Kết quả thực hiện Chỉ thị số 08/2006/CT-TTg ngày 08/3/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp cấp bách ngăn chặn tình trạng chặt phá, đốt rừng, khai thác rừng trái
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG VĂN VÂN
TỘI HỦY HOẠI RỪNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG VĂN VÂN
TỘI HỦY HOẠI RỪNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS TRẦN VĂN LUYỆN
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu thống kê, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính thực tiễn, chính xác, trung thực và tin cậy Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác, tôi đã hoàn thành tất cả các môn học theo chương trình và thực hiện tất cả các nghĩa vụ
về tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại Học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét để tôi có thể bảo vệ luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Hoàng Văn Vân
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
Danh mục các bảng thống kê, biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI HỦY HOẠI RỪNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 6
1.1 Nhận thức chung về tội phạm hủy hoại rừng 6
1.1.1 Khái niệm tội phạm hủy hoại rừng 6
1.1.2 Ý nghĩa của việc quy định tội hủy hoại rừng trong luật hình sự 13
1.2 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của quy phạm pháp luật về quản lý và bảo vệ rừng 16
1.2.1 Giai đoạn sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS năm 1985 16
1.2.2 Giai đoạn từ khi ban hành BLHS năm 1985 đến trước khi ban hành BLHS năm 1999 18
1.2.3 Giai đoạn từ khi ban hành BLHS năm 1999 đến nay 20
1.3 Phân biệt tội hủy hoại rừng với một số tội phạm khác 22
1.3.1 Phân biệt tội hủy hoại rừng với tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng theo quy định tại Điều 175 BLHS 22
1.3.2 Phân biệt tội hủy hoại rừng với tội vi phạm các quy định về quản lý rừng theo quy định tại Điều 176 BLHS 27
1.4 Nghiên cứu so sánh pháp luật hình sự Việt Nam với pháp luật một số nước quy định về tội hủy hoại rừng 28
1.4.1 Nghiên cứu so sánh pháp luật hình sự Việt Nam với pháp luật hình sự Liên Bang Nga 28
1.4.2 Nghiên cứu so sánh pháp luật hình sự Việt Nam với pháp luật hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 30
Kết luận Chương 1 32
Chương 2:TỘI HỦY HOẠI RỪNG TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 34
Trang 52.1 Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng và đường lối xử lý hình sự đối với tội
hủy hoại rừng theo Điều 189 Bộ luật hình sự năm 1999 34
2.1.1 Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội hủy hoại rừng quy định tại Điều 189 BLHS 34
2.1.2 Đường lối xử lý tội hủy hoại rừng 43
2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định về tội hủy hoại rừng trong Bộ luật hình sự năm 1999 52
2.2.1 Khái quát chung về tỉnh Đắk Lắk 52
2.2.2 Kết quả hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk về tội hủy hoại rừng 55
2.3 Những hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân trong thực tiễn xét xử tội hủy hoại rừng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 58
2.3.1 Hạn chế thiếu sót khi xét xử trong trường hợp có tình tiết định khung hình phạt 58
2.3.2 Hạn chế, thiếu sót trong quyết định hình phạt 73
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót trong thực tiễn áp dụng các quy định về tội hủy hoại rừng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 83
Kết luận Chương 2 86
Chương 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI HỦY HOẠI RỪNG 87
3.1 Nhu cầu và quan điểm hoàn thiện các quy định pháp luật về tội hủy hoại rừng và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật 87
3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật quy định về tội hủy hoại rừng 96
3.2.1 Hoàn thiện các quy định về tội hủy hoại rừng trong Bộ luật hình sự 96
3.2.2 Kiến nghị sửa thông tư liên tịch số 19 hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo về rừng và quản lý lâm sản 97
3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về tội hủy hoại rừng 98
Kết luận Chương 3 104
KẾT LUẬN 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
PHỤ LỤC 111
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLHS: Bộ luật hình sự TTLT: Thông tư liên tịch
Trang 7DANH MỤC BẢNG THỐNG KÊ, BIỂU ĐỒ
Số hiệu bảng,
biểu đồ Tên bảng, biểu đồ Trang
Bảng 2.1 Thống kê diện tích rừng của tỉnh Đắk Lắk bị phá giai
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, đất nước ta đã đạt nhiều thành tựu to lớn, quan trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, cùng với thành tựu chung đó là hệ thống pháp luật hình sự nước ta ngày càng tiến bộ, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm Các quy định cũng từng bước hoàn thiện và phát triển, trong đó có các quy định tội phạm về môi trường nói chung
và tội hủy hoại rừng nói riêng Từ xưa đến nay, rừng được xem là lá phổi của thế giới, có vai trò vô cùng quan trọng trong việc điều hòa khí hậu, giữ cân bằng sinh thái, môi trường, ổn định khí hậu toàn cầu, góp phần ngăn chặn, hạn chế hậu quả khốc liệt do thiên tai gây ra Mặc dù rừng có vị trí vai trò quan trọng như vậy nhưng hiện nay tình trạng chặt, đốt phá, hủy hoại rừng đã, đang và diễn biến ngày càng phức tạp, gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng, tiềm ẩn những nguy cơ làm suy vong hệ sinh thái trong hiện tại cũng như trong tương lai, làm mất cân bằng sinh thái, đa dạng sinh học, ảnh hưởng đến môi trường sống của con người, vấn đề phát triển kinh tế, xã hội trên toàn thế giới, từng khu vực nói chung và từng quốc gia trong đó có Việt Nam
Ở Việt Nam, nếu như trước đây với 3/4 diện tích là rừng thì hiện nay đã suy giảm nhiều, riêng địa bàn tỉnh Đắk Lắk là tỉnh có diện tích rừng lớn nhất cả nước, nhưng hiện nay tình trạng chặt phá, đốt rừng, hủy hoại rừng vẫn diễn biến phức tạp, trong giai đoạn 2009 - 2014 trên địa bản tỉnh đã phát hiện 173 vụ vi phạm luật bảo
vệ và phát triển rừng [37] trong đó số vụ án đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự, khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử theo thống kê của Văn phòng - Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk là 49 vụ, diện tích rừng bị lấn chiếm trái phép theo thống kê của Cục kiểm lâm tỉnh khoảng 12.000 ha [37] Trên thực tế, những hành vi hủy hoại rừng vẫn diễn ra
và ngày càng gia tăng, với những hậu quả ngày càng nghiêm trọng, tình hình hủy hoại rừng vẫn còn tiếp diễn ở nhiều nơi, trên địa bàn tỉnh vẫn còn tồn tại một số
“điểm nóng” về hủy hoại rừng như: Vùng biên giới, các huyện Ea Súp, Ea H’Leo,
Trang 9Krông Bông, M’đrắk, Buôn Đôn Việc điều tra, thống kê phân loại các đối tượng hủy hoại rừng đã được thực hiện nhưng chưa xử lý, giải quyết triệt để, tình trạng đốt, chặt phá rừng, khai thác rừng trái phép diễn biến phức tạp mặc dù cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã có sự kiểm tra, giám sát, thực hiện các biện pháp ngăn chặn, đấu tranh cũng như các quy định các biện pháp từ xử phạt vi phạm hành chính đến truy cứu trách nhiệm hình sự Kết quả thực hiện Chỉ thị số 08/2006/CT-TTg ngày 08/3/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp cấp bách ngăn chặn tình trạng chặt phá, đốt rừng, khai thác rừng trái phép; Chỉ thị số 12/2003/CT-TTg ngày 16/5/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng; Chỉ thị 1685/2011/CT-TTg ngày 27/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã thu được nhiều kết quả, song vẫn tồn tại không ít những khó khăn, vướng mắc trong việc thi hành pháp luật hình sự cũng như các quy định của pháp luật chuyên ngành trong việc phát hiện, xử lý kịp thời, đấu tranh phòng, chống và đẩy lùi tội phạm hủy hoại rừng, góp phần vào công cuộc bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá của đất nước Trước tình trạng diễn biến phức tạp, mạnh mẽ của những hành vi hủy hoại rừng trong khi vấn đề áp dụng pháp luật, chế tài hình sự đối với loại tội phạm này còn hạn chế, đặt ra vấn đề cần nghiên cứu về việc áp dụng pháp luật, phương hướng hoàn thiện pháp luật liên quan góp phần đấu tranh phòng ngừa,
xử lý tội phạm hủy hoại rừngtrên địa bàn tỉnh Đắk Lắk Vì vậy, tác giả đã lựa chọn
đề tài “Tội hủy hoại rừng trong luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực
tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)”làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học
Trang 10Luận văn Thạc sĩ luật học “Tội hủy hoại rừng” trong luật hình sự Việt Nam
của tác giả Lê Thị Phương Minh, Hà Nội, năm 2013 v.v
