Các ngân hàng này đầu tư nguồn vốn đóng băng vào tín phiếu kho bạc để thu lợi tức và quan trọng hơn, dùng nó như tiền dự trữ cấp hai, tức chuyển thành tiền mặt bất cứ lúc nào để giải quy
Trang 1BÀI 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH 5
1.1 Bản chất và chức năng của thị trường tài chính 5
1.1.1 Bản chất của thị trường tài chính 5
1.1.2 Chức năng của thị trường tài chính 5
1.2 Cấu trúc của thị trường tài chính 7
1.2.1 Thị trường tiền tệ và thị trường vốn 8
1.2.2 Thị trường nợ và thị trường vốn cổ phần 9
1.2.3 Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp 9
1.3 Các công cụ của thị trường tài chính 10
1.3.1 Các công cụ của thị trường tiền tệ 10
1.3.2 Các công cụ trên thị trường vốn 12
1.4 Các trung gian tài chính 12
1.4.1 Các loại hình trung gian tài chính 13
1.4.2 Vai trò của các trung gian tài chính 15
1.5 Mối quan hệ giữa các bộ phận của thị trường tài chính 16
BÀI 2: THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ (THE MONEY MARKET) 18
2.1 Định nghĩa thị trường tiền tệ 18
2.2 Đặc điểm của thị trường tiền tệ 18
2.3 Vai trò của thị trường tiền tệ 18
2.4 Các thị trường bộ phận 19
2.4.1 Thị trường liên ngân hàng 19
2.4.2 Thị trường vốn ngắn hạn (thị trường tín dụng) 20
2.4.2.1 Tín dụng ngân hàng 20
2.4.2.2 Tín dụng thương mại 21
2.4.2.3 Tín dụng nhà nước 23
2.4.2.4 Tín dụng tự do 24
2.5 Thị trường hối đoái 24
Trang 22.5.1 Khái niệm 24
2.5.2 Đặc điểm 25
2.5.3 Vai trò 25
2.5.4 Chủ thể tham gia TTHĐ 25
2.5.5 Các nghiệp vụ giao dịch hối đoái 25
2.6 Các chủ thể tham gia thị trường tiền tệ 26
2.6.1 Bộ Tài chính Mỹ: 26
2.6.2 Hệ thống dự trữ liên bang 26
2.6.3 Ngân hàng thương mại (NHTM) 27
2.6.4 Các doanh nghiệp 27
2.6.5 Nhà đầu tư và công ty chứng khoán 27
2.6.6 Các cá nhân, hộ kinh doanh 28
2.7 Các công cụ thị trường tiền tệ 29
2.8 Mối quan hệ giữa thị trường tiền tệ và các bộ phận của thị trường tài chính: 38
2.8.1 Mối quan hệ giữa thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối: 38
2.8.2 Mối quan hệ giữa thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán: 38
Bài 3: THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU (THE BOND MARKET) 40
3.1 Khái niệm về thị trường trái phiếu 40
3.2 Vai trò của thị trường trái phiếu 41
3.2.1 Đối với nền kinh tế 41
3.2.2 Đối với doanh nghiệp 43
3.2.3 Đối với nhà đầu tư 44
3.3 Các chủ thể tham gia thị trường trái phiếu 44
3.3.1 Chủ thể phát hành 45
3.3.2 Chủ thể đầu tư 45
3.3.3 Các tổ chức tài chính trung gian 46
3.4 Các hình thức giao dịch trái phiếu 47
Trang 33.4.1 Giao dịch trái phiếu trên thị trường tập trung 47
3.4.2 Giao dịch trái phiếu trên thị trường phi tập trung 48
3.5 Bài tập 49
3.6 Trả lời câu hỏi 53
BÀI 4: THỊ TRƯỜNG CỔ PHIẾU 53
4.1 Khái niệm và các công cụ 53
4.1.1 Khái niệm 54
4.1.2 Các công cụ 54
4.1.3 Cổ phiếu ưu đãi .56
4.1.3.1 Khái niệm và Quyền lợi 56
4.1.3.2 Các loại Cổ phiếu ưu đãi 57
4.1.4 Đặc điểm của Cổ phiếu 57
4.2 Hoạt động trên thị trường sơ cấp 59
4.2.1 Khái niệm 59
4.2.2 Đặc điểm 59
4.2.3 Phát hành chứng khoán 60
4.2.3.1 Khái niệm về phát hành chứng khoán 60
4.2.3.2 Phương thức phát hành chứng khoán 61
4.2.3.3 Bảo lãnh phát hành chứng khoán 65
4.3 Hoạt động trên thị trường thứ cấp 68
4.3.1 Sở giao dịch chứng khoán (SGD) 68
4.3.1.1 Khái niệm 68
4.3.1.2 Hình thức sở hữu 69
4.3.1.3 Chức năng của sở giao dịch chứng khoán 70
4.3.2 Giao dịch chứng khoán 70
4.3.2.1 Mô hình thị trường 70
4.3.2.2 Giao dịch đấu giá (trái phiếu, 1 lô lớn) 72
Trang 44.3.2.3 Giao dịch đấu lệnh 72
4.3.2.4 Một số quy định chung 72
4.3.3 Thị trường phi tập trung 76
4.3.3.1 Khái niệm 76
4.3.3.2 Mục tiêu của thị trường OTC hiện đại: 76
4.3.3.3 Môi giới chứng khoán 76
4.4 Giải bài tập 77
BÀI 5: QUỸ ETF 81
5.1 Khái niệm cơ bản 81
5.2 Các loại hình Quỹ ETF: 81
5.2.1 Phân loại theo cách quản lý quỹ: chủ động hay thụ động: 81
5.2.2 Phân loại theo cấu trúc danh mục của quỹ ETF: ETF thuần túy hay ETF tổng hợp: 82
5.3 Đặc tính của quỹ ETF 83
5.4 Cơ chế hoạt động 87
5.5 Các khái niệm thường gặp 89
Trang 5BÀI 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
1.1 Bản chất và chức năng của thị trường tài chính
1.1.1 Bản chất của thị trường tài chính
Trong nền kinh tế, nhu cầu về vốn để đầu tư và các nguồn tiết kiệm có thể phát sinh từ những chủ thể khác nhau Nhiều người có cơ hội đầu tư sinh lời thì thiếu vốn, trái lại nhiều người có vốn nhàn rỗi lại không có cơ hội đầu tư Do đó hình thành nên một cơ chế chuyển đổi từ tiết kiệm sang đầu tư Cơ chế đó được thực hiện trong khuôn khổ thị trường tài chính Những người thiếu vốn huy động vốn bằng cách phát hành ra các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu Những người có vốn dư thừa, thay vì đầu tư vào máy móc thiết bị Nhà xưởng để sản xuất hàng hoá hay cung cấp dịch vụ, sẽ đầu tư (mua) vào các tài sản tài chính được phát hành bởi những người cần huy động vốn
Vậy, thị trường tài chính là nơi diễn ra sự luân chuyển vốn từ những người có vốn nhàn rỗi tới những người thiếu vốn
Thị trường tài chính cũng có thể định nghĩa là nơi mua bán, trao đổi các công
cụ tài chính
Hoạt động trên thị trường tài chính có những hiệu ứng trực tiếp tới sự giàu có của các cá nhân, tới hành vi của các doanh nghiệp và người tiêu dùng, và tới động thái chung của toàn bộ nền kinh tế
1.1.2 Chức năng của thị trường tài chính
Dẫn vốn từ những nơi thừa vốn sang những nơi thiếu vốn
Đây là chức năng kinh tế chủ yếu của thị trường tài chính Thông qua hoạt động của các chủ thể trên thị trường, các nguồn tài chính được luân chuyển để cung
và cầu về vốn gặp nhau Quá trình luân chuyển vốn trên thị trường tài chính làm tăng quá trình chuyển các nguồn tiết kiệm thành đầu tư Quá trình luân chuyển vốn được thể hiện qua sơ đồ sau đây:
Trang 6Bên trái của sơ đồ là những người tiết kiệm và cho vay vốn: Bên phải là những người phải đi vay vốn để tài trợ cho chi tiêu Người tiết kiệm - cho vay chủ yếu là các hộ gia đình, tuy nhiên, các doanh nghiệp và chính phủ, và người nước ngoài đôi khi cũng có tiền dư thừa và đem cho vay số tiền đó Người đi vay - chi tiêu quan trọng nhất là các doanh nghiệp và chính phủ, song hộ gia đình và người nước ngoài đôi khi cũng đi vay để mua sắm ôto, đồ dùng và nhà ở Các mũi tên cho thấy các dòng vốn chạy từ người tiết kiệm - cho vay sang người đi vay - chi tiêu qua hai kênh.
Ở kênh tài chính gián tiếp, các chủ thể thừa vốn không trực tiếp cung ứng vốn
cho người thiếu vốn mà gián tiếp thông qua các trung gian tài chính như các ngân
hàng, các tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và cho vay, các công ty bảo hiểm hay các
Hình thành giá của các tài sản tài chính
Thông qua sự tác động qua lại giữa người mua và người bán, giá của các tài
sản tài chính được xác định, hay nói cách khác, lợi tức cần phải có trên một tài sản
tài chính được xác định Yếu tố thúc đẩy các doanh nghiệp gọi vốn chính là mức lợi tức mà các nhà đầu tư yêu cầu; và chính đặc điểm này của thị trường tài chính
Nguồn cung ứng vốn (nơi thừa
Cá nhân
Hộ gia đình
THỊ
TRƯỜNG
TÀI
CHÍNH
Trang 7đã phát tín hiệu cho biết vốn trong nền kinh tế cần được phân bổ như thế nào giữa các tài sản tài chính Quá trình đó được gọi là quá trình hình thành giá.
