến xã hội

Câu chuyện của người đồng tính không phải là riêng lẻ

cá biệt Trong cuộc sống, có rất nhiều người không dám sống

thật là mình, nói điều mình nghĩ và làm điều mình muốn

làm Những khuôn mẫu, chuẩn mực hoặc truyền thống lễ

giáo trói buộc con người, làm họ phải sống vì ý muốn của

người khác hơn là hạnh phúc cá nhân Nhiều người phụ nữ

góa chồng khi còn trẻ nhưng không dám đi bước nữa vì xã

hội muốn họ “thủ tiết” không tái giá Nhiều người khuyết tật

không dám yêu, hoặc nghĩ đến hôn nhân vì xã hội cho rằng

khuyết tật thì “sống được là may lắm rồi, có lập gia đình sinh

con đẻ cái đâu mà yêu đương gì.” Những chuẩn mực này hạn

chế lựa chọn, tự do và hạnh phúc của nhiều người

Một xã hội không tôn trọng sự đa dạng thì con người

thường khép mình, không dám đưa ra những giải pháp

khác biệt hoặc ý kiến trái chiều Họ thường thuận theo lẽ

Trang 35

Điều hối tiếc nhất

Mạnh Hải

Từ ngày 28 tháng 12 năm 2012 đến ngày 12 tháng 1 năm 2013 ở công viên Vincom Hà Nội có một triển lãm ảnh đặc biệt, triển lãm “Mở Bằng Yêu” Đây là một triển lãm nói về những trăn trở, bối rối của người đồng tính khi phát hiện ra sự khác lạ của mình Thay vì yêu người khác giới họ yêu người cùng giới Điều bình thường tự nhiên này bỗng trở thành bất thường vì khi mới chào đời họ đã được sinh ra trong một gia đình dị tính, có cha và có mẹ Khi lớn lên, họ được học hành trong một môi trường dị tính nơi

“trai lớn lấy vợ, gái lớn gả chồng.” Chính vì vậy, việc sống

là chính mình trở nên vô cùng khó khăn vì xung quanh họ

có biết bao quy tắc chuẩn mực về giới mà họ phải tuân thủ Sống là chính mình và yêu người mình yêu là hành trình phá vỡ quy luật xã hội Đa phần trong số họ sống trong vỏ bọc, lấy người khác giới và chối bỏ bản thân mình

Điều này gợi nhớ đến câu chuyện của một nữ y tá người Úc chuyên chăm sóc những người sắp chết Cô đã

Như vậy, thừa nhận sự đa dạng không những giúp

con người chui ra khỏi những vỏ bọc, sống cuộc sống có

ý nghĩa của chính mình, thừa nhận sự đa dạng còn tạo ra

động lực cho phát triển Khi mỗi người tự do suy nghĩ và

tự do đưa ra ý kiến và tự do thể hiện mình là khi sự sáng

tạo được hình thành, đem lại phát triển cho xã hội và hạnh

phúc cho mỗi người

Trang 36

70 Quyền đa dạng giới tính 71

Trong một xã hội đa dạng với vô vàn khác biệt việc con người đối xử với nhau và với sự khác biệt như thế nào

vô cùng quan trọng Nếu xã hội nhìn sự khác biệt một cách khắt khe và dùng tiêu chuẩn của mình để phán xét thì con người sẽ cố gắng chui vào khuôn mẫu cho yên thân Nếu

xã hội coi sự khác biệt là tự nhiên, là sự đa dạng của cuộc sống thì con người sẽ được tự do thể hiện bản thân và sống thật là mình

Người đồng tính không cô đơn vì trong xã hội có rất nhiều người đang sống trong vỏ bọc của mình Nhiều người Thanh Hóa, Nghệ An ra Hà Nội phải giả giọng Bắc

vì họ biết quê hương họ được dán những cái nhãn tiêu cực như “cục bộ”, “ăn rau má phá đường tàu” hay “dân cá gỗ” Nhiều người dân tộc thiểu số đang học hoặc công tác ở Hà Nội cũng không dám thể hiện mình vì người dân tộc là “lạc hậu, ngố, dễ bị lừa” Chính những định kiến xã hội đã làm cho con người không dám sống là chính mình, phải giống với mọi người để có cảm giác yên bình