Các công trình đã nghiên cứu, khái quát một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc áp dụng pháp luật về tội hủy hoại rừng, nhưng nghiên cứu ở góc độ phòng ngừa tội phạm hoặc tội phạm học, không nghiên cứu áp dụng ở địa bàn tỉnh Đắk Lắk Cho đến nay, trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk chưa có công trình nghiên cứu về
đề tài tội hủy hoại rừng Do vậy, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu cụ thể, đầy đủ, rõ ràng, để có luận cứ khoa học cho việc đưa ra những kiến nghị, các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và giải pháp góp phần đấu tranh, phòng chống, ngăn ngừa, xử lý có hiệu quả tội phạm hủy hoại rừng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu về tội hủy hoại rừng trong luật hình sự Việt Nam trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:Những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn về tội
hủy hoại rừng trong luật hình sự Việt Nam, trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Các quy định của BLHS năm 1999 và thực tiễn áp dụng pháp luật về tội hủy hoại rừng, trên cơ sở số liệu thực tiễn về tội hủy hoại rừng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 2009 - 2014
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích của đề tài: Tập trung làm rõ những vấn đề lý luận, pháp lý và các
quy định của pháp luật liên quan đến tội hủy hoại rừng Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự xuất phát từ thực trạng, số liệu thực tiễn xét xử về tội hủy hoại rừng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, làm sáng tỏ các vấn đề về định tội danh, quyết định hình phạt khi xét xử tội hủy hoại rừng để tìm ra những hạn chế, thiếu sót và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về tội hủy hoại rừng và pháp luật chuyên ngành liên quan, nâng cao hiệu quả, chất lượng xét xử của Tòa án cũng như góp phần trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm này trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
Trang 114.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận liên quan đến tội
hủy hoại rừng trong luật hình sự Việt Nam như: Tìm hiểu lịch sử hình thành, phát triển của các quy phạm pháp luật về tội hủy hoại rừng; các dấu hiệu pháp lý đặc trưng; so sánh tội hủy hoại rừng với các tội phạm khác có liên quan
Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về tội hủy hoại rừng trong luật hình sự Việt Nam trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk; rút ra những hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về tội hủy hoại rừng trong đấu tranh phòng, chống tội phạm hủy hoại rừng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Đề tài là một công trình nghiên cứu vừa có ý nghĩa về mặt lý luận vừa có ý nghĩa về mặt thực tiễn trong đấu tranh phòng, chống tội phạm hủy hoại rừng:
Về mặt lý luận: Đề tài góp phần hoàn thiện quy định của tội hủy hoại rừng tại
Điều 189 BLHS năm 1999, đồng thời có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học pháp lý hình sự Việt Nam
Về mặt thực tiễn: Những kiến nghị, giải pháp nêu trong luận văn sẽ góp phần
nâng cao hiệu quả của công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm hủy hoại rừng,
đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho lực lượng điều tra, truy tố, xét xử tội phạm này trong cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk nói riêng
6 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Trên cơ sở nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm về môi trường nói chung và tội hủy hoại rừng nói riêng Các văn bản liên quan trong công tác chỉ đạo, phối hợp, đấu tranh phòng, chống các hành vi phạm tội hủy hoại rừng
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Trong đề tài đã sử dụng các phương
pháp nghiên cứu khoa học luật hình sự và tội phạm học như: Phương pháp thống kê hình sự, phương pháp phân tích và so sánh, phương pháp liệt kê, phương pháp chuyên gia, phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp đối chiếu, phương pháp
Trang 12chứng minh v.v Các phương pháp nghiên cứu nêu trên được sử dụng một cách đan xen, linh hoạt để tạo ra kết quả nghiên cứu của đề tài
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tội hủy hoại rừng trong luật hình sự
Việt Nam
Chương 2: Tội hủy hoại rừng trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 và
thực tiễn áp dụng
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp
dụng các quy định của luật hình sự Việt Nam về tội hủy hoại rừng
Trang 13Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ TỘI HỦY HOẠI RỪNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Nhận thức chung về tội phạm hủy hoại rừng
1.1.1 Khái niệm tội phạm hủy hoại rừng
Trong lịch sử phát triển của đất nước, ý thức về bảo vệ tài nguyên rừng được chú ý và quan tâm trong nửa cuối thế kỷ XX, khi hậu quả của việc tàn phá rừng ảnh hưởng nghiêm trọng đến tự nhiên, xã hội và con người, đặc biệt phải kể đến thiên tai hiện hữu như: Ô nhiễm đất, nước và không khí, lũ lụt, nạn sa mạc hóa, hiệu ứng nhà kính v.v Nguyên nhân chủ yếu là do rừng bị suy giảm, để đấu tranh có hiệu quả với những hành vi hủy hoại rưng, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp tích cực đem lại kết quả bước đầu, khả quan, việc bảo vệ rừng là yếu tố quan trọng đóng góp cho sự phát triển thịnh vượng, lâu dài, vững chắc của đất nước nhưng vẫn còn những tồn tại, vướng mắc, tình trạng hủy hoại rừng có chiều hướng diễn biến phức tạp, tính chất đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đặt ra nhiệm vụ hoàn thiện cơ chế bảo
vệ rừng có hiệu quả hơn Một trong những mắt xích chủ yếu, quan trọng của cơ chế này là chính sách hình sự áp dụng đối với những hành vihủy hoại rừng
Trong lịch sử lập pháp hình sự, BLHS năm 1985 chưa thể hiện rõ tính cấp bách và tầm quan trọng đặc biệt của việc đấu tranh với các hành vi xâm hại môi trường và hủy hoại rừng Điều này không chỉ thể hiện qua việc BLHS 1985 chưa dành riêng một chương cho các tội phạm về môi trường, mà được quy định gộp lại với những tội phạm khác như: Tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác và bảo vệ tài nguyên trong lòng đất, trong các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam (Điều 179); tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ đất đai (Điều 180); tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng (Điều 181), những tội phạm này trong BLHS 1985 được hiểu là những tội phạm kinh tế và xếp vào
Chương VII “các tội phạm về kinh tế” Tương tự như vậy, tội vi phạm các quy định
về bảo vệ và sử dụng danh lam, thắng cảnh (Điều 216) được hiểu là tội xâm phạm
Trang 14trật tự quản lý hành chính (mục C của Chương VIII) Cả BLHS 1985 chỉ có một điều duy nhất trực tiếp quy định trách nhiệm hình sự cho những hành vi xâm hại đến môi trường đó là tội vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 195) [12]
Nền tảng của chính sách hình sự về bảo vệ môi trường trong đó có tài nguyên rừng của Việt Nam đã được ghi nhận cụ thể trong Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp đã khẳng định việc bảo vệ môi trường là nhiệm vụ quan trọng của mọi
người và toàn xã hội: Cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức
xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và huỷ hoại môi trường (Điều 29) Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi năm 2013 xác định: Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường (Điều 43); Nhà nước
có chính sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu Nhà nước khuyến khích mọi hoạt động bảo
vệ môi trường và rừng, phát triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo; tổ chức, các nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và làm suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại(Điều 63) [22], từ những quy định nêu trên có thể thấy, Nhà nước ta
đã nhận thức một cách sâu sắc về tầm quan trọng của việc bảo vệ rừng
Chính sách hình sự của Việt Nam hiện hành quy định tội hủy hoại rừng tại Điều 189 của Chương XVII, của chương các tội phạm về môi trường, đây là một bước đột phá quan trọng khi xây dựng một chương riêng trong BLHS năm 1999 cho các tội phạm về môi trường,thể hiện quyết tâm đấu tranh với loại tội phạm này thông qua việc quy định hình phạt hết sức nghiêm khắc với mức hình phạt cao nhất lên đến 15 năm tù
Hành vi cấu thành tội phạm quy định tại Điều 189 của Chương XVII của BLHS là những hành vi xâm hại tài nguyên rừng, có tính nguy hiểm cho xã hội
Trang 15cao,những hành vi có tính nguy hiểm xã hội thấp hơn, chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ được xử lý bằng các biện pháp khác như áp dụng trách nhiệm hành chính Với diễn biến phức tạp của đời sống xã hội và tình hình tội phạm hủy hoại rừng, những hành vi xâm hại tài nguyên rừng sẽ được nghiên cứu thường xuyên góp phần hoàn thiện pháp luật hình sự
