1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mặt chủ quan của tội phạm trong luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk)

110 448 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hệ thống pháp luật của nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Vi ệt Nam, Luật hình sự có vị trí rất quan trọng , là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng và

Trang 1

ĐẠI HỌC QUễ́C GIA HÀ Nệ̃I

KHOA LUẬT

HOÀNG THỊ CẨM VÂN

MặT CHủ QUAN CủA TộI PHạM

TRONG LUậT HìNH Sự VIệT NAM

(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUễ́C GIA HÀ Nệ̃I

KHOA LUẬT

HOÀNG THỊ CẨM VÂN

MặT CHủ QUAN CủA TộI PHạM

TRONG LUậT HìNH Sự VIệT NAM

(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)

Chuyờn ngành: Luõ ̣t hình sự và tố tụng hình sự

Mã sụ́: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cỏn bộ hướng dõ̃n khoa ho ̣c: PGS TS NGUYấ̃N NGỌC CHÍ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Hoàng Thị Cẩm Vân

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MẶT CHỦ QUAN CỦA TỘI PHẠM 7

1.1 KHÁI NIỆM CẤU THÀNH TỘI PHẠM VÀ MẶT CHỦ QUAN CỦA TỘI PHẠM 7

1.1.1 Khái niệm cấu thành tội phạm 7

1.1.2 Ý nghĩa của cấu thành tội phạm 11

1.1.3 Các yếu tố của cấu thành tội phạm 14

1.2 CÁC DẤU HIỆU THUỘC MẶT CHỦ QUAN CỦA TỘI PHẠM 18

1.2.1 Dấu hiê ̣u lỗi 21

1.2.2 Dấu hiê ̣u đô ̣ng cơ và mu ̣c đích pha ̣m tô ̣i 42

1.2.3 Sai lầm và ảnh hưởng sai lầm đối với trách nhiê ̣m hình sự của người pha ̣m tô ̣i 44

Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐI ̣NH VỀ MẶT CHỦ QUAN CỦA TỘI PHẠM – TRÊN ĐI ̣A BÀN TỈNH ĐẮK LẮK 48

2.1 THỰC TIỄN XÁC ĐI ̣NH DẤU HIỆU LỖI 48

2.1.1 Thực tiễn đánh giá lỗi để đi ̣nh tô ̣i danh 49

2.1.2 Thực tiễn đánh giá lỗi để định khung hình phạt, quyết định hình phạt 55

2.1.3 Thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS về các trường hợp không có lỗi, trường hợp hỗn hợp lỗi 64

2.2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐI ̣NH VỀ ĐỘNG CƠ , MỤC ĐÍCH PHẠM TỘI 66

Trang 5

2.2.1 Thực tiễn áp dụng các quy định về động cơ, mục đích phạm tội

trong việc định tội danh 66

2.2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định về động cơ, mục đích phạm tội trong việc định khung hình phạt và quyết định hình phạt 70

2.3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG LÝ LUẬN VỀ SAI LẦM VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA SAI LẦM ĐẾN TRÁCH NHIỆM HÌNH 72

Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ MẶT CHỦ QUAN CỦA TỘI PHẠM 75

3.1 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ LỖI 75

3.1.1 Xây dựng khái niê ̣m lỗi 75

3.1.2 Hoàn thiện các dấu hiệu xác định từng loại lỗi 78

3.1.3 Giải pháp hoàn thiện dấu hiệu lỗi trong cấu thành tội phạm cụ thể ở phần các tô ̣i pha ̣m 80

3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐỘNG CƠ , MỤC ĐÍCH PHẠM TỘI 84

3.2.1 Xây dựng khái niê ̣m đô ̣ng cơ và mu ̣c đích pha ̣m tô ̣i 84

3.2.2 Giải pháp hoàn thiện dấu hiệu động cơ và mu ̣c đích pha ̣m tô ̣i trong cấu thành tô ̣i pha ̣m 85

3.3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH KHÁC 89

3.3.1 Hoàn thiê ̣n các quy đi ̣nh về trường hợp không có lỗi 89

3.3.2 Hoàn thiện quy định về sai lầm và ảnh hưởng của sai lầm đến trách nhiệm hình sự 90

3.3.3 Hoàn thiện các quy định dấu hiệu mặt chủ quan của tộ i pha ̣m trong hoa ̣t quyết đi ̣nh hình pha ̣t 94

3.3.4 Hoàn thiện các quy định về các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của pháp nhân 95

3.3.5 Một số giải pháp của tỉnh Đắk Lắk để hoàn thiện các quy định về các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm 99

KẾT LUẬN 100

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS : Bộ luật hình sự

BLTTDS : Bộ luật tố tụng dân sự BLTTHS : Bộ luật Tố tụng hình sự CTTP : Cấu thành tội phạm PLHS : Pháp luật hình sự

TAND : Tòa án nhân dân

THAHS : Thi hành án hình sự TNHS : Trách nhiệm hình sự TTHS : Tố tụng hình sự

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhâ ̣n thức tô ̣i pha ̣m là mô ̣t hiê ̣n tượng xã hô ̣i , là mặt trái củ a sự phát triển xã tô ̣i Tuy nhiên để loa ̣i bỏ tô ̣i pha ̣m ra khỏi xã hô ̣i là mô ̣t vấn đề không thể và đi ngược la ̣i với quy luâ ̣t tồn ta ̣i xã hô ̣i Vì thế, chúng ta cần chú trọng đến hoạt động phòng , chống tô ̣i pha ̣m sao cho ha ̣n chế đến mô ̣t mức đô ̣ thấp nhất mà tô ̣i pha ̣m đã , đang và sẽ xảy ra trên thực tế Với tinh thần đó , pháp luâ ̣t hình sự đã ghi nhâ ̣n và phản ánh tô ̣i pha ̣m cu ̣ thể

Trong hệ thống pháp luật của nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Vi ệt Nam, Luật hình sự có vị trí rất quan trọng , là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng và chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ các quan hệ xã hội, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội; đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn quan điểm và ý thức dành sự quan tâm đă ̣c biê ̣t đến quá trình xây du ̣ng pháp luâ ̣t hình sự cùng với quá trình phát triển kinh tế – xã hội

Năm 1985, BLHS Việt Nam đầu tiên được ban hành và có hiệu lực thi hành thì cũng là lúc sự nghiệp đổi mới bắt đầu Sự thay đổi các mặt của đời sống xã hội, trong đó đổi mới về kinh tế giữ vai trò quan trọng không chỉ là

cơ sở mà còn là đòi hỏi cấp bách đối với sự thay đổi của pháp luật nói chung cũng như của luật hình sự nói riêng BLHS năm 1985 với ý nghĩa là nguồn duy nhất trong đó quy định tội phạm được xây dựng trên cơ sở kinh tế xã hội của nền kinh tế bao cấp và trên cơ sở thực tiễn của tình hình tội phạm của thời

Trang 8

kì đó Do vậy, có thể nói ngay khi ra đời BLHS năm 1985 đã ở trong tình trạng không phù hợp Để đáp ứng và phục vụ công cuộc đổi mới , BLHS năm

1999 ra đời đánh dấu sự thay đổi tương đối toàn diện của luật hình sự Việt Nam Tuy nhiên, sự thay đổi này vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ sự đòi hỏi của công cuộc đổi mới Hiê ̣n nay, cùng với sự phát triển của xã hội , quá trình

Hô ̣i nhâ ̣p quốc tế , cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền , Quốc

hô ̣i đã thông qua Hiến pháp sửa đổi 2013 có hiệu lực từ ngày 01/01/2014, trong đó vấn đề về Quyền con người được đề câ ̣p và ghi nhâ ̣n thiết thực trong Luâ ̣t, do đó BLHS năm 1999 sẽ gặp nhiều vướng mắc và hạn chế trong quá trình áp dụng thực tiễn Mô ̣t trong những ha ̣n chế đó là viê ̣c quy đi ̣nh chưa rõ ràng, thống nhất các nô ̣i dung mă ̣t chủ quan của tô ̣i pha ̣m như : khái niệm về lỗi, lỗi cố ý, lỗi vô ý; khái niệm động cơ và mục đích phạm tội , Điều này đã dẫn đến những sai sót trong quá trình định tội danh; làm oan người vô tội ảnh hưởng đến công tác cải cách tư pháp , xâm pha ̣m nghiêm tro ̣ng đến quyền con người đã ghi nhâ ̣n trong Hiến pháp , cản trở quá trình hội nhập quốc tế của ngành tư pháp nói riêng và quản lý nhà nước nói chung

Mă ̣t chủ quan của tô ̣i pha ̣m là mô ̣t trong bốn yếu tố cấu thành tô ̣i pha ̣m Để chứng minh hành vi của mô ̣t người là pha ̣m tô ̣i thì cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh đầy đủ các dấu hiệu thuộ c mă ̣t chủ quan của tô ̣i pha ̣m , trong đó có các dấu hiê ̣u thuô ̣c mă ̣t chủ quan của tô ̣i pha ̣m Các dấu hiệu thuô ̣c mă ̣t chủ quan của tô ̣i pha ̣m không chỉ là dấu hiê ̣u đi ̣nh tô ̣i mà trong mô ̣t số trường hợp pha ̣m tô ̣i cụ thể chúng cò n là dấu hiê ̣u để xác đi ̣nh tính chất nguy hiểm cho xã hô ̣i của hành vi pha ̣m tô ̣i để quyết đi ̣nh hình pha ̣t hay đi ̣nh khung hình pha ̣t

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan mà hiê ̣n nay viê ̣c quy đi ̣nh và xác định cá c dấu hiê ̣u thuô ̣c mă ̣t chủ quan của tô ̣i pha ̣m trong thực tiễn vẫn còn gă ̣p nhiều khó khăn Không ít các trường hợp xác đi ̣nh

Trang 9

sai lỗi của người pha ̣m tô ̣i dẫn dến viê ̣c xác đi ̣nh sai tô ̣i danh , thâ ̣m chí xác

đi ̣nh sai các trường h ợp đồng phạm, hoă ̣c có những trường hợp không có căn cứ pháp lý để áp du ̣ng chế đi ̣nh sai lầm trong luâ ̣t hình sự dẫn đến hâ ̣u quả

không thể truy cứu trách nhiê ̣m hình sự đối với người thực hiê ̣n hành vi nguy hiểm cho xã hô ̣i Chính vì vậy, với mong muốn làm rõ các khái niê ̣m về mă ̣t chủ quan của tội phạm được quy định trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam nhằm thống nhất cách hiểu trong quá trình giảng da ̣y bô ̣ môn cũng như hoa ̣t đô ̣ng thực tiễn; góp phần cải cách tư pháp , loại trừ oan sai trong vụ án hình sự , tôi

đã cho ̣n đề tài : “Mặt chủ quan của tội phạm trong Luật Hình sự Viê ̣t Nam

(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk )” làm luận văn thạc sĩ

chuyên ngành Luâ ̣t Hình sự và Tố tu ̣ng hình sự

2 Tình hình nghiên cứu

Cùng với các bộ phận cấu thành tội phạm , mă ̣t chủ quan của tô ̣i pha ̣m trong Bô ̣ Luâ ̣t Hình sự Viê ̣t Nam là mô ̣t nhân tố quan tro ̣ng để định tội danh chính xác , là cơ sở pháp lí cần và đủ để truy cứu TNHS người phạm tội , đồng thời đảm bảo các quyền và tự do của công dân trong lĩnh vực tư pháp hình sự, hỗ trợ cho việc tuân thủ nghiêm chỉnh pháp chế và củng cố trật tự pháp luật trong nhà nước pháp quyền Do đó , đã có nh iều tác giả trong và

ngoài nước nghiên cứu nội dung “Mặt chủ quan của tội phạm” dưới nhiều

góc độ khác nhau như :

- “Dấu hiê ̣u đi ̣nh tội thuộc mặt chủ quan của tội phạm trong luật hình sự Viê ̣t Nam” - Luâ ̣n văn tha ̣c sỹ luâ ̣t học, tác giả Trần Thị Thu Trang, năm 2011;

- "Tội phạm và cấu thành tội phạm" (Chương VI) - Sách Tội phạm học,

luật hình sự và tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, 1994 của PGS.TS Trần Văn Độ;

- "Luật hình sự Việt Nam, những vấn đề lý luận và thực tiễn", NXB

Công an nhân dân, 1997 của PGS.TS Kiều Đình Thụ;

Trang 10

- "Cấu thành tội phạm, lý luận và thực tiễn", NXB Tư pháp, 2004 của

PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa;