Trong triển lãm “Mở Bằng Yêu” cũng có những bức ảnh khắc họa tình yêu của người đồng tính Đây là sự dũng cảm bước ra ánh sáng để gửi cho xã hội một lời nhắn nhủ thật đơn giản “chúng tôi cũng là con người và tình yêu của chúng tôi cũng giống tình yêu của các bạn Yêu là yêu và tất

cả mọi người đều có quyền yêu vì tình yêu không phân biệt giới tính” Người đi xem triển lãm có thể cảm nhận được thông điệp này và đối xử với tình yêu cùng giới nhân văn

đã ghi lại những hối tiếc thường thấy nhất ở những người

đang hấp hối và câu nói “tôi ước mình có đủ dũng cảm để sống

một cuộc sống thật sự với bản thân chứ không phải cuộc sống

theo mọi người mong muốn” được lặp lại nhiều nhất Có

lẽ, nhiều người đồng tính chia sẻ điều hối tiếc này vì đã là

con người ai cũng ước ao có được tự do Mà tự do thực sự

chỉ có được khi mình sống là chính mình, không lừa dối,

không sợ hãi và không phải tạo vỏ bọc cho mình

Như vậy, người đồng tính có lỗi không? Câu trả lời thật

không đơn giản vì sinh ra là con trai hay con gái họ được rèn

luyện, uốn nắn và mong đợi sống theo hình mẫu của “Adam

và Eva.” Là đàn ông họ phải mạnh mẽ, quyết đoán và không

được thể hiện cảm xúc của mình Họ phải “chuẩn men” phải

ga lăng và tất nhiên nếu có nhiều chiến công chinh phục các

cô gái thì càng tốt Là phụ nữ, họ phải dịu dàng, khéo léo và

giỏi việc nội trợ bếp núc, có những khao khát tình cảm hay

tình dục họ cũng phải ý tứ kìm nén kẻo bị đánh giá là “mê

trai.” Chính những khuôn mẫu này đã đúc ra một thế giới

nhị nguyên với hai phái nam và nữ gắn liền với nam tính và

nữ tính Những sự khác biệt trở thành dị biệt và bị kỳ thị

trong xã hội Các chàng trai chỉ cần có chút nữ tính hay các

cô gái có chút nam tính đã bị coi là lệch chuẩn và cần phải

uốn nắn Nếu đàn ông mà lại yêu đàn ông, đàn bà mà lại yêu

đàn bà thì rõ ràng là bất bình thường và cần loại bỏ Chính

thái độ này đã làm cho người đồng tính phải che giấu và

không dám sống thật với bản thân

Trang 37

hơn, bình đẳng hơn Sâu hơn nữa, họ có thể suy ngẫm để

thấy rằng những khác biệt về giới tính, về xu hướng tính

dục, dân tộc, vùng miền hay tình trạng thân thể chỉ là sự đa

dạng của cuộc sống Khi định kiến được xóa bỏ, con người

được sống là chính mình thì xã hội sẽ có nhiều động lực để

phát triển hơn Quan trọng hơn nữa, sẽ không còn nhiều

người phải hối tiếc lúc hấp hối vì đã không thực sự sống

đúng bản thân mình

Phần III

BÊN KIA GIỚI TÍNH

Trang 38

74 Bên kia giới tính 75

được chỉ ra, chúng ta cần nhìn thấy rằng trong tâm thức xã hội bắt đầu “ám ảnh” và “ức chế” đối với người đồng tính Theo một nghĩa khác, đạo đức đã trở thành “bệnh tật của tâm thần” - có lẽ vì đạo đức mà đa số đang lưu giữ bắt đầu

có nét quá khích và phi lý trí, vì chúng là những định kiến không bị thách thức? Như các tác giả kêu gọi, có lẽ, đã đến lúc lòng vị tha và thông cảm giữa con người và của con người với nhau lên tiếng - đã đến lúc chúng ta nhìn lại xem những

gì ta kì thị là gì và vì gì? Đó mới chính là nỗ lực xây dựng một xã hội đức lý hơn.

