1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

sâu đục hột xoài deanolis albizonalis: sự gây hại và qui trình phòng trị tổng hợp

8 521 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 101,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2 Một số biện pháp phòng trị sâu đục hột xoài Hiệu quả của biện pháp bao trái và một số loại thuốc thuốc hóa học đối với sự gây hại của Sâu đục hột xoài.. Để khảo sát hiệu quả của biệ

Trang 1

SÂU ĐỤC HỘT XOÀI Deanolis albizonalis: SỰ GÂY HẠI VÀ

QUI TRÌNH PHÒNG TRỊ TỔNG HỢP

Nguyễn Thị Thu Cúc, Trần Văn Khải,Võ Hùng Nhiệm

Trần Trường Giang, Nguyễn Trọng Nhâm

Bộ môn Bảo vệ Thực vật Khoa Nông nghiệp

ABSTRACT

Some studies on seed borer Deanolis albizonalis and its control: The damage caused by Deanolis albizonalis and also the distribution, morphlogy, biology and ecology of this mango seed borer were studied during the period of 1995-2000 in the Mekong Delta of Vietnam The results showed that D albizonalis is one of two most important insects damaging on mangos This insect is present on every mango cultivated areas and on all species of Mango in the Mekong Delta of Vietnam More than 90% farmers must use a lot of insecticides to deal with D albizonalis The results also showed that for controlling this insect, the use of fruit wrapping was efficient not only for D.albizonalis but in preventing the infection of many diseases on fruit From all the results, the authors proposed one control method in the way of IPM conception for D.albizonalis in the Mekong Delta of Vietnam

Trong các loại côn trùng gây hại quan trọng nhất trên cây Xoài tại ĐBSCL thì

Sâu đục hột xoài Deanolis albizonalis là một trong hai nhóm đối tượng gây hại

quan trọng nhất trên xoài hiện nay Loài này đã được phát hiện bởi Bộ môn Bảo

vệ Thực vật, Trường Đại học Cần Thơ vào năm 1995 tại Cần Thơ, sau đó là trên nhiều địa bàn trồng xoài khác của ĐBSCL Để đánh giá đúng mức vai trò gây hại của loại này đồng thời xác định các biện pháp đối phó một cách cụ thể với loại này, cũng ngay từ năm 1995, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu về các đặc điểm hình thái, gây hại và biện pháp phòng trị loại này trong điều kiện vùng ĐBSCL

1 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP

Đề tài được tiến hành theo phương pháp điều tra nông dân và điều tra trực tiếp ngoài đồng Công tác điều tra được tiến hành nhiều đợt trong các vụ trái từ năm

1995 đến 2000 trên tổng số 150 hộ trồng Xoài, công tác điều tra được tập trung chủ yếu tại 3 tỉnh Tiền Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ và được bổ sung (không định

kỳ) tại các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh và Đồng Tháp

Trang 2

1.1 Tình hình phân bố và các đặc điểm có liên quan đến sự gây hại, sự phát triển và biến động của sâu đục hột xoài trong tự nhiên

- Nội dung điều tra nông dân: Điều tra về sự ghi nhận và đánh giá của nông dân

về tầm quan trọng của Sâu đục hột xoài và biện pháp phòng trị

- Điều tra trực tiếp ngoài vườn: Nhằm mục đích theo dõi thời điểm và mức độ

gây hại của Sâu đục hột xoài, công tác điều tra được thực hiện trong suốt giai đoạn phát triển của trái

- Chỉ tiêu theo dõi: Thời gian gây hại, mức độ gây hại (% hiện diện và số cây bị nhiễm tb/vườn)

1.2 Một số biện pháp phòng trị sâu đục hột xoài

Hiệu quả của biện pháp bao trái và một số loại thuốc thuốc hóa học đối với sự gây hại của Sâu đục hột xoài