Từ những phân tích nhận định trên, thiết nghĩ cần phải có nhận thức chung nhất về hành vi hủy hoại rừng để đưa ra khái niệm về tội phạm hủy hoại rừng, chỉ ra tính chất, đặc trưng của tội phạm này đã được quy định tại Điều 189 của BLHS
Khái niệm tội phạm hủy hoại rừng:
Tội phạm hủy hoại rừng là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện có lỗi, xâm hại tài nguyên rừng làm cho rừng mất hoàn toàn giá trị hoặc làm suy giảm đáng kể giá trị của rừng
Qua khái niệm nêu trên có thể thấy những nội dung bao hàm trong khái niệm tội hủy hoại rừng gồm: Là tội phạm được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một trong các hành vi khách quan hủy hoại rừng (đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác), chủ thể thực hiện tội phạm có lỗi và gây thiệt hại về rừng đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, đi sâu phân tích sẽ giúp làm sáng tỏ nội dung khái niệm về tội hủy hoại rừng, cụ thể:
Tội hủy hoại rừng là tội phạm được tách từ tội vi phạm các quy định về quản
lý và bảo vệ rừng quy định tại Điều 181 BLHS năm 1985, do tính chất của hành vi
và thiệt hại do hành vi hủy hoại rừng gây ra nên nhà làm luật quy định hành vi hủy hoại rừng là tội phạm về môi trường
Quy định nêu trên với nội hàm chứa các dấu hiệu đặc trưng của loại tội phạm hủy hoại rừng, kết cấu quy định tại khoản 1 Điều 189 BLHS là liệt kê các hành vi
có thể thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm này Trong khoản này bao hàm các
nội dung như chủ thể thực hiện tội phạm là “người nào”, ở đây xác định bất kỳ
người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Trang 16theo quy định của BLHS khi vi phạm một trong các tội phạm được quy định trong BLHS, cụ thể ở đây là tội hủy hoại rừng
Trách nhiệm hình sự, là một dạng của trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp
lý bất lợi của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do BLHS quy định đối với người phạm tội Việc áp dụng trách nhiệm hình sự chính xác đối với người phạm tội có mục đích rất quan trọng, mang tính chất nhằm từng bước hạn chế, đẩy lùi và tiến tới thủ tiêu tình trạng phạm tội và những nguyên nhân làm phát sinh tội phạm Trách nhiệm hình sự là dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất so với bất kỳ dạng trách nhiệm pháp lý nào khác, phản ánh thái độ của Nhà nước đối với người thực hiện tội phạm bằng việc quy định các biện pháp cưỡng chế về hình sự để áp dụng đối với người thực hiện tội phạm, là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm, trách nhiệm hình sự chỉ phát sinh (xuất hiện) khi có sự việc phạm tội, không có việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị BLHS quy định là tội phạm thì không thể có trách nhiệm hình sự Trách nhiệm hình sự chỉ được thực hiện trong phạm vi của quan hệ pháp luật hình sự giữa hai bên với tính chất là hai chủ thể có các quyền và nghĩa vụ nhất định, một bên là Nhà nước, còn bên kia là người phạm tội [34], người thực hiện tội phạm hủy hoại rừng chính là người thực hiện những hành vi hủy hoại rừng, xâm phạm tài nguyên rừng làm mất hoàn toàn hoặc làm giảm đáng kể giá trị rừng sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự Một khi đặt ra vấn đề trách nhiệm hình sự cũng cần cân nhắc và đảm bảo hai khía cạnh là điều kiện cần và đủ để buộc một người thực hiện tội phạm phải chịu trách nhiệm hình sự khi người đó phạm vào một tội được quy định trong luật hình sự, đó là về năng lực trách nhiệm hình sự của chủ thể thực hiện tội phạm và độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Dưới góc độ lập pháp, tuổi chịu trách nhiệm hình sự không được ghi nhận chính thức như là một đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản của tội phạm trong Điều 8 BLHS, nhưng dấu hiệu này lại rất quan trọng, không thể thiếu trong yếu tố chủ thể của tội phạm bên cạnh dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự [34]
Trang 17Trên cơ sở cân nhắc sự phát triển về thể chất, khả năng nhận thức và các yếu
tố tâm, sinh lý, độ tuổi, cũng như xuất phát từ yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm và qua tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật của nước ta, BLHS hiện hành đã thể hiện quan điểm phân hóa trách nhiệm hình sự một cách cụ thể, đã phân loại tội phạm thành bốn loại: Tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng với các tiêu chí để phân loại bốn loại tội phạm bao gồm: Tính chất nguy hiểm cho xã hội, mức độ nguy hiểm cho xã hội và mức cao nhất của khung hình phạt (chế tài) Bên cạnh đó, cùng với việc phân loại tội phạm là quy định cụ thể về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại Điều 12 BLHS, như sau:
1 Người đủ từ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm
2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
Từ các phân tích trên, người thực hiện tội phạm hủy hoại rừng sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự, khi có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành tội phạm và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Trong BLHS hiện hành, không trực tiếp quy định vấn đề tình trạng có năng lực trách nhiệm hình sự, mà quy định tình trạng đối lập là tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự, đây là quy định đúng đắn, hợp lý, có tính thực tiễn cao Bởi
vì tình trạng có năng lực trách nhiệm hình sự là thuộc tính mang tính phổ biến và bao quát ở tất cả mỗi con người, đồng thời tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự lại mang tính đơn lẻ và không phổ biến, dưới góc độ được thừa nhận chung thì tình trạng có năng lực chịu trách nhiệm hình sự được hiểu là khả năng của một người tại thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội hoàn toàn nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi và điều khiển được hành vi do mình thực hiện [34] Xuất phát từ nhận thức này thì người thực hiện hành vi hủy hoại rừng, được xác định là phạm tội với lỗi cố ý, hoàn toàn ý thức được hành vi đốt, phá rừng trái phép hoặc có các hành vi khác hủy hoại rừng sẽ xâm phạm đến tài nguyên rừng, làm mất đi hoặc giảm đáng kể giá trị rừng và hoàn toàn có thể ý thức mức độ
Trang 18nguy hiểm của hành vi hủy hoại rừng nhưng vẫn thực hiện, do đó trong thực tiễn những vụ án hủy hoại rừng đều có nguyên nhân chủ quan xuất phát từ bản thân người phạm tội
Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự được hiểu ngược lại là một người ở thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội ở trong trạng thái hoàn toàn không nhận thức hoặc không điều khiển được hành vi của mình do mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm rối loạn hoạt động tâm thần của họ, trên cơ sở này Điều 13 BLHS hiện hành quy định:
1 Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải
áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh
2 Người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự; nhưng đã lâm vào tình trạng quy định tại khoản 1 Điều này trước khi bị kết án, thì cũng được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự
Nội dung điều luật phản ánh việc một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh
và nguyên nhân trực tiếp của tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là do mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm rối loạn hoạt động tâm thần của họ, trên thực tiễn loại tội phạm hủy hoại rừng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk chưa có hành vi phạm tội nào mà người phạm tội rơi vào trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự khi phạm tội
Người phạm tội có thể thực hiện các hành vi hủy hoại rừng gồm: đốt, phá
rừng trái phép hoặc có các hành vi khác hủy hoại rừng; việc liệt kê cụ thể các hành
vi khách quan như vậy giúp dễ dàng nhận thấy hành vi nào là phạm vào tội hủy hoại rừng, hành vi nào không là tội phạm theo quy định của điều luật này, phân biệt với
Trang 19các nhóm hành vi khác cũng xâm phạm tài nguyên rừng và phải chịu trách nhiệm hình sự, mỗi hành vi đều chứa đựng những bản chất, đặc điểm, yếu tố xác định riêng, cụ thể:
Đốt rừng trái phép: Là hành vi cố ý làm cháy rừng với bất kỳ mục đích gì
mà không được người hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép
Phá rừng trái phép: Là những hành vi chặt phá rừng, ken cây và các hành
vi khác trái pháp luật làm cho cây rừng bị chết với bất kỳ mục đích gì, trừ trường hợp được quy định cụ thể tại tiểu mục 1.1 và tiểu mục 1.2 mục 1 phần IV của
08/3/2007, giữa Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Tư pháp, Bộ Công
an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo
vệ rừng và quản lý lâm sản [2]