- "Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự" (Phần chung),

NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005 của GS.TSKH Lê Cảm

Ngoài ra còn một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu kể trên chỉ tập trung vào nội dung chung về cấu thành tô ̣i pha ̣m trong pháp luâ ̣t hình sự , các dấu hiệu th uô ̣c mă ̣t chủ quan của tội phạm có giá trị định tội mà chưa phân tích sâu vào giá trị xác minh tính nguy hiểm cho xã hội của các tình tiết này trong hoạt động định khung

hình phạt và quyết định hình phạt Do đó, với đề tài “Mặt chủ quan của tội

phạm trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam – Trên cơ sở thực tiễn tại Đắk Lắk ”

mà tác giả lựa chọn nghiên cứu là công trình đầu tiên được thực hiện một cách chuyên sâu tập trung nghiên cứu một cách toà n diê ̣n tất cả các dấu hiê ̣u thuô ̣c mă ̣t chủ quan của tô ̣i pha ̣m , xem xét dưới góc đô ̣ đi ̣nh tô ̣i , đi ̣nh khung hình phạt cũng như quyết định hình phạt , không chỉ trong phần chung của

Bô ̣ Luâ ̣t Hình sự mà còn trong phần các tô ̣i pha ̣ m cu ̣ thể , đồng thời kết hợp với sự phân tích , đánh giá thực tra ̣ng áp du ̣ng các quy đi ̣nh về mă ̣t chủ quan của tội phạm trong các vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk sẽ gó p phần làm rõ hơn thực tiễn áp dụng các q uy đi ̣nh trên và đưa ra những kiến nghi ̣ có tính khả thi nhất

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ một cách có hệ thống về mặt lý luận những nội dung cơ bản các nô ̣i dung thuộc mặt chủ quan của tội phạm trong luật hình sự Việt Nam;

- Tìm ra những điểm bất cập, chưa hợp lý trong các quy định về mặt chủ quan của tội phạm, trên cơ sở đó đưa ra những đề xuất thiết thực nhằm hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự về mặt chủ quan của tội phạm

Trang 11

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Đưa ra được khái niệm cấu thành tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm; khái niệm lỗi, động cơ và mục đích phạm tội; vị trí, vai trò, ý nghĩa của mặt chủ quan trong 4 yếu tố cấu thành tội phạm, trong việc định tội danh cũng như trong việc phân biệt tội phạm với vi phạm pháp luật khác

- Từ những vu ̣ án cu ̣ thể trên đi ̣a bàn tỉnh Đắk Lắk làm rõ thực tiễn áp dụng các quy định về lỗi, động cơ và mục đích phạm tội; đặc biệt là chỉ ra được những bất cập, hạn chế, thiếu sót trong các quy định về mặt chủ quan của tội phạm - nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hiểu sai, hiểu không thống nhất

về lỗi, động cơ và mục đích phạm tội; áp dụng sai hoặc không thống nhất tội danh; bỏ lọt tội phạm hoặc xử oan người vô tội

- Đưa ra được những giải pháp sát đáng, khả thi nhằm hoàn thiện các quy định về mặt chủ quan của tội phạm, mà cụ thể là các quy định về lỗi, động cơ và mục đích phạm tội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu là các quy định về mặt chủ quan của tội phạm trong

Bộ luật hình sự năm 1999 dưới góc độ luật hình sự, cả lý luận và thực tiễn áp dụng trên đi ̣a bàn Đắk Lắk trong các năm 2010, 2011, 2012, 2013 và 2014

- Đối tượng nghiên cứu là mặt chủ quan của tội phạm với tư cách là một yếu tố cấu thành tội phạm trong Bô ̣ luâ ̣t Hình sự Viê ̣t Nam , các quy định của pháp luật hình sự về các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm

5 Phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lí luận của Luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam

về Nhà nước và pháp luật, về tội phạm và hình phạt; những thành tựu của các ngành khoa học như: Triết học, Luật hình sự, Tội phạm học…

- Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và

Trang 12

chủ nghĩa duy vật lịch sử, Luận văn sử dụng các phương pháp hệ thống, lịch

sử, phân tích, thống kê, khảo sát thực tiễn … qua đó rút ra những kết luận, đề xuất phù hợp nhằm hoàn thiện các quy định về mặt chủ quan của tội phạm

6 Ý nghĩa lý luận thực tiễn của luận văn

- Là tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu giảng dạy pháp luật

ở các cơ sở đào tạo luật ở Viê ̣t Nam;

- Là cơ sở cho việc hoạch định về thực tiễn đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm;

- Là tài liệu tham khảo cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình xử lý vụ án

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu , kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, Luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về mặt chủ quan của tội phạm

Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định về mặt chủ quan của tội phạm Chương 3: Phương hướng hoàn thiện các quy định về mặt chủ quan của

tội phạm

Trang 13

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MẶT CHỦ QUAN CỦA TỘI PHẠM

1.1 KHÁI NIỆM CẤU THÀNH TỘI PHẠM VÀ MẶT CHỦ QUAN

CỦA TỘI PHẠM

1.1.1 Khái niệm cấu thành tội phạm

Tô ̣i pha ̣m là hành vi nguy hiểm cho xã hô ̣i được nhà làm luâ ̣t quy đi ̣nh trong BLHS với những dấu hiê ̣u pháp lý cu ̣ thể của nó Mỗi hành vi pha ̣m tô ̣i khi thể hiê ̣n ra ngoài thế giới khách quan mă ̣c dù rất đa da ̣ng nhưng đều được thực hiê ̣n trong những điều kiê ̣n nhất đi ̣nh (các yếu tố khách quan), và chịu sự chi phối của những đă ̣c điểm đa da ̣ng của cá nhân (các yếu tố chủ quan ), làm cho các hành vi pha ̣m tô ̣i đều có những đă ̣c điểm chung nhất đi ̣nh của chúng Đúc kết từ thực tiễn của nhiều trường hợp pha ̣m tô ̣i cu ̣ thể với những biểu hiê ̣n đa da ̣ng về nhiều mă ̣t khách quan và chủ quan, nhà làm luật đã khái quát hóa thành những dấu hiệu chung và điển hình của một loại tội phạm để xây dựng mô hình của tô ̣i pha ̣m đó và quy đi ̣nh trong luâ ̣t hình sự Quá trình xây dựng cấu thành tô ̣i pha ̣m là quá trình khái quát hóa thực tiễn đa da ̣ng về biểu hiê ̣n của mô ̣t loa ̣i tội phạm để từ đó rút ra những dấu hiệu chung của một loại

tô ̣i pha ̣m Mă ̣t khác , tuy có cùng mô ̣t cấu trúc chung bao gồm bốn yếu tố : khách thể , mă ̣t khách quan , chủ thể và mặt chủ quan , mỗi tô ̣i pha ̣m đều có những dấu hiê ̣u phản ánh được bản chất nguy hiểm cho xã hô ̣i của tô ̣i pha ̣m đó với những nét điểm hình , đă ̣c trưng riêng Nhà làm luật lựa chọn những dấu hiê ̣u đă ̣c trưng trong bốn yếu tố của tô ̣i pha ̣m để xây dựng mô hình pháp

lý về tội phạm đó gọi là cấu thành tội phạm

Với tính chất là mô hình pháp lý của mô ̣t tô ̣i pha ̣m cu ̣ thể được quy

đi ̣nh trong Luâ ̣t hình sự, là tổng hợp các dấu hiệu của một tội phạm, cấu thành

Trang 14

tô ̣i pha ̣m là căn cứ kho a ho ̣c cho việc định tội danh [3, tr.22] Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay , khái niệm cấu thành tội phạm chưa được quy đi ̣nh cu ̣ thể trong pháp luâ ̣t hình sự Mă ̣c dù vâ ̣y, thuâ ̣t ngữ này đã được sử du ̣ng trong

mô ̣t số quy đi ̣nh của BLHS , dù sự ghi nhận này cũng hạn chế Khi xây dựng các quy đi ̣nh về trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt pha ̣m tô ̣i , nhà làm luật đã đặt ra điều kiện để không miễn TNHS cho chủ thể và chủ thể

vẫn phải chi ̣u TNHS nếu “hành vi t hực tế đã đủ yếu tố cấu thành một tội

phạm khác” (Điều 19 BLHS) Điều này có nghĩa là hành vi trước đó của chủ

thể đã thỏa mãn các dấu hiê ̣u pháp lý của mô ̣t tô ̣i pha ̣m được quy đi ̣nh trong

BLHS và được go ̣i là “cấu thành tội phạm Bên cạnh đó, các quy định khác có

liên quan đến cấu thành tội phạm cũng được ghi nhận trong Bộ L uật tố tụng hình sự 2003 Khi quy đi ̣nh về căn cứ không khởi tố vụ án hình sự, trong đó có trường hợp “hành vi không cấu thành tội phạm” [29, Điều 107, khoản 2] Như

vâ ̣y, có thể thấy rằng dù chưa được ghi nhận một cách cụ thể , song CTTP là

mô ̣t căn cứ pháp lý quan tro ̣ng để truy cứu TNHS đối với người pha ̣m tô ̣i , là căn cứ để đi ̣nh tô ̣i danh

Dưới góc đô ̣ khoa ho ̣c , khái niệm về CTTP đã được nhiều luật gia nghiên cứu và tiếp câ ̣n dưới các góc đô ̣ khác nhau Có hai quan điểm khác nhau khi đưa ra khái niê ̣m CTTP:

Quan điểm thứ nhất là quan điểm diễn đạt CTTP một cách ngắn go ̣n:

Cấu thành tô ̣i pha ̣m là tổng hợp các yếu tố pháp lý đă ̣c trưng của những tô ̣i pha ̣m cu ̣ thể được quy đi ̣nh trong luâ ̣t hình sự [24, tr.69] hay Cấu thành tô ̣i pha ̣m là hê ̣ thống các dấu hiê ̣u cần

và đủ đặc trưn g cho từng tô ̣i pha ̣m cu ̣ thể được quy đi ̣nh trong Bô ̣ luâ ̣t hình sự [7, tr.181]; hoă ̣c Cấu thành tô ̣i pha ̣m là tổng hợp những dấu hiê ̣u chung có tính chất đă ̣c trưng cho loa ̣i tô ̣i pha ̣m cu ̣ thể được quy đi ̣nh trong Luâ ̣t hình sự [41, tr.84],…

Trang 15

Nhìn chung các quan điểm này chỉ nêu một cách ngắn gọn nhất về khái niê ̣m CTTP – đó chính là tổng hợp các dấu hiê ̣u pháp lý của mô ̣t tô ̣i pha ̣m

Quan điểm thứ hai diễn đa ̣t mô ̣t cách cu ̣ thể hơn, rõ ràng hơn khi đề cập

đến khái niệm CTTP thì còn chỉ ra bản chất của CTTP , nêu lên những yếu tố của CTTP:

Cấu thành tô ̣i pha ̣m là hình thức phản ánh tô ̣i pha ̣m trong luâ ̣t Cấu thành tô ̣i pha ̣m là sự mô tả tô ̣i pha ̣m trong luâ ̣t thông qua các dấu hiê ̣u thuô ̣c bốn yếu tố có tính đă ̣c trưng , phản ánh đầy đủ nội dung chính trị – xã hội của tội phạm [14, tr.8]; CTTP có thể được hiểu là tổng hợp những dấu hiê ̣u khách quan và chủ quan đă ̣c trưng cho loa ̣i

tô ̣i pha ̣m cu ̣ thể được quy đi ̣nh trong pháp luâ ̣t hình sự [40, tr.96]

Như vâ ̣y, dù theo quan điểm nào thì các tác giả cũng thống nhất về bản chất CTTP chính là mô hình pháp lý của mô ̣t tô ̣i pha ̣m cu ̣ thể Nó tổng hợp những dấu hiê ̣u chung của mô ̣t loa ̣i tô ̣i pha ̣m , đồng thời cũng phản ánh được tính đặc trưng của loại tội phạm đó Do đó, tác giả có thể đưa ra định nghĩa về CTTP như sau:

Cấu thành tội phạm là tổng hợp những dấu hiê ̣u pháp lý có tính chất đặc trưng, điển hình phản ánh bản chất của một loại tội phạm được quy định trong luật hình sự