Để khảo sát hiệu quả của biện pháp bao trái và một số loại thuốc hóa học đối với sự gây hại của Sâu đục hột xoài, chúng tôi đã tiến hành 2 thí nghiệm, thí nghiệm 1 nhằm so sánh hiệu quả của việc sử dụng thuốc định kỳ với biện pháp bao trái và thí nghiệm 2 nhằm mục đích so sánh hiệu quả của một số loại bao, dùng để bao trái Thí nghiệm 1 được thực hiện tại ấp Hòa Thuận-xã Hòa An-thị

xã Cao Lãnh-tỉnh Đồng Tháp, trên Xoài Bưởi Thí nghiệm 2 được thực hiện tại xã Tân Phú Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Cần Thơ trên xoài Cát chu Cã hai vườn đều là những vườn thường xuyên bị nhiễm Sâu đục hột

Thí nghiệm 1: Thí nghiệm được tiến hành trên vườn Xoài Bưởi (ghép), đã cho

trái được 3 năm, cây cao khoảng 4 m, trên diện tích 3.000 m2 Thí nghiệm được

bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 lần lặp lại, bao gồm các nghiệm thức sau:

Nghiệm thức 1: Phun định kỳ 7 ngày/ lần, không sử dụng chất bám dính

(phun 7 lần, luân phiên 2 loại thuốc Cypermethrin và Diazinon)

Nghiệm thức 2: Phun định kỳ 7 ngày/ lần, có sử dụng chất bám dính

(phun 7 lần, luân phiên 2 loại thuốc Cypermethrin và Diazinon)

Nghiệm thức 3: Phun định kỳ 14 ngày/ lần, không sử dụng chất bám

dính (phun 4 lần, luân phiên 2 loại thuốc Cypermethrin và Diazinon)

Nghiệm thức 4: Phun định kỳ 14 ngày/ lần, có sử dụng chất bám dính

(phun 4 lần, luân phiên 2 loại thuốc Cypermethrin và Diazinon)

Nghiệm thức 5: Bao trái bằng giấy dầu có kích thước 20x30 cm

Nghiệm thức 6: Bao trái bằng bọc nylon (20x30 cm) có đục lỗ nhỏ

đường kính lỗ trung bình 0,2 cm

Nghiệm thức 7: Đối chứng không phun thuốc

Ghi chú:

Trang 3

− Thuốc Cypermethrin 25 EC (15 cc/ 8 lít), Diazinon 50 EC (10 cc/ 8 lít)

− Thuốc bám dính: Sử dụng thuốc TOBA của Công ty Thuốc trừ sâu Sài Gòn Bao trái khi trái trong khoảng 45 ngày tuổi Mỗi một nghiệm thức gồm 4 cây xoài, kích thước mỗi lô 400m2 Thuốc được

sử lý khi xoài tượng trái được 45 ngày đến trước khi thu hoạch 14 ngày Sử dụng máy phun để phun thuốc, mỗi lần phun khoảng 5 lít nước/cây Trong quá trình thí nghiệm, xử lý thuốc bệnh và thuốc kích thích tăng trưởng trái, định kỳ 7 ngày/lần như: Anvil, Bavistin, Antracol, Cantop, Cadazol, Atonk

Thí nghiệm 2: Bố trí thí nghiệm tương tự như thí nghiệm 1, với 5 nghiệm

thức:

Nghiệm thức 1: bao giấy dầu

Nghiệm thức 2: bao vải mùng

Nghiệm thức 3: bao bọc nylon có đục lỗ

Nghiệm thức 4: bao giấy keo vải

Nghiệm thức 5: đối chứng không bao trái

2 KẾT QUẢ THẢO LUẬN

2.1 Tình hình phân bố và các đặc điểm có liên quan đến sự gây hại, phát triển

và biến động của Sâu đục hột xoài Deanolis albizonalis (Hampson) trong

tự nhiên

2.1.1 Tình hình phân bố tại Đồng Bằng sông Cửu Long

Kết quả điều tra ghi nhận loại này hiện diện trên khắp các địa bàn trồng xoài tại ĐBSCL, tập trung cao ở những vùng trồng xoài trọng điểm như Tiền Giang,