Tạo tính thanh khoản cho tài sản tài chính
Thị trường tài chính tạo ra một cơ chế để các nhà đầu tư có thể bán tài sản tài chính của mình Chính nhờ vào đặc điểm này mà người ta nói rằng thị trường tài chính tạo ra tính thanh khoản cho nền kinh tế Nếu thiếu tính thanh khoản, người đầu tư sẽ buộc phải nắm giữ các công cụ nợ cho tới khi đáo hạn, hoặc nắm giữ các công cụ vốn cho tới khi công ty phá sản phải thanh lý tài sản Mặc dù tất cả các thị trường tài chính đều có tính thanh khoản, song mức độ thanh khoản giữa các thị trường lại khác nhau
Giảm thiểu chi phí, tiết kiệm chi phí
Để cho các giao dịch có thể diễn ra, những người mua và những người bán cần phải tìm được nhau; muốn thế, họ cần phải tiêu tốn tiền và thời gian cho việc quảng cáo ý đồ của mình và tìm kiếm đối tác Đó là những chi phí tìm kiếm Bên cạnh đó là các chi phí thông tin gắn liền với việc nhận định các giá trị dầu tư của một công cụ tài chính, tức là khối lượng và tính chắc chắn của dòng tiền dự kiến thu được từ đầu tư Nhờ tính tập trung, khối lượng giao dịch và giá trị giao dịch lớn, thông tin được cung cấp đầy đủ và nhanh chóng, thị trường tài chính cho phép giảm thiểu những chi phí này
Ổn định và điều hoà lưu thông tiền tệ
Bên cạnh các chức năng kể trên, thị trường tài chính còn có chức năng ổn định và điều hoà lưu thông tiền tệ, đảm bảo sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế
Thông qua việc mua bán các trái phiếu, tín phiếu chính phủ của ngân hàng trung ương trên thị trường tài chính, chính phủ có thể tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và kiểm soát lạm phát
Ngân hàng trung ương cũng có thể mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối
để điều chỉnh lượng cung và cầu ngoại tệ nhằm giúp chính phủ ổn định tỷ giá hối đoái
1.2 Cấu trúc của thị trường tài chính
Tuỳ theo các tiêu thức khác nhau, người ta có thể phân loại thị trường tài chính theo nhiều cách khác nhau:
Trang 81.2.1 Thị trường tiền tệ và thị trường vốn
Căn cứ vào thời hạn luân chuyển vốn, thị trường tài chính được chia thành thị trường tiền tệ và thị trường vốn
Thị trường tiền tệ có một số đặc trưng cơ bản sau:
- Các công cụ của thị trường tiền tệ có thời gian đáo hạn trong vòng một năm nên có tính thanh khoản cao, độ rủi ro thấp và hoạt động tương dối ổn định
- Hoạt động của thị trường tiền tệ diễn ra chủ yếu trên thị trường tín dụng do
đó giá cả hình thành trên thị trường này được biểu hiện thông qua lãi suất tín dụng ngân hàng
Thị trường tiền tệ bao gồm thị trường liên ngân hàng, thị trường chứng khoán ngắn hạn, thị trường ngoại hối, thị trường tín dụng
Thị trường tín dụng bao gồm các hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại, đó là hoạt động huy động vốn và cho vay vốn ngắn hạn
Thị trường liên ngân hàng hoạt động nhằm giải quyết nhu cầu vôn tín dụng giữa các ngân hàng với nhau trước khi ngân hàng thương mại đi vay chiết khấu tại ngân hàng trung ương
Thị trường chứng khoán ngắn hạn là nơi thực hiện các giao dịch mua bán, chuyển nhượng và trao đổi các giấy tờ có giá ngắn hạn như tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi tiết kiệm và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác.Thị trường ngoại hối là nơi diễn ra các giao dịch, mua bán, chuyển nhượng, vay và cho vay bằng ngoại tệ Thị trường ngoại hối là một bộ phận quan trọng của thị trường tiền tệ, sự tác động qua lại giữa cung và cầu trên thị trường này sẽ hình
Trang 9thành và ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoạt, một trong các biến số quan trọng của nền kinh tế.
Thị trường vốn
Thị trường vốn là thị trường mua bán, trao đổi các công cụ tài chính chung và dài hạn (thường có thời hạn trên 1 năm) So với các công cụ trên thị trường tiền tệ, các công cụ trên thị trường vốn có tính thanh khoản kém hơn và độ rủi ro cao hơn,
do đó chúng có mức lợi tức cao hơn
Vai trò chủ yếu của thị trường vốn là cung cấp tài chính cho các khoản đầu tư dài hạn của chính phủ, doanh nghiệp và hộ gia đình Thị trường vốn bao gồm thị trường chứng khoán, thị trường vay nợ dài hạn, thị trương tín dụng thuê mua, thị trường cầm cố, thị trường bất động sản…
Thị trường nợ có đặc trưng là các công cụ giao dịch đều có kỳ hạn nhất định,
có thể là ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn tuỳ theo cam kết nợ giữa chủ nợ và người mắc nợ Sự hoạt động trên thị trường nợ phụ thuộc rất lớn vào biến động của lãi suất ngân hàng
Thị trường vôn cổ phần
Thị trường vốn cổ phần là thị trường mua bán các cổ phần của công ty cổ phần Đặc trưng của thị trường này là các công cụ trên thị trường này không có kỳ hạn mà chi có thời điểm phát hành, không có ngày mãn hạn
Người mua cổ phiếu chỉ có thể lấy lại tiền bằng cách bán lạn cổ phiếu trên thị trường hoặc khi công ty tuyên bố phá sản Khác với thị trường nợ, hoạt động của thị trường vốn cổ phần chủ yếu phụ thuộc vào hiệu quả kinh doanh của công ty cổ phần
1.2.3 Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
Căn cứ vào tỉnh chất của việc phát hành các công cụ tài chính, thị trường tài chính được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
Trang 10 Thị trường sơ cấp
Thị trường sơ cấp là thị trường trong đó các công cụ tài chính được phát hành lần đầu và được bán cho người đầu tiên mua chúng Do là phát hành lần đầu nên thị trường này còn được gọi là thị trường cấp một
Thị trường này ít quen thuộc với công chúng đầu tư vì việc bán chứng khoán tới những người mua đầu tiên được tiến hành theo những thoả thuận riêng với sự trợ giúp chủ yếu của các định chế tài chính làm nhiệm vụ bảo lãnh phát hành
Thị trường thứ cấp
Thị trường thứ cấp là thị trường giao địch các công cụ tài chính sau khi chúng
đã được phát hành trên thị trường sơ cấp Thị trường thứ cấp còn được gọi là thị trường cấp hai
Hoạt động trên thị trường thứ cấp diễn ra trong phạm vi rộng hơn với tổng mức lưu chuyển vốn lớn hơn rất nhiều so với thị trường sơ cấp Tuy nhiên việc mua bán chứng khoán trên thị trường này không làm thay đổi nguồn vốn của tổ chức phát hành mà chỉ chuyển vốn từ chủ thể này sang chủ thể khác
Thị trường thứ cấp hoạt động làm cho các công cụ tài chính có tính lỏng cao hơn và do đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hành trên thị trường sơ cấp Vì vậy, có thể nói thị trường thứ cấp là động lực thúc đẩy sự phát triển của thị trường
sơ cấp
1.3 Các công cụ của thị trường tài chính
1.3.1 Các công cụ của thị trường tiền tệ
Do có thời gian đáo hạn ngắn nên các công cụ tài chính giao dịch trên thị trường tiền tệ có đặc điểm chung là dao động giá thấp và độ rủi ro thấp
Các công cụ chủ yếu của thị trường tiền tệ bao gồm:
Tín phiếu kho bạc
Là một công cụ vay nợ ngắn hạn của chính phủ do kho bạc nhà nước phát hành, thường được phát hành theo định kỳ 3 tháng, 6 tháng, hoặc 9 tháng Mặc dù lãi suất tín phiếu kho bạc thường thấp hơn các công cụ nợ khác nhưng nó rất được
ưa chuộng trên thị trường tiền tệ do tính an toàn và tính thanh khoản cao, dễ dàng chuyển nhượng trên thị trường thứ cấp
Trang 11Tín phiếu kho bạc là công cụ nắm giữ chủ yếu của các ngân hàng thương mại Các ngân hàng này đầu tư nguồn vốn đóng băng vào tín phiếu kho bạc để thu lợi tức và quan trọng hơn, dùng nó như tiền dự trữ cấp hai, tức chuyển thành tiền mặt bất cứ lúc nào để giải quyết khó khăn tài chính của ngân hàng.
Ngân hàng trung ương cũng có thể sử dụng công cụ này để thực hiện nghiệp
vụ thị trường mở nhăm điều chỉnh lượng tiền cung ứng ra lưu thông và kiểm soát thị trường tín dụng
- Lệnh phiếu: là giấy nhận nợ do người mua hàng trả chậm ký phát trao cho người bán hàng trả chậm trong đó người mua cam kết trả một số tiền nhất định khi đến hạn cho người thụ hưởng
- Chứng chỉ lưu kho: là giấy do một công ty kinh doanh kho bãi ký phát, thừa nhận có giữ hàng hoá cho người chủ hàng ký gửi và cam kết giao hàng cho chủ hàng hay một người nào đó do chủ hàng chỉ định bằng cách ký hậu
Các chứng chỉ tiên gửi có thể chuyển nhượng
Là giấy chứng nhận về việc gửi tiền và là một công cụ vay nợ của ngân hàng đối với người gửi tiền Trên chứng chỉ qui định người sở hữu nó sẽ nhận được một khoản tiền lãi định kỳ và nhận đủ số vốn khi đáo hạn Người nắm giữ chứng chỉ này không được rút tiền trước khi đến hạn mà chỉ có thể thu hồi tiền bằng cách bán lại trên thị trường thứ cấp Chứng chỉ tiền gửi là một công cụ quan trọng trong việc tạo nguồn vốn hoạt động và đảm bảo tính thanh khoản cho ngân hàng
Chấp phiếu ngân hàng
Là giấy do một công ty phát hành, bảo đảm rằng một ngân hàng sẽ thanh toán
vô điều kiện một khoản tiền nhất định vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người nắm giữ giấy này Công ty trước khi phát hành công cụ này buộc phải gửi vào tài khoản ngân hàng một khoản tiền tương ứng với lượng tiền ghi trên chấp phiếu Người nắm chấp phiếu ngân hàng cũng có thể chiết khấu lại trên thị trường
để thu tiền trước Lãi suất của công cụ này tương đối thấp do tính an toàn cao
Trang 121.3.2 Các công cụ trên thị trường vốn
Các công cụ trên thị trường vốn bao gồm các công cụ vốn và các công cụ nợ
có thời gian đáo hạn trên một năm Loại công cụ này có biến động giá mạnh hơn và tính thanh khoản thấp hơn các công cụ trên thị trường tiền tệ và được coi là những khoản đầu tư khá rủi ro Những loại công cụ chính là cổ phiếu (công cụ vốn) và trái phiếu (công cụ nợ) Ngoài ra còn có các công cụ chuyển đổi hoặc các công cụ phát sinh
Cổ phiếu: là giấy Chứng nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp đối với thu
nhập và tài sản của một công ty cổ phần Cổ phiếu bao gồm nhiều loại khác nhau như cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi cổ tức, cổ phiếu ưu đãi dự phần
Trái phiếu: là giấy chứng nhận việc vay vốn của một chủ thể (chủ thể phát
hành) đối với một chủ thể khác (chủ thể cho vay vốn) Trên trái phiếu quy định hàng kỳ chủ thể phát hành phải trả cho người nắm giữ trái phiếu một khoản tiền nhất định (lãi tức trái phiếu) và tới thời điểm đáo hạn phải hoàn trả khoản vốn cho vay ban đầu Có nhiều loại trái phiếu khác nhau như trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ, trái phiếu đô thị, trái phiếu có thể chuyển đổi
Các khoản tín dụng cầm cố: là các khoản cho vay đối với các doanh nghiệp
hoặc các hộ gia đình để mua nhà ở, đất đai bất động sản và dùng chính các tài sản này làm thế chấp cho khoản vốn vay
Các khoản tín dụng thương mại: là các khoản cho vay trung, dài hạn của các
ngân hàng thương mại hoặc các công ty tài chính cho người tiêu dùng hoặc các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn Các khoản tín dụng này trường không được giao dịch mua bán trên thị trường thứ cấp nên tính thanh khoản rất thấp
Chứng chỉ quỹ đầu tư: là một loại chứng khoán do công ty quản lý quỹ đại
diện cho một quỹ đầu tư chứng khoán phát hành, xác nhận quyền hưởng lợi của người đầu tư đối với quỹ
1.4 Các trung gian tài chính
Trung gian tài chính là những tổ chức làm cầu nối giữa những người cần vốn
và những người cung cấp vốn trên thị trường Trung gian tài chính, dù thuộc loại hình nào đi nữa, đều có chung một đặc điểm là phát hành các công cụ tài chính để thu hút vốn Mức chênh lệch mà người trung gian nhận được giữa lãi suất cho vay (hay lợi tức đầu tư) với lãi suất huy động vốn chính là chí phí trung gian hay hoa hồng trung gian Khi những người có vốn ký thác số vốn của mình vào các trung
Trang 13gian tài chính, khoản đầu tư của họ là đầu tư gián tiếp; còn khi trung gian tài chính đầu tư số vốn này, khoản đầu tư đó là đầu tư trực tiếp.
