Quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Toà án nhân dân trong giai đoạn xét xử sơ thẩm .... Quy định pháp luật về nhiệm
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN TUÂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Tạ Thị Ngọc Điệp
Trang 4TỤNG HÌNH SỰ TRONG CƠ QUAN TÒA ÁN NHÂN DÂN 7 1.1 Khái niệm, vị trí, vai trò và nguyên tắc hoạt động của người
tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án nhân dân 7 1.1.1 Khái niệm người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa
án nhân dân 7 1.1.2 Vị trí, vai trò của người tiến hành tố tụng hình sự trong Tòa án
nhân dân 9 1.1.3 Các nguyên tắc trong hoạt động tố tụng của người tiến hành tố
tụng hình sự trong cơ quan Tòa án nhân dân 11 1.2 Mối quan hệ giữa những người tiến hành tố tụng hình trong
cơ quan Tòa án nhân dân 18 1.2.1 Mối quan hệ giữa Thẩm phán với Chánh án, Phó Chánh án Tòa án 18 1.2.2 Mối quan hệ giữa Thẩm phán với Hội thẩm nhân dân, Thư ký
Tòa án 20 1.3 Khái quát các quy định của pháp luật về người tiến hành tố
tụng các vụ án hình sự trong cơ quan Tòa án nhân dân từ năm 1945 đến nay 23 1.3.1 Người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án nhân dân trong
giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1988 24
Trang 51.3.2 Người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án nhân dân theo
quy định Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 và năm 2003 26 1.4 Người tiến hành tố tụng hình sự trong luật tố tụng hình sự
một số nước trên thế giới 28 Kết luận chương 1 39 Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI TIẾN HÀNH
TỐ TỤNG HÌNH SỰ TRONG CƠ QUAN TÒA ÁN NHÂN DÂN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK 40 2.1 Những quy định pháp luật về người tiến hành tố tụng trong
cơ quan Toà án nhân dân 40 2.2 Quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm
của người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Toà án nhân dân trong giai đoạn xét xử sơ thẩm 44 2.2.1 Quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Toà án nhân dân trong giai đoạn chuẩn bị xét xử 44 2.2.2 Quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Toà án nhân dân trong phiên tòa xét xử sơ thẩm 49 2.3 Quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm
của những người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Toà án nhân dân trong giai đoạn xét xử phúc thẩm 56 2.4 Thực tiễn áp dụng pháp luật về người tiến hành tố tụng hình sự
trong cơ quan Tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 59 2.4.1 Tình hình tổ chức, cán bộ ngành Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk 59 2.4.2 Kết quả đạt được trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
người tiến hành tố tụng trong xét xử vụ án hình sự trong cơ
Trang 62.4.3 Những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật
về người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án nhân
dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 65
2.4.4 Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án 72
Kết luận chương 2 76
Chương 3: NHỮNG YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG TRONG CƠ QUAN TÒA ÁN NHÂN DÂN 77
3.1 Những yêu cầu cải cách tư pháp nhằm nâng cao chất lượng xét xử vụ án hình sự của những người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Toà án nhân dân 77
3.2 Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xét xử vụ án hình sự của người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án nhân dân 85
3.2.1 Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự của những người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án trong Bộ luật tố tụng hình sự 85
3.2.2 Các giải pháp khác nhằm nâng cao chất lượng xét xử vụ án hình sự của những người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án nhân dân 92
Kết luận chương 3 95
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 102
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS : Bộ luật Tố tụng hình sự HĐXX : Hội đồng xét xử
TAND : Tòa án nhân dân
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao THTT : Tiến hành tố tụng
TTHS : Tố tụng hình sự
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Những điểm khác nhau cơ bản của Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 1988 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 27
Bảng 2.1: Báo cáo số lượng cán bộ công chức ngành Tòa án nhân
Bảng 2.2: Báo cáo chất lượng cán bộ công chức ngành Tòa án nhân
dân hai cấp tỉnh Đắk Lắk tính đến tháng 7/2014 61 Bảng 2.3: Báo cáo về độ tuổi cán bộ công chức ngành Tòa án
nhân dân hai cấp tỉnh Đắk Lắk tính đến tháng 7/2014 62
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tòa án là trung tâm và là bộ mặt của nền tư pháp ở mỗi quốc gia Kết quả trong hoạt động xét xử là thước đo cho tính công bằng và mức độ đảm bảo các quyền dân chủ và quyền con người góp phần vào việc thực hiện pháp luật đảm bảo công bằng và giữ gìn trật tự xã hội, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật đối với những hành vi phạm tội nguy hiểm cho xã hội Xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp với vai trò trung tâm của hệ thống Tòa án là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta Nghị quyết Đại
hội lần thứ VIII của Đảng khẳng định “Tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức”, Đại hội lần thứ IX của
Đảng một lần nữa khẳng định: “Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện
quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân” Quán triệt chỉ đạo của Đảng, tiếp thu những tư tưởng mới về Nhà nước
pháp quyền cũng như thực tiễn công cuộc Đổi mới và hội nhập của đất nước
ta trong giai đoạn hiện nay, Hiến pháp năm 2013 kế thừa những thành tựu lập hiến của các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và 1992 vẫn tiếp tục khẳng định vị trí trung tâm của Tòa án trong hệ thống tư pháp, vị trí trọng tâm của hoạt động xét xử trong các hoạt động tư pháp
Theo quy định tại Điều 33 của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm
2003 thì người tiến hành tố tụng trong cơ quan Toà án gồm có Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Thẩm phán và Thư ký Toà án Là một trong các chủ thể của
tố tụng hình sự (TTHS), những người tiến hành tố tụng (THTT) trong cơ quan Tòa án có vai trò quan trọng, mang tính quyết định trong quá trình chứng minh, giải quyết vụ án hình sự Những người THTT có nhiệm vụ, quyền hạn
Trang 10khác nhau, nhưng hoạt động của họ có mối liên hệ mật thiết, thống nhất với nhau và đều có trách nhiệm là nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử
lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội, quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân
Thực tiễn tố tụng hình sự nước ta cho thấy mặc dù định hướng cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước rõ ràng và nhận được sự đồng thuận cao, đồng thời hiến pháp đã ghi nhận xét xử là chức năng duy nhất của tòa
án nhưng trong nghiên cứu lập pháp và hoạt động áp dụng vẫn chưa có sự đồng nhất trong việc tiếp cận vấn đề này Hệ quả dẫn tới trong khoa học pháp lý và thực tiễn công tác tố tụng tồn tại song song nhiều quan điểm, cách thức tiến hành còn khác nhau về tổ chức, hoạt động xét xử của tòa án Điều này có thể lý giải bởi hai nguyên nhân cơ bản: Ở góc độ luật thực định,
Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn hiện hành vẫn còn tồn tại những bất hợp lý trong phân định chức năng của các chủ thể tiến hành tố tụng, điển hình trong đó nhiều qui định buộc Tòa án phải chịu trách nhiệm chứng minh tội phạm và thực hiện những công việc bên phần sân công tố; hoặc quy định chưa rõ ràng hoặc qui định chưa đẩy đủ các quyền năng để Tòa án có thể thực hiện được “tròn trịa” vai trò trọng tài, người phân xử Ở góc độ các chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng hình sự, năng lực, trách nhiệm chưa cao của một bộ phận cán bộ thực hiện công tác tố tụng cùng với
cơ chế, phương thức giải quyết án tại nhiều cơ quan tiến hành tố tụng chưa thực sự khoa học và đúng với qui trình tố tụng cũng là nguyên nhân làm nảy sinh nhiều hạn chế trong công tác xét xử
Tỉnh Đắk Lắk là một tỉnh nằm ở trung tâm Tây Nguyên, Việt Nam có diện tích 13.140km²; dân số gần 2.000.000 người Cơ cấu tổ chức của ngành Tòa án tỉnh Đắk Lắk hiện nay gồm: TAND tỉnh Đắk Lắk có 05 Tòa chuyên
Trang 11trách, 03 phòng giúp việc và 15 Tòa án cấp huyện Toàn ngành TAND tỉnh Đắk Lắk có 322 công chức, trong đó có 291 người trình độ đại học Trong những năm qua, cùng với ngành Tòa án toàn quốc, TAND tỉnh Đắk Lắk đã không ngừng nỗ lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó Chất lượng hoạt động xét xử đã được nâng lên từng bước, góp phần giải quyết tốt các tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, tại môi trường ổn định, thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc
Nhận thấy tầm quan trọng về lý luận và thực tiễn trong việc nghiên cứu vai trò, chức năng, nhiệm vụ của những người THTT trong cơ quan Tòa án trong hệ thống pháp luật về tố tụng hình sự Việt Nam, tác giả mạnh dạn chọn
đề tài luận văn thạc sỹ là: “Người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án
Nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)”
2 Tình hình nghiên cứu
Vai trò, chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ giữa người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án với các chủ thể tham gia tố tụng hình sự khác là một trong những vấn đề được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu Sau khi BLTTHS năm 2003 có hiệu lực thi hành đã có một số công trình nghiên cứu đề cập các khía cạnh liên quan tới đề tài này như:
- “Giáo trình luật tố tụng hình sự”, của Khoa Luật - Đại học Quốc gia
Hà Nội;
- “Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam”, do GS.TS
Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2004;
- “Trình tự thủ tục giải quyết các vụ án hình sự”, của Mai Thanh Hiếu
và Võ Chí Công, Nxb Lao động, Hà Nội;
- “Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự (Xét xử sơ thẩm, phúc
Trang 12thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm)”, Th.S Đinh Văn Quế, Nxb Tổng hợp
Thành phố Hồ Chí Minh, 2007;
Tuy nhiên, các công trình đó mới nhằm đến những khía cạnh nhất định của người tiến hành tố tụng mà chưa nghiên cứu toàn diện và đề xuất hoàn thiện những bất cập mà khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án đã và đang gặp phải, nhất là trong quá trình cải cách hệ thống tư pháp hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án trong hoạt động tố tụng hình sự và thực trạng về chất lượng người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án trong hoạt động xét xử án hình sự trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk
Đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng xét xử vụ án hình sự thông qua việc đổi mới hoạt động của người tiến hành tố tụng trong
cơ quan Tòa án trong thời gian tới
Để đạt mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án trong BLTTHS
- Thực trạng áp dụng các quy định của BLTTHS về nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án vào xét xử vụ án hình
sự trong từng giai đoạn
- Các giải pháp hoàn thiện các quy định của BLTTHS về nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án nhằm nâng cao chất lượng xét xử vụ án hình sự
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng
Trang 13trong cơ quan Tòa án và những vấn đề trong công tác xét xử và áp dụng pháp luật trong giải quyết vụ án hình sự của từng chủ thể người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án qua thực tiễn tại tỉnh Đắk Lắk
Trên cơ sở mục đích, đối tượng nghiên cứu đã xác định phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu tập trung vào những vấn đề tố tụng hình sự liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án và thực tiễn áp dụng từ năm 2009 đến năm 2014 trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk nhằm phát hiện những tồn tại, hạn chế cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xét xử của Tòa án, từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục nguyên nhân, phát huy những thành tựu, đáp ứng một cách tốt nhất các yêu cầu của hoạt động xét xử các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân địa phương, đồng thời đề xuất các giải pháp để đảm bảo cho xét xử các vụ án hình sự của TAND đúng pháp luật, phù hợp với tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ yếu sử dụng phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phân tích và tổng hợp, lịch sử Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp của các bộ môn khoa học khác Hệ thống các phương pháp trên được sử dụng cụ thể như sau: Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng để giải quyết nhiệm vụ đặt ra ở các chương của luận văn
6 Đóng góp mới của luận văn
Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lí luận và thực tiễn về nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án nói chung và hoạt động xét xử vụ án hình sự trên địa bàn TAND tỉnh Đắk Lắk nói riêng Luận văn lần đầu tiên đưa ra những luận cứ khoa học để làm sáng tỏ một cách hệ thống vấn đề thực trạng mà người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án đã và đang xét xử vụ án hình sự trong những năm qua và đưa ra
Trang 14những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xét xử vụ án hình sự được tốt hơn
để từ đó có thể giúp cho người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án giải quyết vụ án hình sự được tốt hơn Luận văn đồng thời phân tích làm rõ những kết quả, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế trong việc xét xử vụ án hình sự trong thời gian qua của người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án
7 Ý nghĩa khoa học của luận văn
Luận văn góp phần xây dựng hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn trong chất lượng xét xử vụ án hình sự của người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án Luận văn có thể được xây dựng làm cơ sở hình thành nên các chính sách nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng hoạt động tố tụng hình sự Luận văn
có thể là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và trong công tác xét xử những
vụ án hình sự
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về người tiến hành tố tụng hình sự
trong cơ quan Tòa án nhân dân
Chương 2: Thực trạng pháp luật về những người tiến hành tố tụng
hình sự trong cơ quan Tòa án nhân dân và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
Chương 3: Những yêu cầu cải cách nhằm nâng cao chất lượng xét xử
vụ án hình sự của người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án nhân dân
Trang 15Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG
HÌNH SỰ TRONG CƠ QUAN TÒA ÁN NHÂN DÂN
1.1 Khái niệm, vị trí, vai trò và nguyên tắc hoạt động của người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án nhân dân
1.1.1 Khái niệm người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa
án nhân dân
Quá trình giải quyết vụ án hình sự là một quá trình liên tục có sự tham gia của nhiều chủ thể, trải qua nhiều giai đoạn tố tụng khác nhau với nhiều cơ quan tiến hành tố tụng khác nhau mà trong đó vị trí, vai trò của mỗi cơ quan
là khác nhau Mỗi giai đoạn tố tụng đều có những đặc điểm đặc trưng và thể hiện một hướng nhất định của hoạt động tố tụng Cơ quan tham gia vào trình
tự tố tụng hình sự này được gọi là cơ quan tiến hành tố tụng Tòa án nhân dân
là một trong những cơ quan tiến hành tố tụng có vị trí, vai trò quan trọng, là
cơ quan cuối cùng kết thúc một quá trình tố tụng
Người tiến hành tố tụng hình sự nói chung là những người đại diện các
cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện những nhiệm vụ trong các giai đoạn tố tụng (khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành bản án hình sự) nhằm đảm bảo giải quyết vụ án hình sự theo đúng pháp luật tố tụng hình sự quy định, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Dưới thời kỳ chiếm hữu nô lệ và phong kiến hình thức Nhà nước chủ yếu là quân chủ lập hiến, hoạt động xét xử cũng như hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp đều tập trung vào giai cấp chủ nô và phong kiến mà đại diện
là nhà vua Nhà vua là người nắm toàn bộ quyền hành, đứng đầu Nhà nước ban hành các đạo luật, quy định tổ chức thực hiện và là người có quyền lực cao nhất Đến thế kỷ XVII, XVIII giai cấp tư sản phát triển mạnh mẽ đại diện
Trang 16cho phương thức sản xuất tiên tiến đã hạn chế dần quyền lực của nhà vua, tiến tới xóa bỏ Nhà nước phong kiến Trong thời gian này, các học giả tư sản mà tiêu biểu nhất là Montesquieu trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” đã đưa ra luận điểm: Phải tách các hoạt động ban hành pháp luật, hoạt động thực hiện pháp luật và hoạt động xét xử, chia quyền lực nhà nước thành ba loại quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập với nhau tao cơ chế kiềm chế đối trọng lẫn nhau, chống lại tư tưởng độc quyền của một người, hay của một cơ quan nào đó, nắm toàn bộ quyền lực Nhà nước Có thể nói sự tách bạch và độc lập giữa Tòa án ra khỏi hai nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp đã hình thành nên một đội ngũ cán bộ mới trong bộ máy nhà nước làm nhiệm vụ xét
xử từ xưa đến nay chưa từng có
Người tiến hành tố tụng là một trong các chủ thể của tố tụng hình sự, có vai trò quan trọng, mang tính quyết định trong quá trình chứng minh, giải quyết vụ án hình sự Những người THTT có nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau, nhưng hoạt động của họ có mối liên hệ mật thiết, thống nhất với nhau và đều
có trách nhiệm là nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người
vô tội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Trên cơ sở phân loại theo các cơ quan THTT thì có người THTT trong Cơ quan điều tra, người THTT trong cơ quan Viện kiểm sát và người THTT trong cơ quan Toà án
Theo phân loại tại Điều 33 BLTTHS năm 2003, thì ngoài những cá nhân là người THTT trong cơ quan điều tra, cơ quan Viện kiểm sát thì trong
cơ quan Toà án cũng có các chủ thể là người THTT bao gồm:
- Chánh án, Phó Chánh án Toà án,
- Thẩm phán, Thư ký Toà án
Như vậy, ngoài các chức danh tư pháp như Thẩm phán, Hội thẩm nhân
Trang 17dân, Thư ký Tòa án, BLTTHS năm 2003 còn quy định những chức danh lãnh đạo của Toà án là người tiến hành tố tụng Do đó, có thể hiểu rằng, những người đại diện cho cơ quan Tòa án có thẩm quyền tiến hành xét xử vụ án hình
sự là người THTT Khi tiến hành những hoạt động cụ thể trong việc xét xử các
vụ án hình sự và thi hành các bản án, quyết định của Toà án, Tòa án phải thông qua những con người cụ thể, những người đó gọi là người tiến hành tố tụng
Việc bổ nhiệm các chủ thể THTT trong cơ quan Tòa án được theo điều kiện và cách thức do luật định Điều kiện và cách thức bổ nhiệm người tiến hành TTHS ở mỗi nước là khác nhau, tùy theo quy định của pháp luật TTHS nước đó Tuy nhiên, thông thường đều quy định các điều kiện về: Phẩm chất chính trị, trình độ pháp luật, học vấn, năng lực chuyên môn
Như vậy, người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án cũng như việc quy định về quyền, nghĩa vụ của họ được đề cập từ rất sớm trong lịch sử lập pháp Việt Nam Theo quy định của pháp luật có thể hiểu như sau về người
tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án: “Người tiến hành tố tụng hình sự
trong cơ quan Tòa án là người được cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm theo quy định của pháp luật có nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm tiến hành xét
xử các vụ án hình sự của Toà án theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định.”