Đồng Tháp và Cần Thơ

Một số đặc điểm về hình thái

Thành trùng là một loại bướm đêm Có kích thước trung bình, chiều ngang khi căng cánh dài khoảng 25-28 mm Thành trùng có đầu, ngực, bụng mầu nâu đỏ rất đặc biệt Dọc theo phía mép của cánh trên và cánh dưới có những băng sậm mầu, rìa mép băng gấp khúc theo đường zizac, cánh trước mầu nâu, cánh sau mầu xám trắng Thân (gồm cả phần bụng) có những khoang trắng, đỏ xem kẽ nhau rất đặc biệt Trứng hình bầu dục, có kích thước 0,51 x 0,69 Ấu trùng từ T1 đến T6 đều có những khoang trắng đõ xen kẽ nhau Khi phát tiển đầy đủ, sâu dài khoảng 20-22 mm Nhộng có kích thước 11-12 mm, lúc đầu có mầu vàng lợt, dần dần

chuyển sang mầu vàng nâu

Một số đặc điểm sinh học và gây hại

Trứng được đẻ trên trái xoài non (khoảng 30 đến 45 ngày sau khi tượng trái, đường kính trái khoảng 3-4 cm) và kéo dài cho đến khi thu hoạch Khi trái bị Sâu

Trang 4

đục, ở phần chóp trái có một chất lỏng tiết ra từ vết đục Nơi vết đục sẽ nhanh chóng hình thành một chấm đen, thường có đường kính từ 1-2 cm Thời gian ủ trứng kéo dài khoảng từ 3-4 ngày, giai đoạn ấu trùng từ 14 đến 20 ngày Ấu trùng T1 và T2 thường ăn phần thịt trái, đến các tuổi lớn hơn (T3, T4, T5, T6) Sâu tấn công chủ yếu phần hột Các đường đục sẽ tạo điều kiện cho nấm, vi khuẩn, ruồi phát triển làm cho trái xoài có thể bị thối nhanh chóng ở phần chóp trái

Triệu chứng thối do D albizonalis gây ra rất giống như trái bị bệnh thối do

nấm gây ra Khi ăn hết phần hột, sâu sẽ di chuyển sang trái lân cận để tiếp tục ăn phá Khi bị đục, phần chóp trái có thể bị biến dạng, phần này có thể bị cong lại Nếu bị nhiễm nặng, năng suất có thể bị giảm đến 50% Khi bị tấn công vào giai đoạn trái nhỏ, trái sẽ bị rụng Vào giai đoạn trái lớn, mặc dù bị thối ở phần chóp của trái và phần thối này có thể chiếm trên phân nữa trái nhưng trái vẫn có thể vẫn còn dính trên cây

Tại những vườn bị nhiễm nặng, thường có nhiều trái non bị rụng quanh gốc xoài, quan sát bên trong trái sẽ thấy sự hiện diện của sâu Trong quá trình gây hại, sâu thải đầy phân trong những đường đục trong trái, đường kính của đường đục lớn dần theo tuổi của sâu Sâu tấn công ở khắp các giai đoạn phát triển của trái nhưng sâu rất thích tấn công khi trái còn non, hột trái còn mềm hơn là trên những trái già mà hột đã bắt dầu cứng

Triệu chứng xuất hiện rộ khi trái gần "cứng bao đầu" Thường trong mỗi trái

có từ 1-2 con nhưng vào những lúc bị nhiễm nặng có thể ghi nhận có 4-5 sâu trong cùng một trái Sau khi hoàn thành giai đoạn phát triển ấu trùng, sâu rơi xuống đất

để hóa nhộng trong một cái kén bằng tơ và đất Giai đoạn nhộng kéo dài từ 9-14 ngày Thành trùng có thể sống trong khoảng 8-9 ngày Thành trùng hoạt động chủ yếu về đêm, ban ngày ẩn trốn dưới các lá cây Thành trùng thích đẻ trứng trên những trái khuất ánh sáng

2.1.2 Tầm quan trọng kinh tế

Kết quả điều tra ghi nhận Sâu đục trái là một đối tượng gây hại rất quan trọng

trên Xoài tại Tiền Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ Sâu hiện diện trên 90% vườn điều tra, sâu có thể tấn công đến 100% số cây trong vườn và có thể làm thiệt hại năng suất đến 100% Tại ĐBSCL, sâu gây hại trên tất cả giống xoài, rất quan trọng trên Xoài cát và Xoài Bưởi Loại này hiện diện suốt năm, tập trung từ tháng