1.4.1 Các loại hình trung gian tài chính
Các tổ chức trung gian tài chính gồm ba nhóm chính: các tổ chức nhận tiền gửi (ngân hàng), các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng và các trung gian đầu tư
Các tổ chức nhận tiền gửi
Đây là các tổ chức tài chính trung gian lớn nhất trên thị trường tài chính xét theo phạm vi hoạt động và khả năng về vốn Các tổ chức này huy động vốn bằng cách mở tài khoản séc và tài khoản tiết kiệm cho khách hàng, đồng thời sử dụng số vốn huy động được để cho vay theo nhiều hình thức khác nhau hoặc đầu tư vào chứng khoán Thu nhập của các tổ chức này đến từ hai nguồn: thu nhập từ các khoản cho vay và mua chứng khoán; và thu nhập từ các khoản phí
Các tổ chức nhận tiền gửi bao gồm các ngân hàng thương mại, các hiệp hội tiết kiệm và cho vay (S&Ls), các ngân hàng tiết kiệm và các liên hiệp tín dụng
Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng
Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng như công ty bảo hiểm và quỹ hưu trí là các trung gian tài chính huy động vốn dựa trên cơ sở hợp đồng theo định kỳ Các tổ chức này có thể dự đoán tương đối chính xác khoản tiền họ sẽ thanh toán trong những năm tới nên không phải lo lắng về việc thiếu vốn như các tổ chức nhận tiền gửi Do đó, các tổ chức này có thể đầu tư các loại chứng khoán dài hạn như trái phiếu, cổ phiếu công ty, các khoản cho vay cầm cố
- Công ty bảo hiểm
Công ty bảo hiểm là những trung gian tài chính đảm nhận việc thực hiện một khoản thanh toán mỗi khi có một sự kiện xảy ra, với một khoản đóng góp trước đó của người muốn thụ hưởng quyền lợi này Công ty bảo hiểm huy động vốn từ các khoản đóng góp của những người tham gia hợp đồng bảo hiểm và sử dụng phần lớn số tiền huy động được để mua trái phiếu Các công ty bảo hiểm cũng có thể đầu
tư vào cổ phiếu song số lượng rất hạn chế vì họ ngại tính rủi ro cao của cổ phiếu Thu nhập của công ty bảo hiểm chủ yếu là các khoản phí, ngoài ra còn có các khoản lợi tức đầu tư từ các công cụ tài chính
- Quỹ hưu trí
Quỹ hưu trí được thiết lập để thanh toán những khoản lợi ích của những người lao động khi họ về hưu Thành lập ra những quỹ này là các doanh nghiệp tư nhân;
Trang 14các cơ quan nhà nước hoặc địa phương; các nghiệp đoàn lao động nhân danh thành viên của mình, và cuối cùng là các cá nhân có nhu cầu.
Đặc điểm của quỹ này là nó liên quan đến việc đầu tư vào một tài sản rất kém tính thanh khoản, đó là hợp đồng về tiền hưu trí Tài sản này không được đem sử dụng, dù chỉ là để thế chấp cho một khoản vay cho đến khi về hưu Tuy nhiên, lợi thế của các quỹ này là các khoản đóng góp của các ông chủ, và một khối lượng nhất định đóng góp của người lao động, cũng như thu nhập từ tài sản của quỹ, được phép đóng thuế chậm Về thực chất, quỹ hưu trí là một hình thức trả công của ông chủ mà người làm công không bị đánh thuế cho đến khi rút số tiền này Nó có tác dụng khuyến khích những người làm công ở lại với doanh nghiệp
Các trung gian đầu tư
Các trung gian đầu tư bao gồm các công ty tài chính, quỹ tương hỗ và quỹ tương hỗ thị trường tài chính
- Công ty tài chính
Công ty tài chính huy động vốn băng cách bán các thương phiếu hoặc phát hành cổ phiếu, trái phiếu Sau đó, công ty sử dụng số vốn này cho người tiêu dùng vay để mua sắm nhà cửa, trang thiết bị, xe hơi Một số công ty tài chính được một công ty mẹ thành lập để bán tài sản của công ty mình Chẳng hạn, công ty tín dụng Ford có thể cho khách hàng vay để mua ôtô Ford
- Quỹ tương hỗ
Đây là một loại hình trung gian tài chính, huý động vốn bằng cách bán chứng chỉ quỹ cho các cá nhân và dùng vốn đó để đầu tư vào danh mục cổ phiếu và trái phiếu đã được đa dạng hoá Các quỹ tương hỗ thường được quản lý bởi một công
ty quản lý quỹ Một công ty quản lý quỹ có thể quản lý nhiều quỹ khác nhau để đa dạng hoá đầu tư do mỗi quỹ thường chỉ tập trung đầu tư vào một số loại chứng khoán nhất định
- Quỹ tương hỗ thị trường tiền tệ
Thể chế tài chính tương đối mới này mang các đặc trưng của quỹ tương hỗ nhưng được phép mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng Giống như hầu hết các quỹ tương hỗ, tổ chức này được phép bán cổ phiếu để huy động vốn đồng thời sử dụng số vốn này để mua các công cụ an toàn và có tính thanh khoản cao trên thị trường tiền tệ Lãi suất của các tài sản này sẽ được thanh toán định kỳ cho cổ đông.Trên đây là một số loại hình trung gian tài chính phổ biến Mặc dù phương thức hoạt động cụ thể của tổ chức này là khác nhau song chúng thể hiện rất rõ vai trò trung gian tài chính được đề cập dưới đây
Trang 151.4.2 Vai trò của các trung gian tài chính
Chuyển đổi thời gian đáo hạn của các công cụ tài chính
Có thể nhận thấy chức năng này rõ nhất thông qua hoạt động của các tổ chức nhận tiền gửi, chủ yếu là các ngân hàng thương mại Nhờ có các trung gian tài chính, cả người đầu tư (người gửi tiền) và người đi vay đều có thể lựa chọn dược những thời hạn thích hợp với mục tiêu của mình
Giảm thiểu rủi ro bằng cách đa dạng hoá đầu tư
Loại hình trung gian tài chính càng phong phú, các sản phẩm tài chính do chúng tạo ra càng đa dạng Khi các nhà đầu tư đặt tiền của họ vào các công ty đầu
tư, những công ty này có thể dầu tư số tiền đó vào, chẳng hạn, cổ phiếu của một số lớn các công ty Bằng cách đó, công ty đầu tư đã đa dạng hoá việc đầu tư và giảm thiểu được rủi ro của nó Điều này chỉ có thể thực hiện dược với diều kiện có dược một khối lượng tiền đủ lớn; và nó giải thích vì sao việc đa dạng hoá đầu tư, tức biến những tài sản nhiều rủi ro thành những tài sản ít rủi ro hơn, lại là ưu thế của các trung gian tài chính và rộng hơn, là lợi ích kinh tế quan trọng của các thị trường tài chính
Giảm thiểu chi phỉ hợp đồng và chi phí xử lý thông tin
Những nhà đầu tư vào các tài sản tài chính phải có được những kỹ năng cần thiết để đánh giá một khoản dầu tư phân tích khả năng lợi nhuận, mức độ rủi ro của từng tài sản tài chính cũng như của toàn bộ khoản mục đầu tư để từ đó ra quyết định mua hoặc bán các tài sản tài chính Tuy nhiên, các nhà đầu tư cá nhân thường không có điều kiện để phát triển những kỹ năng này, cả về mặt thời gian và kiến thức Họ thường phải thuê người viết hợp đồng, làm phát sinh chi phí hợp đồng Bên cạnh đó, để xác nhận mức độ tin cậy và xử lý những thông tin thu thập dược
về tài sản tài chính và về người phát hành tài sản đó, nhà đầu tư cũng phải bỏ ra một khoảng thời gian và chi phí nhất định, được gọi là chi phí xử lý thông tin
Các trung gian tài chính, với tư cách là các nhà đầu tư chuyên nghiệp, có thể giảm thiểu tất cả những chi phí đó do ưu thế về tính tập trung, chuyên môn hoá và quy mô đầu tư lớn hơn
Cung cấp một cơ chế thanh toán
Ngày nay đa số các giao dịch được thực hiện mà không dùng tiền mặt Việc thanh toán có thể sử dụng séc, thẻ tín dụng, hoặc việc chuyển tiền điện tử Một số
Trang 16trung gian tài chính sẽ đảm nhiệm việc cung cấp những phương thức thanh toán này.
Trước đây, việc thanh toán không dùng tiền mặt chỉ được giới hạn ở các tài khoản vãng lai có thể ký séc tại các ngân hàng thương mại, sau đó được mở rộng ra các hiệp hội tín dụng, và một số công ty đầu tư Thanh toán bằng thẻ tín dụng trước đây cũng chỉ được thực hiện tại các ngân hàng thương mại nhưng giờ dây các tổ chức nhận tiền gửi công cung cấp dịch vụ này Như vậy, việc thanh toán không dùng tiền mặt đã trở thành một trong các chức năng quan trọng của trung gian tài chính
1.5 Mối quan hệ giữa các bộ phận của thị trường tài chính
Qua nghiên cứu về cấu trúc của thị trường tài chính, người ta có thể nhận thấy giữa các thị trường cấu thành có mối quan hệ chặt chẽ và biện chứng với nhau Những biến động trên thị trường này sẽ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các thị trường khác Khi nền kinh tế phát triển, thị trường tài chính ngày càng trở nên tinh vi và phức tạp, ranh giới truyền thống giữa các công cụ tài chính hay giữa các loại thị trường ngày càng mang tính tương đối Các công cụ tài chính được lưu thông đan xen giữa các loại thị trường và được chuyển hoá lẫn nhau những công
cụ mới không ngừng ra đời, trong đó có nhiều loại công cụ hỗn hợp mang những đặc trưng của nhiều loại công cụ khác nhau Do đó các bộ phận của thị trường tải chính càng trở nên gắn bó chặt chẽ với nhau Dưới đây sẽ trình bày một số quan hệ tồn tại hiện nay trên thị trường tài chính
Mối quan hệ giữa thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối.