1.1.2 Vị trí, vai trò của người tiến hành tố tụng hình sự trong Tòa án nhân dân
Vai trò của một chủ thể quan hệ pháp luật (tổ chức, cá nhân) được hiểu
là tổng hợp các quy định của pháp luật là cơ sở cho sự tồn tại, tổ chức, hoạt động cũng như thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chủ thể đó; làm căn cứ để phân biệt chủ thế đó với các chủ thể khác
Là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, hệ thống Tòa án nhân dân của Việt Nam thực hiện chức năng duy trì và bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự, nhân
Trang 18phẩm của công dân Các chức danh THTT trong cơ quan Tòa án có vị trí, vai trò thống nhất, không thể tách rời vị trí, vai trò của các cơ quan THTT Như vậy, vị trí, vai trò của Chánh án, Phó Chánh án Toà án và Thẩm phán, Thư ký Tòa án được quy định bởi vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Toà án là:
TAND tối cao, TAND địa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, Toà án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế XHCN, bảo
vệ chế độ XHCN, bảo vệ tài sản nhà nước, tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân [24, Điều 1] Tương ứng với cơ quan THTT là Tòa án thì có người THTT trong cơ quan Toà án
Là một trong các chủ thể của tố tụng hình sự, những chủ thể THTT kể trên có vai trò quan trọng, mang tính quyết định trong quá trình chứng minh, giải quyết vụ án hình sự Những người THTT này tuy có nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau, nhưng hoạt động của họ có mối liên hệ mật thiết, thống nhất với nhau và đều có trách nhiệm là nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử
lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội, quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân
Khi thực hành hoạt động tố tụng hình sự, các hành vi tố tụng của người tiến hành TTHS nói chung và người THTT trong cơ quan Tòa án nói riêng thể hiện đầy đủ những đặc trưng cơ bản của hoạt động tư pháp, đó là hoạt động
áp dụng pháp luật độc lập, khách quan, chỉ tuân theo pháp luật để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, trực tiếp sử dụng quyền lực Nhà nước trong khi thi hành công vụ, ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm, các quyền và lợi ích cơ bản của công dân được thực hiện theo thủ tục
tố tụng tư pháp chặt chẽ với mục đích phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử
Trang 19lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
Như vậy, vai trò của người THTT trong cơ quan Tòa án có thể coi là người duy nhất được Nhà nước, cụ thể là Tòa án giao trách nhiệm thực hiện các hành vi tố tụng trong hoạt động khởi tố, xét xử vụ án hình sự Những người tiến hành TTHS trong cơ quan Tòa án là người nhân danh Tòa án thực hiện các hoạt động TTHS theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Khi thực hiện nhiệm vụ chỉ tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật
và được pháp luật bảo vệ Người tiến hành TTHS là người có vai trò quan trọng, giữ vị trí trung tâm trong hoạt động TTHS
1.1.3 Các nguyên tắc trong hoạt động tố tụng của người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án nhân dân
Theo Từ điển tiếng Việt: “Nguyên tắc là điều cơ bản định theo, nhất
thiết phải tuân theo” [51] BLTTHS quy định các nguyên tắc nhằm bảo đảm
việc thực hiện Bộ luật được thống nhất Các nguyên tắc này chi phối một, một số hoặc toàn bộ các giai đoạn của hoạt động tố tụng hình sự, nó bảo đảm cho hoạt động của những người tiến hành tố tụng nói chung và các chủ thể trong cơ quan Tòa án nói riêng được đúng pháp luật Vì vậy trong quá trình giải quyết vụ án những người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành
tố tụng phải thực hiện nghiêm chỉnh các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự, mọi biểu hiện không tuân thủ đề có thể dẫn đến sai lầm trong quá trình giải quyết vụ án
Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành quy định các nguyên tắc tố tụng cơ bản áp dụng cho các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự tại chương II những nguyên tắc
cơ bản từ Điều 3 đến Điều 32 Bộ luật tố tụng hình sự Trong hàng loạt những nguyên tắc đó thì có những nguyên tắc cơ bản sau đây đối với người tiến hành
Trang 20Thứ nhất, nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự (Điều 3 Bộ luật tố tụng hình sự)
Pháp chế là yêu cầu đặt ra đối với mọi nhà nước hiện đại Hiến pháp
nước ta quy định: “nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật không ngừng
tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” (Điều 12) Nội dung chủ yếu của
pháp chế là các hoạt động của nhà nước và xã hội đều dựa trên cơ sở pháp luật nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật [9, tr.224]
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa được thể hóa tại Điều 3
BLTTHS: “Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải được tiến hành theo quy định
của Bộ luật này” [25] Theo nguyên tắc này thì khi giải quyết vụ án hình sự
mọi hoạt động tố tụng của người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án phải được tiến hành theo trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS bảo đảm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội; không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của BLTTHS được coi là nhiệm vụ của người tiến hành tố tụng Người tiến hành tố tụng được làm những gì mà pháp luật đã trao cho họ khi giải quyết vụ án hình sự Nếu không tuân theo nguyên tắc pháp chế sẽ dẫn đến việc xét xử oan sai, vi phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, làm tổn hại uy tín của hoạt động tư pháp, làm giảm lòng tin của nhân dân vào hiệu lực và sự công minh của pháp luật
Thứ hai, khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 16 Bộ luật Tố tụng hình sự)
BLTTHS quy định: “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật” [25, Điều 16] Đây là một trong các nguyên tắc đặc
biệt, quan trọng nhất của hoạt động xét xử - hoạt động chủ yếu và cơ bản của Tòa án, nó còn là một nguyên tắc Hiến định Là người tiến hành tố tụng, khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập, tự đưa ra bản án, quyết định trên cơ
Trang 21sở các chứng cứ, tài liệu được xem xét đánh giá khách quan Thẩm phán và Hội thẩm không phải chịu sự chỉ đạo của bất kỳ ai, không phải chịu tác động của bất cứ yếu tố nào ngoài pháp luật cụ thể là:
- Độc lập với những yếu tố khách quan: Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập với các yếu tố khách quan từ bên ngoài như độc lập với Tòa án cấp trên, độc lập với Chánh án Tòa án, độc lập với sự chỉ đạo của cấp ủy Đảng, độc lập với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, độc lập với yêu cầu của những người tham gia tố tụng, với dư luận xã hội, báo chí
- Độc lập với những yếu tố chủ quan: Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm ngang quyền trong việc đánh giá chứng cứ và đưa ra kết luận Trước khi