1 đến tháng 5 (xoài chính vụ) và từ tháng 11, tháng 12, tháng 1 và tháng 2 (trên

xoài trái vụ) D albizonalis được xem là đối tượng gây hại quan trọng trên xoài

tại Ấn Độ (Butani, 1993, Zaheruddeen và Sujatha, 1993) Loại này có thể làm thiệt hại đến 50% sản lượng xoài tại Guimaras (Golez 1977; Tipon, 1198) và là loài phổ biến tại Phi Luật Tân (Golez, 1986) Sâu là đối tượng kiểm dịch thực vật của nước Úc

Trang 5

2.2 Hiệu quả của biện pháp bao trái và một số loại thuốc hóa học đối với sự gây hại của Sâu đục hột xoài

2.2.1 Thí nghiệm 1

Ghi nhận chung về tình hình sâu hại

Trong suốt thời gian thí nghiệm, Sâu đục hột hiện diện khá cao, có tỷ lệ trái bị nhiễm tối đa trên nghiệm thức đối chứng không xử lý thuốc, với tỷ lệ trái bị nhiễm

là 32,4% Ngoài sâu đục hột, vào thời điểm này bệnh da ếch xuất hiện trên trái

khá cao, hiện diện gần như 100% số cây trên vườn khảo sát

Tình hình dịch hại trên các lô thí nghiệm

Vào thời điểm quan sát 30 ngày sau khi bố trí thí nghiệm (đã phun thuốc trừ sâu được 4 lần), ghi nhận tỉ lệ sâu đục trái cao nhất ở lô đối chứng không xử lý thuốc (tỷ lệ bị nhiễm là 25%), tuy nhiên không có sự khác biệt rõ nét giữa các nghiệm thức NT1, NT2, NT3, NT4 và đối chứng Trên các nghiệm thức có bao trái (NT5 và NT6) hoàn toàn không ghi nhận có trái bị nhiễm sâu đục trái

Bảng 1: Hiệu quả của một số biện pháp phòng trị Sâu đục hột xoài Deanolis

albizonalis (Đồng Tháp-1999)

% SÂU ĐỤC TRÁI

(đã phun thuốc 4 lần)

45 NSKBTTN (đã phun thuốc 6 lần)

NT1 Thuốc xử lý định kỳ 7 ngày/lần + bám dính* 16,6 a 18,3 b

NT3 Thuốc xủ lý định kỳ 14 ngày/lần+ bám dính * 24,1 a 27,4 ab

Trong cùng một cột, những số có cùng một chữ theo sau, không khác biệt ý nghĩa 5 %

NSKBTTN: ngày sau khi bố trí thí nghiệm

* Thuốc Cypermethrin 15 cc/ 8 lít, **Không xử lý thuốc

Vào 45 ngày sau khi bố trí thí nghiệm (cây đã được sử lý thuốc 7 lần), kết quả khảo sát cũng ghi nhận không có sự khác biệt về tỷ lệ trái bị nhiễm giữa NT1, NT2, NT3 và NT4 Tuy nhiên có sự khác biệt rõ nét giữa NT1 và NT2 so với đối chứng Và cũng tương tự như ở lần quan sát thứ nhất, hoàn tòan không ghi nhận

có Sâu đục trái trên các nghiệm thức bao trái

Nhìn chung: Tỷ lệ trái bị nhiễm đều gia tăng ở lần quan sát thứ 2 so với lần quan sát thứ nhất Nghiệm thức bao trái hoàn toàn không có sự hiện diện của Sâu đục trái và không có sự khác biệt rõ nét về tỷ lệ nhiễm trên các nghiệm có sử dụng chất bám dính hay không có chất bám dính