Thị trường ngoại hối và thị trường tiền tệ có quan hệ khăng khít với nhau, không có thị trường nào hoạt động một cách độc lập tuyệt đối mà chúng tác động qua lại và chi phối lẫn nhau Một biến động trên thị trường tiền tệ đều dẫn dấn những thay đổi trên thị trường ngoại hối Các mối quan hệ hình thành giữa hai thị trường này chủ yếu thông qua hai biến số cơ bản: lãi suất và tỷ giá Sự biến động của lãi suất trên thị trường tiền tệ có thể tác động dấn các luồng vốn di chuyển giữa hai thị trường này, ảnh hưởng tới mối quan hệ cung - cầu về ngoại tệ, làm tỷ giá hôi đoái trên thị trường ngoại hối thay đổi Để minh hoạ cho mối quan hệ này có thể xem xét một thực tế như sau: Cho tới tháng 6 năm 2000, trong vòng hơn một năm, Cục dự trữ Liên bang Mỹ đã liên tục 6 lần tăng lãi suất Theo một phản ứng dây chuyền, Ngân hàng trung ương châu Âu cũng nâng lãi suất và lãi suất trên thị trường liên ngân hàng theo đó tăng lên Chịu ảnh hưởng của xu hướng này, các ngân hàng thương mại Việt Nam cũng từng bước nâng lãi suất huy động ngoại tệ tăng nên đã có một khối lượng khá lớn tiền gửi VND được rút ra khỏi tài khoản ngân hàng để mua ngoại tệ trên thị trường và sau đó lại được gửi vào ngân hàng
Trang 17bằng USD để hưởng phần lãi suất cao hơn Vốn huy động ngoại tệ tăng mạnh ở một số ngân hàng thương mại Mặt khác, mặc dù lãi suất huy động USD đã được nâng lên song vẫn thấp hơn lãi suất USD trên thị trường quốc tế (chênh lệch vào khoảng 1,4 - 1,8% vào thời điểm đầu năm 2000), khiến cho việc huy động ngoại tệ trong nước và chuyển ra nước ngoài để hưởng lãi suất cao hơn trở thành một hoạt động sinh lời hấp dẫn đối với các ngân hàng thương mại Nhu cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối vì vậy gia tăng nhanh chóng và do đó tỷ giá có xu hướng bị đẩy lên
Mối quan hệ giữa thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán
Mối quan hệ giữa thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán được thể hiện thông qua sự tác động của lãi suất và tỷ giá hối đoái lên giá cả chứng khoán
Tỷ giá hối đoái là nhân tố tác động mạnh mẽ tới quyết định đầu tư trên thị trường chứng khoán Khi các nhà đầu tư vào chứng khoán và sẽ thay thế bàng tài sản ngoại tệ vì chứng khoán chính là tiền, nếu tiền mất giá thì giá trị chứng khoán
sẽ bị giảm Các nhà đầu tư này có thể sẽ chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài Như vậy, tác động của tỷ giá hối đoái đã làm dịch chuyển đầu tư từ thị trường chứng khoán sang thị trường hối đoái hoặc ngược lại
Lãi suất thị trường là nhân tố tác động trực tiếp tới giá cả chứng khoán thông qua việc thay đổi mức lợi suất yêu cầu của các nhà đầu tư khi chấp nhận đầu tư vào chứng khoán đó Khi thị trường tiền tệ có dấu hiệu thay đổi lãi suất chiết khấu và lãi suất tái chiết khấu từ ngân hàng trung ương thì lập tức sẽ ảnh hưởng tới lượng tiền cung ứng và tác động tới cung tín dụng từ phía ngân hàng thương mại, đồng thời cũng tác động tới giá cả chứng khoán Tuy nhiên, mức độ tác động của lãi suất vào giá cả trái phiếu và cổ phiếu lại khác nhau Lãi suất tác động trực tiếp tới giá trái phiếu, khi lãi suất chiết khấu tăng (hoặc giảm) thì giá trái phiếu trên thị trường
sẽ giảm (hoặc tăng) Còn đối với cổ phiếu, quan hệ giữa lãi suất và giá không phải
là mối quan hệ trực tiếp và hoàn toàn một chiều Mức độ ảnh hưởng của lãi suất lên giá cổ phiếu phụ thuộc vào nguyên nhân gây ra thay đổi đó và mức độ tác động của thay đổi này lên dòng thu nhập tương lai của cổ phiếu Tuy nhiên, qua nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa lãi suất và giá cổ phiếu thường là ngược chiều do khi lãi suất thị trường tăng, giá trái phiếu giảm thì người đầu tư có xu hướng chuyển từ đầu từ cổ phiếu sang trái phiếu khiến cho giá cổ phiếu giảm và ngược lại
Trang 18BÀI 2: THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ (THE MONEY MARKET)
2.1 Định nghĩa thị trường tiền tệ
Thị trường tiền tệ là nơi giao dịch các công cụ tài chính ngắn hạn (tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá khác) nhằm đáp ứng các nhu cầu vốn ngắn hạn của các chủ thể trong nền kinh tế và đảm bảo tính thanh khoản của các công cụ tài chính Thị trường tiền tệ diễn ra chủ yếu thông qua hoạt động của
hệ thống ngân hàng
2.2 Đặc điểm của thị trường tiền tệ
Là phương thức chuyển giao gián tiếp có giá trị giao dịch lớn
Rủi ro thấp, tính thanh khoản cao
Thị trường tiền tệ là nơi giao dịch chứng khoán nợ ngắn hạn, có thời hạn dưới
1 năm, chẳng hạn như: tín phiếu, kì phiếu… để huy động vốn ngắn hạn, bù đắp cho các khoản thiếu hụt mang tính tạm thời
Thông qua thị trường tiền tệ Chính phủ kiểm soát được các NHTM với công
cụ dự trữ bắt buộc nhằm kiểm soát lượng tiền mặt lưu thông trong nền kinh tế.Thị trường tiền tệ là thị trường phi tập trung, các giao dịch mua bán các giấy
tờ có giá thông qua mạng lưới điện thoại, internet rộng lớn Các nghiệp vụ trên thị trường tiền tệ là nghiệp vụ chuyển giao vốn có khả năng thanh khoản cao, ít xảy ra rủi ro đối với nhà đầu tư
2.3 Vai trò của thị trường tiền tệ
Thị trường tiền tệ đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn với chi phí thấp cho chính phủ, công ty và các tổ chức trung gian; qua đó tạo cơ hội đầu tư vốn nhàn rỗi, tăng thu nhập và tính thanh khoản cho các nhà đầu tư
Thị trường tiền tệ là kênh dẫn truyền tác động của chính sách tiền tệ đối với nền kinh tế
Thị trường tiền tệ là kênh tạo thông tin và phản hồi những tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế
Thị trường tiền tệ là công cụ điều tiết khối tiền của nền kinh tế, trong đó thể hiện rõ nét qua chức năng của thị trường mở
Trang 19Thị trường tiền tệ là công cụ để NHTW thực hiện vai trò là người cho vay cuối cùng đối với các ngân hàng trung gian.
Thị trường tiền tệ tạo cơ chế để NHTW hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống NHTM
Hàng hoá trên thị trường này là các nguồn vốn nhàn rỗi của các tổ chức tín dụng Giá cả của hàng hoá này là lãi suất
Trên thị trường liền ngân hàng , các NHTM tham gia để tìm kiếm lợi nhuận còn các NHTW tham gia với vai trò là người cho vay cuối cùng đối với các NHTM
và là người chi phối thị trường
Các chủ thể tham gia trên thị trường liên ngân hàng:
NHTW
NHTM
Các giao dịch trên thị trường liên ngân hàng:
Vay và cho vay để bổ sung nguồn vốn ngắn hạn giữa các NHTM
Cho vay thanh toán
Trang 202.4.2 Thị trường vốn ngắn hạn (thị trường tín dụng)
Là thị trường tín dụng ngắn hạn cung ứng nguồn tài trợ ngắn hạn cho các chủ thể trong nền kình tế Đối với doanh nghiệp, thị trường vốn ngắn hạn chủ yếu cung ứng nguồn vốn lưu động cho doanh nghiệp Đối với cá nhân và các hộ gia đình thì thị trường này nhằm thoả mãn nhu cầu tín dụng tiêu dùng và sản xuất nhỏ
Đây cũng là thị trường mà các nguồn vốn được luân chuyển theo nguyên tắc tín đụng để huy động vốn từ những người có vốn và phân phối lại cho những người cần vốn nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận với kỳ hạn từ vài tháng đến 1 năm Thị trường tín dụng bao gồm các loại thị trường sau:
- Thị trường tín dụng ngân hàng : ở thị trường này, chủ thể tham gia là các ngân hàng với nhau, hoặc giữa các ngân hàng và khách hàng của họ
- Thị trường tín dụng thương mại: chủ thể tham gia là các doanh nghiệp có quan
hệ kinh doanh thường xuyên với nhau
- Thị trường tín dụng Nhà nước : chủ thể tham gia là Nhà nước và các tầng lớp dân cư
- Thị trường tín dụng tự do giữa các tầng lớp dân cư
2.4.2.1 Tín dụng ngân hàng
Khái niệm
Là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng với các xí nghiệp, tổ chức kinh tế, các
tổ chức và cá nhân được thực hiện dưới các hình thức ngân hàng đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay (cấp tín dụng) đối với các đối tượng nói trên
Trang 21 Chứng chỉ tiền gửi
Sổ tiết kiệm,…
+ Công cụ cho vay
Hợp đồng tín dụng
Ưu điểm của TDNH
+ Thời hạn cho vay linh hoạt - ngắn hạn, trung hạn, dài hạn đáp ứng mọi
nhu cầu vay vốn của khách hàng;
+ Về khối lượng tín dụng lớn;
+ Về phạm vi được mở rộng với mọi ngành, mọi lĩnh vực.
Nhược điểm của TDNH
Tín dụng ngân hàng có độ rủi ro cao - gắn liền với chính ưu điểm do việc ngân hàng có thể cho vay số tiền lớn hơn nhiều so với số vốn tự có, hoặc có sự chuyển đổi thời hạn và phạm vi tín dụng rộng
2.4.2.2 Tín dụng thương mại
Khái niệm
Tín dụng thương mại là quan hệ giữa các Công ty, xí nghiệp, các tổ chức kinh
tế với nhau được thực hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hoá cho nhau
Ra đời sớm hơn các hình thức tín dụng khác, giữ vai trò cơ sở để các hình thức tín dụng khác ra đời
Đặc điểm của TDTM
+ TDTM là tín dụng giữa những người SXKD
+ Đối tượng là hàng hoá chứ không phải tiền tệ
+ Phụ thuộc vào sự phát triển của nền sản xuất và trao đổi hàng hoá
Hay nói cách khác hoạt động của TDTM dựa trên sự tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau và phụ thuộc vào sự phát triển của nền sản xuất và trao đổi hàng hoá, tức là
có mối quan hệ đồng biến với nhau
Trang 22 Công cụ của TDTM
Công cụ giao dịch chủ yếu là thương phiếu Loại công cụ này có 3 tính chất
cơ bản: tính trừu tượng, tính lưu thông và tính bắt buộc
+ Tính trừu tượng tức là trên thương phiếu có ghi những thông tin khái quát như:
số tiền nợ, thời gian phải trả, lãi suất, người phải trả mà không ghi tên người được thụ hưởng, không ghi lí do nợ
+ Tính bắt buộc tức là người mắc nợ phải thanh toán cho người thụ hưởng hay
người nắm giữ nó số tiền đã ghi ở trên thương phiếu mà không được phép từ chối hay trì hoãn
• Thương phiếu do người mua chịu lập ra gọi là lệnh phiếu;
• Thương phiếu do người bán chịu lập ra gọi là hối phiếu.