ở phiên tòa Thẩm phán phải tạo điều kiện cho Hội thẩm nghiên cứu hồ sơ Tại phiên tòa Thẩm phán phải tạo điều kiện để Hội thẩm xét hỏi, không được hạn chế thời gian xét hỏi của Hội thẩm Đặc biệt khi nghị án Thẩm phán phải tôn trọng Hội thẩm Không được áp đặt ý kiến quan điểm của mình cho các Hội thẩm Hội thẩm có quyền đưa ra ý kiến, kết luận độc lập của mình về vụ án Pháp luật quy định chỉ có Thẩm phán và Hội thẩm mới có quyền nghị án, khi nghị án HĐXX phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết từng vấn đề Bản án, quyết định của HĐXX được ban hành dựa trên ý kiến đa số các thành viên trong HĐXX, Thẩm phán biểu quyết sau cùng, người có ý kiến thiểu số khi nghị án có quyền bảo lưu ý kiến của mình bằng văn bản và ý kiến đó được lưu trong hồ sơ vụ án
Thẩm phán khi là thành viên của HĐXX phải căn cứ vào pháp luật để giải quyết vụ án Pháp luật ở đây được hiểu là Hiến pháp, pháp luật hình sự, pháp luật về tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật khác theo trật tự hiệu lực pháp lý Đây cũng là hành lang pháp lý mà HĐXX phải tuân theo khi xét
xử, phải đảm bảo việc xét xử theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định Khi xét xử HĐXX chỉ tuân theo pháp luật HĐXX không phải chịu sự chỉ đạo
Trang 22các văn bản, điều lệ, quy chế nào ngoài pháp luật Quyết định của HĐXX phải dựa trên cơ sở pháp luật, phải đảm bảo hợp hiến và hợp pháp
Độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là hai nội dung quan hệ chặt chẽ với nhau Chỉ khi nào đảm bảo cho Thẩm phán và Hội thẩm độc lập thì họ mới chỉ tuân theo pháp luật được và ngược lại Thẩm phán và Hội thẩm độc lập mới nâng cao chất lượng xét xử, mới bảo đảm trách nhiệm cá nhân, mới đúng với tính chất của hoạt động tư pháp, bảo đảm khách quan đúng với diễn biến phiên tòa
Trong thực tiễn áp dụng pháp luật ở nước ta hiện nay, nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật nhìn chung chưa được bảo đảm thực hiện tốt Việc can thiệp vào hoạt động xét xử vẫn xảy ra phổ biến, biểu hiện của nó có thể như “chỉ đạo án”, “duyệt án” hay có tác động để Thẩm phán, Hội thẩm xử theo ý mình, thậm chí là “chạy án” Các Hội thẩm chưa thực sự độc lập khi xét xử vẫn còn bị ảnh hưởng nhiều ý kiến của Thẩm phán Các hoạt động đó làm cho việc xét xử không được khách quan, công bằng, không đảm bảo công lý Điều đó có thể do nhiều nguyên nhân như chúng ta chưa tạo ra được cơ chế cho Thẩm phán và Hội thẩm thực
sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, trình độ năng lực của Thẩm phán và Hội thẩm chưa cao, chế độ chính sách, lương, phụ cấp của Thẩm phán chưa bảo đảm cuộc sống cho họ Đây là những nội dung cần xem xét, nghiên cứu để bảo đảm tính độc lập của HĐXX khi xét xử
Thứ ba, nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng trước Tòa án (Điều 19
Bộ luật Tố tụng hình sự)
Nguyên tắc này ghi nhận những người tham gia tố tụng được pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng với nhau và với Kiểm sát viên trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Tòa
án nhằm chứng minh cho quan điểm, ý kiến của mình là có căn cứ và hợp
Trang 23pháp Tòa án, cụ thể là những chủ thể là người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án phải có trách nhiệm đảm bảo cho các bên thực hiện các quyền pháp luật cho phép
Đây là một nguyên tắc tiến bộ, thể hiện tinh thần tranh tụng, đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp Tại phiên tòa bên buộc tội, bên gỡ tội và những người tham gia tố tụng khác đều được pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật để chứng minh cho quan điểm, ý kiến của mình là có căn cứ Họ được bình đẳng trong tranh luận, phát biểu ý kiến nhằm mục đích xác định sự thật khách quan của vụ án Các ý kiến, quan điểm các bên đưa ra phải gắn với vụ án đang xét xử BLTTHS còn có các quy định cụ thể để thực hiện nguyên tắc này như: Chủ tọa phiên tòa phải hỏi Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng xem có ai yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét hay không (Điều 205); Chủ tọa phiên tòa cũng có quyền yêu cầu Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến của những người tham gia tố tụng mà Kiểm sát viên chưa tranh luận (Điều 218)
Bảo đảm quyền bình đẳng của các bên trước Tòa án là trách nhiệm của HĐXX HĐXX phải xem xét chứng cứ, tài liệu do các bên đưa ra một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ không thiên lệch về bên nào để từ đó đưa ra bản án, quyết định chính xác, đúng pháp luật
Thứ tư, nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật (Điều 9 Bộ luật Tố tụng hình sự)
Đây là một nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự, nó không chỉ được ghi nhận trong BLTTHS mà còn được quy định tại Hiến pháp năm 2013 Trong khoa học pháp lý nguyên tắc này còn được gọi là nguyên tắc suy đoán vô tội
Nguyên tắc này khẳng định chỉ có Tòa án mới có quyền kết tội một con người đó bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật Khi chưa có bản án kết tội
Trang 24của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, không một người nào bị coi là có tội Tòa
án chỉ có thể kết tội một con người bằng bản án, Tòa án không thể kết tội ai
đó bằng quyết định Nếu không đủ cơ sở khẳng định bị cáo phạm tội thì phải giải thích theo hướng có lợi cho bị cáo Mọi hoài nghi về việc bị cáo có tội nhưng chưa rõ ràng, chưa vững chắc, còn mâu thuẫn đều phải được hiểu theo hướng có lợi cho bị cáo
Đồng thời, chỉ có Tòa án mới có quyền áp dụng hình phạt với bị cáo và Tòa án cũng chỉ được áp dụng hình phạt đối với người đã bị Tòa án tuyên bố phạm tội Không một cá nhân, cơ quan, tổ chức nào ngoài Tòa án có quyền áp dụng hình phạt với bị cáo
Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm nguyên tắc này thể hiện: người bị truy
tố và bị Tòa án đưa ra xét xử chưa bị coi là có tội Họ tham gia tố tụng với tư cách là bị cáo, những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng phải tôn trọng họ, không được định kiến, không được đối xử với họ như một người
đã có tội Việc xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa phải đảm bảo vô tư khách quan không suy diễn Kể cả sau khi Tòa án cấp sơ thẩm kết tội bị cáo, tuyên một mức hình phạt đối với họ thì cũng không vì thế mà cho rằng họ đã là người có tội Chỉ khi nào bản án có hiệu lực pháp luật thì họ mới bị coi là có tội
Thứ năm, nguyên tắc xác định sự thật của vụ án (Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự)
BLTTHS quy định:
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầu đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội, và chứng
cứ xác định vô tội, những tính tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội [25, Điều 10]
Trang 25Xác định sự thật của vụ án nhằm đảm bảo truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người đúng tội, không làm oan người vô tội và không bỏ lọt người phạm tội Việc xác định sự thật của vụ án không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc xem xét trách nhiệm hình sự mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề khác có liên quan của vụ án BLTTHS quy định các cơ quan tiến hành tố tụng phải áp dụng mọi biện pháp pháp luật quy định để tìm
ra sự thật khách quan của vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ Các
cơ quan này không chỉ đi tìm chứng cứ buộc tội mà phải thu thập cả các chứng cứ gỡ tội, thu thập các chứng cứ để chứng minh các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, các vấn đề khác có liên quan đến vụ
án như vấn đề dân sự trong vụ án hình sự Bị cáo không buộc phải chứng minh là mình vô tội nhưng họ có quyền chứng minh sự vô tội của mình