Từ khái niệm này, chúng ta có thể đưa ra các đặc điểm của cấu thành tội phạm như sau:

a Các dấu hiệu trong CTTP đều do luật định

Nguyên tắc pháp chế “Nullum crimen, nulla poena sine lege” (nghĩa là không có tội, không có hình phạt nếu không có luật) đòi hỏi các dấu hiệu của CTTP phải do luật định Nhà nước quy định tội phạm trong Luật hình sự bằng cách mô tả những dấu hiệu CTTP và quy định chúng trong Luật hình sự Xác định một dấu hiệu nào đó có phải là dấu hiệu CTTP cụ thể hay không trước

Trang 16

hết phải xác định nó có được quy định trong Luật hình sự hay không? Muốn xác định đầy đủ các dấu hiệu của CTTP cụ thể phải căn cứ vào quy định trong Phần Các tội phạm cũng như Phần Chung BLHS Các quy phạm của Phần Chung quy định những dấu hiệu có tính phổ biến của tội phạm Quy phạm Phần Các tội phạm quy định những dấu hiệu riêng của mỗi tội phạm

Các dấu hiệu CTTP phải được quy định trong Luật hình sự Cần chú ý rằng, khi giải thích luật, cơ quan có thẩm quyền không được thêm bớt các dấu hiệu của CTTP Việc giải thích và áp dụng luật được thực hiện trong giới hạn của các dấu hiệu do luật định

b Các dấu hiệu trong CTTP có tính đặc trưng

Mỗi tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau thể hiện bằng những dấu hiệu đặc trưng riêng, nhờ thế ta nhận diện được nó

và phân biệt được với các tội phạm khác Do vậy, các dấu hiệu CTTP phản ánh bản chất nguy hiểm cho xã hội của một loại tội phạm phải mang tính đặc trưng đủ cần thiết để xác định tội phạm và phân biệt tội phạm này với tội phạm khác Mỗi dấu hiệu trong CTTP đứng độc lập không phản ánh được đầy

đủ tính đặc trưng của một loại tội phạm Tính đặc trưng điển hình của một loại tội phạm chỉ có thể được phản ánh đầy đủ trong nội dung và sự kết hợp với nhau của các dấu hiệu CTTP

c Các dấu hiệu trong CTTP có tính bắt buộc

Một hành vi chỉ bị coi là tội phạm khi nó thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu CTTP được quy định trong Luật hình sự Các dấu hiệu CTTP là điều kiện cần

và đủ để xác định tội phạm Khi xác định tội phạm, nếu không chứng minh được một dấu hiệu nào đó trong CTTP thì hành vi đó không cấu thành tội mà CTTP đó phản ánh Tuy nhiên, cần chú ý rằng các trường hợp phạm tội chưa hoàn thành, đồng phạm thì việc xác định hành vi phạm tội đã thỏa mãn hết dấu hiệu CTTP có đặc trưng riêng Bởi lẽ, trong các trường hợp này người

Trang 17

phạm tội thực hiện hành vi được quy định trong Phần Chung BLHS chứ không phải là hành vi được mô tả trong CTTP của tội phạm cụ thể Nói về trường hợp này, có ý kiến cho rằng ngoài CTTP nói chung cần quy định CTTP của hành vi phạm tội chưa hoàn thành, CTTP của hành vi đồng phạm

1.1.2 Ý nghĩa của cấu thành tội phạm

1.1.2.1 Ý nghĩa chính trị xã hội

CTTP là yếu tố bảo đảm quyền công dân tro ng lĩnh vực tư pháp hình sự, đồng thời hỗ trợ cho viê ̣c t uân thủ nghiêm chỉnh pháp chế và cũng cố trâ ̣t tự pháp luật trong nhà nước pháp quyền [5, tr.343] Quyền con người phải được đảm bảo trong quá trình truy cứu TNHS đối với người pha ̣m tô ̣i , mọi trường hợp oan sai ít nhiều đều xâm pha ̣m đến người con người Do đó với tính chất là căn cứ pháp lý của việc định tội danh , CTTP là căn cứ pháp lý để

cơ quan tiến hành tố tu ̣ng xác đi ̣nh hành vi của chủ thể có phạm tôi hay không, là cơ sở để truy cứu TNHS đối với chủ thể Vì vậy, CTTP chính là căn cứ để đảm bảo pháp chế trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự ,

khẳng đi ̣nh rằng “không có tội phạm nếu không c ó luật”, đồng thời thể hiê ̣n

rõ tư tưởng đã quy định tại Điều 2 BLHS khi quy đi ̣nh cơ sở TNHS khẳng

đi ̣nh: “Chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy đi ̣nh mới phải chi ̣u

trách nhiệm hình sự” Có nghĩa là cơ sở của TNHS chí nh là CTTP Trong

các loa ̣i trách nhiê ̣m pháp lý , TNHS là loa ̣i trách nhiê ̣m nghiêm khắc nhất đối với con người Muốn truy cứu TNHS đối với mô ̣t người phải chứng minh ho ̣ đã thực hiê ̣n mô ̣t hành vi được luâ ̣t hình sự quy đi ̣nh là tô ̣i pha ̣m, nghĩa là hành vi của họ đã thỏa mãn hết dấu hiệu CTTP Như vâ ̣y, CTTP – điều kiê ̣n cần và đủ để xác đi ̣nh TNHS đối với mô ̣t người về mô ̣t tô ̣i pha ̣m

mà họ đã thực hiện Trong quá trình tố tu ̣ng , nếu cơ quan có thẩ m quyền không chứng minh được hành vi của ho ̣ thỏa mãn hết CTTP thì xem như không đủ căn cứ để truy cứu TNHS đối với ho ̣ Bằng cách đó , CTTP trở

Trang 18

thành cơ sở xác định tính hợp pháp của các quyết định về việc truy cứu

TNHS đối với một người Đồng thời CTTP trở thành chuẩn mực pháp lý để phát hiê ̣n những vi pha ̣m quyền con người Đồng thời CTTP trở thành chuẩn mực pháp lý để phát hiê ̣n những vi pha ̣m quyền con người trong viê ̣c truy cứu TNHS của hoạt động tố tụng hình sự

1.1.2.2 Ý nghĩa lập pháp hình sự

Trong quá trình xây dựng các tội phạm cụ thể trong BLHS , nhà làm luâ ̣t phải cu ̣ thể hóa , quy đi ̣nh rõ ràng các dấu hiê ̣u pháp lý của từng tô ̣i danh, đây chính l à yêu cầu của nguyên tắc pháp chế CTTP là mô hình mà nhà nước sử dụng để quy định tội phạm với những dấu hiê ̣u pháp lý đă ̣c trưng của nó nhằm thể chế chính sách hình sự của nhà nước trong lĩnh vực

lâ ̣p pháp hình sự Xuất phát từ mu ̣c tiêu phát triển của xã hô ̣i cũng như yêu cầu đấu tranh phòng chống tô ̣i pha ̣m trong từng giai đoa ̣n , nhà nước ta đã hoạch định chính sách hình sự định hướng cho các lĩnh vực lập pháp , áp dụng pháp luật và nâng cao ý thức pháp luâ ̣t Thể chế hóa chính sách hình sự vào PLHS, nhà nước quy định các tội phạm cụ thể với những mô hình cấu trúc nhất định Đối với những tội phạm nguy hiểm cao cho xã hội đòi hỏi nhà nước thể hi ện thái độ nghiêm khắc cao thì thông thường các nhà làm luâ ̣t lựa cho ̣n CTTP hình thức là mô hình pháp lý của tô ̣i pha ̣m đó Đối với những tô ̣i pha ̣m có tính nguy hiểm thấp hơn thì nhà làm luâ ̣t lựa cho ̣n mô hình CTTP vật chất để quy đi ̣nh tô ̣i pha ̣m

1.1.2.3 Ý nghĩa áp dụng pháp luật hình sự

CTTP là cơ sở pháp lý của viê ̣c đi ̣nh tô ̣i danh: định tội danh là quá trình xác định điều luật quy định về một tội phạm cụ thể để giải quyết vụ án hình

sự, là quá trình xác định hành vi cụ thể của chủ thể có phạm tội hay không , nếu có thì pha ̣m tô ̣i gì trong BLHS Đây là quá trình của hoa ̣t đô ̣ng tư duy chịu sự chi phối bởi quy luâ ̣t biê ̣n chứng của nhâ ̣n thức từ trực quan sinh đô ̣ng

Trang 19

đến tư duy trừu tượng, và từ tư trừu tượng đến thực tiễn Nguyên tắc pháp chế

“không có tội phạm nếu không có luật” đòi hỏi rằng viê ̣c xác đi ̣nh mô ̣t tô ̣i

phạm cụ thể phải dựa vào quy định của l uâ ̣t hình sự về cá c dấu hiê ̣u của tô ̣i

phạm đó GS TSKH Lê Cảm đã chỉ ra rằng “CTTP còn là căn cứ khoa học

của việc định tội danh” [3, tr.22] Nếu hoa ̣t đô ̣ng xây dựng CTTP của mô ̣t tô ̣i

phạm cụ thể là quá trình đi từ thực tiễn sinh động đến tư duy trừu tượng mà kết quả của nó là viê ̣c quy đi ̣nh CTTP của mô ̣t tô ̣i pha ̣m cu ̣ thể trong luâ ̣t hình sự thì xác đi ̣nh tô ̣i danh là quá trình đi từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Các dấu hiê ̣u trong CTTP chính là các căn cứ pháp lý bắt buộc để các cơ quan tiến hành tố tụng phải làm rõ (phải chứng minh) để xác định hành vi phạm tội của chủ thể Như vâ ̣y, đến lượt mình , CTTP la ̣i là mô hình pháp lý để nhâ ̣n diê ̣n

mô ̣t tô ̣i pha ̣m Để xác đi ̣nh mô ̣t hành vi nguy hiểm có phải là tô ̣i pha ̣m hay không và là tô ̣i gì thì cần dựa vào CTTP Hay nói cách khác , CTTP là cơ sở pháp lý của việc định tội danh

CTTP là cơ sở pháp lý để xác đi ̣nh thời điểm tô ̣i pha ̣m hoàn thành : Thời điểm tô ̣i pha ̣m hoàn thành là thời điểm hành vi pha ̣m tô ̣i thỏa mãn tất cả các dấu hiệu khách quan được mô tả trong CTTP Như vâ ̣y, để xác định tội phạm hoàn thành thì trước hết cần phải xác định các dấu hiệu khác h quan được mô tổ trong CTTP có những dấu hiê ̣u nào , hành vi phạm tội trên thực tế đã thỏa mãn hết những dấu hiê ̣u đó hay chưa Do đó, các tội phạm có CTTP với những cấu trúc khác nhau thì thời điểm pha ̣m tô ̣i hoàn thành cũ ng khác nhau Hay nói cách khác , viê ̣c xác đi ̣nh thời điểm tô ̣i pha ̣m hoàn thành phải căn cứ vào CTTP Tô ̣i pha ̣m có CTTP vâ ̣t chất được coi là hoàn thành khi hâ ̣u quả luật định xảy ra , tô ̣i pha ̣m có CTTP hình thức được coi là h oàn thành khi hành vi mô tả trong luật được thực hiện Do vâ ̣y, CTTP cũng là cơ sở để xác

đi ̣nh thời điểm tô ̣i pha ̣m hoàn thành

CTTP là căn cứ pháp lý để đi ̣nh khung hình pha ̣t : căn cứ vào mức đô ̣

Trang 20

nguy hiểm của CTTP có các loại: CTTP cơ bản, CTTP tăng nă ̣ng, CTTP giảm nhẹ Trong giải quyết vu ̣ án hình sự , viê ̣c áp du ̣ng CTTP cơ bản , CTTP tăng

nă ̣ng hay CTTP giảm nhe ̣ đối với mô ̣t hành vi pha ̣m tô ̣i cu ̣ thể có ý nghĩa xác

đi ̣nh khung hình pha ̣t cần áp du ̣ ng đối với người pha ̣m tô ̣i Do vâ ̣y, CTTP là căn cứ pháp lý để đi ̣nh khung hình pha ̣t

1.1.3 Các yếu tố của cấu thành tội phạm

Tô ̣i pha ̣m là hành vi nguy hiểm cho xã hô ̣i , là một hiện tượng tiêu cực bao gồm các đă ̣c điểm : tính nguy hiểm cho xã hô ̣i , tính có lỗi, tính trái pháp luâ ̣t hình sự và tính chi ̣u hình pha ̣t Xét về cấu trúc, tô ̣i pha ̣m được hợp thành bởi những yếu tố nhất đi ̣nh quan hê ̣ mâ ̣t thiết và tồn ta ̣i không tách rời nhau tạo ra m ột thể thống nhất Tuy nhiên, các yếu tố này có những biểu hiện hết sức đa da ̣ng và phong phú với những nét rất riêng biê ̣t thì chúng đều có chung

mô ̣t cấu trúc bao gồm bốn yếu tố hợp thành : khách thể của tội phạm , mă ̣t khách quan của tội phạm, mă ̣t chủ quan của tô ̣i pha ̣m và chủ thể của tô ̣i pha ̣m

Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hộ i được Luâ ̣t hình sự bảo vê ̣ và

bị t ội phạm xâm phạm Khách thể của tội phạm được xem là dấu hiệu bắt buô ̣c đầu tiên phải chứng minh trong CTTP Mô ̣t hành vi bi ̣ coi là tô ̣i pha ̣m phải có được tính nguy hiểm cho xã hội thể hiện ở chỗ nó luôn đe dọa gây thiê ̣t ha ̣i hoă ̣c gây thiê ̣t ha ̣i cho những quan hê ̣ xã hô ̣i nhất đi ̣nh được L uâ ̣t hình sự bảo vệ Do đó, muốn chứng minh hành vi của chủ thể là hành vi pha ̣m

tô ̣i (đã có CTTP ) thì trước hết phải chứng minh hành vi đó đã gây thiệt hại hoă ̣c đe do ̣a gây thiê ̣t ha ̣i cho mô ̣t quan hê ̣ xã hô ̣i mà Luâ ̣t hình s ự bảo vệ Không có sự xâm ha ̣i đến đối tượng bảo vê ̣ của Luâ ̣t hình sự thì hành vi đó không thể coi là nguy hiểm cho xã hô ̣i vì thế cũng không thể là tô ̣i pha ̣m

Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện bên ngoài của tô ̣i

phạm, bao gồm hành vi nguy hiểm cho xã hô ̣i , hâ ̣u quả nguy hiểm cho xã hô ̣i, mối quan hê ̣ nhân quả giữa hành vi và hâ ̣u quả cũng như những biểu h iê ̣n bên

Trang 21

ngoài khác (công cu ̣, phương tiê ̣n , thời gian , đi ̣a điểm , hoàn cảnh phạm

tô ̣i,…) Các dấu hiệu khách quan của tội phạm là dấu hiệu bắt buộc thứ hai trong CTTP Mô ̣t hành vi pha ̣m tô ̣i trước hết phải chứng minh về khách thể của tội phạm, nhưng khách thể này chỉ có thể bi ̣ thiê ̣t ha ̣i bởi những bi ểu hiện

ra bên ngoài thế giới khách quan của hành vi pha ̣m tô ̣i , mô ̣t ý nghĩ sẽ thực hiê ̣n hành vi phạm tội nhưng không thể hiện ra ngoài thế giới khách quan thì không thể gây thiê ̣t ha ̣i cho xã hô ̣i và đương nhiên nó không phải l à tội phạm Trong các dấu hiê ̣u của mă ̣t khách quan , hành vi nguy hiểm cho xã hội là dấu hiê ̣u bắt buô ̣c phải có trong cấu thành của mo ̣i tô ̣i pha ̣m Các dấu hiệu còn lại không bắt buô ̣c phải có mă ̣t trong mo ̣i cấu thành tô ̣i p hạm Bất cứ tô ̣i pha ̣m nào đều có những biểu hiện ra bên ngoài thể giới khách quan , ít nhất cũng phải có dấu hiệu về hành vi nguy hiểm cho xã hội Những biểu hiê ̣n bên ngoài của tội phạm là những dấu hiệu thường được mô tả trong các quy phạm quy

đi ̣nh về tô ̣i pha ̣m cu ̣ thể

Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể đã thực hiê ̣n tô ̣i pha ̣m , có

năng lực TNHS và đa ̣t đô ̣ tuổi chi ̣u TNHS Pháp luật hình sự Việt Nam không truy cứu TNHS đối với tất cả các chủ thể thực hiện những hành vi bị luật hình sự cấm, mà một người chỉ trở thành chủ thể của tội phạm chỉ phải chịu TNHS khi ho ̣ có đủ những dấu hiê ̣u nhất đi ̣nh Năng lực TNHS và tuổi chi ̣u TNHS là hai dấu hiê ̣u bắt buô ̣c đối với chủ thể của tô ̣i pha ̣m Bất cứ mô ̣t tô ̣i pha ̣m nào cũng phải do một chủ thể nhất định thực hiện nên đây là một yếu tố bắt buộc của tội phạm Những dấu hiê ̣u đă ̣c trưng chung cho chủ thể của tô ̣i pha ̣m được quy đi ̣nh trong Phần Chung BLHS Quy pha ̣m pháp luâ ̣t hình sự Phần Các tô ̣i phạm chỉ nêu ra những dấu hiệu riêng của chủ thể một tội phạm cụ thể trong những trường hợp đă ̣c biê ̣t nhất đi ̣nh (được go ̣i là chủ thể đă ̣c biê ̣t như : Tô ̣i giao cấu với trẻ em, chủ thể phải là “người đã thành niên”)

Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm bao gồm: lỗi,

Trang 22

đô ̣ng cơ và mu ̣c đích của tô ̣i pha ̣m Đây chính là tra ̣ng thái tâm lý bên trong của người pha ̣m tô ̣i (chủ thể của tội phạm ) Những biểu hiê ̣n của con người thể hiê ̣n ra bên ngoài thế giới khách quan sẽ bi ̣ chi phối bởi các nhân tố bên trong, đó chính là tra ̣ng thái tâm lý của chủ thể khi thực hiê ̣n hành vi Các nhân tố bên trong này có ảnh hưởng nhất đi ̣nh đến tính chất và mức đô ̣ nguy hiểm cho xã hô ̣i của hành vi gây thiê ̣t ha ̣i mà chủ thể đã thực hiê ̣n Chính vì

vâ ̣y, Luâ ̣t Hình sự Viê ̣t Nam không quy tô ̣i khách quan (chỉ căn cứ vào b iểu hiê ̣n khách quan để truy cứu TNHS ) mà còn căn cứ vào các yếu tố chủ quan (trạng thái tâm lý bên trong ) để xác định tội phạm Do đó, mă ̣t chủ quan của

tô ̣i phạm chính là yếu tố thứ tư trong CTTP Trong các dấu hiê ̣u củ a mặt chủ quan, lỗi là dấu hiê ̣u bắt buô ̣c phải có mă ̣t trong cấu thành của tất cả các tô ̣i phạm, các dấu hiệu còn lại như mục đích và động cơ phạm tội không bắt buộc phải quy định trong cấu thành tội phạm Xuất phát từ tính có lỗi của tô ̣i pha ̣m nên mă ̣t chủ quan là yếu tố không thể thiếu được của tô ̣i pha ̣m Mô ̣t hành vi được coi là không có lỗi thì không thể là tô ̣i pha ̣m dù nó có thể gây ra những

hâ ̣u quả đă ̣c biê ̣t nghiêm tro ̣ng

Mỗi yếu tố của tội phạm đều có mặt quan trọng của nó và có ý nghĩa nhất đi ̣nh trong viê ̣c xác đi ̣nh tô ̣i pha ̣m Vì vậy, thiếu mô ̣t trong những yếu tố đó, mô ̣t hành vi không thể bi ̣ coi là tô ̣i pha ̣m Tuy vâ ̣y , các yếu tố của tội phạm không tồn ta ̣i mô ̣t cách đô ̣c lâ ̣p mà luôn liên hê ̣ mâ ̣t thiết với nhau ta ̣o cho tô ̣i pha ̣m thành mô ̣t thể thống nhất giữa các yếu tố khách quan và chủ quan, giữa những biểu hiê ̣n bên ngoài và bên trong của tô ̣i pha ̣m Mỗi yếu tố của tô ̣i pha ̣m với những dấu hiê ̣u của nó phản ánh ở mức đô ̣ nhất đi ̣nh tính chất và mức đô ̣ nguy hiểm cho xã hô ̣i của tô ̣i pha ̣m Tuy nhiên , tính nguy hiểm đầy đủ của tô ̣i pha ̣m chỉ có thể xác định trong mối liên hệ hợp nhất của tất cả các yếu tố của tô ̣i pha ̣m

Mỗi yếu tố của tô ̣i pha ̣m bao gồm nhiều dấu hiê ̣u Không nhất thiết

Trang 23

trong cấu thành tô ̣i pha ̣m cu ̣ thể phải có mă ̣t tất cả các dấu hiê ̣u đó Đối với từng tô ̣i pha ̣m cu ̣ thể , nhà làm luật sẽ xác đi ̣nh những dấu hiê ̣u đă ̣c trưng cho

tô ̣i pha ̣m đó đủ để xác đi ̣nh tính chất và mức đô ̣ nguy hiểm cho xã hô ̣i của hành vi bị xem là tội phạm và quy định những dấu hiệu đó trong CTTP Chẳng ha ̣n có những tô ̣i pha ̣m khi xét các dấu hiê ̣u khách quan chỉ cần thực hiê ̣n hành vi khách quan đã đủ nguy hiểm để bi ̣ coi là tô ̣i pha ̣m thì nhà làm luâ ̣t không quy đi ̣nh dấu hiê ̣u hâ ̣u quả trong CTTP (cơ bản) như Tội cưới tài sản (Điều 133 BLHS), nhưng cũng có những tội phạm nếu chỉ xét hành vi khách quan thì chưa đủ nguy hiểm đáng kể để quy đi ̣nh là tô ̣i pha ̣m mà cần có thêm dấu hiê ̣u hâ ̣u quả mới đủ nguy hiểm để quy đi ̣nh nó là tô ̣i pha ̣m như Tô ̣i trô ̣m cắp tài sản (Điều 138 BLHS) Do đó, các dấu hiệu thuộc các yếu tố của

tô ̣i pha ̣m chia thành hai nhóm: dấu hiê ̣u bắt buô ̣c và dấu hiê ̣u không bắt buô ̣c

Dấu hiê ̣u bắt buộc là những dấu hiệu luôn được quy định trong từng tội

phạm cụ thể, chúng phải có mặt trong bất kỳ một CTTP ở phần các tội phạm Những dấu hiê ̣u sau đây là dấu hiê ̣u bắt buô ̣c:

- Quan hê ̣ xã hô ̣i bi ̣ tô ̣i phạm xâm hại (thuô ̣c khách thể của tô ̣i pha ̣m)

- Hành vi nguy hiểm cho xã hội (thuô ̣c mă ̣t khách quan của tô ̣i pha ̣m)

- Lỗi (thuô ̣c mă ̣t chủ quan của tô ̣i pha ̣m)

- Năng lực TNHS và tuổi chi ̣u TNHS (thuô ̣c chủ thể của tô ̣i pha ̣m)

Dấu hiê ̣u không bắt buộc là những dấu hiệu không buộc phải có mặt

trong mo ̣i CTTP , nghĩa là có thể có mặ t trong cấu thành của tô ̣i pha ̣m này nhưng không có mă ̣t trong cấu thành của tô ̣i pha ̣m khác Những dấu hiê ̣u không bắt buô ̣c gồm:

- Hâ ̣u quả nguy hiểm cho xã hô ̣i , mối quan hê ̣ nhân quả giữa hành vi

và hậu quả , các dấu hiệu bên n goài khác của tội phạm (thuô ̣c mă ̣t khách quan của tô ̣i pha ̣m )

- Mục đích, đô ̣ng cơ pha ̣m tô ̣i (thuô ̣c mă ̣t chủ quan của tô ̣i pha ̣m)

Trang 24

Tuy nhiên , nếu mô ̣t dấu hiê ̣u thuô ̣c nhóm không bắt buô ̣c được quy

đi ̣nh trong mô ̣t CTTP của mô ̣t tô ̣ i phạm cụ thể thì chúng lại là dấu hiệu bắt buô ̣c của tô ̣i pha ̣m đó Ví dụ: mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buô ̣c của mo ̣i CTTP , nhưng mu ̣c đích chống chính quyền nhân dân là dấ u hiê ̣u được quy đi ̣nh trong T ội khủng bố (Điều 84 BLHS) nên nó là dấu hiê ̣u bắt buô ̣c của tô ̣i pha ̣m này