Trong thế kỷ XX, xã hội nhân loại đã chứng kiến những

khu vực của đời sống hòa với nhau làm một đến mức không

thể tách bạch rõ ràng: tâm lý - xã hội - kinh tế - chính trị

Nhưng cũng chính thế kỷ XX đã bắt đầu cuộc xô đẩy những

giới hạn của giới và giới tính: các phong trào nam nữ bình

quyền và quyền đồng tính chính là biểu hiện cho xu hướng ấy

Cuộc cách mạng tình dục đã kích thích cuộc khai sáng

màn đêm giới tính Con người hiện đại đã bắt đầu phải nhận

ra những điều nhiều hơn định kiến của mình: đồng tính có

chính đáng không, và, chúng ta có nên chống lại đồng tính

không? Trong khi tính chính đáng của “đồng tính” vừa nổi

lên trong mọi diễn đàn tranh luận cho và của người đồng

tính; thì “nỗi sợ hãi đồng tính” cộng hưởng với “bạo lực tượng

trưng” của định kiến có vẻ lại trở thành một xu hướng của

đa số xã hội.

Những bức thư của người đồng tính trong chương này

phần nào đó có thể làm chúng ta suy nghĩ về tâm trạng

rất-con-người của họ, thay vì lập tức xem họ là những kẻ lạc lối

Rốt cuộc, những gì là tự nhiên trong con người có nên được

thừa nhận không, hay cần chờ đợi người ta thảo luận xem cái

gì là tự nhiên và không tự nhiên, hoặc chúng ta viện dẫn đến

một tự nhiên phù hợp với con người? Nên lắng nghe con người

hay lắng nghe định kiến?

Các tác giả cũng viện dẫn đến khoa học và lập luận

cho tính chính đáng của đồng tính, cùng những quyền đồng

tính, quyền hôn nhân và nuôi con Nhưng hơn thế nữa, như

Trang 39

của mẹ và niềm kiêu hãnh của cha quan trọng hơn tất cả Con hiểu rằng mình cần phải thay đổi, vì lẽ thường con phải yêu con trai

Con đau khổ nhìn người yêu đau khổ Chúng con chia tay vì con không thể là chính mình Vì cha mẹ con phải sống dối mình Con trầm lặng, chịu đựng một mình

để vượt qua đau khổ Có lẽ, chưa bao giờ con thấy mình đơn độc đến thế Mẹ vẫn yêu con, vẫn lo lắng Nhưng sao con không còn vô tư để dỗi hờn Mẹ có hỏi nhưng con mỉm cười lau mắt Chuyện của tuổi dậy thì, chắc mẹ cũng hiểu đúng không?

Con đơn độc ngay chính trong gia đình mình Bao nhiêu điều con không thể nói Chỉ biết rằng cuộc đời con như con thuyền vô bến, cứ trôi nhưng chẳng rõ đến phương trời nào Mẹ đã từng là bến đậu của con, trong những lúc giận hờn, mệt mỏi hay đơn giản vì con muốn thế Nhưng giờ đây sao con thấy chơi vơi, ngay những lúc ngả đầu trên vai mẹ Con biết rằng mẹ đang hạnh phúc,

vẽ lên tương lai tươi sáng cho con Còn con vẫn đang phải dối lòng mình

Tình yêu là điều kỳ diệu, nhưng tình yêu với con như một trái cấm Con vụng trộm, con dối lòng, con thất bại, con đau khổ nhưng mẹ không thể là chỗ con có thể dựa vào Những lúc con muốn ôm bờ vai của mẹ nhất, là những lúc con phải trốn chạy xa mẹ nhất Hằng đêm ôm gối, con thẫn thờ ngắm vầng trăng khuyết Cuộc đời con

Con ước gì nói với mẹ sớm hơn!