+ Tính lưu thông tức là thương phiếu có thể chuyển nhượng được bằng cách kí
hậu (kí vào mặt sau)
Ưu điểm của TDTM
+ Thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá
+ Góp phần giải quyết nhu cầu về vốn.
+ Giảm lượng tiền mặt trong lưu thông.
Nhược điểm của TDTM
+ Về quy mô: lượng giá trị cho vay bị hạn chế.
+ Về thời gian: ngắn thường là dưới 1 năm;
+ Về đối tượng: giới hạn trong từng loại hình ngành nghề, từng loại DN.
+ Về phạm vi: bị hạn chế chỉ xảy ra giữa các doanh nghiệp với nhau, và phải quen
biết và tin tưởng nhau
Trang 23Ngoài ra, TDNH còn có nhược điểm là được cấp dưới hình thức hàng hoá, vì vậy doanh nghiệp bán chịu chỉ có thể cung cấp cho một số doanh nghiệp nhất định - những doanh nghiệp có nhu cầu đúng thứ hàng hoá đó để phục vụ sản xuất hoặc kinh doanh
2.4.2.3 Tín dụng nhà nước
Khái niệm TDNN
Là quan hệ tín dụng giữa Nhà nước (bao gồm chính phủ trung ương, chính quyền địa phương…) với các đơn vị và cá nhân trong xã hội, trong đó chủ yếu là Nhà nước đứng ra huy động vốn của các tổ chức và cá nhân bằng cách phát hành trái phiếu để sử dụng vì mục đích và lợi ích chung của toàn xã hội
• Trái phiếu kho bạc;
• Trái phiếu đầu tư:
• Công trái;
• Trái phiếu chính phủ quốc tế
+ Công cụ cho vay
• Cho vay đầu tư;
Trang 24• Hỗ trợ lãi suất sau đầu tư;
• Bảo lãnh tín dụng
- Ưu điểm của TDNN
+ Giúp Nhà nước thực hiện các mục tiêu kinh tế XH.
+ Góp phần thúc đẩy quan hệ quốc tế
+ Tạo điều kiện phát triển tín dụng ngân hàng.
- Nhược điểm của TDNN
+ Dễ bị lạm dụng
+ Dễ lãng phí, không hiệu quả,…
2.4.2.4 Tín dụng tự do
Tín dụng tự do là tín dụng giữa các tầng lớp dân cư
- Ưu điểm của TDTD
+ Khó tiếp cận với TDNH hoặc TDTM.
+ TDTD giải quyết nhanh các nhu cầu vốn
- Nhược điểm của TDTD
+ Lãi suất cao
+ Dễ phát sinh nhiều rủi ro khi các chủ nợ không có khả năng thanh toán,…
2.5 Thị trường hối đoái
2.5.1 Khái niệm
- Là thị trường diễn ra các hoạt động giao dịch, mua bán ngoại tệ và các phương tiện thanh toán có giá trị ngoại tệ khác
- Là nơi hình thành tỷ giá hối đoái theo quan hệ cung cầu
- Là bộ phận của thị trường tài chính có trình độ phát triển cao
Trang 252.5.2 Đặc điểm
- TTHĐ không tồn tại trong một không gian cụ thể nhất định mà hoạt động của
nó thông qua các phương tiện thông tin hiện đại
- Có tinh quốc tế hoá cao
- Giao dịch mua bán các loại ngoại tệ tự do chuyển đổi
- Giao dịch với khối lượng lớn (khối lượng giao dịch tối thiểu và doanh số giao dịch)
2.5.3 Vai trò
- Tạo điều kiện để kết nối các nhu cầu giao dịch ngoại tệ trong nền kinh tế
- Làm cho các giao dịch mua bán trao đổi ngoại hối đi vào nề nếp, ổn định, góp phần ổn định thị trường tài chính
- Giúp NHTW nắm bắt được thông tin về thị trường để tham mưu cho chính phủ trong việc thực hiện chính sách quản lý ngoại hối
- Tạo điều kiện để hội nhập với TTTC quốc tế
2.5.4 Chủ thể tham gia TTHĐ
- NHNN Việt Nam
- Các TCTD được phép hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối (NHTM NN, NHTM CP, CN nước ngoài, NH liên doanh, NH nước ngoài đủ điều kiện và được NHNN cấp giấy phép)
- Khách hàng (các đơn vị kinh tế, các tổ chức, cá nhân)
2.5.5 Các nghiệp vụ giao dịch hối đoái
- Giao dịch giao ngay:
+ Đáp ứng nhu cầu ngoại tệ trước mắt cho các thành viên của thị trường + Giúp cá TCTD điều chỉnh trạng thái ngoại hối kịp thời
Trang 26- Giao dịch kỳ hạn:
+ Giúp cho các thành viên chủ động hơn trong việc mua bán ngoại tệ (tính
chắc chắn)
+ Là công cụ để phòng ngừa rủi ro.
- Giao dịch hoán đổi:
+ Chuyển nhượng tạm thời đồng tiền này sang đồng tiền khác đáp ứng nhu
cầu kinh doanh
+ Công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá.
+ Giúp các NH duy trì được trạng thái ngoại hối trong tương lai.
- Giao dịch quyền chọn:
+ Đảm bảo nhu cầu ngoại tệ trước mắt và trong tương lai cho khách
+ Cho phép khách hàng lựa chọn phương án giao dịch tối ưu.
+ Là công cụ phòng ngừa rủi ro hối đoái và là công cụ kinh doanh ngoại tệ
linh hoạt có hiệu quả
- Giao dịch tương lai
2.6 Các chủ thể tham gia thị trường tiền tệ
2.6.1 Bộ Tài chính Mỹ:
Bộ Tài chính Mỹ là độc nhất vì nó luôn luôn là chủ thể cầu tiền và không bao giờ là chủ thể cung tiền Bộ Tài chính Mỹ là người đi vay lớn nhất thế giới trên thị trường tiền tệ Nó phát hành Tín phiếu kho bạc (T-Bills) và những chứng khoán phổ biến khác Phát hành với kỳ hạn ngắn cho phép chính phủ huy động vốn cho đến khi họ thu được thuế Bộ Tài chính Mỹ cũng sẽ phát hành T-Bills để thay thế trái phiếu kỳ hạn
Vai trò: bán trái phiếu kho bạc để tài trợ cho nợ quốc gia.
2.6.2 Hệ thống dự trữ liên bang
FED là đại diện của Bộ Tài chính trong việc phân phối trái phiếu của chính phủ FED nắm giữ số lượng lớn Trái phiếu kho bạc Nó sẽ bán những trái phiếu này nếu nó tin rằng cung tiền giảm Tương tự, FED sẽ mua Trái phiếu kho bạc nếu
Trang 27nó tin rằng cung tiền tăng Nhiệm vụ cung tiền của FED khiến nó trở thành chủ thể tham gia có ảnh hưởng nhất trên thị trường tiền tệ của Mỹ FED điều khiển nền kinh tế thông qua các nghiệp vụ trên thị trường mở.
Vai trò: Mua và bán trái phiếu kho bạc là phương pháp cơ bản để quản lý
cung tiền
2.6.3 Ngân hàng thương mại (NHTM)
Ở Mỹ, số lượng trái phiếu chính phủ mà các NHTM nắm giữ chỉ bằng ½ số lượng mà các Quỹ hưu trí nắm giữ Điều này một phần là do quy định giới hạn đầu
tư đối với các ngân hàng ở Mỹ Cụ thể là, ngân hàng bị nghiêm cấm sở hữu các chứng khoán rủi ro như là cổ phiếu hay trái phiếu doanh nghiệp (corporate bonds) Trái phiếu kho bạc có rủi ro thấp và tính thanh khoản cao nên hầu như không có hạn chế gì khi nắm giữ trái phiếu kho bạc
Ngân hàng cũng là nhà phát hành lớn các chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng, chấp nhận thanh toán của ngân hàng, các quỹ liên bang, và mua lại các hợp đồng (chi tiết trong phần sau) Thêm vào đó, việc sử dụng các chứng khoán trên thị trường tiền tệ cũng giúp các ngân hàng quản lý được tính thanh khoản của chính nó, nhiều ngân hàng thực hiện mua bán trên danh nghĩa là khách hàng của chính họ
Vai trò: Mua trái phiếu kho bạc, bán chứng chỉ tiền gửi và tạo các khoản vay
ngắn hạn, cung cấp cho khách hàng cá nhân (nhà đầu tư) những tài khoản để đầu tư vào chứng khoán trên thị trường tiền tệ
2.6.4 Các doanh nghiệp
Nhiều doanh nghiệp mua và bán chứng khoán trên thị trường tiền tệ Hoạt động này thường bị giới hạn đối với các tập đoàn lớn bởi vì lượng lớn USD tham gia vào mỗi giao dịch Thị trường tiền tệ được sử dụng rộng rãi bởi các doanh nghiệp để tích luỹ nguồn vốn thặng dư và để tạo nguồn vốn ngắn hạn
Vai trò: Mua và bán các chứng khoán ngắn hạn đa dạng như là 1 hoạt động
quản lý tiền mặt thường xuyên
2.6.5 Nhà đầu tư và công ty chứng khoán
Các công ty đầu tư (công ty môi giới): Những công ty môi giới chứng khoán
lớn và đa dạng rất năng động trên thị trường tiền tệ Lớn nhất là Ngân hàng Hoa
Kỳ, Merrill Lynch, Barelays Capital, Credit Suisse và Goldman Sachs Chức năng
cơ bản chủa những công ty này là tạo lập thị trường bằng cách duy trì hoạt động đầu tư từ người mua đến người bán Bằng cách đảm bảo rằng người bán có thể bán
Trang 28chứng khoán của họ, những công ty này có vai trò quan trọng đối tính thanh khoản của thị trường.