1.2 CÁC DẤU HIỆU THUỘC MẶT CHỦ QUAN CỦA TỘI PHẠM

Như đã phân tích ở trên , mă ̣t chủ quan của tô ̣i pha ̣m chính là mô ̣t trong bốn yếu tố CTTP Tô ̣i pha ̣m, cũng như bất cứ hành vi nào của con người, luôn

là một thể thống nhất của hai mặt khách quan và chủ quan Nếu mă ̣t khách quan của tô ̣i pha ̣m là những biểu hiê ̣n bên ngoài của tô ̣i pha ̣m thì , mă ̣t chủ quan của tô ̣i pha ̣m là hoa ̣t đô ̣ng tâm lý bên trong của người pha ̣m tô ̣i liên quan tới viê ̣c thực hiê ̣n tô ̣i pha ̣m Những biểu hiê ̣n của con người thể hiê ̣n ra bên ngoài thế giới khách quan sẽ bị chi phối bởi các nhân tố bên trong, đó chính là trạng thái tâm lý của chủ thể khi thực hiện hành vi Các nhân tố bên trong này

có ảnh hưởng nhất định đến tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây thiệt hại mà chủ thể đã thực hiện Chính vì vậy, Luâ ̣t Hình sự Viê ̣t Nam không quy tô ̣i khách quan (chỉ căn cứ vào biểu hiện khách quan để truy cứu TNHS ) mà còn căn cứ vào các yếu tố chủ quan (trạng thái tâm lý bên trong) để xác định tội phạm Trên thực tế , mă ̣t chủ quan của tô ̣i pha ̣m không tồn ta ̣i mô ̣t cách đô ̣c lâ ̣p mà luôn gắn với mă ̣t khách quan của tô ̣i pha ̣m , thể hiê ̣n sự liên kết giữa hai mă ̣t thống nhất của vấn đề – tô ̣i pha ̣m Do đó, mă ̣t chủ quan của tội phạm chính là yếu tố thứ tư trong CTTP

Khái niệm về mă ̣t chủ quan của tội phạm , cũng được nhiều nhà khoa học pháp lý nghiên cứu GS.TSKH Lê Cảm đã đưa ra mô ̣t đi ̣nh nghĩa khoa học về khái niệm mặt chủ quan của tội phạm:

Trang 25

Là đặc điểm tâm lý bên trong của cách xử sự có tính chất t ội phạm xâm hại đến khách thể được bảo vệ bằng pháp luật hình sự , tức là thái đô ̣ tâm lý của chủ thể được thể hiê ̣n dưới hình thức cố ý hoă ̣c vô ý với hành vi nguy hiểm cho xã hô ̣i do mình thực hiê ̣n và đối với hâ ̣u quả của hành vi (lỗi) [6, tr.376]

Hoă ̣c cũng có thể đưa ra mô ̣t khái niê ̣m ngắn go ̣n về mă ̣t chủ quan của

tô ̣i pha ̣m như: Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm, bao

gồm: lỗi, động cơ phạm tội và mục đích phạm tội

Như vâ ̣y, các quan điểm đã nêu đều thống nhất rằng mặt chủ quan của

tô ̣i pha ̣m chính là đă ̣c điểm tâm lý bên trong của tô ̣i pha ̣m Mă ̣c dù thái đô ̣ tâm

lý của một người rất đa dạng và phong phú, trong đó có cả nhâ ̣n thức, ý chí và tình cảm, cảm xúc,… nhưng khi nghiên cứu mă ̣t chủ quan của tô ̣i pha ̣m chúng

ta chỉ nghiên cứu 3 dấu hiê ̣u: lỗi, đô ̣ng cơ và mu ̣c đích pha ̣m tô ̣i

- Lỗi: là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hô ̣i của mình và đối với hâ ̣u quả do hành vi đó gây ra

- Động cơ: là động lực thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội

- Mục đích: là kết quả trong ý thức chủ quan mà người phạm tội mong muốn đa ̣t được khi thực hiê ̣n tô ̣i pha ̣m

Các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm là những hình thức khác nhau của hoa ̣t đô ̣ng tâm lý của người pha ̣m tô ̣i , có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và phu ̣ thuô ̣c lẫn nhau Đồng thời, lỗi, đô ̣ng cơ và mu ̣c đích là những hiê ̣n tượng tâm lý đô ̣c lâ ̣p , mỗi hiê ̣n tượng trong đó không thể bao gồm trong mình hiện tượng khác với tư cách là một bộ phận cấu thành

Lỗi là dấu hiê ̣u bắt buô ̣c (dấu hiê ̣u đi ̣nh tô ̣i ) trong tất c ả các cấu thành của tội phạm Động cơ phạm tội và mục đích phạm tội có thể là dấu hiệu định

tô ̣i trong mô ̣t số cấu thành tô ̣i pha ̣m Trong mô ̣t số trường hợp khác , đô ̣ng cơ phạm tội và mục đích phạm tội có thể được luậ t quy đi ̣nh là dấu hiê ̣u đi ̣nh khung hình pha ̣t hoă ̣c tình tiết tăng nă ̣ng hoă ̣c giảm nhe ̣ trách nhiê ̣m hình sự

Trang 26

GS.TSKH Lê Cảm khi nghiên cứu về các dấu hiê ̣u thuô ̣c mă ̣t chủ quan đã khẳng đi ̣nh:

Động cơ và mục đích không phải là c ác dấu hiệu được xếp ngang hàng với lỗi trong mă ̣t chủ quan của tô ̣i pha ̣m , vì tự bản thân mình lỗi là toàn bộ mặt chủ quan của tội phạm, còn động cơ và mục đích suy cho cùng, chẳng qua cũng chỉ là các dấu hiê ̣u tùy nghi thuô ̣c

mă ̣t chủ quan của tô ̣i pha ̣m – các yếu tố của lỗi mà thôi [6, tr.378]

* Ý nghĩa mặt chủ quan của tội phạm

Xác định đúng mặt chủ quan của tội phạm có ý nghĩa trong việc định

tô ̣i danh Mă ̣t chủ quan là mô ̣t trong bốn yếu tố CTTP Theo đó, dấu hiê ̣u lỗi

là dấu hiệu bắt buộc trong mọi CTTP mà cơ quan tiến hành tố tụng cần phải chứng minh khi xác đi ̣nh hành vi pha ̣m tô ̣i , dấu hiê ̣u đô ̣ng cơ và mu ̣c đích phạm tội cũng là dấu hiệu bắt buộc tr ong CTTP nếu tô ̣i danh đó có quy đi ̣nh Ngoài ra, với tư cách là mô ̣t bô ̣ phâ ̣n CTTP , mă ̣t chủ quan của tô ̣i pha ̣m giúp chúng ta phân biệt tội phạm với hành vi không phải là tội phạm Mă ̣t chủ quan của tội phạm còn là cơ sở để p hân biê ̣t các tô ̣i có các dấu hiê ̣u khác giống nhau, trên cơ sở đó xác đi ̣nh tô ̣i danh được chính xác Ví dụ: phân biê ̣t Điều

93 và Điều 98 BLHS thông qua dấu hiê ̣u lỗi ; phân biê ̣t Điều 93 và Điều 230a BLHS thông quan dấu hiê ̣u mu ̣c đích;…

Các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm là một trong những yếu tố quyết đi ̣nh tính nguy hiểm cho xã hô ̣i của hành vi pha ̣m tô ̣i và người thực hiê ̣n tô ̣i pha ̣m Do đó, tùy từng trường hợp cụ thể các dấu hiệu thu ộc mặt chủ quan của tô ̣i pha ̣m có thể có ý nghĩa trong viê ̣c đi ̣nh khung hình pha ̣t (nếu được luâ ̣t quy đi ̣nh là dấu hiê ̣u đi ̣nh khung hình pha ̣t ) hoă ̣c quyết đi ̣nh hình phạt Ví dụ: đô ̣ng cơ đe hèn là dấu hiê ̣u đi ̣nh khung tăng nă ̣n g ta ̣i Khoản 1 Điều 93 BLHS, …

Trang 27

1.2.1 Dấu hiê ̣u lỗi

1.2.1.1 Tự do ý chí là cơ sở của lỗi trong luật hình sự

Cơ sở lý luận của lỗi trong pháp luật hình sự là một vấn đề trọng tâm đã được nhiều nhà hình sự học nghiên cứu Khi nghiên cứu về lỗi, họ đều thừa nhận cơ sở của lỗi trong luật hình sự chính là tự do ý chí Từ các trường phái duy tâm – chủ quan đến các trường phái duy tâm – khách quan đều thừa nhận

tự do ý chí chính là cơ sở của lỗi trong luật hình sự, như nhà triết học người

Đức Kant I cho rằng “Sự buộc tội về hình sự là một dạng của trách nhiệm đạo

đức, mà cơ sở của nó là coi chủ thể là nguyên nhân tự do của một hành vi được thực hiện”, hay Hêghen thì cho rằng “Lỗi là ở trong sự khẳng định rằng chủ thể là người biết suy nghĩ đã nhận thức và đã mong muốn…” [5, tr.420]

Theo quan điểm của trường phái cổ điển trong khoa học luật hình sự cũng thừa nhận việc xác định lỗi và trách nhiệm hoàn toàn dựa trên tự do ý

chí của con người, như Bernher A cho rằng “cơ sở của việc buộc tội về hình

sự là ý chí hoặc tự do của con người, được thể hiện trong sự hành động tùy tiện của cá nhân và phù hợp với động cơ, quyết tâm và ý định bên trong của người đó”, hay Phơbách thì cho rằng “tự do ý chí chính là điều kiện của sự buộc tội do lỗi” [5, tr.420]

Theo quan điểm khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, hành vi của con người suy cho cùng là do điều kiện xã hội khách quan quyết định Tuy nhiên,

đó phải là quá trình diễn ra phức tạp, không đơn thuần chỉ là kết quả của sự lệ thuộc tuyệt đối của con người vào hoàn cảnh khách quan đó Trong quá trình này, ý chí của con người, nhận thức của con người có vị trí độc lập, có ý nghĩa không kém phần quan trọng, mặc dù bản thân ý chí và nhận thức cũng lại do các điều kiện khách quan quyết định Chủ nghĩa Mác - Lênin không phủ nhận sự tự do ý chí của con người, mọi xử sự của con người đều bị chi phối bởi các quy luật khách quan nhưng con người nhờ hoạt động ý thức có

Trang 28

khả năng nhận thức được quy luật và lợi dụng quy luật thực hiện mục đích của mình Đó là sự tự do của con người [16, tr.83] Điều này dẫn đến kết quả

là, trong cùng một điều kiện sống, mỗi cá nhân có những xử sự khác nhau, có hành vi bị xem là tội phạm và có những hành vi không phải là tội phạm

Hành vi của con người bao giờ cũng là sự thống nhất giữa biểu hiện cụ thể bên ngoài Thế giới khách quan và những nội dung tâm lý bên trong (ý chí) của chủ thể thực hiện hành vi chi phối hành vi đó Tội phạm được biểu hiện bởi hành vi, do đó nó cũng là sự thống nhất giữa hai mặt khách quan và chủ quan Hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội luôn gắn liền với các biểu hiện bên ngoài của tội phạm Hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ được coi

là tội phạm, nếu hành vi đó được thực hiện trong một thái độ tâm lý nhất định của con người đối với hành vi đó và hậu quả của hành vi đó gây ra hoặc đối với khả năng phát sinh hậu quả từ hành vi đó

Con người tồn tại trong Thế giới bị chi phối bởi những qui luật khách quan và hoạt động của con người bị chi phối bởi những điều kiện lịch sử xã hội cụ thể Tất cả những động cơ thúc đẩy con người hành động không phải bộc phát một cách ngẫu nhiên trong ý thức của con người mà được hình thành một cách có qui luật Đó là kết quả giao tiếp của người đó với người khác, sự phát triển tâm lý trước đây, sự phản ánh những sự vật, hiện tượng tác động trực tiếp đến người ấy Thông qua hoạt động tâm lý con người hoạt động có ý thức, từ đó quyết định sự hình thành và phát triển xã hội [30, tr.180]

Tuy nhiên, tự do ý chí của con người không phải là sự suy nghĩ tuyệt đối độc lập, mà nó bị chi phối bởi các qui luật tự nhiên, tự do ý chí là năng lực

quyết định của một người khi nhận thức được nó Hêghen nói: “Tự do là nhận

thức được cái tất yếu, tất yếu sẽ mù quáng khi con người chưa nhận thức được nó” [22, tr.195]