Kenly

Khi con chào đời mẹ mong con khôn lớn để sau này

thành giáo viên hay bác sĩ Mẹ mong con giúp ích cho đời

và làm rạng danh gia đình và dòng họ Mẹ chăm con, nuôi

con và truyền ước mơ cho con Con lớn khôn tự nhiên như

bầu sữa mẹ, như tình mẹ dành cho con

Rồi một ngày con thấy mình khác lạ Con khác

những điều được học, được nghe và được sống Thay vì

yêu con trai như những đứa bạn gái cùng lớp, con lại yêu

một người con gái giống mình Con lo sợ tột cùng vì tình

cảm trong con là bất thường Con không biết bấu víu vào

đâu vì đây là điều mẹ chưa từng nói Mẹ chưa từng nói con

có thể yêu một người con gái khác

Con thấy người ta nói đồng tính là bệnh hoạn, là bất

bình thường Đồng tính là tệ nạn hay nguy hại cho nòi

giống Con cũng thấy vậy vì dường như con là người duy

nhất trên đời yêu người cùng giới Con hận mình, con

thương mẹ và con lo sợ cho gia đình Với con, hạnh phúc

Trang 40

78 Bên kia giới tính 79

hòa vào nhau như ngày con còn bú mẹ Và nước mắt của

mẹ đã làm con thức tỉnh để yêu chính mình, vì mẹ muốn con yêu người con yêu

Con hối tiếc những ngày tháng qua con đã quá lo sợ phải giấu mình Con đã không tin mẹ có thể yêu con người thật của con Nếu con có thể nói với mẹ sớm hơn thì cả nhà ta không phải sống trong thời gian dài đau khổ Giờ con hiểu tình mẹ con luôn là chỗ dựa, cho mẹ và cho con Con yêu mẹ!

chắc mãi khuyết như trăng, vì tình yêu của mình chẳng bao

giờ vẹn tròn

Gần đây con chợt thấy mẹ hay thở dài khi đưa con

đến lớp Dường như mẹ hay mệt mỏi hơn thời gian trước

Mẹ thường nhìn con rất lâu và ôm ghì con những khi nằm

nghe tiếng mưa trên mái Con cựa mình vì sợ rằng mẹ sẽ

biết tình cảm thật của con Những lúc như thế, mẹ chỉ

lặng lẽ nhìn con bước vào phòng của mình Từ bao giờ, căn

phòng trên gác đã thành vỏ ốc, bảo vệ, ngăn cách và kiểm

soát những sóng gió trong con người con

Con mở cửa bước vào phòng mình, nặng nề như

những đêm dài khó ngủ Bật đèn thấy trên giường một

phong thư màu hồng, đặt ngay ngắn trên gối với dòng chữ

“Gửi con gái yêu của mẹ” Đọc từng dòng chữ nhảy múa

mà con thấy mình ngạt thở Nước mắt con trào ra khi mẹ

viết “dù con là ai, yêu ai, con vẫn luôn là con gái yêu của

mẹ!” Con òa khóc lao xuống nhà và đã thấy mẹ đứng ngoài

cửa Mẹ ôm con vào lòng như bao lần trước Con thấy sao

thân thương và quen thuộc Hơi ấm của mẹ đã làm lặng đi

từng cơn run trong người con Mẹ biết con rồi mà sao con

còn phải giấu? Điều gì đã ngăn cản để con không nói cho

mẹ sớm hơn?

Con chợt nhận ra mẹ vẫn luôn là mẹ Mẹ vẫn luôn

hiểu được niềm vui và nỗi buồn của con Con đã từng nghĩ

giấu mẹ vì con yêu mẹ Nhưng với mẹ, hạnh phúc của con

mới là hạnh phúc thật sự của mẹ Nước mắt hai mẹ con

Ngày đăng: 30/10/2015, 09:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w