Trường hợp được liệt kê tại tiểu mục 1.1 và 1.2 mục 1 phần IV của TTLT số
19, đây là các trường hợp loại trừ không cấu thành tội hủy hoại rừng nhưng là các
hành vi phạm tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng được quy định
tại Điều 175 BLHS và cũng là sự phân loại một cách cụ thể để làm căn cứ xác định hành vi được cho là phạm vào tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
Ngoài ra, trong quy định tại khoản 1 Điều 189 BLHS có quy định về các dấu hiệu là điều kiện cần thiết để quyết định việc hành vi hủy hoại rừng của một chủ thể
có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không đó là tình tiết “đã bị xử phạt hành
chính về hành vi này mà còn vi phạm” Về tình tiết này tuy không là dấu hiệu bắt
buộc nhưng là dấu hiệu cần và đủ để làm cơ sở phân hóa vai trò, mức độ, hậu quả
do hành vi hủy hoại rừng gây ra, hành vi có thể không gây hậu quả nghiêm trọng nhưng chủ thể thực hiện hành vi vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự Tình tiết này được hướng dẫn tại mục 6 Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12 tháng 5 năm
2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự
Trang 20Mục 6 Nghị quyết 01 quy định: “Đối với các tội mà điều luật có quy định
tình tiết “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” đã được hướng dẫn tại các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan có thẩm quyền thì thực hiện theo đúng hướng dẫn của các văn bản đó” [30]
Như vậy, trong trường hợp bị xử phạt hành chính quy định tại khoản 1 Điều
189 BLHS, đã được hướng dẫn cụ thể tại mục 1 phần I của TTLT số 19, xác định một người bị coi là đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm tức là trước đó đã bị xử phạt hành chính về một trong những hành vi được liệt kê tại khoản 1 Điều 189 BLHS là những hành vi đốt, phá rừng trái pháp luật hoặc có hành
vi khác gây hậu quả là thiệt hại thực tế đối với tài nguyên rừng, đã bị ra quyết định
xử phạt vi phạm hành chính, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà lại thực hiện một trong các hành vi được quy định tại khoản 1 của điều luật tương ứng đó
1.1.2 Ý nghĩa của việc quy định tội hủy hoại rừng trong luật hình sự
Rừng là nguồn tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt đối với sự sống của loài người, rừng có vai trò cân bằng hệ sinh thái, ổn định
và điều hòa khí hậu, điều tiết nước giúp sự sống trên trái đất được duy trì bền vững Không những thế, rừng có giá trị cao về kinh tế như là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm và cho ngành công nghiệp, ngành du lịch sinh thái; rừng còn là nguồn cung cấp nguyên liệu, vật liệu, dược liệu quí hiếm phục vụ cho các ngành khoa học như: Y học, sinh học, hóa chất v.v Hơn thế nữa, rừng còn có tầm quan trọng chiến lược trong việc tạo phòng tuyến vững chắc trong lĩnh vực
an ninh quốc phòng của đất nước
Hủy hoại rừng được hiểu là việc một người đã có hành vi đốt, phá rừng trái pháp luật hoặc có các hành vi khác gây thiệt hại cho rừng và thiệt hại về môi trường đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự Các quy định đó có thể là các quy định cụ thể của các cơ quan pháp luật Nhà nước hay của các cơ quan tổ chức được Nhà nước trao quyền và thông qua công tác tuyên truyền phổ biến đến mọi người dân và buộc phải tuân thủ và thực hiện các quy định đó Trên thực tế có thể
Trang 21xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau song một bộ phận người dân đã có những hành vi đốt, chặt phá rừng hoặc có những hành vi khác hủy hoại rừng gây
ra những hậu quả ở nhiều mức độ khác nhau từ bị xử phạt hành chính đến bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Nhằm kịp thời ngăn chặn, xử lý cũng như đáp ứng nhu cầu đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm nói chung và tội phạm hủy hoại rừng nói riêng thì pháp luật hình sự đã hình sự hóa các hành vi đủ yếu tố cấu thành tội phạm và quy định một điều luật riêng biệt tại Điều 181 BLHS năm 1985 [17] là các tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng và quy định này vẫn được giữ lại trong BLHS năm
1999 được quy định thành tội hủy hoại rừng tại Điều 189
Trong thời đại ngày nay, sự phát triển với những thành tựu to lớn trên mọi mặt nhất là lĩnh vực kinh tế, song những tác hại từ môi trường đem lại cho cuộc sống con người là khó lường hết được, những thảm họa tự nhiên, thiên tai vẫn diễn ra hàng năm gây thiệt hại về người và tài sản Một trong những nguyên nhân của tình trạng này chính là từ sự hủy hoại môi trường nói chung và sự hủy hoại rừng nói riêng, xuất phát từ sự suy giảm diện tích, giảm sự đa dạng sinh quyển, sự ảnh hưởng tới không khí, nguồn nước, đất v.v tất yếu dẫn tới những tác hại xấu tới đời sống con người
Trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk hiện nay tình trạng đốt, phá rừng còn diễn biến phức tạp, phổ biến diễn ra ở các huyện có rừng, làm suy giảm diện tích rừng, mất đi
sự đa dạng cả về số lượng, số loài thực vật, bên cạnh đó là sự gia tăng các thiên tai như hạn hán kéo dài, sụt lở đất, lũ ống v.v gây thiệt hại về người và tài sản
Xuất phát từ yêu cầu bảo vệ nguồn tài nguyên rừng, cần có sự trừng trị nghiêm minh theo quy định của pháp luật đối với những tội phạm môi trường nói chung và tội phạm hủy hoại rừng nói riêng, cũng chính vì nguyên do như trên mà chính sách hình sự của nước ta đã hình sự hóa hành vi hủy hoại rừng quy định tại Điều 189 chương XVII của BLHS Việc quy định tội phạm này có ý nghĩa rất to lớn đối với việc duy trì và bảo vệ nguồn tài nguyên rừng trên cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk nói riêng, là căn cứ để xử lý, trừng trị nghiêm minh những kẻ
Trang 22hủy hoại rừng, cũng là hồi chuông cảnh tỉnh đối với những kẻ vi phạm rằng mọi hành vi hủy hoại rừng sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật và bị xử lý bằng chế tài nặng nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam là chế tài hình sự, chính vì lẽ đó,
nó cũng mang ý nghĩa giáo dục, tuyên truyền, ngăn ngừa các hành vi vi phạm góp phần vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm môi trường trong đó có hành
vi hủy hoại rừng nói riêng
Trước thực trạng tài nguyên rừng đã và đang bị tàn phá nghiêm trọng như đã nêu trên và để bảo vệ nguồn tài nguyên rừng tránh khỏi sự tàn phá bởi hành vi trái pháp luật của con người, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp, nhiều nhà nghiên cứu khoa học cũng đã chú tâm nghiên cứu vấn đề này, với mục đích tìm ra những giải pháp hữu hiệu để bảo vệ tài nguyên rừng Song thực tiễn cho thấy, tuy
có sự nghiên cứu và áp dụng nhiều đề tài vào thực tiễn để bảo vệ tài nguyên rừng, đồng thời các cấp các ngành và chính quyền địa phương ở nhiều nơi trong thời gian qua đã có sự quan tâm vào cuộc quyết liệt nhưng hiệu quả mang lại chưa được như mong muốn, tình trạng rừng bị hủy hoại, tàn phá vẫn không được giải quyết triệt để,
mà ngược lại ngày càng bị tàn phá, huỷ hoại nhiều hơn trên phạm vi cả nước, hành
vi ngày càng tinh vi xảo quyệt, hậu quả gây ra ngày càng nghiêm trọng
Trước tình hình diễn biến phức tạp và nguy hiểm của hành vi hủy hoại rừng rừng, đồng thời xuất phát từ thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm trong những năm qua cho thấy, áp dụng các biện pháp giáo dục thuyết phục và chế tài hành chính
đã bộc lộ sự kém hiệu quả, điều này được chứng minh qua tình hình tội phạm trong lĩnh vực tài nguyên rừng trong những năm gần đây và thực trạng chất lượng tài nguyên rừng đang bị suy giảm ngày càng nghiêm trọng bởi sự tàn phá của con người
Trước tình hình đó, Nhà nước ta xác định cần phải có một “liều thuốc đặc
trị” đủ mạnh để “điều trị căn bệnh” này và đó chính là biện pháp chế tài hình
sự Chỉ có chế tài hình sự với bản chất nghiêm khắc nhất trong số các loại chế tài của pháp luật thì mới có thể đảm bảo tính răn đe, giáo dục phòng ngừa, chế tài đó phải đủ mạnh và sử dụng đúng lúc, thì mới phát huy tác dụng trong việc bảo vệ tài nguyên rừng đạt hiệu quả tốt nhất
Trang 23Xuất phát từ cơ sở lý luận đó, Nhà nước ta đã quy định các hành vi xâm hại đến tài nguyên rừng là tội phạm hình sự được quy định trong BLHS, để răn đe trấn áp các hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời góp phần phổ biến, tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức đấu tranh phòng ngừa tội phạm Thông qua đó nhằm duy trì trật tự quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng, góp phần cải thiện môi trường sống, bảo vệ nguồn tài nguyên rừng, tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển toàn diện, bền vững đồng thời tạo thế phòng thủ chiến lược trong lĩnh vực an ninh quốc phòng