Nguyên tắc xác định sự thật là nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình tố tụng ở tất cả các giai đoạn, theo quy định của nguyên tắc này tại giai đoạn xét
xử, HĐXX phải kiểm tra tính hợp pháp của các chứng cứ, tài liệu, đã được thu thập HĐXX phải đánh giá chứng cứ một cách khách quan, đầy đủ toàn diện, phải xem xét các chứng cứ buộc tội cũng như những chứng cứ gỡ tội và các tình tiết khác có liên quan đến việc giải quyết vụ án để từ đó đưa ra bản
ở mức độ nào, chế tài áp dụng như thế nào… Điều đó đòi hỏi là khi xét xử,
Trang 26của vụ án sẽ không được thể hiện đầy đủ, việc áp dụng pháp luật sẽ không chính xác, ảnh hưởng tới uy tín của nhà nước, sự nghiêm minh của pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân Người giám định, người phiên dịch là những người tham gia tố tụng để giúp HĐXX làm sáng tỏ vụ án Hoạt động của họ cũng phải đảm bảo khách quan, vô tư như vậy mới góp phần để bản án, quyết định của HĐXX được chính xác, đúng pháp luật
BLTTHS quy định những người tiến hành tố tụng nói chung và người THTT trong Tòa án phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu có căn
cứ là họ có thể không vô tư khách quan trong khi thực hiện nhiệm vụ Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng như bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự… có quyền đề nghị thay đổi những người tiến hành
tố tụng Việc thay đổi thành viên của HĐXX trước khi mở phiên tòa do Chánh án Tòa án quyết định, tại phiên tòa HĐXX quyết định việc thay đổi những người tiến hành tố tụng
Ngoài các nguyên tắc trên HĐXX cũng phải tuân thủ theo các nguyên tắc khác của BLTTHS như: Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, nguyên tắc bào đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, nguyên tắc xét xử công khai, nguyên tắc tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự…
1.2 Mối quan hệ giữa những người tiến hành tố tụng hình trong cơ quan Tòa án nhân dân
1.2.1 Mối quan hệ giữa Thẩm phán với Chánh án, Phó Chánh án Tòa án
Trong hoạt động xét xử của Tòa án, các chủ thể tiến hành tố tụng của Tòa án tham gia vào trình tự tố tụng hình sự như: Chánh án, Phó Chánh án, Thư ký Tòa án có mối quan hệ chặt chẽ với các chủ thể khác và quan hệ với
Trang 27những người tham gia tố tụng như: bị cáo, người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự, người giám định, người phiên dịch Những quan hệ này đều được pháp luật tố tụng hình
sự điều chỉnh, những mối quan hệ này cũng góp phần tạo nên địa vị pháp lý của Hội đồng xét xử
Theo quy định tại Điều 38 BLTTHS, Chánh án là người tổ chức công tác xét xử của Tòa án, quyết định phân công Thẩm phán, Hội thẩm giải quyết, xét xử vụ án hình sự, quyết định việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm trước khi
mở phiên tòa Khi Chánh án vắng mặt một Phó Chánh án được Chánh án ủy
nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án
Đây là mối quan hệ còn được điều chỉnh bằng các quy định khác của pháp luật như Luật Tổ chức Tòa án, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân… Mối quan hệ này mang tính đan xen giữa hành chính và tố tụng Đó là việc phân công công tác của thủ trưởng cơ quan cho nhân viên và những người thuộc quyền quản lý của mình Trong hoạt động tố tụng HĐXX không
bị ảnh hưởng của Chánh án (hay Phó Chánh án) trong việc xét xử vụ án Không có quy định nào buộc Thẩm phán hay Hội thẩm phải chịu sự chỉ đạo của Chánh án hay Phó Chánh án khi xét xử Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Tuy nhiên trong thực tế tại không ít các Tòa án trước khi xét xử hoặc sau phần tranh luận, trước khi nghị án, Thẩm phán phải báo cáo nội dung vụ
án với Chánh án hoặc Ủy ban thẩm phán (ở Tòa án cấp tỉnh) để xin đường lối giải quyết vụ án, thậm chí là duyệt trước mức án Việc làm này ảnh hưởng không nhỏ đến tính độc lập của HĐXX, làm cho Thẩm phán, Hội thẩm không chủ động trong xét xử, thậm chí bị chi phối bởi đường lối giải quyết vụ án và mức án đã được lãnh đạo duyệt trước, khó quy trách niệm khi xảy ra oan, sai
Trang 28Làm giảm vai trò của HĐXX trong việc ra bản án, quyết định Một yếu tố nữa
có thể có ảnh hưởng đến hoạt động của HĐXX là việc phân công Thẩm phán
và Hội thẩm tham gia xét xử Việc phân công Thẩm phán, Hội thẩm rất quan trọng, cần phải đảm bảo phân công khách quan tránh trường hợp Thẩm phán
và Hội thẩm không vô tư hoặc là "một cánh" hoặc có sự lệ thuộc, ảnh hưởng với nhau dẫn đến khi xét xử không vô tư, không độc lập với nhau Mặc dù luật có quy định về việc người tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu có căn cứ là không vô tư nhưng quan trọng nhất là người Chánh án hoặc Phó Chánh án phải có sự phân công, tổ chức HĐXX phù hợp
1.2.2 Mối quan hệ giữa Thẩm phán với Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án
Nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán, Hội thẩm và Thư ký Tòa án được quy định khá rõ tại Điều 39, 40, 41 của BLTTHS và cũng có những quyền hạn, trách nhiệm riêng của mình có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động xét xử vụ án hình sự
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Quyết định này là căn cứ xác lập vị trí pháp lý của những người tiến hành tố tụng Trên cơ sở
đó, Thẩm phán, Hội thẩm mới có những quyền hạn, trách nhiệm mà pháp luật quy định cho các thành viên HĐXX Quyết định này cũng xác định tư cách của những người tham gia tố tụng trong vụ án như: bị can trở thành bị cáo, mới xác lập chính thức người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người làm chứng…, từ đó làm căn cứ triệu tập họ đến phiên tòa Quyết định này còn xác định tội danh, khung hình phạt bị cáo bị đưa ra xét xử Đây chính là giới hạn xét xử mà theo quy định tại điều 196 BLTTHS HĐXX không thể vượt qua Do vậy vai trò của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đối với HĐXX khi ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử là rất quan trọng
Trang 29Tại phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa là thành viên của HĐXX, phần lớn hoạt động của chủ tọa phiên tòa là thay mặt HĐXX thực hiện các quyền hạn, trách nhiệm của HĐXX như việc tiến hành các thủ tục bắt đầu phiên tòa, xét hỏi, công bố tài liệu, tuyên án… Chủ tọa phiên tòa thực hiện tốt các hoạt động này cũng là HĐXX thực hiện tốt quyền hạn và trách nhiệm của mình
- Mối quan hệ của Thẩm phán với Hội thẩm nhân dân: Hội thẩm nhân dân là người đại diện cho nhân dân tham gia vào công tác xét xử, giám sát hoạt động của Tòa án góp phần làm cho hoạt động xét xử đúng pháp luật, công bằng và đảm bảo pháp chế Hội thẩm nhân dân là người được bầu và được cử theo quy định của pháp luật để cùng Tòa án thực hiện nhiệm vụ xét
xử Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 đều quy định: Việc xét xử của Tòa án có Hội thẩm nhân dân, Tòa án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia theo quy định của pháp luật