Theo chủ nghĩa Mác - Lênin thì chỉ có sự tự do tương đối trong khuôn

Trang 29

khổ các điệu kiện lịch sử, xã hội cụ thể và phụ thuộc vào bản chất của chế độ

xã hội Vì vậy, mỗi cá nhân trong xã hội dựa trên cơ sở sự tự do của mình phải đáp ứng những đòi hỏi có tính qui luật của xã hội là pháp luật và đạo đức

xã hội Đó là vấn đề trách nhiệm của cá nhân trong xã hội, phù hợp với sự tự

do của cá nhân nhằm bảo đảm tôn trọng sự tự do của cá nhân khác

Tóm lại, con người có khả năng nhận thức và vận dụng tốt các qui luật của xã hội để giành lấy tự do cá nhân Đôi lúc, họ vẫn nhận thức được các qui luật đó nhưng không phải họ vận dụng nó để thực hiện hành vi một cách phù hợp với sự tự do của người khác mà ngược lại, họ hành động sai với qui luật

Đó là ý chí của cá nhân con người muốn tự tước bỏ tự do của người khác và hậu quả cũng tự tước bỏ sự tự do của mình Pháp luật buộc họ phải chịu trách nhiệm về hành vi đó của họ là phù hợp

Do vậy, khi xem xét dấu hiệu lỗi dưới góc độ pháp lý hình sự, người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội bị coi là có lỗi nếu hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn của họ trong khi có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn và thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội [33, tr.127] Về mặt xã hội, lỗi thể hiện thái độ của người thực hiện tội phạm đối với xã hội qua việc phủ định đối với đòi hỏi của xã hội đã được thể hiện qua sự đòi hỏi cụ thể của Luật hình sự Lỗi chỉ đặt ra cho những trường hợp trong đó chủ thể có khả năng xử sự phù hợp với đòi hỏi của xã hội và chủ thể không lựa chọn khả năng này

Tự do là cơ sở của trách nhiệm và trách nhiệm chỉ đặt ra cho một người

khi họ có tự do “Người ta không thể bàn bạc đúng đắn về đạo đức và pháp

quyền, mà lại không nói đến cái gọi là tự do ý chí, đến trách nhiệm của con người, đến quan hệ giữa tất yếu và tự do” [22, tr.195] Con người phải chịu

trách nhiệm về hành vi gây thiệt hại cho xã hội của mình, vì con người có khả năng nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi và có khả năng điều khiển

Trang 30

được hành vi theo những đòi hỏi của xã hội Một người chỉ phải chịu trách nhiệm về hành vi gây thiệt hại cho xã hội của mình trong trường hợp người

đó đã lựa chọn hành vi này khi có đủ điều kiện lựa chọn hành vi khác không gây thiệt hại cho xã hội Đó là những trường hợp có lỗi Trong trường hợp này tội phạm được coi là một xử sự mất tự do Người thực hiện hành vi đã lựa chọn, quyết định và thực hiện xử sự không hợp quy luật thì có nghĩa họ đã tự tước bỏ khả năng tự do của mình [16, tr.85]

Trong luật hình sự Việt Nam, nguyên tắc có lỗi là nguyên tắc cơ bản Người phải chịu trách nhiệm hình sự theo Luật hình sự Việt Nam không chỉ đơn thuần vì người này đã có hành vi khách quan gây thiệt hại cho xã hội mà còn vì đã có lỗi trong việc thực hiện hành vi khách quan đó Theo nguyên tắc này, luật hình sự Việt Nam không chấp nhận việc “qui tội khách quan”, nghĩa

là truy cứu trách nhiệm hình sự con người chỉ trên cơ sở hành vi khách quan

mà không xét đến lỗi của họ Con người trong xã hội có khả năng thực tế để

tự do Nhưng trong xã hội vẫn còn những người thực hiện xử sự thể hiện sự

mù quáng xã hội Đó là những hành vi phạm tội, những hành vi vi phạm và trái đạo đức, đối với những người có hành vi như vậy, xã hội và Nhà nước có quyền phản ứng, có quyền lên án và có quyền buộc họ phải chịu trách nhiệm

Đó là hậu quả của việc không thực hiện đầy đủ những nghĩa vụ trên cơ sở quyền hạn đã có, trên cơ sở của tự do [16, tr.86]

Việc thừa nhận nguyên tắc có lỗi trong luật hình sự chính là sự thừa nhận và tôn trọng tự do thực sự của con người Đó là cơ sở đảm bảo cho trách

nhiệm hình sự có khả năng khách quan thực hiện được mục đích: “… không

chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn nhằm giáo dục họ trở thành người

có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các qui tắc của cuộc sống

xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới…” (Điều 27 BLHS)

Trang 31

1.2.1.2 Khái niệm lỗi

Lỗi là mô ̣t chế đi ̣nh trung tâm và có tính chất vô cùng phức ta ̣p trong luâ ̣t hình sự Lỗi là mô ̣t dấu hiê ̣u bắt buô ̣c của tô ̣i pha ̣m, tội phạm phải là hành

vi có lỗi Mô ̣t người chỉ phải chi ̣u TNHS về hành vi c ủa mình nếu họ có lỗi trong viê ̣c thực hiê ̣n hành vi đó , nếu ho ̣ không có lỗi thì không có tô ̣i pha ̣m xảy ra và đương nhiên không phải chịu TNHS Điều 8 BLHS đã khẳng đi ̣nh:

“Tô ̣i pha ̣m là hành vi nguy hiểm cho xã hô ̣i được quy đi ̣ nh trong BLHS , do người có năng lực trách nhiê ̣m hình sự thực hiê ̣n mô ̣t cách cố ý hoă ̣c vô ý …”,

do đó, lỗi là yếu tố bắt buô ̣c của tô ̣i pha ̣m

Nguyên tắc có lỗi của hành vi mà coi là tô ̣i pha ̣m được xây dựng dựa trên cơ sở l ý luận về mối quan hệ giữa tự do ý chí , tự do lựa cho ̣n xử sự với trách nhiệm của chủ thể Hành vi của con người có tính quy định trước và suy cho cùng là do các điều kiê ̣n khách quan quy đi ̣nh Hành vi của con người được hình thành và thực hiê ̣n mô ̣t cách có quy luâ ̣t , là kết quả của sự tác động của các điều kiện tự nhiên , xã hội đến con người Nhu cầu cá nhân , phương thức thực hiê ̣n hành vi nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân đều do hoàn cản h khách quan quy định gắn liền với những điều kiện thực tế Con người không thể thực hiê ̣n hành vi vượt ra ngoài những điều kiê ̣n thực tế đó Do vâ ̣y, viê ̣c con người hành xử như thế nào trong mô ̣t tình huống cu ̣ thể tuy mang t ính cá nhân nhưng xét cho cùng đều do những điều kiê ̣n khách quan bên ngoài quyết

đi ̣nh Nhâ ̣n thức được tính tất yếu của hành vi cho thấy được xử sự sai trái của

mô ̣t người luôn có nguyên nhân xã hô ̣i Tuy nhiên nếu tuyê ̣t đối hóa tính tất yếu của hành vi thì sẽ không thấy được cơ sở của TNHS Thừa nhâ ̣n vai trò quy đi ̣nh của các điều kiện xã hội đối với hành vi của con người không có nghĩa là con người lệ thuộc tuyệt đối vào hoàn cảnh khách quan Hành vi phạm tội không phải là sự phản ứng trực diện của con người đối với hoàn cảnh mà là sự phản ứng thông qua sự suy xét của lý trí và sự quyết đi ̣nh của ý chí Viê ̣c lựa cho ̣n hành vi hợp pháp hoă ̣c bất hợp p háp nhằm thảo mãn nhu

Trang 32

cầu cá nhân là kết quả của sự tự do lựa cho ̣n hành vi của chủ thể Vì vậy, trong cùng mô ̣t hoàn cảnh, cùng chịu sự tác động như nhau của điều kiện bên ngoài, nhưng mo ̣i người la ̣i có xử sự khác nhau Tuy nhiên, những ảnh hưởng của ngoại cảnh khách quan đến xử sự của con người không làm mất đi khả năng tự do lựa cho ̣n hành vi của mình Cơ sở quy kết TNHS đối với người phạm tội chính là ở chỗ họ đã thể hiện tự do ý chí trong việc lựa chọn xử sự trái pháp luật trong khi có thể lựa chọn xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã

hô ̣i Như vâ ̣y, tự do là cơ sở của trách nhiê ̣m và trách nhiê ̣m chỉ có thể đă ̣t ra đối với mô ̣t người khi ho ̣ c ó tự do Đây chính là cơ sở pháp lý để pháp luâ ̣t hình sự Việt Nam khẳng định một hành vi chỉ b ị coi là tô ̣i pha ̣m khi người thực hiê ̣n hành vi phải có lỗi

GS TSKH Lê Cảm đã nhâ ̣n đinh:

Lỗi trong luâ ̣t hình sự là mô ̣t chế đi ̣nh trung tâm và có thể coi

là vô cùng phức tạp Vì đã từ lâu và cho đến tận bây giờ xung quanh các vấn đề về chế đi ̣nh này vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau trong khoa ho ̣c luâ ̣t hình sự cũng như trong thực tiễn áp du ̣ng luâ ̣ t hình sự Chính vì vậy, dưới góc đô ̣ nhâ ̣n thức khoa ho ̣c, viê ̣c nghiên cứu chế đi ̣nh lỗi để từ đó áp du ̣ng đúng pháp luâ ̣t hình sự và đưa ra những kiến giải lâ ̣p pháp không chỉ có ý nghĩa lý luâ ̣n – thực tiễn

mà còn có ý nghĩa xã hội – pháp lý quan trong [6, tr.532]

Trong khoa ho ̣c pháp lý hình s ự khái niệm lỗi được nhìn nhâ ̣n dưới hai góc độ đó là khía cạnh tâm lý và khía cạnh xã hội Hay nói cách khác , khi nghiên cứu về lỗi , các nhà khoa ho ̣c quan tâm đến những suy nghĩ (tâm lý) của người thực hiện hành vi đối với tội phạm mà họ thực hiện; đồng thời cũng quan tâm đến ý nghĩa xã hô ̣i của hành vi đó – nghĩa là về mặt xã hội thì tại sao mô ̣t hành vi bị xem là có lỗi Từ khía ca ̣nh tâm lý, lỗi được đa số các nhà khoa ho ̣c luâ ̣t hình sự hiểu như sau:

Trang 33

Lỗi là thái đô ̣ tâm lý của mô ̣t người đối với hành vi nguy hiểm cho xã

hô ̣i của mình và đối với hâ ̣u quả do hành vi đó gây ra được biểu hiê ̣n dưới hình thức cố ý hoặc vô ý

Từ khái niê ̣m lỗi này, có thể đưa ra các dấu hiệu của lỗi như sau:

- Về mă ̣t tâm lý: lỗi là thái đô ̣ tâm lý của mô ̣t người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hô ̣i của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra Và cụ thể, thái độ tâm lý của một người sẽ thể hiện thông qua lý trí và ý chí của họ

Trong mo ̣i hoa ̣t đô ̣ng có ý thức của con người , yếu tố lý trí thể hiê ̣n năng lực nhâ ̣n thức thực ta ̣i khách quan và yếu tố ý chí thể hiê ̣n khả năng điều khiển hành vi trên cơ sở của sự nhận thức Yếu tố lý trí thể hiê ̣n khả năng nhâ ̣n thức nghĩa là người thực hiê ̣n hành vi có thể biết mình đang làm gì hay không; còn yếu tố ý chí thể hiện khả năng điều khiển hành vi của chủ thể , quyết đi ̣nh làm hay không làm mô ̣t viê ̣c nào đó Ví dụ: mô ̣t người cầm dao đâm nhiều nhát và o ngực mô ̣t người khác thì thái độ tâm lý (lỗi) của họ thể hiê ̣n qua hai góc đô ̣ lý trí và ý chí như sau : người đó nhâ ̣n thức được mình đang làm mô ̣t viê ̣c nguy hiểm , có thể gây ra hậu quả chết người (lý trí – nhâ ̣n thức đối với hành vi và hâ ̣u quả ) và mong muốn gây ra hậu quả (ý chí – thể hiê ̣n qua viê ̣c đâm nhiều nhát vào ngực na ̣n nhân)