1.2 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của quy phạm pháp luật
Do hoàn cảnh lịch sử, nên nhiệm vụ trọng tâm lúc bấy giờ tập trung vào việc củng cố chính quyền cách mạng còn non trẻ vừa mới được thành lập, nên việc đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm tuy được Nhà nước quan tâm, nhưng chủ yếu
ở các loại tội phạm xâm hại về an ninh chính trị và các loại tội đặc biệt nghiêm trọng khác như: Giết người, cướp của, hiếp dâm v.v
Vào thời điểm đó, tài nguyên rừng của nước ta rất phong phú, diện tích rừng
tự nhiên khoảng 14.300.000 ha, độ che phủ đạt 43%, nhu cầu sử dụng tài nguyên rừng phục vụ trong sinh hoạt đời sống của nhân dân tuy có nhưng không đáng kể so với những năm sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, mà đặc biệt là sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) thời kỳ xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường [11]
Các quy định của pháp luật hình sự về bảo vệ tài nguyên rừng giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954 chủ yếu được quy định trong các sắc luật, cụ thể [11]:
Trang 24Sắc lệnh số 26/SL ngày 25 tháng 02 năm 1946 về các tội phá hoại công sản; Sắc lệnh số 247/SL ngày 15 tháng 6 năm 1946 về âm mưu và hành động phá hoại tài sản của Nhà nước, hợp tác xã và của nhân dân làm cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch Nhà nước;
Thông tư số 1303 BCN/VN ngày 28 tháng 6 năm 1946 của liên Bộ Nội vụ -
Bộ Canh nông, quy định điều chỉnh những hành vi xâm hại đến rừng; tại Thông tư
này có đoạn quy định: “Ai vi phạm các lệnh chặt, phá cây rừng sẽ bị phạt tù, phạt
tiền theo thể lệ đã được ấn định trước…”;
Sắc lệnh số 142/SL ngày 21 tháng 12 năm 1949 quy định về việc lập biên bản các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng;
Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ ngày 07 tháng 5 năm 1954, thực dân Pháp thất bại trên các mặt trận và buộc Pháp phải ngồi vào bàn hội nghị Giơ-ne-vơ, nước ta tạm thời bị chia cắt làm 2 miền Pháp luật thời kỳ này được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm chú trọng, bởi nó là công cụ sắc bén không thể thiếu của chính quyền cách mạng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội và quản lý đất nước, trong đó có nhiều văn bản liên quan trong lĩnh vực bảo vệ tài nguyên rừng, cụ thể [11]:
Hiến pháp năm 1959 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (Điều 12 và Điều 40) xác định:
Để bảo vệ rừng và phát triển tài nguyên phong phú của rừng, phát huy tác dụng to lớn của rừng trong việc giữ nguồn nước và điều tiết nước, giữ đất, chống xói mòn, chống cát bay, điều hoà khí hậu, hạn chế tác hại của gió, bão, lũ lụt, hạn hán, nhằm phục vụ công cuộc xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá, củng cố quốc phòng và nâng cao đời sống của nhân dân, góp phần làm cho nước nhà giàu mạnh [16];
Để phát huy tinh thần làm chủ tập thể của cán bộ, công nhân, viên chức, bộ đội và nhân dân, nâng cao ý thức bảo vệ rừng, động viên toàn dân ra sức đấu tranh chống mọi hành động làm thiệt hại đến rừng;
Nghị định số 221-CP ngày 29 tháng 01 năm 1961 của Hội đồng Chính phủ
về việc phòng cháy và chữa cháy rừng;
Trang 25Pháp lệnh (không số) ngày 27 tháng 7 năm 1961 quy định về quản lý Nhà nước đối với công tác phòng cháy và chữa cháy;
Nghị định số 220/CP ngày 28 tháng 12 năm 1961 của Chính phủ quy định về quản lý của Nhà nước đối với công tác phòng cháy chữa cháy;
Pháp lệnh số 17/LCT ngày 05 tháng 4 năm 1963 quy định về phòng cháy chữa cháy;
Pháp lệnh (không số) ngày 23 tháng 3 năm 1966 quy định về phòng cháy chữa cháy;
Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa ngày 21 tháng
10 năm 1970;
Pháp lệnh (không số) ngày 06 tháng 9 năm 1972 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định việc bảo vệ rừng, nêu rõ: “Rừng là một bộ phận của môi trường
sống, là tài sản quý báu của nước ta, có giá trị lớn đối với nền kinh tế quốc dân và văn hoá công cộng, việc bảo vệ rừng phải do Nhà nước và toàn dân cùng làm”
Nghị định số 155/CP ngày 03 tháng 10 năm 1973 của Hội đồng Chính phủ
về việc thi hành pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng
Do hoàn cảnh và điều kiện lịch sử nước ta vừa giải phóng, nhiệm vụ trọng tâm trong thời kỳ này chủ yếu tập trung cho việc tái thiết đất nước và củng cố chính quyền cách mạng, nên chưa kịp thời xây dựng BLHS với đúng nghĩa của nó và cũng chưa có các văn bản pháp luật cụ thể để xử lý các tội phạm xâm hại đến tài nguyên rừng, pháp luật thời kỳ này vẫn duy trì các quy định của pháp luật trước đây đồng thời áp dụng tiền lệ pháp để xử lý hành vi phạm tội nói chung, các hành vi phạm tội trong lĩnh vực tài nguyên rừng nói riêng
1.2.2 Giai đoạn từ khi ban hành BLHS năm 1985 đến trước khi ban hành BLHS năm 1999
Đến năm 1985, nền kinh tế nước ta đã có sự phát triển nhất định, nhu cầu của
xã hội về sử dụng tài nguyên rừng đã tăng lên đáng kể, dẫn đến việc khai thác rừng tràn lan không kiểm soát được, không những làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái
Trang 26Nhận thức rõ điều đó, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương biện pháp để quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng được tốt hơn, cụ thể là quy định trong BLHS năm
1985 về tội phạm trong lĩnh vực tài nguyên rừng:
Tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừngquy định: 1- Người nào khai thác trái phép cây rừng, săn bắt trái phép chim, thú hoặc có những hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý và bảo vệ rừng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm
2- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù
từ hai năm đến mười năm [17, Điều 181]
Liên quan đến việc bảo vệ tài nguyên rừng bằng chế tài hình sự, tại BLHS
2- Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm
3- Phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến một năm [17, Điều 194]
Tuy điều luật nêu trên không quy định cụ thể hành vi làm cháy tài nguyên rừng, song về khách thể được bảo vệ trong điều luật này là tính mạng, sức khoẻ của con người và tài sản của Nhà nước, tập thể và cá nhân, tài nguyên rừng được coi là loại tài sản đặc biệt nên mọi hành vi phạm tội nêu trên nếu làm cháy tài sản nói
Trang 27chung, cháy rừng gây hậu quả nghiêm trọng nói riêng đều bị xử lý theo Điều 194 BLHS năm 1985
Việc quy định trong BLHS các điều luật liên quan đến việc bảo vệ tài nguyên rừng trong thời kỳ đổi mới, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước đối với tài nguyên rừng, đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho việc đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực này bằng pháp luật hình sự được tốt hơn
Trước yêu cầu đặt ra của tình hình mới, nhiều hành vi vi phạm pháp luật phát sinh trong đời sống xã hội trước đây chưa được Nhà nước quy định là tội phạm do đòi hỏi của tình hình mới, Nhà nước có sự điều chỉnh, bổ sung nhiều điều luật và quy định thêm một số tội phạm mới
1.2.3 Giai đoạn từ khi ban hành BLHS năm 1999 đến nay
Đến năm 1999, nền kinh tế nước ta có nhiều biến chuyển tích cực, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá được đẩy mạnh, nhu cầu sử dụng đất rừng, tài nguyên rừng vào sản xuất, phát triển kinh tế và phục vụ cho sinh hoạt của người dân tăng cao đột biến, kéo theo tình hình tội phạm trong lĩnh vực tài nguyên rừng ngày càng diễn biến phức tạp, tài nguyên rừng đặc biệt là rừng tự nhiên bị tàn phá nghiêm trọng và
có nguy cơ bị thu hẹp trên bản đồ lâm nghiệp Việt Nam Từ thực tiễn đó Đảng và Nhà nước đã đánh giá đúng vị trí, vai trò và tầm quan trọng của tài nguyên rừng đối với sự sống còn của con người và sự phát triển bền vững của nền kinh tế - xã hội nên
đã quyết tâm bảo vệ tài nguyên rừng bằng nhiều biện pháp, trong đó biện pháp sử dụng pháp luật hình sự được đặc biệt chú trọng Chính vì lẽ đó, trong lần sửa đổi bổ sung BLHS năm 1999, Nhà nước đã có sự quan tâm sửa đổi bổ sung các điều luật liên quan trong lĩnh vực tài nguyên rừng Từ chỗ chỉ có một điều luật quy định liên quan đến tài nguyên rừng (Điều 181 BLHS năm 1985) thì BLHS năm 1999 quy định lên sáu điều luật, cụ thể: Điều 175 quy định: Tội vi phạm các quy định về khai thác
và bảo vệ rừng; tội vi phạm quy định về quản lý rừng (Điều 176); tội hủy hoại rừng (Điều 189); tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quí hiếm (Điều 190); tội vi phạm chế độ bảo vệ đặc biệt đối với khu bảo tồn thiên nhiên (Điều 191); tội vi phạm các quy định về phòng cháy chữa cháy (Điều 240) [11]