Trang 6

Mặc dù giữa các nghiệm thức xử lý thuốc ở các thời gian khác nhau không khác biệt rõ nét tuy nhiên nghiệm thức sừ lý thuốc 7 ngày một lần khác biệt rõ nét

so với đối chứng Biện pháp bao trái tỏ ra có hiệu quả rất cao đối với sâu đục trái xoài Đối với nghiệm thức này, kết quả còn ghi nhận trái rát ít bị nhiễm bệnh da ếch và màu sắc nhìn chung cũng rất đẹp so với trái ở các nghiệm thức khác

Với phương pháp phun định kỳ 7 và 14 ngày/lần, thuốc Cypermethrin có hiệu quả kém đối với Sâu đục trái

2.2.2 Thí nghiệm 2: Hiệu quả của một số loại bao có chất liệu khác nhau đối với

sự gây hại của sâu đục hột

Năm 1999, chúng tôi có tiến hành so sánh hiệu quả bao trái của các loại bao

có chất liệu khác nhau (bao giấy dầu, bao nylon có đục lổ, vải mùng và vải giấy

keo) đối với dự gây hại của Deanolis albizonalis Thí nghiệm được bố trí tương tự

như thí nghiệm 1 và được thực hiện tại xã Tân Phú Thạnh huyện Châu Thành tỉnh Cần Thơ Kết quả khảo sát ghi nhận cả 4 loại bao đều cho hiệu quả rất tốt, hoàn

toàn không bị nhiễm Deanolis albizonalis (so với đối chứng, trái bị nhiễm là

12,5%), độ lớn và trọng lượng trái hoàn toàn không bị ảnh hưởng do việc bao trái Tuy nhiên trong 4 loại bao này thì bao giấy keo vải có hiệu quả cao nhất, trái có mầu sắc, đẹp, tỷ lệ bị nhiễm bệnh (nấm bồ hóng, da ếch, ) cũng rất thấp nhất so với đối chứng Có thể do đặc điểm của bao là khô rất nhanh khi trời bị mưa nên

ẩm độ trong bao không bị cao như các loại khác, bao lại nhẹ nên ít bị ảnh hưởng đến cuống trái và mặc dù rất kín (nên ngăn ngừa được sự xâm nhập của các nấm bệnh trên trái) nhưng bao có mầu sáng (trắng) và nhiều lỗ nhỏ (rất nhỏ) nên độ thoáng mát trong trái cũng cao và không ngăn cản tác động chiếu sáng nên không ảnh hưởng đến mầu sắc của trái

3 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

Sâu đục hột là một đối tượng gây hại quan trọng hiện nay trên xoài, loài này hiện diện trên khắp các địa bàn trồng xoài tại ĐBSCL, gây hại trên tất cả các giống xoài như Xoài cát (các loại), Xoài Bưởi, Xoài Thanh ca, Xoài Đu đủ, Xoài Gòn, ., 90% nông dân trồng xoài tại ĐBSCL đã phải dùng thuốc hóa học để đối phó với loại này Biện pháp bao trái xoài tỏ ra có hiệu quả rất cao, trái được bao hoàn toàn không bị nhiễm Sâu đục hột, đồng thời tỷ lệ nhiễm bệnh cũng rất thấp so với đối chứng, trong các loại bao sử dụng thì bao bằng giấy vải keo áo có hiệu quả cao nhất Dựa trên các đặc điểm sinh học, sinh thái và hiệu quả của một số biện pháp phòng trị, chúng tôi xin đề nghị một số biện pháp phòng trị tổng hợp Sâu đục hột

như sau:

- Mạnh dạn loại bỏ những trái đã có bị nhiễm vẫn còn trên cây hay đã rớt xuống đất Những trái này sau đó phải được chôn sâu dưới đất để diệt sâu nằm trong trái hoặc sau đó nhộng có vũ hóa, bướm cũng không thể chui ra khỏi đất để đẽ trứng và tiếp tục gây hại

Trang 7

- Nếu có thể sau khi thu hoạch xong cho ngập nước vườn khoảng 36-48 giờ để diệt nhộng trong đất nhằm hạn chế sự tái bộc phát cho vụ kế tiếp