Thẩm phán và Hội thẩm thảo luận và thông qua các vấn đề liên quan đến vụ án, giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình xét xử Nhưng khi quyết định bản án Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán, để cùng với Thẩm phán đưa ra một bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Mối quan hệ giữa Thẩm phán và Hội thẩm là mối quan hệ độc lập, độc lập với chính những thành viên trong HĐXX Tuy nhiên, trong hoạt động xét xử vị trí của Thẩm phán là trung tâm, điều này thể hiện trong toàn bộ quá trình xét xử Thẩm phán luôn giữ vai trò điều khiển phiên tòa từ phân tuyên bố khai mạc phiên tòa đến phần tuyên bố kết thúc phiên tòa Trong quá trình nghị án, Hội thẩm là người nêu ý kiến trước về việc giải quyết vụ án và biểu quyết giữa ba thành viên HĐXX về từng vấn đề cụ thể trong vụ án
Tuy nhiên, Thẩm phán phải có trách nhiệm phân tích, giải thích những vấn đề liên quan đến quy định pháp luật mà các vị Hội thẩm chưa nắm rõ Vì Hội thẩm nhân dân không phải là người được đào tạo chuyên về pháp luật nên
Trang 30khi xét xử họ thường thiên về cảm tính và niềm tin nội tâm Mối quan hẹ của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân chỉ phát sinh từ khi có quyết định đưa vụ
án ra xét xử đến khi kết thúc phiên tòa
- Mối quan hệ đối với Thẩm phán và Thư ký Tòa án: Thẩm phán và Thư ký Tòa án đều là những người tiến hành tố tụng nên mối quan hệ giữa Thẩm phán và Thư ký là mối quan hệ được điều chỉnh bằng pháp luật tố tụng
và nó chỉ phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Thẩm phán không phải là thủ trưởng của Thư ký Tòa án và Thư ký Tòa án cũng không phải là Thư ký riêng của Thẩm phán Tuy nhiên, Thư ký là người giúp việc cho Thẩm phán để thực hiện những tác nghiệp trong quá trình giải quyết vụ
án do đó Thư ký phải chịu sự giám sát, kiểm tra, đôn đốc hướng dẫn của Thẩm phán nhằm thực hiện đúng các quy định của pháp luật Nhiệm vụ chính
và quan trọng nhất của thể hiện tại phiên tòa đối với Thư ký Tòa án đó là ghi biên bản phiên tòa Bên cạnh đó, tại phiên tòa Thư ký phải phổ biến nội quy phiên tòa, sắp xếp chỗ ngồi cho đương sự, kiểm tra sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng và báo cáo trước Hội đồng xét xử để quyết định
có phải hoãn phiên tòa hay không Thư ký còn giúp Thẩm phán ra một số quyết định tại phiên tòa như: Quyết định hoãn phiên tòa, Quyết định bắt tạm giam, Quyết định trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa… Có thể nói, với nhiệm vụ ghi biên bản phiên tòa được Thư ký thực hiện một cách cẩn thận, chính xác, phản ánh trung thực, đầy đủ diễn biến của vụ án tại phiên tòa là điều vô cùng quan trọng Đó là cơ sở pháp lý là tài liệu nghiên cứu hồ sơ theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm nếu bản án bị kháng cáo, kháng nghị hoặc khiếu nại Thư ký và Thẩm phán phối hợp chặt chẽ với nhau sẽ tránh được tình trạng hoãn phiên tòa do lỗi chủ quan của Tòa án, đảm bảo vụ án được xét
xử theo đúng thời hạn quy định của pháp luật
Ngoài những công việc thuộc nhiệm vụ được giao khi tiến hành phiên
Trang 31xét xử thì Thư ký Tòa án được phân công tiến hành tố tụng đối với vụ án hình
sự sẽ tiến hành các hoạt động tố tụng thuộc thẩm quyền của Tòa án theo sự phân công của Chánh án Tòa án Thư ký Tòa án phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Chánh án Tòa án về những hành vi của mình
Tùy theo số lượng thành viên, Hội thẩm nhân dân khi được phân công xét xử vụ án hình sự có vai trò độc lập trong quyết định của mình khi tham gia xét xử Theo đó, khác với Thư ký Tòa án chịu trách nhiệm trước Chánh
án, thì Hội thẩm chỉ chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định của mình
1.3 Khái quát các quy định của pháp luật về người tiến hành tố tụng các vụ án hình sự trong cơ quan Tòa án nhân dân từ năm 1945 đến nay
Ra đời chính thức vào ngày 13/9/1946, hệ thống Toà án của nước ta đã lần lượt trải qua những cải cách về tổ chức và hoạt động: theo quy định của Hiến pháp năm 1946, Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/05/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1960, Hiến pháp năm 1980 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981, Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001), các luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1992 và năm 2002 Những thay đổi, cải cách của hệ thống Toà án đã mang lại những kết quả tích cực về tổ chức và hoạt động, đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn và nhiệm vụ chính trị đặt ra trong từng giai đoạn bảo vệ và xây dựng đất nước từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay Trong quá trình xây dựng hệ thống Tòa án, các quy định liên quan tới thẩm quyền, chức năng và nhiệm vụ của những người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án cũng có nhiều thay đổi qua thời gian Trọng tâm của những thay đổi này nằm ở chức danh Thẩm phán và các Hội thẩm, Thư ký Tòa án
Trang 321.3.1 Người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án nhân dân trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1988
Giai đoạn từ 1945 đến 1960:
Ngay khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã ký Sắc lệnh 33/C ngày 13/9/1945 thiết lập các Tòa án quân sự Sắc lệnh này quy định việc xét xử của Tòa án quân sự được tổ chức với Hội đồng xét xử gồm
có Chánh án và hai Hội thẩm Ngày 24/1/1946, Chủ tịch nước ký Sắc lệnh số 13/SL về tổ chức và các ngạch Thẩm phán Theo đó, ở Tòa án ngoài Thẩm phán còn có các phụ thẩm tham gia xét xử Phụ thẩm tham gia xét xử ở Tòa án đệ nhị cấp Khi xét xử các việc tiểu hình ngoài Chánh án còn có 2 phụ thẩm, phụ thẩm không có quyền xem hồ sơ nhưng có quyền yêu cầu Chánh án hỏi thêm các bị cáo và cho biết các giấy tờ có trong hồ sơ, Chánh án phải hỏi ý kiến các Phụ thẩm về tội trạng các phạm nhân và hình phạt, sau đó tự Chánh án quyết định Khi xét xử các việc đại hình tại Tòa án đệ nhị cấp HĐXX gồm có Chánh án, hai Thẩm phán chuyên môn và hai Phụ thẩm nhân dân HĐXX xét xử có 5 người các Phụ thẩm ngang quyền với các Thẩm phán chuyên môn khi quyết định các vấn đề về tội trạng, hình phạt, tăng tội, giảm tội Việc nghị án của phiên tòa được
thực hiện theo nguyên tắc đa số Hiến pháp năm 1946 quy định “Trong việc xét
xử phải có Phụ thẩm nhân dân tham gia ý kiến nếu là việc tiểu hình, hoặc cùng quyết định với Thẩm phán nếu là việc đại hình” [15, Điều 65]
Ngày 22/5/1950, Chủ tịch nước ký sắc lệnh số 85/SL về Cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng theo đó mở rộng dân chủ hơn trong bộ máy tư pháp, đổi tên Tòa án sơ cấp thành Tòa án cấp huyện, Tòa án đệ nhị cấp thành Tòa án phúc thẩm; Phụ thẩm đổi thành Hội thẩm Khi xét xử các vụ
án hình sự ở Tòa án cấp tỉnh gồm có 1 Thẩm phán và 2 Hội thẩm Hội thẩm
có quyền xem hồ sơ và có quyền ngang Thẩm phán khi xét xử cả việc tiểu hình và đại hình
Trang 33Hiến pháp năm 1959 được ban hành ghi nhận các nguyên tắc dân chủ trong hoạt động xét xử của Tòa án, pháp điển hóa các nguyên tắc xét xử trong
tố tụng hình sự như: Khi xét xử Tòa án (gồm Thẩm phán và Hội thẩm) độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Ðiều 100); Khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán (Ðiều 99) Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 chính thức quy định nguyên tắc “Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số” vào trong luật Luật cũng quy định khi xét xử sơ thẩm hình sự Tòa án nhân dân gồm có 1 Thẩm phán và 2 Hội thẩm Vụ án nhỏ không quan trọng thì chỉ
có 1 Thẩm phán xét xử, không có Hội thẩm tham gia