Trang 28Việc quy định các điều luật cụ thể nêu trên không chỉ thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc bảo vệ tài nguyên rừng, mà còn thể hiện tính khoa học và tiến bộ trong quy trình lập pháp, đồng thời tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các cơ quan bảo vệ pháp luật để xử lý các hành vi xâm hại đến tài nguyên rừng, góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển bền vững
Đối với hành vi vô ý làm cháy rừng, tuy BLHS năm 1999 không quy định là
một điều luật độc lập, song hành vi đó được nhà làm luật gộp chung vào hành vi “vi
phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy”
Trong thực tiễn áp dụng các điều luật nêu trên vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực tài nguyên rừng, Nhà nước ta nhận thấy loại tội phạm trong lĩnh vực này diễn biến khá phức tạp theo chiều hướng xấu, tình hình tài nguyên rừng bị tàn phá, hủy hoại ngày càng nghiêm trọng, trong khi đó nếu chỉ căn cứ vào các điều luật quy định trong BLHS năm 1999 thì khó có thể vận dụng để
xử lý từng hành vi cụ thể
Trước tình hình đó, Nhà nước ta chủ trương ban hành TTLT số 19/2007/TTLT/BNN&PTNT- BTP - BCA - VKSNDTC - TANDTC ngày 08 tháng 3 năm 2007 giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
Đến năm 2009, sau mười năm thi hành BLHS năm 1999, tuy tình hình kinh
tế, xã hội đã có nhiều biến chuyển theo chiều hướng tích cực, song Nhà nước ta nhận thấy: Tuy các quy định của BLHS năm 1999 liên quan trong lĩnh vực tài nguyên rừng đã phát huy được tác dụng trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhưng có một số vấn đề cần phải điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tiễn và sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Cụ thể như hành vi nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép các bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài động vật hoang dã, quí hiếm theo quy định của Nhà nước, trước đây không được
Trang 29quy định là tội phạm, thì trong lần sửa đổi năm 2009 các hành vi này được quy định
là hành vi phạm tội (Điều 190 BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009) Mặt khác, về chế tài trong điều luật nêu trên cũng có sự điều chỉnh theo hướng tăng nặng
khung hình phạt tiền lên gấp 10 lần “…Phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm
trăm triệu đồng…” và tại khoản 3 điều 190 BLHS được điều chỉnh theo hướng tăng
quy định mức phạt tiền lên gấp 5 lần so với quy định của điều luật tương ứng trước
đó “…Có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng…”; Nhà
nước bổ sung một số quy định tại điều 190 BLHS; cụ thể là bổ sung tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài động vật nguy cấp, quí, hiếm được ưu tiên bảo vệ Các điều luật còn lại liên quan đến tài nguyên rừng được giữ nguyên không có sự điều chỉnh cả về nội dung và khung hình phạt
1.3 Phân biệt tội hủy hoại rừng với một số tội phạm khác
1.3.1 Phân biệt tội hủy hoại rừng với tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng theo quy định tại Điều 175 BLHS
Khoản 1 Điều 175 BLHS quy định:
1 Người nào có một trong các hành vi sau đây gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền
từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến
ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:
Khai thác trái phép cây rừng hoặc có hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 189 của Bộ luật này
a/ Vận chuyển, buôn bán gỗ trái phép, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 154 của Bộ luật này [19]
Theo quy định nêu trên, thì khách thể của tội phạm này là xâm phạm những quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng, so với khách thể của loại tội phạm hủy hoại rừng thì khách thể của tội phạm được quy định tại Điều 175 BLHS
là rộng hơn và bao hàm những hành vi không cấu thành tội hủy hoại rừng
Trang 30Về mặt khách quan của tội phạm được mô tả trong quy định của điều luật này là việc chủ thể của tội phạm thực hiện một trong các hành vi như: Khai thác trái phép cây rừng hoặc có hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng nếu không thuộc trường hợp được cho là hủy hoại rừng được quy định tại Điều 189 BLHS Như vậy, những hành vi khai thác trái phép cây rừng
là những hành vi khai thác cây rừng ở rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng
mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép trong trường hợp pháp luật quy định việc khai thác đó phải được cấp giấy phép và điều kiện là giấy phép còn trong thời hạn được phép khai thác cây rừng
Ngoài ra, diện tích rừng ở mỗi vị trí, mỗi tiểu khu hay một khu vực nhất định đều có những vai trò riêng, nên việc cơ quan Nhà nước quyết định cấp phép cho một chủ thể được khai thác cây rừng phải tuân thủ và thực hiện việc khai thác tại khu vực được cho phép, mọi hành vi khai thác vượt quá phạm vi khu vực được cho phép là vi phạm pháp luật
Trong quá trình phát triển của cây rừng đối với rừng sản xuất, rừng phòng
hộ, rừng đặc dụng thì việc xác định diện tích cây rừng nào đủ điều kiện khai thác hay phải chặt bỏ đều phải tuân thủ theo một trình tự thủ tục nhất định từ việc khảo sát, đánh giá tính chất, khả năng phát triển và tác dụng của một diện tích rừng hay một số loại cây rừng nhất định Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 175 BLHS thì hành vi khai thác cây rừng trái phép ngoài hai trường hợp nêu trên còn xác định việc khai thác cây rừng không có dấu búa bài cây (bài chặt) trong các trường hợp phải có dấu búa bài cây (bài chặt)
Ngoài phạm vi được cho phép khai thác thì số lượng cây rừng được phép khai thác cũng là một điều kiện bắt buộc mà chủ thể được phép khai thác phải tuân thủ, nếu khai thác vượt quá số lượng được phép khai thác thì phải chịu trách nhiệm hay hậu quả pháp lý đối với phần vượt quá số lượng được cho phép khai thác
Ngoài những hành vi nêu trên thì theo quy định tại khoản 1 Điều 175 BLHS còn quy định các hành vi khác vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng, những hành vi khác được quy định là những hành vi thỏa mãn những điều kiện nhất
Trang 31định và ngoài hành vi khai thác rừng trái phép đã nêu trên thì các hành vi sau được coi là hành vi khác:
Trường hợp khai thác trái phép rừng trồng, rừng khoanh nuôi tái sinh đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định cho tổ chức, tập thể, hộ gia đình,
cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp mà người được giao đã
bỏ vốn đầu tư trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ, những hành vi xâm phạm đối với loại rừng thuộc trường hợp nêu trên thì được xử lý và phân biệt thành hai trường hợp:
Thứ nhất, trong trường hợp do chủ rừng khai thác trái phép thì bị truy cứu
trách nhiệm hình sự về hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng theo quy định tại Điều 175 BLHS
Thứ hai, trong trường hợp chủ thể thực hiện các hành vi khai thác rừng trái
phép không phải chủ rừng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều luật tương
ứng được quy định tại chương XIV “các tội xâm phạm sở hữu” của BLHS
Ngoài các nhóm hành vi nêu trên thì khách thể của tội phạm quy định tại Điều 175 BLHS còn thể hiện và bao gồm các hành vi vận chuyển, buôn bán gỗ trái
phép không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 BLHS là Tội buôn lậu, Điều
154 là tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển buôn bán hàng cấm được quy định tại
Chương XVI về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế Những hành vi được cho
là vận chuyển, buôn bán trái phép là những hành vi vận chuyển, buôn bán gỗ không đúng quy định của Nhà nước như vận chuyển gỗ không có thủ tục, buôn bán gỗ không có giấy phép kinh doanh hoặc có giấy phép nhưng đã hết hiệu lực v.v Thêm vào đó nếu người nào có hành vi vận chuyển buôn bán gỗ qua biên giới thì tùy trường hợp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội buôn lậu được quy định tại Điều 153 BLHS
Xét trên phương diện, điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm này, trong Điều 175 cũng quy định các trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng,
bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này nhưng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, điều này có sự tương đồng so với quy định tại Điều
189 BLHS Tuy nhiên, về tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng ở Điều 175 BLHS thì
Trang 32đối tượng bị xâm phạm là cây rừng với đơn vị tính thiệt hại là m3 số lượng gỗ bị khai thác trái phép còn đối với đối tượng bị xâm phạm về tội hủy hoại rừng được xác định là diện tích rừng bị hủy hoại (tính bằng m2)
Xét về ý chí chủ quan của tội phạm được quy định tại Điều 175 BLHS được thực hiện bởi lỗi cố ý nhưng hạn hẹp hơn so với ý chí chủ quan của tội hủy hoại rừng vì động cơ, mục đích của tội hủy hoại rừng đa dạng hơn;
Về chủ thể thực hiện tội phạm: Phải là người có đủ độ tuổi nhất định và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự;