- Trong những vùng thường xuyên bị nhiễm sâu đục hột (trái), nếu cây thấp nên

sử dụng biện pháp bao trái, đây là một biện pháp rất hữu hiệu để phòng ngừa

sự gây hại không những của sâu đục hột (trái) mà còn hạn chế được bệnh da lu,

da cám, ruồi đục trái và bệnh thán thư trên trái trên trái Để bao trái nên sử dụng bao bằng giấy vải keo áo, trong trường hợp không có loài bao này có thể

sử dụng các loại bao như bao giấy dầu, bao bằng vải mỏng, nhẹ, mầu sáng

- Bằng biện pháp bao trái, trái có mầu sắc đẹp, hoàn toàn không bị nhiễm các loại côn trùng đục trái, tỷ lệ bị nhiễm bệnh cũng rất thấp, độ lớn và trọng lượng trái hoàn toàn không bị ảnh hưởng do việc bao trái Biện pháp này tỏ ra rất có hiệu qủa kinh tế và rất thích hợp cho những vườn xoài có xén tỉa không để xoài mọc quá cao và trong những vườn có tuổi khoảng 10 năm trở lại

- Giai đoạn bao trái có thể được tiến hành khi trái đã qua giai đoạn rụng sinh lý trong khoảng 40-45 ngày tuổi Tuần lễ trước khi bao trái nên phun thuốc trừ sâu và cả thuốc trừ bệnh để ngừa sâu và bệnh trước khi bao trái xoài

- Trường hợp không thể bao trái, có thể sử dụng thuốc để phòng trị, do thành trùng có thể đến đẽ trứng trên trái vào suốt thời gian phát triển của trái vì vậy cần phun thuốc 10 ngày một lần, nên thăm vườn thường xuyên, nếu phát hiện

có => 5% trái bị nhiễm trên tổng số trái trên cây thì tiến hành phun thuốc Cần phát hiện sự gây hại sớm để có biện pháp phòng trị kịp thời (quan sát phần chóp trái) Nếu phun thuốc kịp thời có thể diệt sâu vừa mới đục vào trong trái Trong trường hợp này thì vết đục sẽ thành thẹo và sau đó sẽ mất đi trong quá trình phát triển của trái

TÀI LIỆU THAM KHẢO

CABPEST CD, 1978-1988 và CABPEST CD, 1989-1999

Golez H.G ,1986 Bionomics and control of the Mango seed borer Nooda

albizonalis Hampson (Pyralidae- Lepidoptera) Ph D Thesis - University

of the Philippines at Los Banos

Handbook on Mango Farm care and management, 1996 Thai-german

Integrated Pest management in selected fruit trees project

Nguyễn Thị Thu Cúc, 1998 Thành phần và tầm quan trọng của các loại côn trùng hiện diện phổ biến trên Cam Quít, Sầu riêng, Nhãn, Xoài tại một số tỉnh vùng ĐBSCL.Trong "The first symposium on fruit production in the Mekong Delta Focussing on the integrated pest management", Cần Thơ University, 25 th, February, p:71-76

Nguyễn Thị Thu Cúc, Nguyễn Văn Hùng, Lê Quốc Điền, 1998 Tình hình sử dụng thuốc trừ sâu trên cây ăn trái tại một số tỉnh vùng ĐBSCL, Trong

"The first symposium on fruit production in the Mekong Delta Focussing

on the integrated pest management", Cần Thơ University, 25 th, February, 4 trang

Trang 8

Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000 Côn trùng và Nhện gây hại cây ăn trái vùng ĐBSCL và biện pháp phòng trị Nhà xuất bản Nông nghiệp, Tp Hồ Chí Minh, 342 trang

Srivastava RP, 1997 Mango insect pest management 1997, Ed 1, 272 pp Srivastava R.P Recent advances on key pest of mango and their management

In "Recent advances in Entomology" Page: 384-407

Ngày đăng: 29/10/2015, 22:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Hiệu quả của một số biện pháp phòng trị Sâu đục hột xoài Deanolis - sâu đục hột xoài deanolis albizonalis: sự gây hại và qui trình phòng trị tổng hợp
Bảng 1 Hiệu quả của một số biện pháp phòng trị Sâu đục hột xoài Deanolis (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w