Giai đoạn từ năm 1960 đến 1988:
Sau khi đất nước thống nhất, Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ban hành Sắc luật số 01/Sl/76 ngày 15/3/1976 quy định về tổ chức Tòa án nhân dân Sắc luật này quy định khi xét xử sơ thẩm đồng thời là chung thẩm HĐXX gồm có 1 Thẩm phán và 2 Hội thẩm, khi xét
xử Hội thẩm ngang quyền Thẩm phán và quyết định theo đa số Sau khi nước
ta tiến hành tổng tuyển cử năm 1976 đất nước được thống nhất hệ thống Tòa
án cũng được tổ chức thống nhất lại
Hiến pháp năm 1980 được Quốc hội khóa VI thông qua ngày 18/12/1980
đã ghi nhận: “TAND xét xử tập thể và quyết định theo đa số, khi xét xử Hội thẩm
nhân dân ngang quyền với Thẩm phán [18, Điều 132]; Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” [18, Điều 131] Thời gian này
chưa có BLTTHS nên các quy định về việc xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự vẫn theo các quy định trước đó
Ngày 28/6/1988 Quốc hội nước ta thông qua BLTTHS đầu tiên BLTTHS năm 1988 là một bước tiến lớn về pháp luật tố tụng hình sự ở nước
ta Bộ luật đã có các quy định cụ thể về thành phần HĐXX, các nguyên tắc hoạt động của HĐXX, quyền hạn, trách nhiệm của HĐXX
Trang 341.3.2 Người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án nhân dân theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 và năm 2003
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 là Bộ luật Tố tụng hình sự đầu tiên của Nhà nước ta được ban hành trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, gồm: Lời nói đầu, 7 phần, 32 chương, 293 điều Sự ra đời của Bộ luật Tố tụng hình sự đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ những thành quả của cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, phục vụ tích cực công cuộc đổi mới, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Trong quá trình thi hành, Bộ luật Tố tụng hình sự này đã được Quốc hội nước ta sửa đổi, bổ sung 3 lần vào ngày 30/6/1990, ngày 22/12/1992 và ngày 09/6/2000 Các lần sửa đổi, bổ sung được thực hiện với mục tiêu thể chế hóa một số quan điểm về cải cách tư pháp ở nước ta trong thời kỳ mới
Nhận định về các quy định về người tiến hành tố tụng trong Bộ luật Tố tụng hình sự 1988, có thể nói, Bộ luật tuy đã có nhiều quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng Tuy nhiên, các quy định này còn có những bất cập, chưa phân định được rõ ràng, cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các chức danh tố tụng Điều này làm giảm hiệu quả hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng
Bộ luật TTHS năm 1988 quy định các chủ thể là người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án nhân dân tại Điều 27 Cụ thể, bao gồm: Thẩm phán; Hội thẩm nhân dân; Thư ký phiên toà Như vậy, điểm khác biệt cơ bản
là các chức danh tư pháp của Tòa án nhân dân như Chánh án, Phó Chánh án không được coi là người tiến hành tố tụng hình sự So sánh quy định về người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án giữa hai bộ luật có thể thấy những điểm khác nhau cơ bản:
Trang 35Bảng 1.1: Những điểm khác nhau cơ bản của Bộ luật Tố tụng hình sự năm
1988 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
Điều 27 Cơ quan tiến hành tố tụng và
người tiến hành tố tụng
1- Các cơ quan tiến hành tố tụng gồm có:
a) Cơ quan điều tra;
d) Hội thẩm nhân dân;
đ) Thư ký phiên toà
Điều 33 Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng
1 Các cơ quan tiến hành tố tụng gồm có: a) Cơ quan điều tra;
b) Viện kiểm sát;
c) Toà án
2 Những người tiến hành tố tụng gồm có: a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên;
b) Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên;
c) Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án
Đối với các quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể người tiến hành tố tụng, Bộ luật hình sự năm 1988 hoàn toàn không xây dựng các quy định
cụ thể về quyền hạn, nghĩa vụ mà đưa vào từng quy định về quyền và nghĩa vụ trong trình tự tiến hành tố tụng của Tòa án Đây cũng là một trong những hạn chế của Bộ luật này nếu so sánh với Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành
Về trình tự tố tụng xét xử tại phiên toà, Bộ luật hình sự năm 1988 không có nhiều thay đổi so với bản hướng dẫn năm 1974, đây là giai đoạn quan trọng nhất của trình tự tố tụng Việc xét xử phải đảm bảo nguyên tắc công khai, liên tục, trực tiếp và bằng lời nói, có Hội thẩm tham gia, xét xử tập thể và quyết định theo đa số Theo khoản 2 Điều 181 BLTTHS năm 1988 thì chủ toạ hỏi trước rồi đến các Hội thẩm Sau đó đến Kiểm sát viên, người bào
Trang 36quan trọng Tại phiên toà, Thẩm phán vừa là người làm sáng tỏ nội dung vụ
án, vừa là người buộc tội vừa là người gỡ tội Vai trò của Kiểm sát viên tại phiên toà mờ nhạt Phần tranh luận được quy định riêng tại chương XX, song việc tranh luận còn nặng về hình thức Mục đích của việc tranh luận là để cho những người tham gia tranh luận phân tích, đánh giá việc phạm tội một cách toàn diện Nhưng hiệu quả thực tế của việc tranh luận tại phiên toà là không cao, chỉ mang tính hình thức Kết thúc phần tranh luận, HĐXX vào phòng nghị án và ra tuyên án Tất cả các giai đoạn này đều được quy định cụ thể tại các điều 196, 197, 198, 199 và 200 BLTTHS năm 1988
1.4 Người tiến hành tố tụng hình sự trong luật tố tụng hình sự một
số nước trên thế giới
Khoa học luật tố tụng hình sự của một số nước như Việt Nam, các nước XHCN Đông Âu và Liên Xô trước đây thì quá trình tố tụng hình sự bắt đầu từ thời điểm có quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật được thi hành Nếu có dấu hiệu tội phạm, thì cơ quan có thẩm quyền phải khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi có bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật được thi hành Nếu có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền phải khởi tố vụ án để làm căn cứ tiến hành điều tra và truy tố trước tòa Hàng loạt giai đoạn tố tụng đó được nối tiếp nhau theo một trình tự chặt chẽ do luật tố tụng hình sự quy định Như vậy, có thể hiểu tố tụng hình sự bao gồm các giai đoạn: Khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử (bao gồm cả xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hay tái thẩm) và thi hành án Tương ứng với mỗi giai đoạn này là quyền và nghĩa vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
và người tham gia tố tụng
Mục đích cơ bản của tố tụng hình sự đó là tìm ra sự thật khách quan, trừng trị đúng người đúng tội, không làm oan sai người vô tội Tuy nhiên để
Trang 37làm việc đó thì mỗi quốc gia lại áp dụng một phương pháp khác nhau để tìm đến sự thật khách quan Sự khác biệt đó thể hiện chủ yếu ở vị trí, vai trò cơ bản của ba cơ quan tiến hành tố tụng trong đó nổi bật nhất là Tòa án Thủ tục
tố tụng của các nước trên thế giới hiện nay phân chia thành hai hệ thống chủ yếu đó là: Hệ thống tố tụng thẩm vấn (hay còn gọi là hệ thống tố tụng xét hỏi)
và hệ thống tố tụng tranh tụng Tuy nhiên có quan điểm cho rằng có ba hệ thống ngoài hai hệ thống trên còn có hệ thống tranh tụng pha trộn
Mô hình tố tụng tranh tụng chủ yếu được áp dụng ở các nước theo hệ thống pháp luật án lệ như: Anh Mỹ, Canada, Oxtrâylia và một số nước là thuộc địa của Anh trước đây