Về hình phạt quy định tại Điều 189 BLHS, nhận thấy mức hình phạt là cao hơn từ mức xử phạt tiền đến hình phạt tù và các hình phạt bổ sung
Điều 30 BLHS quy định phạt tiền có thể được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự quản
lý hành chính và một số tội phạm khác do BLHS quy định Mức hình phạt thấp nhất được quy định tại khoản 1 Điều 175 là phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng và mức phạt này thấp hơn so với quy định về phạt tiền được quy định tại khoản 1 Điều 189 BLHS là từ mười triệu đến một trăm triệu đồng Như vậy có thể thấy mức phạt tiền là khác nhau và điều đó thể hiện tính chất nguy hiểm cao hơn của các hành vi hủy hoại rừng so với những hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
Phạt tiền trong quy định tại Điều 175 và Điều 189 BLHS là hình phạt chính được quy định tại khoản 1 tương ứng của điều luật Tuy nhiên cũng có thể được áp dụng là hình phạt bổ sung, khoản 3 Điều 175 BLHS mức phạt tiền là từ năm triệu đến hai mươi triệu đồng, việc áp dụng đối với những hành vi cụ thể được hướng dẫn tại mục 1 phần IV của TTLT số 19 quy định về các hành vi khai thác trái phép cây rừng hay thực hiện các hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng [1] Ngoài ra tại mục 12 công văn số 16/1999/KHXX ngày 01 tháng 02 năm 1999 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng đã hướng dẫn các trường hợp cố ý
về hành vi, vô ý về hậu quả như đốt nương làm rẫy, đốt lửa sửa ấm trong rừng v.v làm cháy rừng, gây hậu quả nghiêm trọng [28]
Trang 33Khoản 4 Điều 189 BLHS quy định với mức phạt tiền cũng là hình phạt bổ sung với mức phạt từ năm triệu đến một trăm triệu đồng, mức phạt này là cao hơn
so với quy định tại khoản 3 Điều 175 BLHS, sự khác nhau thể hiện sự phân hóa tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi của người phạm tội gây ra
Tại khoản 1 Điều 175 và khoản 1 Điều 189 BLHS, đều quy định hình phạt cải tạo không giam giữ (Điều 31), hình phạt cải tạo không giam giữ được ấn định từ sáu tháng đến ba năm được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng theo quy định của BLHS, khi chủ thể có đủ các điều kiện như: Có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng, nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội nhưng vẫn đảm bảo tác dụng răn
đe, giáo dục, đấu tranh phòng ngừa tội phạm, căn cứ vào tính chất mức độ của hành
vi trên thực tiễn, hình phạt này áp dụng có phần hạn chế hơn so với hình phạt tù
Hình phạt tù có thời hạn là việc buộc người bị kết án phải chấp hành phạt tại trại giam một thời hạn nhất định, tù có thời hạn đối với người phạm một tội có mức tối thiểu là ba tháng, mức tối đa là hai mươi năm (Điều 33 BLHS), hay nói cách khác hình phạt tù chính là hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải chịu và
họ sẽ bị hạn chế hoặc tước bỏ một số quyền công dân trong thời gian chấp hành hình phạt tù Mức hình phạt được đưa ra trên cơ sở quyết định hình phạt thông qua công tác đánh giá đúng bản chất, động cơ, mục đích, tính chất, mức độ, hậu quả mà một tội phạm xảy ra, việc áp dụng hình phạt tù đối với hai tội phạm được quy định tại Điều 175 và Điều 189 BLHS cũng không là ngoại lệ nhưng khung hình phạt là khác nhau, mức hình phạt tù thấp nhất được áp dụng trong tộivi phạm các quy định
về khai thác và bảo vệ rừng là ba tháng, mức cao nhất là mười năm, như vậy dễ nhận thấy mức hình phạt và khung hình phạt của Điều 175 BLHS thấp hơn trong khi mức hình phạt tù thấp nhất được quy định tại Điều 189 là sáu tháng và cao nhất
là mười lăm năm, trên cơ sở đánh giá khung hình phạt có thể nhận thấy mức hình phạt đối với những hành vi hủy hoại rừng là cao hơn
Trang 341.3.2 Phân biệt tội hủy hoại rừng với tội vi phạm các quy định về quản lý rừng theo quy định tại Điều 176 BLHS
Khoản 1 Điều 176 BLHS quy định:
1 Người nào lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ quyền hạn có một trong các hành vi sau đây gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:
a) Giao rừng, đất trồng rừng, thu hồi rừng, đất trồng rừng trái pháp luật;
b) Cho phép chuyển mục đích sử dụng rừng, đất trồng rừng trái pháp luật;
c) Cho phép khai thác, vận chuyển lâm sản trái pháp luật [19] Chủ thể thực hiện tội phạm quy định ở đây kèm theo một điều kiện bắt buộc
phải có đó là chức vụ quyền hạn, hay nói cách khác người thực hiện tội phạm cũng
như người thực hiện tội hủy hoại rừng ở một góc độ nhất định đều cùng tác động vào một khách thể là rừng nhưng vị thế khi thực hiện tội phạm lại là người có chức
vụ, quyền hạn, có nghĩa là được Nhà nước trao quyền thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng song vì một mục đích hay nhiều mục đích hoặc động cơ khác nhau đã
cố tình làm sai, vi phạm các quy định về quản lý rừng gây ra hậu quả nghiêm trọng khi thực hiện một trong các hành vi được liệt kê trong điều luật, các yếu tố cấu thành tội phạm này có điều kiện cần nhưng không bắt buộc là đã bị kỷ luật, một người mặc dù đã thực hiện một trong hành vi được liệt kê tại khoản 1 Điều 176 BLHS nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự và thay vào đó là bị xử
lý kỷ luật theo quy định nhưng vẫn tái diễn những hành vi này thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự với khung hình phạt được quy định gồm hai loại hình phạt là cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn từ sáu tháng đến ba năm
Cấu thành tội phạm là khác nhau vì những dấu hiệu cơ bản của tội danh này cũng là một tình tiết tăng nặng định khung hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 189 BLHS, trên thực tế người phạm tội trong nhiều trường hợp đều có
Trang 35đủ các yếu tố cấu thành tội phạm và thuộc các tình tiết định khung tăng nặng được quy định cụ thể tại khoản 2 của điều luật là phạm tội thuộc trường hợp có tổ chức
Còn phạm tội thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần là tình tiết được quy định trong tội hủy hoại rừng mà nét tương đồng ở đây là đều gây hậu quả nghiêm trọng thì khung hình phạt là từ hai năm đến bảy năm nhưng trong trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng được quy định tại khoản 3 Điều 176 BLHS thì mức hình phạt
là từ năm năm đến mười hai năm, mức hình phạt cao nhất của điều luật song vẫn thấp hơn so với mức cao nhất của hình phạt tù được quy định tại Điều 189 BLHS
Điều khác biệt dễ nhận thấy về hình phạt quy định tại khoản 4 của Điều 176 BLHS với khoản 4 Điều 189 BLHS đó là do đặc trưng của chủ thể thực hiện tội phạm phải là người có chức vụ quyền hạn nên ngoài các hình phạt chính là phạt tiền, cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn, thì người phạm tội có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ (khoản 4 Điều 176), nhưng tại khoản 4 Điều 189 BLHS ngoài việc người phạm tội có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm Có thể thấy, Điều 189 BLHS quy định mức hình phạt cao hơn, chủ thể phạm tội rộng hơn và các chế tài khác cũng mở rộng hơn nhằm đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm hủy hoại rừng
1.4 Nghiên cứu so sánh pháp luật hình sự Việt Nam với pháp luật một
số nước quy định về tội hủy hoại rừng
1.4.1 Nghiên cứu so sánh pháp luật hình sự Việt Nam với pháp luật hình
sự Liên Bang Nga
Do hình thái Nhà nước, sự phát triển của quá trình lập pháp của mỗi nước khác nhau nên quy định về các hành vi xâm phạm môi trường, các chính sách về bảo vệ tài nguyên rừng và hành vi hủy hoại rừng của mỗi quốc gia được hình sự hóa trong pháp luật hình sự cũng khác nhau
Chương 26 của BLHS Liên Bang Nga năm 1996 có quy định một chương riêng về tội phạm môi trường, với hai điều luật liên quan quy định về các hành vi chặt trái phép cây và cây bụi, với các nội dung:
Người nào đốn bất hợp pháp hoặc gây hại cho cây, cây bụi, dây leo hoặc làm
Trang 36ngừng tăng trưởng cây trong các khu rừng của nhóm đầu tiên hoặc trong các khu vực bảo vệ đặc biệt của rừng của tất cả các nhóm và chặt bất hợp pháp cây, cây bụi, dây leo và nằm bên ngoài rừng, nếu hành vi thực hiện trên một quy mô lớn, sẽ bị trừng phạt bằng cách phạt tiền với số tiền lên đến 40.000 rúp, hoặc trong lượng tiền lương hoặc tiền công người phạm tội được hưởng, hoặc bất kỳ khoản thu nhập khác của người bị kết án trong thời gian lên đến ba tháng, hoặc không đạt chuẩn giữ chức danh cụ thể hoặc tham gia vào các hoạt động theo quy định có thời hạn từ một đến
ba năm, hoặc lao động khắc phục trong thời hạn tối đa ba tháng [32, Điều 260]