Vai trò: bán tài khoản thương mại
Các công ty tài chính: Các công ty tài chính tạo vốn (gây quỹ) trên thị trường
tiền tệ sơ cấp bằng cách bán thương phiếu Sau đó họ cho khách hàng vay tiêu dùng (mua xe, mua, mua thuyền hay sửa chữa nhà)
Vai trò: cho vay cá nhân
Các công ty bảo hiểm: Các công ty bảo hiểm tài sản bảo hiểm tai nạn phải
duy trì tính thanh khoản bởi vì học có thể cần chúng bất cứ lúc nào
Vai trò: Duy trì tính thanh khoản cần thiết để đáp ứng những tình huống không dự báo được
Quỹ hưu trí: Các quỹ hưu trí đầu tư 1 phần tiền mặt của họ vào thị trường
tiền tệ để nhận lợi ích từ các cơ hội đầu tư mà học có thể xác định trong thị trường
cổ phiếu hoặc trái phiếu Tương tự như các công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí phải duy trì tính thanh khoản cần thiết để đáp ứng nghĩa vụ của họ Tuy nhiên, vì những nghĩa vụ này là dự đoán trước được nên việc nắm giữ một lượng lớn chứng khoán trên thị trường tiền tệ là không cần thiết
Vai trò: Duy trì quỹ bằng các công cụ của thị trường tiền tệ trong tư thế luôn
sẵn sàng để đầu tư vào trái phiếu và cổ phiếu
2.6.6 Các cá nhân, hộ kinh doanh
Khi lạm phát tăng lên vào cuối những năm thập niên 70, lãi suất tiền gửi mà các ngân hàng đưa ra trở nên không còn thu hút các nhà đầu tư cá nhân nữa Lúc này, các công ty chứng khoán bắt đầu tăng quỹ tương hỗ, tức là họ phải trả lãi cao hơn
Các ngân hàng không thể ngưng lượng lớn tiền mặt ra lẫn lượng tiền mặt đi vào quỹ tương hỗ bởi vì những quy định giới hạn lãi suất tiền gửi mà họ có thể trả
Để tránh thất thoát, chính quyền đã sửa lại quy định Ngân hàng nhanh chóng tăng lãi suất để cố gắng lấy lại lượng đô la của khách hàng cá nhân Điều này đã làm ngăn chặn lại dòng lưu chuyển của quỹ, nhưng quỹ tương hỗ vẫn là sự lựa chọn đầu tư phổ biến của các nhà đầu tư cá nhân Lợi thế của quỹ tương hỗ là ở chỗ họ mang đến cho những nhà đầu tư một lượng nhỏ tương đối tiền mặt để tiếp cận chứng khoán có mệnh giá lớn
Vai trò: Cá nhân: Đầu tư vào quỹ tương hỗ của thị trường tiền tệ
Trang 29Quỹ tương hỗ thị trường tiền tệ: Cho phép những nhà đầu tư nhỏ tham gia vào thị trường tiền tệ bằng cách tổng hợp quỹ của họ để đầu tư vào những chứng khoán
Trang 30- Kỳ phiếu ngân hàng, tín phiếu công ty tài chính, chứng chỉ tiền gửi tiết kiệm
Tín phiếu kho bạc (Treasury Bills)
Là loại chứng khoán nợ ngắn hạn do Nhà nước phát hành nhằm mục đích điều hòa lưu thông tiền tệ, hỗ trợ cho việc cân đối thu chi ngân sách, bù đắp những thiếu hụt tạm thời hoặc mục đích chống lạm phát hay khuyến khích phát triển sản xuất.Đặc điểm của loại chứng khoán ngắn hạn là thời gian đáo hạn dưới 1 năm lãi
và vốn được trả một lần khi đáo hạn
Tín phiếu kho bạc là công cụ quan trọng nhất trên thị trường tiền tệ vì có độ
an toàn cao nhất, khối lượng phát hành lơn, tính thanh khoản cao nhất do được chuyển nhượng dễ dàng trên thị trường thứ cấp, là công cụ chủ yếu để ngân hàng Trung ương thực hiện nghiệp vụ thị trường mở và can thiệp vào thị trường tài chính Tín phiếu kho bạc còn là tài sản được nhiều tổ chức tài chính và phi tài chính sử dụng như NHTM, công ty bảo hiểm, các quỹ hưu trí, các công ty… để điều chỉnh thanh khoản các tổ chức này Tín phiếu cũng thường nằm tỏng danh mục của các tổ chức sản xuất vì nó được coi là dự trữ để trả cổ tức, thuế và các khoản nợ ngắn hạn lãi suất của tín phiếu kho bạc là loại lãi suất đóng vai trò chuẩn cho những loại lãi suất khác
*Tín phiếu kho bạc của Mỹ: là một công cụ nợ của Chính phủ Mỹ với khoảng thời gian đáo hạn dưới 1 năm T-Bill có mệnh giá 1000 USD, giá trị mua tối đa 5 triệu đôla, và thông thường có thời hạn đáo hạn là 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng
T-bill được bán thông qua các cuộc bán đấu giá có cạnh tranh, giá mua thấp hơn mệnh giá Khác với trái phiếu thông thường khi đó người sở hữu trái phiếu nhận được lãi suất cố định, việc mua với giá thấp hơn mệnh giá của trái phiếu đã tạo ra cho người mua một phần lãi
Ví dụ: Nếu bạn mua trái phiếu T-bill có thời gian đáo hạn trong 3 tháng, bạn trả 9800 đôla Chính phủ Mỹ sẽ viết cho bạn một giấy nhận nợ IOU với giá trị khoản nợ là 10.000 đôla và đồng ý là sẽ trả lại bạn số tiền này trong 3 tháng Bạn
sẽ không nhận được một khoản lãi suất trái phiếu (trái tức) thường kì, thay vào đó, bạn sẽ nhận được một khoản chênh lệch giữa giá bạn đã nộp và giá bạn sẽ được nhận lại, trong trường hợp này là (10000 - 9800 = 200) tức là bạn đã được nhận lãi suất là 200/9800 = 2,04% trong 3 tháng
i_discount = annualized discount rate %
Trang 31P = purchase price
F = Face or maturity value
n = number of dáy until maturity
Rủi ro: T-bill có tỷ lệ rủi ro mặc định bằng 0 vì kể cả khi chính phủ mất khả năng chi trả thì nó có thể được in mới để thu hồi lại khi đáo hạn Rủi ro từ lạm phát không kì vọng cũng thấp vì kì hạn ngắn
Tín phiếu kho bạc: Thường được phát hành theo từng lô bằng phương pháp đấu giá Người mua chủ yếu là các ngân hàng, ngoài ra còn có các công ty các trung gian tài chính khác
Tín phiếu kho bạc được xem là công cụ có tính thanh khoản cao nhất trên thị trường tiền tệ do được giao dịch nhiều nhất
Tín phiếu kho bạc thường được Ngân hàng trung ương các nước sử dụng như công cụ để điều hành chính sách tiền tệ thông qua thị trường mở
Mini – Case
Federal Funds: Hệ thống Dự Trữ Liên Bang Hoa Kỳ được thành lập bởi Đạo
Luật Dự Trữ Liên Bang (Federal Reserve Act) do Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua năm 1913 và bắt đầu đi vào hoạt động năm 1914 Dự Trữ Liên Bang Hoa Kỳ, gọi tắt là “The Fed” là một tổ chức bao gồm một số cơ sở tài chánh trọng yếu của nhà nước và tư nhân Dự trữ liên bang là một tổ chức độc lập, chỉ chịu trách nhiệm trước Quốc Hội Hoa Kỳ và có nhiệm vụ phải điều trần định kỳ trước Ủy Ban Tài Chánh của Quốc Hội Hoa kỳ Cơ cấu tổ chức gồm các thành phần chính sau:
- Ban Thống Đốc (Board of Governors)
- 12 Ngân hàng dự trữ liên bang (12 Federal Reserve Banks)
- Các ngân hàng thành viên (Member Banks)
- Ủy ban thị trường mở rộng liên bang (Federal Open Market Committee)
- Các Hội Đồng Cố Vấn (Advisory Councils)
Vai trò của Federal Funds: Hệ thống Dự Trữ Liên Bang Hoa Kỳ là một bộ phận vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế của Hoa Kỳ nói riêng và của cả thế giới nói chung Hệ thống này đóng một vai trò “cảnh sát” đối với toàn bộ dịch vụ tài chánh của nước Mỹ và đồng thời là một bộ phận đầu não đề ra những chính sách tài chánh nhằm bảo đảm một sự tăng triển vừa phải của nền kinh tế, giảm tỉ lệ thất nghiệp và duy trì lạm phát ở mức độ kiểm soát được
Trang 32Đối với các nền kinh tế đã phát triển thì vấn đề quan trọng nhất không phải là đẩy mạnh sự phát triển nữa mà là duy trì nền kinh tế ở mức độ không “nóng” quá
và tránh được lạm phát Kinh nghiệm đau thương từ cuộc đại khủng hoảng kinh tế năm 1929 đã cho thấy nguyên nhân chính của khủng hoảng, cũng như của các thời
kỳ suy thoái kinh tế là do yếu tố lạm phát đã vượt tầm kiểm soát
Vì vậy, DTLB Hoa Kỳ theo dõi rất sát các chỉ số và dấu hiệu về lạm phát để
có biện pháp thích ứng Tuy nhiên vì mỗi một lần thay đổi lãi suất, hiệu quả chỉ có thể được biểu hiện từ 6 tháng đến một năm sau nên công tác của DTLB vô cùng khó khăn và đòi hỏi một sự am tường sâu rộng về kinh tế nói chung của các chuyên gia trong Ban Thống Đốc Nhiều khi tăng lãi suất quá tay thay vì kềm hãm bớt kinh
tế lại có kết quả tai hại là làm khựng sức phát triển và làm suy thoái nền kinh tế Điều cần nhấn mạnh là hoạt động của DTLB Hoa Kỳ nhằm phục vụ lợi ích chính của nền kinh tế Hoa Kỳ Mọi hiệu quả đối với kinh tế thế giới chỉ là hậu quả gián tiếp của nền kinh tế Hoa Kỳ Mô hình DTLB đã chứng tỏ sự thành công nhất định nên được áp dụng hầu hết trên các quốc gia đã phát triển
Federal Funds Interest Rate: Federal funds rate là tỉ lệ lãi suất các ngân
hàng cho nhau vay trong khoảng thời gian 1 ngày để có được số tiền bằng đúng yêu cầu dự trữ bắt buộc
Đây là lãi suất các ngân hàng tính cho nhau khi vay qua đêm để bảo đảm tỷ lệ
dự trữ bắt buộc Quyết định nâng, giảm lãi suất chính ra là do Ủy ban Thị trường
Mở Liên bang (FEDeral Open Market Committee) đưa ra Lãi suất này sẽ tác động lên lãi suất chiết khấu, tức là lãi suất FED tính khi cho các ngân hàng khác vay tiền
để cho khách hàng vay lại (thường cao hơn lãi suất FED Fund một điểm phần trăm)
Lãi suất qua đêm là một trong những công cụ để FED điều hành hệ thống tiền
tệ Nói chính xác hơn nữa, FED cũng không quyết định lãi suất mà chỉ đưa ra mức lãi suất muốn hướng đến; sau đó dùng thị trường mở để tác động sao cho lãi suất qua đêm ứng với lãi suất muốn có
Nên nhớ phát hành thêm tiền không có nghĩa FED in thêm tiền Ví dụ, để bơm thêm tiền vào lưu thông, FED sẽ mua trái phiếu trên thị trường mở Còn để hút tiền về, FED sẽ bán trái phiếu Vì có quy định dự trữ bắt buộc nên 1 đô la FED đưa ra thị trường không chỉ là 1 đô la nữa mà được nhân lên nhiều lần
Ví dụ: với tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10%, ngân hàng cho vay sẽ phải giữ lại
100 đô la cho mỗi 1.000 đô la khách hàng gửi vào sau khi bán trái phiếu cho FED Với 900 đô la còn lại ngân hàng sẽ cho vay, nơi vay này sẽ gởi tiền vào ngân hàng, ngân hàng này lại phải giữ 90 đô la làm dự trữ bắt buộc và cho vay 810 đô la còn
Trang 33lại Cứ thế, 1.000 đô la ban đầu sẽ “nở” ra thành gần 10.000 đô la lưu thông trong nền kinh tế.