Mô hình tố tụng thẩm vấn chủ yếu được áp dụng ở các nước theo hệ thống pháp luật lục địa như: Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Italia,… và các nước XHCN Sự phân chia các hệ thống tố tụng hình sự thành hệ tranh tụng và hệ thẩm vấn không có nghĩa là sự tranh tụng chỉ có trong hệ tranh tụng còn trong
hệ thẩm vấn thì không có tranh tụng và ngược lại Ngày nay, hai hệ thống tố tụng này đang chịu sự ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau, thâm nhập lẫn nhau và trong mỗi hệ thống đều chứa đựng một số yếu tố của hệ thống kia
Mô hình tố tụng hình sự tranh tụng là một trong các mô hình tố tụng hình sự phổ biến hiện nay trên thế giới; bảo đảm sự bình đẳng tuyệt đối giữa bên buộc tội (cơ quan công tố) và bên bào chữa trong suốt quá trình đi tìm
sự thật vụ án Đây là mô hình tạo ra nhiều cảm hứng cho quá trình cải cách, nâng cao chất lượng tố tụng hình sự của nhiều quốc gia trên thế giới Theo
đó, mô hình này có một quy trình tố tụng, đặc biệt trong giai đoạn xét xử thể hiện tính công bằng cao, thể hiện qua vai trò bình đẳng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội Ở giai đoạn tiền xét xử, công tố viên và luật sư có quyền điều tra, thu thập chứng cứ như nhau Khi xét xử, chứng cứ của họ đều được đưa ra
để thẩm tra trước tòa, đều có quyền lựa chọn nhân chứng để thẩm tra…
Trang 38Thông qua đối tụng giữa công tố viên và luật sư mà tòa án gồm đoàn bồi thẩm và Thẩm phán chủ tọa phán quyết về sự thật khách quan và định hình phạt Mô hình này cho phép luật sư có thể tham gia đầy đủ vào quá trình tố tụng nên Tòa án có thể thêm được một nguồn thông tin giá trị để khám phá
sự thật khách quan của vụ án Thay vì chỉ xem xét các chứng cứ có trong hồ
sơ hình sự thì đoàn bồi thẩm được tiếp cận chứng cứ của cả bên buộc tội và bên gỡ tội Điều này bảo đảm cho mục đích tìm ra sự thật khách quan và chất lượng tranh tụng được nâng lên
Trong mô hình tố tụng tranh tụng không tồn tại một "hồ sơ hình sự" theo nghĩa sử dụng trong mô hình tố tụng thẩm vấn Bên buộc tội và bên bào chữa đều có quyền lập hồ sơ và khi ra phiên tòa xét xử, cả hai bộ hồ sơ đều không có giá trị chứng cứ vì chỉ có chứng cứ nào được trình bày và thẩm tra tại tòa bằng miệng mới được sử dụng để định tội
Ngoài ra, với sự công bằng của quy trình tố tụng, mô hình tranh tụng thể hiện ở mức độ cao hơn sự tôn trọng quyền cơ bản của công dân Vai trò của luật sư giúp giảm đi sự lạm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng Quyền được suy đoán vô tội của người dân được tôn trọng hơn so với mô hình tố tụng hình sự khác
Mô hình tố tụng thẩm vấn được phổ biến rộng rãi nhất trong thời đại chế độ chuyên chế Tố tụng theo mô hình này nghĩa là huy động các cơ quan
tố tụng chuyên nghiệp của Nhà nước (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát/ Viện công tố, Tòa án) vào quá trình đi tìm sự thật của vụ án, các cơ quan này cùng được giao trách nhiệm chứng minh tội phạm
Về bản chất, tố tụng thẩm vấn đặt mục đích tìm kiếm sự thật là nhiệm
vụ tối quan trọng Trình tự giải quyết vụ án hình sự được xem như là một cuộc điều tra, trong đó, người tiến hành điều tra là đại diện của quyền lực nhà nước và phương pháp điều tra là thẩm vấn Tòa án giải quyết vụ án dựa trên
Trang 39hồ sơ vụ án kết hợp với việc tiếp tục thẩm vấn tại phiên tòa Tòa án điều hành mọi tiến trình vụ án Khi một vụ việc được đưa đến cho Tòa án, Tòa án sẽ nắm giữ trách nhiệm tìm kiếm sự thật cho riêng mình Điều này ngược lại với
mô hình tranh tụng, nơi mà bồi thẩm đoàn giao quyền chủ động cho công tố viên và luật sư tại phiên tòa và chỉ quyết định khi bị thuyết phục bởi lý lẽ, chứng cứ của một trong hai bên Yếu tố công bằng chi phối mô hình tố tụng tranh tụng thì ở mô hình này bị gạt sang một bên trong việc tìm kiếm sự thật
Khác với mô hình tố tụng tranh tụng, vai trò của cơ quan nhà nước trong việc tham gia tố tụng theo mô hình này là chủ yếu Hiện diện trong suốt quá trình tố tụng là một hồ sơ vụ án hình sự thống nhất được lập từ giai đoạn điều tra và là nơi chứa đựng chứng cứ xác định tội phạm Các cơ quan tiến hành tố tụng, bao gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án là những chủ thể đóng vai trò chính trong toàn bộ quá trình tố tụng và chi phối toàn bộ
mô hình tố tụng Các cơ quan tiến hành tố tụng là chủ thể xác định sự thật khách quan của vụ án, có toàn quyền trong việc xây dựng hồ sơ vụ án và coi
đó là chứng cứ để xem xét định tội
Thẩm phán đóng vai trò chủ động trong mô hình này Kết quả của quá trình điều tra trước khi mở phiên tòa có ý nghĩa to lớn đối với phán quyết của Thẩm phán Chính vì thế, nhiệm vụ của Thẩm phán tại phiên tòa là kiểm tra, thẩm định lại các chứng cứ đã được thu thập trước đó Điều này lý giải tại sao việc xem xét và đánh giá tính có căn cứ và tính hợp pháp của chứng cứ được coi là đặc trưng của tố tụng thẩm vấn Việc đặt nặng hoạt động điều tra ở giai đoạn tiền tố tụng trước khi mở phiên tòa đòi hỏi các bên gồm cảnh sát điều tra, đại diện Viện công tố và đặc biệt là Thẩm phán phải tập trung vào việc chứng minh tội phạm, do đó các chức năng tố tụng không được phân định một cách rõ ràng, cụ thể mà chủ yếu tập trung vào Tòa án Tòa án vừa chi phối, giám sát hoạt động điều tra trước phiên tòa, vừa thực hiện chức năng xét xử
Trang 40Phiên tòa với bản chất của cuộc điều tra lại, điều tra tiếp được tiến hành bởi thẩm phán nên sự tham gia của Công tố viên và bên bào chữa trở nên hình thức, dẫn đến quyền bào chữa của người bị cáo bị hạn chế So với công tố viên, vai trò của người bào chữa trong tố tụng thẩm vấn không được coi trọng Công tố viên thường xuất hiện trong vụ kiện sớm hơn so với luật sư bào chữa
Với bản chất không đặt nặng hình thức như tố tụng tranh tụng, tố tụng thẩm vấn coi sự thật sau cùng của vụ án là mục đích được mong chờ, do đó, những sai phạm không đáng kể trong thủ tục có thể được bỏ qua nếu mục đích chứng minh tội phạm vẫn được giải quyết Thủ tục phiên tòa đơn giản, nhanh chóng Việc xét xử không cần thiết phải có mặt đầy đủ những người tham gia
tố tụng, chứng cứ thu thập chỉ cần thẩm tra lại tại phiên tòa và gánh nặng xét hỏi do Tòa án đảm nhận
Tuy nhiên, với việc Thẩm phán luôn chiếm ưu thế nổi trội hơn trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên giai đoạn xét xử tại phiên tòa chỉ đơn thuần là xác minh lại những gì đã được tìm thấy ở giai đoạn trước đó Chứng
cứ là do Thẩm phán điều tra tập hợp nên việc thẩm vấn bị xem là đi ngược lại nguyên tắc vô tư, khách quan và việc tranh luận tại phiên tòa trở nên vô nghĩa Mặt khác, quyền con người trong tố tụng thẩm vấn bị buộc tội bị ảnh hưởng nghiêm trọng Mặc dù mục đích của tố tụng thẩm vấn là bảo vệ người
bị buộc tội chống lại những cáo buộc thiếu cơ sở, xong những tiềm tàng do
sự lạm dụng kéo dài của thủ tục tố tụng tiền xét xử là hiển nhiên Trên thực
tế, bị cáo có thể phải trải qua một thời gian bị giam giữ, thiếu thốn những điều kiện cần thiết cho việc bào chữa Do đó, so với tố tụng tranh tụng, quyền bào chữa của người bị buộc tội ở tố tụng thẩm vấn thực chất chỉ là quyền mang tính hình thức, vai trò của người bào chữa bị coi nhẹ và quyền của người bị buộc tội không được bảo đảm Điều này làm mất ý nghĩa của tố tụng hình sự, tạo tiền đề cho sự lạm dụng quyền lực nhà nước, ảnh hưởng đến quyền lợi của công dân