Hành vi đốn bất hợp pháp gây hại cho cây, cây bụi, dây leo và làm ngừng tăng trưởng của cây trong các khu rừng của tất cả các nhóm, các đồn điền và không tạo thành một phần của chứng khoán rừng, nếu những hành động đã được cam kết bởi một nhóm người; bởi một người với việc sử dụng các vị trí chính thức này hoặc trên một quy mô lớn sẽ bị trừng phạt bằng cách phạt tiền với số tiền lên đến 200.000 rúp, hoặc trong số tiền lương hoặc tiền công người phạm tội được hưởng, hoặc bất
kỳ khoản thu nhập khác của người bị kết án trong một thời gian lên đến 18 tháng hoặc lao động bắt buộc tại các công trình với thời hạn từ 180 đến 240 giờ, hoặc lao động khắc phục trong kỳ hạn 1 - 2 năm, hoặc bằng cách tước quyền tự do trong thời hạn tối đa là hai năm, với không đạt chuẩn giữ chức danh hoặc tham gia vào các hoạt động theo quy định trong thời hạn ba năm [32]
Trong trường hợp hành vi được tiến hành trên một quy mô đặc biệt lớn, bởi một nhóm người trong thỏa thuận sơ bộ hoặc một nhóm có tổ chức, sẽ bị trừng phạt bằng cách phạt tiền với số tiền là 100.000 đến 500.000 rúp hoặc trong số tiền lương hoặc tiền công người phạm tội được hưởng, hoặc bất kỳ khoản thu nhập khác của người bị kết án trong một thời gian 1 - 3 năm, hoặc tước quyền tự do trong thời hạn đến ba năm, không đạt chuẩn giữ chức danh hoặc tham gia vào các hoạt động theo quy định trong thời hạn từ một năm đến ba năm [32]
Trong trường hợp gây thiệt hại cho rừng và rừng được tính theo giá đã được phêduyệt của Chính phủ Liên Bang Nga sẽ được coi là có quy mô khá lớn nếu thiệt hại vượt quá mười ngàn rúp, trong khi thiệt hại của một quy mô lớn đến 100.000 rúp và thiệt hại đặc biệt lớn với quy mô đến 250.000 rúp [32]
Trang 37Đối với các hành vi hủy diệt hoặc gây thiệt hại về rừng (Điều 261), quy định: Hủy diệt hay thiệt hại về rừng và trồng rừng nằm bên ngoài, như một kết quả của việc
sử dụng lửa bất cẩn hoặc bất kỳ nguồn khác tăng nguy hiểm, sẽ bị trừng phạt bằng cách phạt tiền với số tiền lên đến 200.000 rúp, hoặc số tiền của tiền lương hoặc số tiền công mà người phạm tội được hưởng, hoặc bất kỳ khoản thu nhập khác của người bị kết án trong một thời gian lên đến 18 tháng hoặc lao động khắc phục trong thời hạn tối đa là hai năm, hoặc tước quyền tự do trong thời hạn lên hai năm [32]
Hủy diệt hay gây thiệt hại của rừng và trồng rừng nằm ngoài rừng, có nghĩa
là đốt phá hoặc bất kỳ phương pháp nguy hiểm khác, hoặc là kết quả của sự ô nhiễm độc hại với chất thải hay rác sẽ bị trừng phạt bằng cách phạt tiền với số tiền là 100.000 - 300.000 rúp hoặc trong số tiền lương hoặc tiền công mà mà người phạm tội được hưởng, hoặc bất kỳ khoản thu nhập khác của người bị kết án cho một thời gian 1-2 năm hoặc tước quyền tự do trong thời hạn tối đa là bảy năm hoặc phạt tiền với số tiền là 10.000 - 100.000 rúp hoặc trong số tiền lương hoặc tiền công mà người phạm tội được hưởng, hoặc bất kỳ khoản thu nhập khác của người bị kết án trong thời gian từ một tháng đến một năm [32]
1.4.2 Nghiên cứu so sánh pháp luật hình sự Việt Nam với pháp luật hình
sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Theo pháp luật của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thì những hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ tài nguyên rừng được quy định tại các Điều 344, 345,
346 của BLHS, với các nội dung:
Người nào vi phạm các quy định của Luật Lâm nghiệp và tham gia vào khai thác gỗ bất hợp pháp và gây thiệt hại cây có giá trị thì bị kết án hơn ba năm tù có thời hạn, tạm giam hình sự hoặc kiểm soát và ngoài ra có thể bị kết án phạt tiền Trong trường hợp nghiêm trọng, những người vi phạm pháp luật phải bị kết án không ít hơn ba năm và không quá bảy năm tù có thời hạn và ngoài ra bị kết án phạt tiền được quy định tại Điều 344 [9]
Những người đã tham gia vào việc khai thác trái phép rừng hoặc cây khác với số lượng tương đối lớn sẽ bị kết án hơn ba năm tù có thời hạn, tạm giam hình sự hoặc kiểm soát, và ngoài ra có thể bị kết án phạt tiền Nếu số lượng khá lớn, những
Trang 38người vi phạm pháp luật phải bị kết án không ít hơn ba năm và không quá bảy năm
tù có thời hạn, và ngoài ra bị kết án phạt tiền Nếu số lượng đặc biệt lớn, những người vi phạm pháp luật phải bị kết án hơn bảy năm tù có thời hạn và ngoài ra bị kết án phạt tiền Người nào vi phạm các quy định của Luật Lâm nghiệp và tham gia vào việc khai thác bừa bãi rừng hoặc cây khác với số lượng tương đối lớn sẽ bị kết
án ít hơn ba năm tù có thời hạn cố định, tạm giam hình sự hoặc kiểm soát và ngoài
ra bị kết án phạt tiền Những người để tạo ra lợi nhuận, mua gỗ bất hợp pháp từ khai thác gỗ bất hợp pháp hoặc bừa bãi một cách nghiêm trọng sẽ bị kết án ít hơn ba năm
tù có thời hạn, tạm giam hình sự hoặc kiểm soát, họ cũng có thể bị trừng phạt bằng cách phạt tiền; trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, những người vi phạm pháp luật phải bị kết án không ít hơn ba năm và không quá bảy năm tù có thời hạn, và ngoài ra, bị kết án phạt tiền được quy định Điều 345 [9]
Điều 346 quy định: “Nếu một đơn vị cam kết với các tội phạm quy định tại
Điều 338-345, các đơn vị sẽ bị kết án phạt tiền, trong khi người dẫn đầu với trách nhiệm trực tiếp và nhân viên khác chịu trách nhiệm trực tiếp đối với hành vi vi phạm đó đều bị trừng phạt theo quy định liên quan” [9]
Có thể nhận thấy, so với pháp luật của một số quốc gia khác thì pháp luật Việt Nam quy định nhiều hơn về hành vi vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ tài nguyên rừng, có một dấu hiệu tạo nên sự khác biệt đó là việc bị xử lý vi phạm hành chính nếu vượt quá mức tối đa thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong luật Việt Nam, còn ở pháp luật của các nước nêu trên thì phạt tiền là hình phạt chủ yếu khi người phạm tội thực hiện hành vi tội phạm Mức hình phạt của pháp luật hình sự đối với nhóm tội xâm phạm tài nguyên rừng có thể thấy là ít nghiêm khắc hơn, trong khi mức hình phạt tù của luật hình sự nước ta đối với tội hủy hoại rừng cao nhất lên đến mười lăm năm tù, điều này thể hiện tính nghiêm khắc thông qua hình phạt của luật hình sự nước ta trong đấu tranh phòng, chống tội phạm hủy hoại rừng
Trang 39Kết luận Chương 1 Hiện nay tình trạng hủy hoại rừng diễn biến ngày càng nghiêm trọng, theo chiều hướng phức tạp, đa dạng về cách thức, hành vi gây ra những hậu quả ở nhiều mức độ khác nhau từ thiệt hại chỉ bị xử lý vi phạm hành chính đến việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, với vai trò to lớn có ý nghĩa vô cùng quan trọng của rừng, mặc
dù các lực lượng chức năng, cơ quan hữu quan đã tham gia vào công cuộc bảo vệ rừng Tuy đã mang lại nhiều kết quả nhưng khi những nguyên nhân gốc rễ của vấn
đề hủy hoại rừng vẫn còn tồn tại, khi cuộc sống của một bộ phận không nhỏ những người dân sống tại vùng có rừng vẫn còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, nhận thức còn rất hạn chế về tầm quan trọng của rừng trong công cuộc bảo vệ môi trường sống cũng như trong việc góp phần vào việc phát triển kinh tế, xã hội của đất nước nói chung và tại địa bàn tỉnh Đắk Lắk nói riêng
Quy định pháp luật hiện hành liên quan đến việc bảo vệ rừng mặc dù đã được sửa đổi bổ sung qua nhiều thời kỳ, song còn tồn tại một số thiếu sót, hạn chế nhất định trong việc phát hiện, kịp thời xử lý vi phạm cũng như truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những hành vi hủy hoại rừng
Hành vi hủy hoại rừng được điều chỉnh và chế tài bởi quy định của pháp luật hình sự và pháp luật chuyên ngành, theo đó nếu chủ thể có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vi phạm sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành
vi vi phạm của mình Pháp luật có quy định cụ thể về các hành vi bị coi là vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng, trong đó những hành vi hủy hoại rừng cũng được quy định, hướng dẫn cụ thể là căn cứ để xác định hành vi phạm tội cũng như phát hiện những hành vi vi phạm Tại Điều 189 BLHS đã quy định về các hành vi hủy hoại rừng là cơ sở pháp lý để có biện pháp xử lý đúng đắn khi có hành vi hủy hoại rừng xảy ra và đối với những hành vi hủy hoại rừng đã có đường lối xử lý tội phạm được quy định cả về mặt hành chính và hình sự, trên cơ sở đánh giá tính chất, mức
độ, hậu quả của từng trường hợp vi phạm mà chủ thể thực hiện hành vi vi phạm sẽ
bị áp dụng biện pháp xử phạt vi phạm hành chính hoặc có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự và bị chế tài tương xứng với hành vi mà chủ thể đã
Trang 40thực hiện Tuy nhiên, dù biện pháp xử lý được áp dụng theo hình thức nào thì cái đích hướng đến và kết quả cuối cùng là nhằm răn đe, ngăn chặn và phòng ngừa tội phạm nhằm hạn chế đối với loại tội phạm hủy hoại rừng, góp phần bảo vệ, duy trì, phát triển môi trường sống của con người, đồng thời đảm bảo việc phát triển bền vững kinh tế, xã hội của đất nước