Hai yếu tố này là hai yếu tố cần thiết (bắt buô ̣c phải có ) của mọi hành

đô ̣ng có ý thức của con người , phản ánh sự lựa chọn và quyết định của chủ thể trong khi có đủ điều kiê ̣n lựa cho ̣n và quyết đi ̣nh xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội Các yếu tố khác thuộc mặt chủ quan của tội phạm cũng tham gia vào viê ̣c thực hiê ̣n hành vi pha ̣m tô ̣i nhưng nó không có ý nghĩa quyết đi ̣nh đối với sự lựa cho ̣n và quyết định của chủ thể về việc thực hiện hành vi đó Chính vì vậy dấu hiệu lỗi , với tư cách là thái đô ̣ tâm lý của mô ̣t người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hô ̣i của mình và đối với hâ ̣u quả do hành vi đó gây ra, là dấu hiệu thuộc mặt chủ quan bắt buộc phải có trong mọi

Trang 34

tô ̣i pha ̣m chỉ gồm hai yếu tố : lý trí và ý chí, trong đó yếu tố lý trí thể hiện năng lực nhâ ̣n thức thực ta ̣i khách quan , còn yếu tố ý chí thể hiện năng lực điều khiển hành vi trên cơ sở của sự nhâ ̣n thức Trên cơ sở sự kết hợp giữa yếu tố lý trí và ý chí trong những trường hợp có lỗi , luâ ̣t hình sự Viê ̣t Nam chia lỗi thành hai loa ̣i: cố ý và vô ý

Lỗi là dấu hiê ̣u bắt buô ̣c phải có thuô ̣c mă ̣t chủ quan của tô ̣i pha ̣m nên

nó được quy định trong mọi cấu thành tô ̣i phạm Về nguyên tắc , thái độ tâm

lý của con người có thể được đặt ra đối với bất cứ hành vi nào của con ngườ i Tuy nhiên, trong luâ ̣t hình sự, lỗi chỉ là thái độ tâm lý của một người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả cho xã hội mà chúng được quy định trong cấu thành tô ̣i pha ̣m chứ không phải đối với bất cứ hành vi và hậu quả nào mà người phạm tội đã thực hiện Điều đó cũng có ý nghĩa là lỗi bao giờ cũng đi liền với hành vi nguy hiểm cho xã hội và khôn g thể nói đến lỗi khi không có hành vi cu ̣ thể nguy hiểm cho xã hô ̣i

Nếu khi thực hiê ̣n hành vi nguy hiểm cho xã hô ̣i , người thực hiê ̣n hành

vi không có khả năng nhâ ̣n thức hoă ̣c điều khiển hành vi thì đương nhiên được xem là không có lỗi Ví dụ: người bê ̣nh tâm thần rơi vào trường hợp ta ̣i Điều 13 BLHS

- Về mă ̣t xã hô ̣i: Người thực hiê ̣n hành vi gây thiê ̣t hại cho xã hội bi ̣ coi

là có lỗi nếu hành vi đó là kết quả của sự tự do lựa chọn của họ trong khi có đủ điều kiê ̣n khách quan và chủ quan để lựa chọn và thực hiê ̣n xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội [33, tr.127]

Về mă ̣t xã hô ̣i, lỗi thể hiê ̣n thái đô ̣ của người thực hiê ̣n tô ̣i pha ̣m đối với

xã hội qua việc phủ định đối với các đòi hỏi của xã hội đã được thể hiện qua các đòi hỏi cu ̣ thể của luâ ̣t hình sự Lỗi chỉ đă ̣t ra cho những trường hợp trong đó chủ thể có khả năng xử sự phù hợp với đòi hỏi của xã hô ̣i và chủ thể không lựa cho ̣n khả năng này Tô ̣i pha ̣m là hành vi nguy hiểm cho xã hô ̣i , do đó người pha ̣m tô ̣i bi ̣ coi là có lỗi trước xã hô ̣i, trước Nhà nước

Trang 35

Ví dụ: người điều khiển tà u hỏa bất người thấy mô ̣t người muốn tự sát bằng cách nằ m ngang qua đường ray , nên đã cố gắng phanh gấp nhưng vẫn không ki ̣p , do đó đã có tai na ̣n xảy ra Trong trường hợp này , người điều khiển tàu hỏa không có lỗi vì không có sự lựa cho ̣n (bất khả kháng)

1.2.1.3 Các hình thức lỗi

Như đã phân tích ở trên , lỗi bao gồm hai yếu tố : lý trí và ý chí Căn cứ vào đặc điểm về lý trí và ý chí trong nội dung của lỗi , luâ ̣t hình sự Viê ̣t Nam chia lỗi thành hai loa ̣i: lỗi cố ý và lỗi vô ý Lỗi cố ý bao gồm hai hình thức là cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp Lỗi vô ý cũng gồm hai hình thức là lỗi vô ý vì quá tự tin và vô ý do cẩn thả

Viê ̣c phân chia lỗi thành các loa ̣i lỗi (cố ý và vô ý) và các hình thức (cố

ý trực tiếp và cố ý gián tiếp ; vô ý vì quá tự tin và vô ý vì cẩu t hả) có ý nghĩa quan tro ̣ng:

- Hình thức lỗi có ý nghĩa trong việc định tội danh trong trường hợp luâ ̣t quy đi ̣nh các tô ̣i pha ̣m mà có các dấu hiệu khác giống nhau và chỉ khác nhau bởi hình thức lỗi Chẳng ha ̣n: tô ̣i giết người Điều 93 BLHS) và tội vô ý làm chết người (Điều 98 BLHS) được phâ ̣n biê ̣t với nhau bằng hình thức lỗi

- Hình thức lỗi ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành

vi pha ̣m tô ̣i do đó mức đô ̣ trách nhiê ̣n hình sự nghiêm khắc hơn

Với các điều kiê ̣n khác nhau tương tự như nhau thì các tô ̣i pha ̣m được thực hiê ̣n với lỗi cố ý bao giờ cũng nguy hiểm hơn so với các tô ̣i pha ̣m được thực hiê ̣n với lỗi vô ý Tô ̣i pha ̣m được thực hiê ̣n với lỗi cố ý trực tiếp nguy hiểm hơn so với tô ̣i pha ̣m được thực hiê ̣n với lỗi cố ý gián tiếp ,… bởi vì sự phủ định về mặt c hủ quan của tội phạm đối với xã hội cao hơn , do vâ ̣y trách nhiê ̣m hình sự nghiêm khắc hơn

- Hình thức lỗi cò n có ảnh hưởng đến nhiều quy đi ̣nh khá c của Luâ ̣t hình sự như : tuổi chi ̣u trách nhiê ̣m hình sự (Điều 12 BLHS), tái phạm , tái phạm nguy hiểm (Điều 49 BLHS),…

Trang 36

a Lỗi cố ý trực tiếp

- Đi ̣nh nghĩa: Điều 9 BLHS

Lỗi cố ý trực tiếp là lỗi của người k hi thực hiê ̣n hành vi nguy hiểm cho

xã hội, nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội , thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra

Từ đi ̣nh nghĩa này, lỗi cố ý trực tiếp có các dấu hiệu sau:

- Về lý trí: người pha ̣m tô ̣i nhâ ̣n thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hô ̣i của hành vi của mình và thấy trước hậu quả của hành vi đó

Nhâ ̣n thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hô ̣i của hành vi là sự nhâ ̣n thức được, biết được tính gây thiê ̣t ha ̣i cho xã hô ̣i của hành vi đang thực hiê ̣ n về mă ̣t thực tế và ý nghĩa xã hô ̣i của hành vi đó Viê ̣c nhâ ̣n thức đó bao gồm viê ̣c nhâ ̣n thức những tình tiết thực t ế tạo nên tính g ây thiê ̣t ha ̣i của hành vi như: mă ̣t thực tế của hành vi , đối tượng tác đô ̣ng của t ội phạm , công cu ̣, phương tiê ̣n, thủ đoạn, thời gian, đi ̣a điểm pha ̣m tô ̣i,… và ý nghĩa xã hô ̣i của hành vi đó (tính chất của các lợi ích, giá trị xã hội bị xâm hại, sự phủ đi ̣nh đối với xã hô ̣i) Hay nói cách khác là người thực hiện hành vi biết mình đang làm

gì (mă ̣t thực tế) và biết được hành vi đó sẽ gây nguy hiểm cho xã hội (ý nghĩa

xã hội của hành vi)

Ví dụ : người trô ̣m cắp tài sản nhâ ̣n thức được rằng người đó đang chiếm đoa ̣t tài sản của người khác (mă ̣t thực tế ) và việc chiếm đoạt đó làm mất quyền sở hữu của người khác đối với tài sản đó vì vâ ̣y nguy hiểm đối với

xã hội (ý nghĩa xã hội của hành vi)

Thông thường , người pha ̣m tô ̣i khi thực hiê ̣n tô ̣i pha ̣m mà nhâ ̣n thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội thì cũng nhận thức được hành

vi đó là trái pháp luâ ̣t Tuy nhiên, nhâ ̣n thức tính trái pháp luâ ̣t của hành vi không thuô ̣c nô ̣i hàm của yếu tố lý trí của lỗi cố ý Trên thực tế , có thể có trường hợp mô ̣t người tuy nhâ ̣n thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho

xã hội mà không nhận thức được tính trái pháp luật của hành vi đó

Trang 37

Ví dụ: không phải mọi người đều hiểu về tính chất phạm tội của hành

vi không tố giác tô ̣i pha ̣m , hành vi không cứu người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng ,… trong những trường hợp này , người không nhâ ̣n thức được tính trái pháp luâ ̣t của hành vi pha ̣m tô ̣i vẫn được coi là thực hiê ̣n tô ̣i pha ̣m do cố ý

Ở các tội có cấu thành tội phạm vật chất , hâ ̣u quả của tô ̣i pha ̣m là dấu hiê ̣u bắt buô ̣c nên người cố ý trực tiếp pha ̣m tô ̣i không những nhâ ̣n thức được tính chất nguy hiểm cho xã hô ̣i của hành vi của mình mà ngay khi thực hiê ̣n hành vi cũng đã thấy trước được hâ ̣u quả của nó Ví dụ: tô ̣i giết người

là tội phạm có cấu thành vâ ̣t chất được thực hiê ̣n với lỗi cố ý , do đó khi xem xét lỗi cố ý trực tiếp của người phạm tội cần xem xét họ có biết mình đang làm một việc nguy hiểm và hành vi đó có khả năng gây chết ngườ i (nhâ ̣n thức đối với hâ ̣u quả )

Ở các tội có cấu thành hình thức , hâ ̣u quả không phải là dấu hiêu bắt buô ̣c, do vâ ̣y vấn đề có thấy trước hay không thấy trước hâ ̣u quả không được

đă ̣t ra khi xem xét lý trí của người pha ̣m t ội đối với lỗi cố ý trực tiếp Ví dụ: tội vu khống xem xét người thực hiê ̣n hành vi có biết mình đang làm mô ̣t viê ̣c nguy hiểm hay không,…

Thấy trước hâ ̣u quả của hành vi là sự dự kiến của người pha ̣m tô ̣i về sự phát triển của hành vi, là thấy trước kết quả mà hành vi phạm tội sẽ gây ra và mối quan hê ̣ nhân quả giữa hành vi và hâ ̣u quả đó Sự thấy trước này có mô ̣t số đă ̣c điểm sau:

+ Viê ̣c thấy trước hâ ̣u quả trong lỗi cố ý chỉ cầ n người pha ̣m tô ̣i nhâ ̣n thức được mối quan hê ̣ nhân quả ở trong những nét chung

+ Viê ̣c thấy trước hâ ̣u quả trong lỗi cố ý mang tính thực tế , có ý nghĩa

là người phạm tội thấy được hậu quả xảy ra trong trường hợp cụ thể đó chứkhông phải là hành vi khác trong hoàn cảnh tương tự

Trang 38

+ Mức đô ̣ thấy trước hâ ̣u quả trong lỗi cố ý trực tiếp có thể khác nhau: thấy trước khả năng thực tế hâ ̣u quả có thể xảy ra hoă ̣c thấy trước khả năng tất yếu hâ ̣u quả xảy ra

Mô ̣t vấn đề cần đ ặt ra là làm sao để biết người thực hiện hành vi biết mình đang làm một việc nguy hiểm, biết hành vi đó có thể hoă ̣c tất yếu gây ra

hâ ̣u qua vì nhâ ̣n thưc là dấu hiê ̣u chủ quan, do đó, chúng ta chỉ cần căn cứ vào những kiến thức của mô ̣t người với trình đô ̣ tương tự sẽ nhâ ̣n biết được những điều đó hay không để ràng buô ̣c nghĩa vu ̣ của người thực hiê ̣n hành vi