Chính vì thế, nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 10% lên 12% chẳng hạn, không chỉ
có nghĩa ngân hàng phải đưa thêm tiền vào dự trữ mà nó còn làm giảm lượng tiền lưu thông được khuếch đại như trình bày ở trên Hai loại lãi suất nói trên sẽ tác động đến lãi suất thị trường và từ đó đến toàn bộ nền kinh tế
Hợp đồng mua lại và hợp đồng mua ngược lại ( Repurchase and Reverse Repurchase agreements –RP hay REPO) :
Hợp đồng mau lại là sự thỏa thuận giữa người mùa và người bán chứng khoán, theo đó người bán có thể mua lại các chứng khoán với một mức giá đã thỏa thuận tại một thời điểm nhất định
Hợp đồng mua lại là những khoản vay trong đó chứng khoán được dùng làm vật đảm bảo một tài sản có mà người cho vay nhận được nếu người đi vay không thanh toán được nợ Một hợp đồng mua lại gồm 2 giao dịch sau:
+ Bán chứng khoán kèm theo cam kết sẽ mua lại chứng khoán theo cùng một giá tại thời điểm xác định trong tương lại Người bán cam kết trả lại cho người mua một lãi suất nhất định
+ Mua chứng khoán làm theo cam kết trả lại chứng khoán và nhận lại tiền gốc cộng với lãi suất nhất định tại thời điểm nào đó trong tương lai
Một hợp đồng mua lại ngược là một sự đổi chiều thỏa thuận Nhà kinh doanh mua chứng khoán cam kết sẽ bán lại cho nhà đầu tư với cùng một giá tại một thời điểm nào đó trong tương lai
Giả định tổ chức A đang sở hữu (T- bills) trái phiếu ngắn hạn kho bạc nhà nước và họ đang cần có ngay một khoản tiền Tổ chức B lại là người đang dư tiền
A đề nghị B cùng tham gia vào một thoả thuận mua lại, bằng cách A bán cho B một lượng T-bills để huy động lượng tiền mặt mình cần, đồng thời thoả thuận sẽ mua lại lượng T- bills đó vào một ngày được xác định trước trong tương lai, với giá cao hơn mức B đã trả
Ta có thể hiểu cách này giống nhự đi mượn tiền của B và bảo đảm nợ vay bằng T- bills B là người cho vay sẽ hưởng lợi từ khoản chênh lệch giữa giá tiền B
đã bỏ ra mua thấp và số tiền mà A cam kết sẽ trả khi mua lại luôn cao hơn đối với cùng lượng T- bills kia
Repo có công dụng vừa như một phương thức vay vốn ngắn hạn của các tổ chức tài chính ngân hàng, vừa được sử dụng như một công cụ điều tiết vĩ mô can
Trang 34thiệp nhanh và tạm thời trong lãnh vực tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Do vậy, những tổ chức sử dụng phương thức này nhiều nhất là:
- Các nhà kinh doanh chứng khoán chính phủ và chứng khoán đô thị, dùng để tài trợ lượng chứng khoán tồn kho của họ
- Các ngân hàng thương mại, dùng để huy động vốn ngắn hạn, và
- Ngân hàng trung ương, tạo hiệu lực thay đổi về yêu cầu dự trữ ngắn hạn đối với các ngân hàng trong hệ thống, nhằm để thường xuyên tối ưu hoá - fine tuning - lượng cung tiền tệ đang lưu thông Những can thiệp điều chỉnh tạm thời này giúp nhà nước có thêm công cụ đê điều hoà nền kinh tế một cách hiệu quả, liên tục và tránh gây ồn ào
Chứng chỉ tiền gửi (Certificates of Deposit):
Là công cụ vay nợ do ngân hàng thương mại bán cho người gửi tiền với lãi suất nhất định và được lưu thông khi chưa đến hạn thanh toán, người sở hữu chứng chỉ tiền gửi có thể được hoàn trả hết toàn bộ số tiền gửi cộng với lãi hoặc có thể bán chứng chỉ tiền gửi trên thị trường thứ cấp các chứng chỉ tiền gửi là công cụ mang lại lãi suất, lãi suất của nó được tính toán trên cơ sở 360 ngày và được trả theo mệnh giá và thời hạn
Lãi suất của chứng chỉ tiền gửi được tính toán dựa trên lãi suất cạnh tranh của thị trường tiền tệ, tình trạng tài chính của ngân hàng phát hành ra nó và thời hạn thanh toán chứng chỉ tiền gửi Mức lãi suất của chứng chỉ tiền gửi do ngân hàng có chất lượng cao phát hành thường cao hơn lãi suất của tín phiếu kho bạc, sự chênh lệch này phản ảnh mức độ thanh khoản và rủi ro của từng ngân hàng
Chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng được (Negotiable Certificates of Deposit: NCD): Là một hình thức tiền gửi có kỳ hạn hay công cụ vay nợ do các ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác phát hành xác nhận các khoản tiền gửi của người gửi tiền
Khác với chứng chỉ gửi tiền thông thường, loại này có thể được chuyển nhượng (hoặc bán) cho một người khác mà không bị phạt bởi các ngân hàng phát hành NCD thường có kỳ hạn từ 3 đến 12 tháng Để tăng tính hấp dẫn của công cụ này, lãi suất áp dụng cho nó thường cao hơn lãi suất của loại tiền gửi cùng kỳ hạn thông thường Đồng thời ở một số nước, ngân hàng phát hành còn cho phép người
sở hữu loại chứng chỉ này có thể bán chúng trước hạn (với một mức giá khấu trừ).NCD thường dùng để huy động các nguồn vốn lớn Vì vậy các ngân hàng thường đặt mức tối thiểu cho một NCD Ở Mỹ, NCD thường có mệnh giá lớn (trên 100.000 USD) NCD có thể bán lại ở thị trường thứ cấp
Trang 35Hiện nay công cụ này được hầu hết các ngân hàng thương mại lớn của Mỹ phát hành và thu được những thành công lớn, với tổng số dư gần đây vượt quá tổng
số dư của tín phiếu kho bạc Mỹ Chúng là những nguồn vốn đặc biệt quan trọng mà các ngân hàng thương mại nhận từ các công ty, các quỹ tương trợ cho thị trường tiền tệ, và các cơ quan của chính phủ
Ưu điểm của chứng chỉ tiền gửi:
Chứng chỉ tiền gửi là một tài sản đầu tư phi rủi ro vì thường được bảo đảm bởi các chính phủ Như ở Mỹ, chứng chỉ tiền gửi của ngân hàng được bảo đảm bởi
Cơ quan bảo hiểm tiền gửi liên bang (Federal Deposit Insurance Corporation) còn chứng chỉ tiền gửi do các tổ chức tín dụng phát hành được bảo đảm bởi Hội liên hiệp tín dụng quốc gia (National Credit Union Administration) Cả gốc và lãi đều được bảo đảm trong toàn bộ thời gian đầu tư Điều này là rất hấp dẫn đối với những nhà đầu tư đang tìn kiếm sự an toàn
Chứng chỉ tiền gửi thường có lãi suất cao hơn so với các tài khoản tiết kiệm thông thường Các cá nhân muốn tối đa hóa lợi nhuận khoản tiền tiết kiệm của mình có thể tìm đến với các chứng chỉ tiền gửi, như vậy sẽ tốt hơn so với việc gửi
ở tài khoản tiết kiệm hay tham Ziền tệ Bạn cũng có thể dùng số tiền khi đáo hạn của chứng chỉ tiền gửi để mua tiếp một chứng chỉ tiền gửi thêm 3 tháng nữa thay vì rút tiền mặt về
Nhược điểm của chứng chỉ tiền gửi:
Nhược điểm lớn nhất của NCD là tính thanh khoản của nó không cao bằng tiền gửi ở tài khoản tiết kiệm
Về dài hạn, NCD trả lãi suất thấp hơn so với trái phiếu doanh nghiệp Nếu bạn muốn gửi tiền của mình trong vòng 5 năm, tốt nhất là bạn nên tìm mua một trái phiếu có độ tín nhiệm cao nhất Dù sẽ không được chính phủ đảm bảo nhưng lãi suất của chúng vẫn cao hơn nhiều so với chứng chỉ tiền gửi
Kỳ phiếu thương mại (Commercial Papers):
Kỳ phiếu thương mại, thông thường gọi là thương phiếu Thương phiếu là giấy nhận nợ ngắn hạn do các doanh nghiệp phát hành để tài trợ nhu cầu vốn tạm thời của doanh nghiệp Mọi thương phiếu đều là công cụ vay nợ ngắn hạn do các công ty nổi tiếng phát hành, chúng thực sự là những giấy tờ có giá không có đảm bảo các công ty tài chính thường phát hành thương phiếu trực tiếp cho các nhà đầu
tư, còn các công ty phi tài chính phát hành thương phiếu chủ yếu là thông qua các nhà kinh doanh chuyên nghiệp dưới hình thức bán buôn, sau đó các nhà đầu tư chuyên nghiệp mới bán lại trên thị trường thứ cấp
Trang 36* Hình thức cơ bản của kỳ phiếu:
- Kỳ phiếu trực tiếp: Tiếng Anh gọi là "direct paper" là loại kỳ phiếu do các
công ty lớn có đủ điều kiện tự mình tổ chức việc phát hành trực tiếp ra công chúng, không thông qua một trung gian thu xếp nào Kỳ phiếu trực tiếp còn biết đến dưới tên "finance company paper" kỳ phiếu công ty tài chính vì thường chúng được phát hành bởi các công ty tài chính để huy động vốn
- Kỳ phiếu gián tiếp: Hầu hết các công ty (các công ty ít tiếng tăm) không có
khả năng trực tiếp phát hành kỳ phiếu của mình Loại này được bán thông qua các nhà môi giới với lãi suất thường cao hơn loại kỳ phiếu công ty tài chính Việc phát hành kỳ phiếu sẽ do một công ty chứng khoán trung gian lo liệu Nhà đầu tư mua
kỳ phiếu công ty qua các nhà tự doanh chuyên giao dịch loại chứng khoán đó Do
đó mà chúng được gọi là "dealer paper"
- Kỳ phiếu miễn thuế Tax exempt commercial paper Kỳ phiếu miễn thuế
dùng để chỉ loại kỳ phiếu đô thị có đặc tính tương tự như kỳ phiếu công ty, nhưng chủ thể huy động vốn là các chính quyền địa phương Kỳ phiếu đô thị được nhà nước cho miễn thuế luôn luôn phải cần đến sự hỗ trợ của một ngân hàng thương mại đảm nhận việc phát hành
Việc sử dụng thương phiếu có nhiều thuận lợi đối với người phát hành, họ có thể thu hút nguồn vốn phi ngân hàng nhàn rỗi để đầu tư ngắn hạn, chi phí của thương phiếu thấp hơn chi phí vay của ngân hàng, đối với người mua thuận lợi chính của thương phiếu là lợi nhuận thu được thương lớn hơn các công cụ thị trường tiền tệ khác vì rủi ro cao hơn và tính thanh khoản thấp hơn Ngoài ra thương phiếu cso kỳ hạn linh hoạt hơn các công cụ thị trường tiền tệ khác
Thương phiếu bao gồm:
Hối phiếu: là phiếu ghi nợ do người bán hàng trả chậm ký phát tao cho người mua hàng trả chậm trong đó yêu cầu người mua phải trả một số tiền nhất định khi đến hạn cho người bán hoặc bất cứ người nào xuất trình hối phiếu này (người thụ hưởng)
Lệnh phiếu: là giấy nhận nợ do người mua hàng trả chậm ký phát trao cho người bán hàng trả chậm trong đó người mua cam kết trả một số tiền nhất định khi đến hạn cho người thụ hưởng
Chứng chỉ lưu kho: là giấy do một công ty kinh doanh kho bãi ký phát, thừa nhận có giữ hàng hóa cho người chủ hàng ký gởi và cam kết giao hàng cho chủ hàng hay một người nào đó do chủ hàng chỉ định bằng cách ký hậu
Kỳ phiếu công ty
Trang 37Kỳ phiếu công ty là công cụ để các công ty huy động các khoản nợ ngắn hạn với chi phí thường thấp hơn nếu họ phải đi vay ngân hàng Lãi suất kỳ phiếu công
ty thấp hơn lãi suất tương ứng đối với một khoản cho vay của ngân hàng, đồng thời, theo luật lệ về chứng khoán của Mỹ luật phát hành chứng khoán 1933, nếu kỳ phiếu có thời hạn ngắn hơn 270 ngày thì được miễn thủ tục đăng ký đầy đủ, do đó tổn phí phát hành cũng sẽ giảm Đặc biệt, loại kỳ phiếu này còn cho phép thương lượng linh động cả về thời gian đáo hạn lẫn lãi suất
Kỳ phiếu công ty thường được phát hành bằng hình thức nặc danh bearer form và phương thức chiết khấu trên mệnh giá Ở Mỹ, các giao dịch loại chứng khoán nợ này theo lô tròn có giá trị tối thiểu là 250.000USD Một số kỳ phiếu cũng
có thể được phát hành theo phương thức trả lãi định kỳ Công ty phát hành kỳ phiếu phải là công ty có tên tuổi lớn và uy tín thực sự vì kỳ phiếu công ty là loại nợ không được bảo kê mà chỉ được bảo đảm bằng uy tín của chính công ty đó thôi Khách hàng lớn của các loại kỳ phiếu công ty là các quỹ đầu tư chứng khoán ngắn hạn, các ngân hàng, quỹ hưu trí,…
Ở Mỹ và phương tây các kỳ phiếu được hiểu theo cách dân dã là một "IOU" I owe you - tôi nợ ngài Trong giao dịch dân sự, IOU lại là một chứng từ nợ trực tiếp quan trọng Kỳ phiếu có thể được xem là một IOU cách điệu, đó là loại giấy có giá mua bán được những loại do các công ty thượng thặng và uy tín đầy mình phát hành còn được gọi là "prime paper" kỳ phiếu thượng hạng
Chấp nhận của ngân hàng (Banker’s Acceptances):
Là hối phiếu do doanh nghiệp phát hành và được ngân hàng đóng dấu “đã chấp nhận” lên hối phiếu và có thể được chuyển nhượng hối phiếu trở thành “chấp nhận của ngân hàng” và là nghĩa vụ thanh toán không thể hủy bỏ của ngân hàng chấp nhận nó, bảo đảm rằng một ngân hàng sẽ thanh toán vô điều kiện số tiền mà các nhà nhập khẩu còn thiếu các nhà xuất khẩu, đến ngày đáo hạn nhà nhập khẩu
sẽ trả cho ngân hàng số tiền ghi trên giấy cộng với một khoản phí Nhà xuất khẩu không nhất thiết phải giữ giấy này cho tới khi đáo hạn mà có thể bán đi với giá chiết khấu để thu tiền trước lãi suất của công cụ này tương đối thấp do tính an toàn cao
Các khoản vay liên ngân hàng
Theo quy định của ngân hàng trung ương, các tổ chức nhận tiền gửi phải cso một tỷ lệ dự trữ bắt buộc để đáp ứng nhu cầu rút tiền của những người gửi tiền một số tổ chức có thể thừa dự trữ, một số khác lại thiếu các tổ chức nhận tiền gửi
có thể mua bán các khoản dự trữ này trên thị trường liên ngân hàng bằng cách này
Trang 38có thể tối thiểu hóa được lượng tài sản có tính thanh khoản cao nhưng khả năng sinh lợi thấp, như tín phiếu kho bạc.
Kỳ phiếu ngân hàng (Bank Bills), Tín phiếu công ty tài chính, Chứng chỉ tiền gửi tiết kiệm:
Là các loại chứng khoán ngắn hạn thường từ 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng đến 12 tháng được ngân hàng thương mại và công ty tài chính phát hành nhằm huy động vốn, rồi dùng vốn đó cho vay (chủ yếu là ngắn hạn)
2.8 Mối quan hệ giữa thị trường tiền tệ và các bộ phận của thị trường tài chính:
2.8.1 Mối quan hệ giữa thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối:
Thị trường ngoại hối và thị trường tiền tệ có quan hệ khắn khít với nhau, không có thị trường nào hoạt động độc lập một cách tuyệt đối mà chúng tác động qua lại và chi phối lẫn nhau Các mối quan hệ hình thành giữa hai thị trường này chủ yếu thông qua hai yếu tố cơ bản: lãi suất và tỷ giá Sự biến động của lãi suất trên thị trường tiền tệ có thể tác động đến các luồng vốn di chuyển giữa hai thị trường này, ảnh hưởng đến các mối cung cầu về ngoại tệ, làm tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoại hối thay đổi
2.8.2 Mối quan hệ giữa thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán:
Mối quan hệ giữa thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán (TTCK) được thể hiện thông qua sự tác động của lãi suất và tỷ giá hối đoái lên giá cả chứng khoán
Tỷ giá hối đoái là nhân tố tác động mạnh mẽ tới quyết định đầu tư trên TTCK Khi các nhà đầu tư đầu tư vào chứng khoán và nếu tiền mất giá thì giá trị chứng khoán cũng bị giảm theo, khi đó họ sẽ thay thế bằng tài sản ngoại tệ và họ sẽ chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài Như vậy tác động của tỷ giá hối đoái đã làm dịch chuyển đầu tư từ TTCK sang thị trường hối đoái và ngược lại
Lãi suất thị trường là nhân tố tác động trực tiếp tới giá cả chứng khoán thông qua việc thay đổi mức lợi suất yêu cầu của các nhà đầu tư khi chấp nhận đầu tư vào chứng khoán đó Tuy nhiên, mức độ tác động của lãi suất vào giá trái phiếu và cổ phiếu lại khác nhau Lãi suất tác động trực tiếp tới giá trái phiếu khi lãi suất chiết khấu tăng (hoặc giảm) Còn đối với cổ phiếu, quan hệ giữa lãi suất và giá không phải là mối quan hệ trực tiếp và hoàn toàn một chiều Mức độ ảnh hưởng của lãi suất lên giá cổ phiếu phụ thuộc vào nguyên nhân gây ra thay đổi đó và mức độ tác động của thay đổi này lên dòng thu nhập tương lai của cổ phiếu
Trang 40Bài 3: THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU (THE BOND MARKET)
3.1 Khái niệm về thị trường trái phiếu
Thị trường trái phiếu là thị trường phát hành và giao dịch các loại trái phiếu theo quy định của pháp luật Vì là một bộ phận của thị trường chứng khoán nên thị trường trái phiếu cũng có hai thị trường chính:
Thị trường sơ cấp
Thị trường sơ cấp: Là nơi phát hành lần đầu trái phiếu ra công chúng, tạo vốn cho đơn vị phát hành và chỉ tạo ra phương tiện huy động vốn Tại thị trường này, giá cả của trái phiếu là giá phát hành Việc mua bán trái phiếu trên thị trường sơ cấp làm tăng vốn cho nhà phát hành Thông qua vìệc bán trái phiếu, Chính phủ có thêm nguồn vốn để tài trợ cho các dự án đầu tư hoặc chi tiêu của Chính phủ, các doanh nghiệp huy động vốn trên thị trường nhằm tài trợ cho các dự án đầu tư
Trái phiếu sẽ được phát hành trên thị trường sơ cấp qua nhiều phương thức khác nhau như bảo lãnh phát hành, đấu thầu… Nguồn cung cấp chủ yếu cho thị trường này là tiết kiệm của công chúng, của một số tổ chức tài chính và phi tài chính Vai trò của thị trường sơ cấp là tạo hàng hóa cho thị trường giao dịch và làm tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế
Thị trường thứ cấp
Thị trường thứ cấp: Là thị trường giao dịch, mua bán, trao đổi các loại trái phiếu đã được phát hành nhằm mục đích kiếm lời, di chuyển vốn đầu tư hay di chuyển tài sản xã hội Trên thị trường thứ cấp các nhà bảo lãnh phát hành và các nhà giao dịch trên thị trường sơ cấp không còn đóng vai trò chào bán chứng khoán Thay vào đó, các trái phiếu được mua bán giữa các nhà đầu tư và tổ chức đầu tư thông qua các nhà môi giới và kinh doanh chứng khoán
Sự tồn tại của một thị trường thứ cấp năng động sẽ có tác dụng làm cho trái phiếu có tính thanh khoản cao Như vậy, trái phiếu sẽ trở nên hấp dẫn hơn đối các nhà đầu tư và giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp
Tương quan giữa thị trường trái phiếu sơ cấp và thị trường thứ cấp:
Thị trường trái phiếu sơ cấp và thị trường thứ cấp có những đặc điểm khác nhau cơ bản về nội dung, mục đích hoạt động và tính chất thị trường Ở thị trường
sơ cấp nguồn vốn tiết kiệm được thu hút vào công cuộc đầu tư phát triển kinh tế và vốn mới thật sự vận động từ người tiết kiệm sang người đầu tư Còn ở thị trường thứ cấp, việc huy động không tăng quy mô đầu tư vốn, không thu hút thêm được nguồn tài chính mới mà chỉ có tác dụng phân phối lại quyền sở hữu chứng khoán từ