Nếu người thực hiê ̣n hành vi thấy trước hâ ̣u quả tất yếu xảy ra mà vẫn thực hiê ̣n hành vi thì lỗi của ho ̣ là lỗi cố ý trực tiếp , vì họ biết hậu quả

là tất yếu mà v ẫn thực hiện hành vi thì chứng minh được là họ mong muốn

hâ ̣u quả xảy ra

Còn nếu chỉ thấy trước khả năng hậ u quả có thể xảy ra thì cần xem xét thêm góc đô ̣ ý chí

- Về ý chí: người cố ý trực tiếp mong muốn hâ ̣u quả phát sinh

Mong muốn là sự hướng đến mô ̣t kết quả nhất đi ̣nh mà nó đã được đă ̣t

ra trong ý thức và mu ̣c đích của chủ thể

Ở đây, sở dĩ không đă ̣t vấn đề mong muốn hay không mong muốn hành

vi, bởi vì khi đã nhâ ̣n thức được tính chất của hành vi mà vẫn thực hiê ̣n hành

vi đó thì không thể nói đến trường hợp không mong muốn hành vi đó

Sự mong muốn hâ ̣u quả phát sinh không đồng nghĩa với viê ̣c đa ̣t được mục đích của hành vi phạm tội, sự mong muốn hâ ̣u quả phát sinh đó có thể có các trường hợp sau:

+ Khi hâ ̣u quả là mu ̣c đích cuối cùng của hành vi pha ̣m tô ̣ i: trong trường hợp này mu ̣c đích và hâ ̣u quả là mô ̣t Ví dụ: trô ̣m cắp tài sản,…

+ Khi hâ ̣u quả là điều kiê ̣n để đa ̣t được mu ̣c đích cuối cùng của hành vi phạm tội Ví dụ: giết người thuê (giết người để nhâ ̣n được tiền,…)

Trang 39

+ Khi người pha ̣m tô ̣i thấy trước hâ ̣u quả là tất yếu xảy ra mà vẫn quyết

đi ̣nh thực hiê ̣n hành vi thì hâ ̣u quả là mong muốn đối với người đó Ví dụ: khóa trái tất cả các cửa của nhà kho để đốt nhà kho nhằm hủy hoại tà i sản nhưng la ̣i phát hiê ̣n có người ngủ trong nhà kho nhưng vẫn châm lửa đốt,…

Ở các tội có cấu thành tội phạm vật chất, hâ ̣u quả nguy hiểm cho xã hô ̣i

là dấu hiệu bắt buộc cho nên việc kiểm tra ý chí của người phạm tội đối với

hâ ̣u quả đã thấy trước là điều cần thiết để có thể khẳng đi ̣nh được có cố ý trực tiếp hay không

Ở các tội có cấu thành tội phạm hình thức, hâ ̣u quả nguy hiểm cho xã

hô ̣i không phải là dấu hiê ̣u bắt buô ̣c cho n ên viê ̣c xác đi ̣nh ý chí đối với hâ ̣u quả nguy hiểm cho xã hội kh ông được đă ̣t ra Muốn xác đi ̣nh người pha ̣m tô ̣i

có lỗi cố ý trực tiếp chỉ cần xác định người đó đã nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hô ̣i của hành vi mà vẫn thực hiê ̣n hành vi đó

Tuy nhiên cũng cần lưu ý là dấu hiệu thuộc mặt chủ quan là dấu hiệu

“bên trong” của tô ̣i pha ̣m , do đó , muốn nhâ ̣n biết được người pha ̣m tô ̣i có mong muốn hay không mong muốn hâ ̣u quả phát sinh (ý chí) thì phải dựa vào biểu hiê ̣n ra bên ngoài của tô ̣i pha ̣m (rõ nhất là hành vi ) vì biểu hiện ra bên ngoài thông thường thống nhất với ý chí bên trong

b Lỗi cố ý gián tiếp

- Đi ̣nh nghĩa: Khoản 2 Điều 9 BLHS

Cố ý gián tiếp là lỗi của người khi thực hiê ̣n hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức rõ hành vi của m ình là nguy hiểm cho xã hội , thấy trước hậu quả của hành vi đó, tuy nhiên không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra

Tại định nghĩa này , chúng ta có thể rút ra những dấu hiệu của lỗi cố ý gián tiếp như sau:

- Về lý trí: người pha ̣m tô ̣i nhâ ̣n thức được tính chất nguy hiểm cho xã

Trang 40

hô ̣i của hành vi và thấy trước được hâ ̣u quả của hàn h vi đó (thấy trước khả năng thực tế hâ ̣u quả xảy ra)

- Nhâ ̣n thức được tính chất nguy hiểm cho xã hô ̣i của hành vi và hâ ̣u quả là sự nhận thức được , biết được tính gây thiê ̣t ha ̣i c ho xã hô ̣i của hành vi đang thực hiê ̣n về mă ̣t thực tế và ý nghĩa xã hô ̣i của hành vi đó , biết được hâ ̣u quả do mình gây ra Cụ thể:

+ Đối với hành vi: người pha ̣m tô ̣i nhâ ̣n thức được hành vi mà người đó thực hiê ̣n là nguy hiểm cho xã hô ̣i Nghĩa là hành vi đó đi ngược la ̣i các đòi hỏi của xã hội, phủ nhận các giá trị của xã hội, có khả năng gây thiệt hại hoặc

đe do ̣a gây thiê ̣t ha ̣i cho các quan hê ̣ xã hô ̣i được PLHS bảo vê ̣

+ Đối với hậu quả: người pha ̣m tô ̣i thấy trước được hâ ̣u quả của hành vi đó (thấy trước khả năng thực tế hâ ̣u quả xảy ra ) Trong trường hợp này người phạm tội không nhìn thấy được tính tất yếu sẽ phát sinh hậu quả của hành vi của mình mà chỉ thấy được khả năng phát sinh mà t hôi Nếu người pha ̣m tô ̣i thấy trước tính tất yếu phát sinh hâ ̣u quả của hành vi thì lỗi của ho ̣ là cố ý trực tiếp

- Về ý chí: người pha ̣m tô ̣i không mong muốn hâ ̣u quả nguy hiểm cho

xã hội xảy ra nhưng có ý thức để mặc cho hâ ̣u quả xảy ra Hâ ̣u quả nguy hiểm cho xã hô ̣i mà người pha ̣m tô ̣i đã thấy trước không phù hợp với mu ̣c đích của họ Người pha ̣m tô ̣i thực hiê ̣n hành vi nguy hiểm cho xã hô ̣i nhằm mu ̣c đích khác Chính để đạt được mục đích này mà người phạm tội tuy không mong muốn nhưng đã có ý thức để mă ̣c đối với hâ ̣u quả nguy hiểm cho xã hô ̣i của hành vi của mình mà họ đã thấy trước Đối với người có lỗi cố ý gián tiếp ,

hâ ̣u quả xảy ra hay không đều k hông có ý nghĩa gì , không xảy ra cũng được

Ngày đăng: 29/10/2015, 19:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Văn Cảm (1999), "Một số vấn đề cơ bản về nhập môn Luật hình sự", Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cơ bản về nhập môn Luật hình sự
Tác giả: Lê Văn Cảm
Năm: 1999
2. Lê Văn Cảm (2000), Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung Luật hình sự , tập 1, Nxb Đa ̣i ho ̣c quốc gia Hà Nô ̣i, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung Luật hình sự
Tác giả: Lê Văn Cảm
Nhà XB: Nxb Đa ̣i ho ̣c quốc gia Hà Nô ̣i
Năm: 2000
3. Lê Văn Cảm (2004), “Lý luâ ̣n về cấu thành tô ̣i pha ̣m trong khoa ho ̣c luâ ̣t hình sự”, Tạp chí Luật học, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luâ ̣n về cấu thành tô ̣i pha ̣m trong khoa ho ̣c luâ ̣t hình sự”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Lê Văn Cảm
Năm: 2004
4. Lê Văn Cảm (2005), “Nhƣ̃ng vấn đề lý luâ ̣n về bốn yếu tố cấu thành tô ̣i phạm (trên cơ sở Bô ̣ Luâ ̣t Hình sƣ̣ năm 1999)”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhƣ̃ng vấn đề lý luâ ̣n về bốn yếu tố cấu thành tô ̣i phạm (trên cơ sở Bô ̣ Luâ ̣t Hình sƣ̣ năm 1999)”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Lê Văn Cảm
Năm: 2005
5. Lê Văn Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự , Nxb Đa ̣i ho ̣c quốc gia Hà Nô ̣i, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự
Tác giả: Lê Văn Cảm
Nhà XB: Nxb Đa ̣i ho ̣c quốc gia Hà Nô ̣i
Năm: 2005
6. Lê Văn Cảm (2005), Sách chuyên khảo sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách chuyên khảo sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung)
Tác giả: Lê Văn Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
7. Trần Văn Độ (1994), Chương 6: Tội phạm và cấu thành tội phạm, trong sách: Tội phạm học, luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương 6: Tội phạm và cấu thành tội phạm, trong sách: Tội phạm học, luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Độ
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
8. Nguyễn Minh Đức (Chủ biên) (2002), Một số vấn đề cơ bản về pháp luật hình sự và những tình huống trong thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cơ bản về pháp luật hình sự và những tình huống trong thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Minh Đức (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
9. Đỗ Đức Hồng Hà (2009), Dạy - học môn Luật hình sự Việt Nam theo tín chỉ, Nxb Tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy - học môn Luật hình sự Việt Nam theo tín chỉ
Tác giả: Đỗ Đức Hồng Hà
Nhà XB: Nxb Tƣ pháp
Năm: 2009
10. Đỗ Đức Hồng Hà (2009), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, (Chương trình đại học), Viện Đại học Mở Hà Nội, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, (Chương trình đại học)
Tác giả: Đỗ Đức Hồng Hà
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
11. Đỗ Đức Hồng Hà (2010), Chỉ dẫn tra cứu Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2010), (Sách tham khảo), Nxb Thời đại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ dẫn tra cứu Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2010)
Tác giả: Đỗ Đức Hồng Hà
Nhà XB: Nxb Thời đại
Năm: 2010
12. Nguyễn Ngọc Hòa (2004), "Bô ̣ luâ ̣t hình sƣ̣ với viê ̣c quy đi ̣nh dấu hiê ̣u lỗi trong cấu thành tô ̣i pha ̣m", Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bô ̣ luâ ̣t hình sƣ̣ với viê ̣c quy đi ̣nh dấu hiê ̣u lỗi trong cấu thành tô ̣i pha ̣m
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa
Năm: 2004
13. Nguyễn Ngo ̣c Hòa (2004), "Tô ̣i danh và viê ̣c chuẩn hóa các tô ̣i danh trong Bô ̣ luâ ̣t hình sƣ̣ Viê ̣t Nam", Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tô ̣i danh và viê ̣c chuẩn hóa các tô ̣i danh trong Bô ̣ luâ ̣t hình sƣ̣ Viê ̣t Nam
Tác giả: Nguyễn Ngo ̣c Hòa
Năm: 2004
14. Nguyễn Ngo ̣c Hòa (2004), Cấu thành tội phạm, lý luận và thực tiễ n, Nxb Tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu thành tội phạm, lý luận và thực tiễ
Tác giả: Nguyễn Ngo ̣c Hòa
Nhà XB: Nxb Tƣ pháp
Năm: 2004
15. Nguyễn Ngọc Hòa (2006), Mô hình Luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình Luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2006
16. Nguyễn Ngo ̣c Hòa (2007), Tội phạm và Cấu thành tội phạm , Nxb Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm và Cấu thành tội phạm
Tác giả: Nguyễn Ngo ̣c Hòa
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2007
17. Nguyễn Văn Hương (2002), "Lỗi cố ý gián tiếp và tô ̣i pha ̣m có cấu thành hình thức", Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lỗi cố ý gián tiếp và tô ̣i pha ̣m có cấu thành hình thức
Tác giả: Nguyễn Văn Hương
Năm: 2002
18. Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2001), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần chung), Nxb.Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần chung)
Tác giả: Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb.Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
19. Vũ Hoài Nam (2012), Vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân - nhìn từ dấu hiệu “lỗi” theo luật hình sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân - nhìn từ dấu hiệu “lỗi
Tác giả: Vũ Hoài Nam
Năm: 2012
20. Đặng Thanh Nga (1998), "Hành vi phạm tội nhìn nhận từ từ góc độ tâm lý", Luật học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi phạm tội nhìn nhận từ từ góc độ tâm lý
Tác giả: Đặng Thanh Nga
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm