1 Chương 1:LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN ĐỐI VỚI BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ .... Quá trình phát triển quy định phá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
Lấ HỮU SOÁI
CáC BIệN PHáP NGĂN CHặN ĐốI VớI Bị CAN,
Bị CáO Là NGƯờI CHƯA THàNH NIÊN PHạM TộI THEO LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
Lấ HỮU SOÁI
CáC BIệN PHáP NGĂN CHặN ĐốI VớI Bị CAN,
Bị CáO Là NGƯờI CHƯA THàNH NIÊN PHạM TộI THEO LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)
Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự
Mó số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN ĐỨC PHÚC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Dưới sự dẫn dắt và giúp đỡ của Tiến sĩ Nguyễn Đức Phúc Các số liệu, ví dụ minh họa và các trích dẫn trong luận văn bảo đảm
độ tin cậy, chính xác và trung thực Những tài liệu tham khảo sử dụng trong bài viết đều được trích dẫn rõ ràng, cụ thể và những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ CỦA LUẬN VĂN
Lê Hữu Soái
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1:LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN ĐỐI VỚI BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 9
1.1 Khái niệm, đặc điểm người chưa thành niên phạm tội và quan điểm xử lý người chưa thành niên phạm tội 9
1.1.1 Khái niệm người chưa thành niên phạm tội 9
1.1.2 Đặc điểm người chưa thành niên phạm tội 12
1.1.3 Quan điểm xử lý người chưa thành niên phạm tội 16
1.2 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội 22
1.2.1 Khái niệm các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội 22
1.2.2 Đặc điểm các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội 26
1.2.3 Ý nghĩa của các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội 32
1.3 Quá trình phát triển quy định pháp luật về các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội theo quy định của luật tố tụng hình sự 34
Trang 51.3.1 Quy định pháp luật về các biện pháp ngăn chặn đối với bị can,
bị cáo là người chưa thành niên phạm tội theo quy định của luật
tố tụng hình sự từ năm 1945 đến năm 1988 34
1.3.2 Quy định pháp luật về các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội theo quy định của luật tố tụng hình sự từ năm 1988 đến hiện nay 37
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 40
Chương 2: TÌNH HÌNH CÓ LIÊN QUAN VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁCBIỆNPHÁP NGĂNCHẶN ĐỐI VỚI BỊCAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI THEO QUYĐỊNHCỦALUẬTTỐTỤNGHÌNHSỰTRÊN ĐỊABÀNTỈNHĐẮKLẮK 41
2.1 Tình hình có liên quan đến áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội theo quy định của Luật tố tụng hình sự trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 41
2.1.1 Tình hình người chưa thành niên vi phạm pháp luật trên phạm vi toàn quốc 41
2.1.2 Tình hình bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 42
2.2 Thực trạng áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 46
2.2.1 Thực trạng áp dụng biện pháp bắt người 46
2.2.2 Thực trạng áp dụng biện pháp tạm giữ 51
2.2.3 Thực trạng áp dụng biện pháp tạm giam 54
2.2.4 Thực trạng áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú 57
2.2.5 Thực trạng áp dụng biện pháp bảo lĩnh 58
2.2.6 Thực trạng áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm 60
Trang 62.3 Nhận xét, đánh giá về áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối
với bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội theo quy
định của Luật tố tụng hình sự trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 61
2.3.1 Những ưu điểm đạt được 61
2.3.2 Một số hạn chế tồn tại 63
2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế tồn tại 65
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 80
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN ĐỐI VỚI BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK 81
3.1 Phương hướng nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên 81
3.1.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về tố tụng hình sự liên quan đến áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội 81
3.1.2 Một số phương hướng cụ thể 83
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội 84
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật liên quan tới áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội 84
3.2.2 Một số giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội 92
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 96
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS: Bộ luật hình sự BLTTHS: Bộ luật Tố tụng hình sự TNHS: Trách nhiệm hình sự TTHS: Tố tụng hình sự XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tổng hợp số bị can, bị cáo là người chưa thành
niên phạm tội xâm phạm sở hữu trong năm
2010-2014 bị khởi tố, truy tố trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 44
Bảng 2.2 Tổng hợp số bị can, bị cáo là người chưa thành
niên phạm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm trong năm 2010-2014 bị khởi tố, truy tố trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 45
Bảng 2.3 Tổng hợp số người chưa thành niên phạm tội bị
áp dụng biện pháp tạm giữ từ năm 2010 đến 2014 52
Bảng 2.4 Tổng hợp kết quả tạm giam bị can, bị cáo từ 2010-2014
trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 55
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thế hệ trẻ là chủ nhân tương lai của đất nước Chăm sóc, giáo dục thế
hệ trẻ không chỉ dừng lại ở nghĩa vụ của cha mẹ, gia đình mà là trách nhiệm của toàn xã hội, là sự nghiệp của mỗi quốc gia, dân tộc trên thế giới Là quốc gia thứ hai trên thế giới (sau Ga-na) và quốc gia đầu tiên ở Châu Á phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989, Việt Nam đã và đang nỗ lực hết mình trong sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ, theo tư tưởng
của thời đại: “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” Tư tưởng này đã trở thành
nguyên tắc hiến định trong Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em”; “Nghiêm cấm xâm hại, hành
hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác
vi phạm quyền trẻ em” Đặc biệt, đối với người chưa thành niên phạm tội,
trách nhiệm của nhà nước, của xã hội lại càng phải được chú trọng hơn bao giờ hết nhằm răn đe, xử lý và quan trọng là giáo dục họ trở thành những cá nhân có ích cho xã hội
Theo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, trung bình mỗi năm có khoảng 100.000 vụ án hình sự thì số người chưa thành niên phạm tội chiếm gần 20%, số bị cáo là người chưa thành niên bị tuyên phạt tù có thời hạn mỗi năm chiếm từ 51 đến 56,7%; tỷ lệ tái phạm (phạm tội từ lần thứ hai trở lên) vẫn rất cao, chiếm đến 44,8% Tình hình tội phạm trong lứa tuổi vị thành niên ngày càng gia tăng về số lượng và tính chất mức độ nguy hiểm, gây không ít khó khăn cho cơ quan điều tra, xét xử khi thực hiện tố tụng, trong đó có việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định của BLTTHS
Là một tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên, trong thời gian qua, tình hình
Trang 10thanh thiếu niên vi phạm pháp luật nói chung và phạm tội nói riêng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đang trở thành nỗi nhức nhối của xã hội, với số lượng ngày tăng, tổ chức ngày càng nghiêm trọng, phức tạp Theo số liệu thống kê của ngành chức năng, trong năm 2010, đã xảy ra 254 vụ thanh thiếu niên vi phạm pháp luật, với
357 đối tượng (trong đó khởi tố 116 vụ, 163 đối tượng) Trong số các hành vi vi phạm pháp luật do thanh thiếu niên gây ra, chủ yếu là các hành vi vi phạm liên quan đến tài sản, như: cưỡng đoạt, cướp, trộm cắp, cướp giật tài sản là 127 vụ,
194 đối tượng (trong đó có 64 vụ, 94 đối tượng bị khởi tố); cố ý gây thương tích
là 81 vụ, 110 đối tượng (trong đó có 33 vụ, 47 đối tượng bị khởi tố); đáng chú ý
là thanh thiếu niên gây ra 07 vụ giết người, 04 vụ hiếp dâm… Những con số trên đã phần nào phản ánh được thực tế phức tạp về tình hình tội phạm, trong đó
có tội phạm là người chưa thành niên trên địa bàn
Ứng phó với tình hình đó, bên cạnh việc không ngừng đấu tranh phòng chống các loại tội phạm thì việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn bị can, bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự trên địa bàn tỉnh Đắc Lắk cũng được chú trọng thực hiện nhằm đảm bảo cho quá trình phát hiện nhanh chóng, chính xác, xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình; bảo đảm việc giải quyết vụ án được khách quan và đúng đắn Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng các biện pháp ngăn chặn quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) đối với bị can,
bị cáo nói chung và bị can, bị cáo là người chưa thành niên nói riêng trên địa bàn vẫn còn những hạn chế nhất định, hậu quả dẫn đến bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, vi phạm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, xâm phạm đến các quyền cơ bản của công dân, gây bức xúc dư luận
Biện pháp ngăn chặn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nói chung
và hoạt động điều tra nói riêng là một chế định quan trọng trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Kể từ khi được quy định tại BLTTHS, đã có nhiều
Trang 11công trình khoa học, các đề tài, bài viết chuyên đề đề cập đến đến lĩnh vực này Cũng có một vài luận văn thạc sỹ đề cập đến lĩnh vực áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội nhưng nhìn chung, các đề tài, bài viết chủ yếu phân tích trên phương diện lý luận những quy định của pháp luật về biện pháp ngăn chặn mang tính chung chung, không đi sâu vào một nhóm đối tượng cụ thể nào hoặc tập trung vào những vướng mắc tại địa phương cụ thể Đặc biệt, vấn đề áp dụng các lý luận về biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên, thực tiễn tại tỉnh Đắk Lắk thì chưa có bất kỳ nghiên cứu nào đề cập đến
Trước thực trạng đó, việc nắm vững các quy định về các biện pháp ngăn chặn trong BLTTHS, giúp các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trên địa bàn tỉnh vận dụng tốt vào thực tiễn công tác, tránh những vi phạm đáng tiếc xảy ra, đồng thời nâng cao được hiệu quả trong việc ngăn chặn người chưa thành niên phạm tội là yêu cầu tất yếu và cấp thiết
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “Các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk” làm đề tài luận văn thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Là một nội dung quan trọng trong luật tố tụng hình sự, các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo luôn là đề tài thu hút được nhiều nhà quản lý, các chuyên gia về pháp luật tố tụng quan tâm, nghiên cứu Những năm gần đây, tiêu biểu có một số công trình nghiên cứu về lĩnh vực này như sau:
- Về sách tham khảo, giáo trình:
+ Giáo trình “Chiến thuật điều tra hình sự” của Học viện Cảnh sát
nhân dân, Nhà xuất bản Công an nhân dân (1986);
+ Sách tham khảo “Những điều cần biết về bắt, giữ, khám xét” của
Phạm Quang Mỹ, Phạm Hữu Kỳ - Nhà xuất bản CAND (1983);
Trang 12+ “Những điều cần biết về bắt người, tạm giữ, tạm giam đúng pháp luật”
của Phạm Thanh Bình, Nguyễn Vạn Nguyên - Nhà xuất bản Pháp lý (1990);
+ “Các biện pháp ngăn chặn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam” của
Nguyễn Mai Bộ - Nhà xuất bản CAND (1997)
- Đề tài nghiên cứu khoa học, luận án, luận văn có:
+ Luận văn thạc sĩ Luật học “Các hình phạt và biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo luật hình sự Việt Nam (trên
cơ sở nghiên cứu số liệu thực tế trên địa bàn thành phố Hà Nội)” của Lưu
Ngọc Cảnh;
+ Luận văn thạc sỹ “Áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn tỉnh Hà Tây của cơ quan cảnh sát điều tra” của tác giả Nguyễn Văn Hoàng – Học viện Cảnh sát nhân dân (2008)
- Các chuyên đề, ý kiến chuyên gia trên các tạp chí chuyên ngành:
+ Tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên: Những khía cạnh pháp lý hình sự, tố tụng hình sự, tội phạm học và so sánh luật học, Lê Cảm,
Đỗ Thị Phượng (2004), Tạp chí Tòa án nhân dân, số 20, 10/2004;
+ Một số ý kiến về chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội trong Bộ luật hình sự 1999, Nguyễn Mai Bộ (2001), Tạp chí Nhà
nước và pháp luật, số 4/2001 và nhiều chuyên đề, bài viết khác
Mặc dù, việc nghiên cứu của các công trình trên đây diễn ra ở nhiều cấp
độ và bình diện khác nhau nhưng mới chỉ khai thác được mốt số vấn đề về cách thức, phương pháp áp dụng các biện pháp ngăn chặn, các công trình khoa học cũng chỉ đề cập một cách tổng thể trong phạm vi rộng mà chưa đề cập đến những khó khăn vướng mắc cũng như các giải pháp cho việc áp dụng các biện pháp ngăn chăn đối với người chưa thành niên phạm tội ở địa bàn cụ thể như tỉnh Đắk Lắk và với những đặc trưng riêng của địa phương Mặt khác, qua thực tiễn áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo hiện nay đã và đang
Trang 13gặp không ít vướng mắc trong cả quy định pháp luật và áp dụng hình phạt này đối với người chưa thành niên phạm tội
Do đó, vấn đề áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là
người chưa thành niên theo quy định của BLTTHS cần được tiếp tục nghiên
cứu góp phần làm sáng tỏ những quy định đó qua thực tiễn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và quá trình thực hiện, làm cơ
sở, kinh nghiệm áp dụng chung cho các địa phương khác trong phạm vi toàn quốc và phù hợp với các tiêu chuẩn về chính sách hình sự đối với người chưa thành niên của quốc tế trong giai đoạn hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Phân tích các khái niệm liên quan và một số vấn đề lý luận, nội dung của các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên được quy định BLTTHS; làm rõ vai trò lý luận và ý nghĩa thực tiễn trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội và quá trình phát triển quy định pháp luật về các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội theo quy định của luật
tố tụng hình sự
- Đánh giá thực trạng áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với bị can,
bị cáo là người chưa thành niên theo quy định của BLTTHS trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk nhằm phát hiện những khó khăn, vướng mắc và thiếu sót trong quá trình áp dụng của các cơ quan tiến hành tố tụng; từ đó đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên tại địa phương
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu làm rõ nhận thức chung về các biện pháp ngăn chặn và việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
Trang 14- Khảo sát, đánh giá việc áp việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên được quy định trong BLTTHS của các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
- Rút ra những kết quả đạt được, những tồn tại, thiếu sót, khó khăn, vướng mắc trong các quy định về biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự và việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên nói riêng và người thành niên nói chung trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, làm cơ sở, kinh nghiệm áp dụng cho các địa phương khác trên phạm vi cả nước
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu lý luận và thực tiễn dưới góc độ khoa học pháp lý nhằm hoàn thiện việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu vấn đề áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm các tội xâm phạm sở hữu; tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự con người trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
- Về thời gian: Từ năm 2010 đến năm 2014
Trang 155 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận, Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê và một số phương pháp khác để tiếp cận, nghiên cứu những vấn đề thuộc nội dung của đề tài
Luận văn cũng kế thừa, tham khảo một số tài liệu, một số cuộc khảo sát, các báo cáo liên quan đến lĩnh vực áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với
bị can, bị cáo là người chưa thành niên, tham khảo ý kiến của các cán bộ làm công tác nghiên cứu, đồng nghiệp hoạt động thực tiễn, tham khảo các tài liệu
về tố tụng hình sự
6 Đóng góp về khoa học của đề tài
Luận văn đã hệ thống hóa một cách toàn diện về biện pháp ngăn chặn
bị can, bị cáo là người chưa thành niên theo quy định của BLTTHS; tổng hợp, đánh giá, tìm ra ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân tồn tại, thiếu sót cũng như các kết quả đạt được trong quá trình áp dụng các biện pháp ngăn chặn bị can, bị cáo là người chưa thành niên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk; đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn bị can, bị cáo là người chưa thành niên theo quy định của BLTTHS
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần hệ thống hóa một cách đầy
đủ, toàn diện về mặt lý luận đối với vấn đề áp dụng các biện pháp ngăn chặn bị
Trang 16can, bị cáo là người chưa thành niên theo quy định của BLTTHS Đồng thời, Luận văn cũng chỉ rõ được mặt đã làm được, đánh giá những tồn tại, thiếu sót trong quá trình áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo BLTTHS trong thực tiễn tại tỉnh Đắk Lắk Qua đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật
tố tụng hình sự về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo
là người chưa thành niên, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, nâng cao niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và các cơ quan tiến hành tố tụng
Với những kết quả đã đạt được, Luận văn còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu cho tất cả cán bộ, công chức làm việc trong hệ thống
cơ quan tố tụng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk nói riêng và cơ quan tiến hành tố tụng trên phạm vi toàn quốc cũng như làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu hoặc bất kỳ ai quan tâm đến lĩnh vực này
8 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về các biện pháp ngăn chặn đối với bị can,
bị cáo là người chưa thành niên phạm tội theo quy định của BLTTHS
Chương 2: Tình hình có liên quan và thực trạng áp dụng các biện
pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội theo quy định của Luật tố tụng hình sự trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các
biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
Trang 17Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN ĐỐI VỚI
BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1 Khái niệm, đặc điểm người chưa thành niên phạm tội và quan điểm xử lý người chưa thành niên phạm tội
1.1.1 Khái niệm người chưa thành niên phạm tội
Người chưa thành niên phạm tội là một vấn đề phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới bất kể nước đó có thể chế chính trị như thế nào Vấn đề người chưa thành niên phạm tội đang là mối lo ngại chung cho mọi xã hội và toàn cầu Song hiểu thế nào là người chưa thành niên thì mỗi quốc gia lại có một quan niệm khác nhau, điều đó phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, dân trí, phong tục, tập quán của mỗi nước
Trước hết cần hiểu thế nào là “người chưa thành niên”? Mặc dù đã được đề cập tới trong nhiều văn bản pháp luật quốc tế và văn bản pháp luật của nhiều quốc gia, song ở mỗi văn kiện cũng tồn tại những tên gọi khác nhau: người chưa thành niên, trẻ vị thành niên và trẻ em Pháp luật ở mỗi quốc gia cũng có những tiêu chí cụ thể quy định về người chưa thành niên khác nhau Tuy nhiên, đa số các quốc gia đều xác định người chưa thành niên dựa trên độ tuổi và sự phát triển về tâm sinh lý của người đó
Điều kiện về độ tuổi: Theo pháp luật quốc tế, Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989,
tại Điều 1 quy định như sau: "Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em
đó quy định tuổi thành niên sớm hơn" [26] Như vậy độ tuổi của trẻ em được pháp luật quốc tế quy định là "người dưới 18 tuổi" và là "người còn non nớt
Trang 18về thể chất cần được chăm sóc và bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời"
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) lứa tuổi 10 - 19 tuổi là độ tuổi vị thành niên Thanh niên trẻ là lứa tuổi 19 - 24 tuổi Chương trình Sức khỏe sinh sản/Sức khỏe tình dục vị thành niên - thanh niên của khối Liên minh châu Âu (EU) và Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) lấy độ tuổi 15 - 24 tuổi
Bên cạnh Công ước về quyền trẻ em thì Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên hợp quốc về việc áp dụng pháp luật với người chưa thành niên hay còn gọi là Quy tắc Bắc Kinh (United Nations Standard Minimum Rules for the Administration of Juvenile Justice /Beijing Rules) do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 29/11/1985 cũng là một văn bản pháp luật quốc tế quan trọng đề cập đến khái niệm "người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi" như là một sự kế thừa của Công ước về Quyền trẻ em Quy tắc Riát về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên được Liên hợp quốc thông qua ngày 14/12/1990 mặc dù không đưa ra một khái niệm cụ thể về khái niệm người chưa thành niên, song thông qua các quy định cũng giúp chúng ta hiểu người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi Tuy nhiên, do sự phát triển của từng quốc gia khác nhau, nên khái niệm người chưa thành niên ở các quốc gia cũng khác nhau, bên cạnh việc đưa ra khái niệm này thì Công ước về Quyền trẻ em vẫn còn những điều khoản để ngỏ cho các nước quy định về độ tuổi cho người chưa thành niên, thậm chí ngay trong một quốc gia các văn bản pháp luật cũng quy định không thống nhất về vấn đề này
Theo Từ điển tiếng Việt thì khái niệm người chưa thành niên được định
nghĩa như sau: "Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân" [59]
Khái niệm “người chưa thành niên” xuất hiện trong nhiều ngành luật
Trang 19của pháp luật Việt Nam Các ngành luật sử dụng khái niệm này như Luật Dân
sự, Luật Hình sự, Luật Lao động, Luật Hành chính… Điều 18 Bộ luật Dân sự
2005 nêu định nghĩa về người chưa thành niên: “Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên” [41] Trên cơ sở khái niệm được đã đưa ra, Bộ
luật Dân sự cũng quy định năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên
từ đủ mười sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi và người chưa đủ mười sáu tuổi là người không có năng lực hành vi dân sự Bộ luật Hình sự trên cơ sở cách hiểu đồng nhất với quan điểm của Bộ luật Dân sự, tuy không đưa ra khái niệm thế nào là người chưa thành niên, nhưng có quy định về trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên từ đủ mười bốn tuổi đến dưới mười sáu tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; từ đủ mười sáu tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm Như vậy trong pháp luật Việt Nam, căn cứ để xác định một người chưa thành niên dựa vào độ tuổi được xác định của người
đó, cụ thể là người dưới 18 tuổi Quan niệm này cũng hoàn toàn phù hợp với Công ước quốc tế về quyền trẻ em mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
Điều kiện về sự phát triển thể chất và nhân cách: Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tâm sinh lý Chính vì vậy người chưa thành niên thường có những hành động bồng bột, thiếu kinh nghiệm, xốc nổi, sự hiểu biết về pháp luật còn hạn chế, thiếu chính xác, thiếu kinh nghiệm, dễ va vấp Do đó môi trường sống có tác động rất mạnh mẽ đến quá trình hình thành nhân cách cũng như các phẩm chất khác thuộc về nhân thân Nếu người chưa thành niên được sống trong một môi trường được giáo dục tốt của gia đình, nhà trường và xã hội thì họ sẽ có điều kiện để phát triển
cả về thể chất và tinh thần để trở thành người có ích cho xã hội Nhưng ngược lại, họ dễ tiếp thu những thói hư, tật xấu, dễ bị tha hóa về nhân cách và cũng
dễ bị kích động, lôi kéo tham gia vào những hành vi phạm pháp
Trang 20Trong luật hình sự Việt Nam, khái niệm người chưa thành niên được nhà làm luật sử dụng với tư cách vừa là đối tượng tác động của tội phạm vừa
là chủ thể thực hiện tội phạm Với tư cách là chủ thể của tội phạm, người chưa thành niên phạm tội là khái niệm không chỉ mang tính pháp lý mà còn
có ý nghĩa chính trị xã hội sâu sắc Bộ luật Hình sự 1999 quy định người chưa thành niên “là những người chưa đủ 18 tuổi”, nhưng chỉ những người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi mới có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nguy hiểm cho xã hội, còn người chưa thành niên dưới 14 tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, còn người từ đủ
16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm Đồng thời, luật hình sự Việt Nam cũng đưa ra khái niệm người chưa thành niên phạm tội chỉ bao gồm những người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong luật hình sự là tội phạm
Từ những phân tích trên có thể đưa ra định nghĩa về người chưa thành niên phạm tội như sau:
Người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự và họ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình theo quy định của pháp luật hình sự
1.1.2 Đặc điểm người chưa thành niên phạm tội
Trên cơ sở khái niệm nêu trên, có thể rút ra một số đặc điểm đối với đối tượng người chưa thành niên phạm tội như sau:
Người chưa thành niên phạm tội là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm lý và có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ
Năng lực trách nhiệm hình sự là khả năng của một người ở thời điểm
Trang 21thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức được tính nguy hiểm cho
xã hội của hành vi mà mình thực hiện và điều khiển được hành vi đó Cùng với sự phát triển về thể chất, trí tuệ, sự giáo dục và tích lũy kinh nghiệm sống, khi đạt đến độ tuổi nhất định, người ta mới nhận thức được đầy đủ các đòi hỏi
và chuẩn mực xã hội và điều khiển được hành vi của mình theo các chuẩn mực đó Để đạt được sự nhận thức đó cần phải có độ tuổi nhất định mới có khả năng chịu trách nhiệm hình sự
Ở độ tuổi của người chưa thành niên (dưới 18 tuổi), đặc điểm tâm sinh
lý phổ biến nhất là nồng nhiệt, hành động thường bồng bột, xốc nổi, nhẹ dạ, thiếu kinh nghiệm sống, dễ sa ngã Tuy hoàn cảnh và mức độ phát triển của từng người là khác nhau nhưng nhìn chung, đây là thời kỳ chuyển tiếp từ lứa tuổi trẻ em sang lứa tuổi người lớn Giai đoạn này là giai đoạn nhạy cảm, chỉ cần môi trường hoặc yếu tố bên ngoài, hoàn cảnh gia đình có thể dẫn đến việc người chưa thành niên phạm tội Cũng bởi đặc điểm về tâm sinh lý, thể chất chưa phát triển toàn diện mà pháp luật xếp họ vào nhóm đối tượng đặc biệt,
có năng lực chịu trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ so với người thành niên
Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều hành vi phạm tội có tính chất đặc biệt nguy hiểm cho xã hội nhưng những người chưa thành niên chỉ có năng lực nhận thức còn non nớt Do vậy, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử cần chú ý đến đặc điểm nhân thân thân của nhóm đối tượng này để xác định, đảm bảo chính sách hình sự của Nhà nước đối với người chưa thành niên, vừa đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật
Người chưa thành niên phạm tội phải chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với hành vi phạm tội của mình
Một người có hành vi vi phạm pháp luật thuộc các tội được quy định trong pháp luật hình sự thì hành vi đó được coi là phạm tội Tuy nhiên, mức
độ xem xét để truy cứu trách nhiệm hình sự hay xử lý bằng các biện pháp
Trang 22hành chính, xác định mức độ xử lý hình sự ra sao lại phụ thuộc vào các điều kiện nhất định do pháp luật quy định Về người chưa thành niên phạm tội, pháp luật của các quốc gia đều quy định trách nhiệm đối với hành vi phạm tội
mà họ gây ra Tuy nhiên, mức độ xử lý luôn nhẹ hơn so với mức độ áp dụng đối với hành vi vi phạm tương tự của người đã thành niên
Bộ luật Hình sự Việt Nam quy định: "Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”
Căn cứ vào tính chất nguy hiểm của hành vi và mức độ lỗi của người phạm tội, luật hình sự Việt Nam đã quy định rõ hai mức độ tuổi khác nhau:
+ Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng
+ Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm Như vậy, tuy chưa có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ nhưng người chưa thành niên phạm tội phải chịu trách nhiệm đối với hành vi phạm tội của mình gây ra theo pháp luật hình sự
Người chưa thành niên phạm tội không chỉ là chủ thể của hành vi phạm tội mà còn là sản phẩm của xã hội
Cũng giống như người đã thành niên phạm tội, việc xem xét hành vi phạm tội của người chưa thành niên có phải là tội phạm hay không phải là tội phạm thì điều cần thiết là chúng ta phải xem xét đến các dấu hiệu cơ bản của tội phạm Tại Khoản 1 Điều 8 BLHS Việt nam 1999 quy định về các dấu hiệu tội phạm như sau:
+ Hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS
+ Do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện cố ý hay vô ý + Xâm phạm đến những quan hệ xã hội được luật hình sự Nhà nước bảo vệ
Trang 23+ Cần xử lý bằng hình phạt đối với người thực hiện hành vi xâm phạm đến các lợi ích được luật hình sự bảo vệ
Khi thoả mãn các dấu hiệu này thì hành vi nguy hiểm cho xã hội mới
có thể được coi là tội phạm Do đó, khi một người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi có các điều kiện như trên thực hiện các hành vi quy định trong BLHS được xem là người chưa thành niên phạm tội
Với người chưa thành niên, sự hiểu biết về pháp luật còn rất hạn chế, nông cạn, thiếu chính xác, phiến diện và thiếu hệ thống Sự hiểu biết của họ
về các mặt của đời sống xã hội chưa đủ để có thể lựa chọn và quyết định cách xử sự phù hợp với chuẩn mực xã hội Họ chịu tác động rất lớn từ môi trường sống Sự hình thành nhân cách và phát triển nhân cách cũng như các đặc điểm nhân thân khác của người chưa thành niên bị chi phối và quy định bởi giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội Điều kiện phái sinh thuộc về trách nhiệm gia đình, nhà trường và xã hội là một trong những nguyên nhân tác động đến hành vi phạm tội của người chưa thành niên Do đó, luật quy định các cơ quan tiến hành tố tụng không những phải xác định nhận thức của người chưa thành niên về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà còn phải xác định nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội, trên cơ sở
đó, phát huy được tác dụng của việc xử lý đấu tranh chống tình trạng phạm tội trong lứa tuổi chưa thành niên
Người chưa thành niên phạm tội có nhiều khả năng tiếp thu sự giáo dục, cải tạo nếu có biện pháp tổ chức thích hợp
Cũng chính yếu tố chưa phát triển một cách toàn diện về tâm lý, nhận thức mà họ có thể được cải tạo, giáo dục và hướng thiện một cách tốt hơn Nắm được đặc điểm này, từ đó Nhà nước có các biện pháp tư pháp, hình phạt cũng như chính sách nhằm giáo dục phòng ngừa, xử lý hình sự phù hợp Cũng chính đặc điểm này mà xử lý hành vi phạm tội của người chưa thành niên đều
Trang 24dựa trên nguyên tắc nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội; việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ chỉ được thực hiện trong những trường hợp cần thiết và phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định pháp luật hình sự quy định về vấn đề này
1.1.3 Quan điểm xử lý người chưa thành niên phạm tội
Người chưa thành niên phạm tội là những người đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi có hành vi vi phạm các quy định của Bộ luật Hình sự và họ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình theo quy định của pháp luật hình sự Khi người chưa thành niên có hành vi phạm tội thì Nhà nước bao giờ cũng đặt vấn đề giải quyết trách nhiệm pháp lý của họ trong mối quan hệ với trách nhiệm giáo dục, quản lý của xã hội, của gia đình và nhà trường trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành niên Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân
và điều kiện gây ra tội phạm
Chính vì vậy việc xử lý những hành vi phạm tội do người chưa thành niên thực hiện cần phải được xem xét kỹ lưỡng nhằm phù hợp và thể hiện được tinh thần nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam và nhằm phù hợp với tinh thần công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em và các văn kiện quốc tế có liên quan đến lĩnh vực tư pháp đối với người chưa thành niên mà Việt Nam đã tham gia
Trên cơ sở chính sách hình sự của Đảng, Nhà nước ta về đấu tranh phòng chống tội phạm và dựa trên cơ sở những kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm do người chưa thành niên thực hiện cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam, nhà làm luật đã quy định một cách toàn diện và thống nhất đường lối xử lý về hình sự đối với người chưa
Trang 25thành niên phạm tội tại một chương riêng trong Bộ luật Hình sự (Chương X - Phần chung) Theo đó, quan điểm định hướng của Đảng và Nhà nước ta trong việc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội bao gồm:
Thứ nhất, việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội
Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành niên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm [6, Điều 69]
Người chưa thành niên với đặc điểm là những người ở trong độ tuổi chưa phát triển đầy đủ về thể chất cũng như về tâm sinh lý, đang trong quá trình hình thành nhân cách, trình độ nhận thức, kinh nghiệm sống của họ còn hạn chế Những yếu tố đó ảnh hưởng tới quá trình nhận thức và hành động của người chưa thành niên, làm cho họ khó có quyết định đúng đắn cho các hành vi của mình Bên cạnh đó nguyên nhân và điều kiện dẫn tới người chưa thành niên phạm tội phần lớn do môi trường sống của họ, trong đó có một phần trách nhiệm lớn của gia đình và xã hội
Do vậy, việc xử lý người chưa thành niên phạm tội là nhằm giáo dục
họ ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng các quy tắc của xã hội, giúp họ nhận
ra và sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội Do chưa phát triển và hoàn thiện về các mặt, cho nên không phải bất cứ trường hợp phạm tội cụ thể nào người chưa thành niên cũng có đầy
đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tức là có khả năng nhận thức đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện và hậu quả của nó cũng như khả năng điều khiển hành vi đó Thêm vào đó với mục đích là giáo dục, sửa chữa lỗi lầm của người chưa thành niên, giúp họ nhận thức được sai
Trang 26lầm, để từ đó có thể giáo dục, uốn nắn những hành vi không phù hợp, làm cho họ tự giác sửa chữa để trở thành công dân có ích cho xã hội Qua đó góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm do người chưa thành niên thực hiện, cũng như có những chính sách hình sự phù hợp áp dụng đối với họ khi bị xử
lý Đây là quan điểm mang tính định hướng, bao trùm xuyên suốt toàn bộ chính sách hình sự của Đảng, Nhà nước ta đối với người chưa thành niên phạm tội và được thể hiện trong quá trình xử lý các vụ án mà bị can, bị cáo
là người chưa thành niên
Thứ hai, người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục
Để có thể được miễn trách nhiệm hình sự trong trường hợp này cần có các điều kiện sau:
+ Người phạm tội là người chưa thành niên
+ Tội phạm do người chưa thành niên thực hiện phải là tội ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng Theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự
1999 thì: "Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến 3 năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến 7 năm tù" [42] So với Bộ luật hình sự
1985, Bộ luật hình sự 1999 đã quy định một điểm mới là người chưa thành niên phạm tội không chỉ được miễn trách nhiệm hình sự khi phạm tội ít nghiêm trọng
mà đối với tội nghiêm trọng cũng được xem xét miễn trách nhiệm hình sự Điều này đồng nghĩa với việc Bộ luật Hình sự 1999 quy định theo hướng có lợi hơn cho người chưa thành niên phạm tội Theo đó phạm vi người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự rộng hơn
Trang 27+ Có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là những tình tiết thuộc về mặt khách quan, chủ quan của tội phạm, phản ánh nhân thân người phạm tội hoặc chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự mà sự xuất hiện của nó làm giảm tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, người phạm tội và kết quả làm giảm tính chất, mức độ nghiêm khắc của trách nhiệm hình sự, chủ thể được miễn trách nhiệm hình sự, được miễn hình phạt, được xử lý theo tội danh nhẹ hơn, khung hình phạt nhẹ hơn hoặc mức hình phạt thấp hơn Theo nguyên tắc này đòi hỏi người phạm tội phải có ít nhất từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên
Thứ ba, việc truy cứu trách nhiệm hình sự với người chưa thành niên phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong những trường hợp thật cần thiết và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm nhân thân và yêu cầu của phòng ngừa tội phạm
Theo nguyên tắc này thì các cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng các biện pháp xử lý khác khi thấy không cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội Trường hợp cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên thì không có nghĩa là phải áp dụng hình phạt đối với họ mà có thể áp dụng các biện pháp tư pháp và thậm chí miễn cả hình phạt đối với họ Đưa người chưa thành niên ra xét xử và áp dụng hình phạt đối với họ chỉ trong những trường hợp phạm tội
có tính chất và mức độ nguy hiểm cao cho xã hội, có ý thức phạm tội sâu sắc
và xét thấy các biện pháp giáo dục và tác động khác của xã hội không đạt được mục đích giáo dục, cải tạo Việc truy cứu trách nhiệm hình sự không chỉ căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội mà còn phải tính đến các đặc điểm
về nhân thân, địa vị xã hội, tâm sinh lý, các tình tiết giảm nhẹ khác
Nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội thì Tòa án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp -
Trang 28giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng Theo nguyên tắc này việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội chỉ được đặt ra khi nó thực sự cần thiết, việc xử lý hình sự đối với người chưa thành niên chỉ là biện pháp cuối cùng khi các biện pháp xử lý khác của nhà nước không còn hiệu quả Trong trường hợp có những biện pháp xử lý khác khoan hồng mà không cần áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội thì ưu tiên áp dụng các biện pháp này Đây là các biện pháp mang tính giáo dục và nếu được áp dụng các biện pháp này thì người phạm tội không bị coi là có án tích Do đó Tòa án khuyến khích áp dụng các biện pháp này khi xét đến tính chất hành vi phạm tội, những đặc điểm về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Ngoài ra, cũng phải đề cấp đến các hình phạt được áp dụng đối với người chưa thành niên chủ yếu là các hình phạt tước tự do, cách ly người chưa thành niên phạm tội ra khỏi môi trường giáo dục của gia đình và cộng đồng, ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển về nhân cách của các em (cải tạo tại trường giáo dưỡng)
Thứ tư, không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội
Đây là nguyên tắc thể hiện tính nhân đạo sâu sắc trong chính sách pháp luật của Nhà nước ta, phù hợp với tư tưởng thống nhất xuyên suốt là lấy giáo dục, phòng ngừa làm mục đích trung tâm trong mọi hoạt động tố tụng của các
cơ quan tư pháp mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên Bên cạnh đó nhằm phù hợp với đặc điểm của người chưa thành niên phạm tội và thực hiện cam kết của Nhà nước ta với cộng đồng quốc tế, nội luật hóa nguyên tắc được
Trang 29ghi nhận trong Công ước Quyền trẻ em, đó là việc giam giữ chỉ được áp dụng cuối cùng khi không còn biện pháp nào khác Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật Hình sự 1999 đã bổ sung một nguyên tắc mới xử lý đối với
người chưa thành niên phạm tội: "… Khi áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội cần hạn chế áp dụng hình phạt tù" [42]
Tù chung thân hoặc tử hình là những hình phạt có tính chất nghiêm khắc cao, chỉ áp dụng đối với trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng Thêm vào đó theo nguyên tắc đầu tiên, việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, cải tạo họ Do đó, việc quy định không áp dụng hai hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt đó là hình phạt
tù chung thân và tử hình là hoàn toàn phù hợp, điều đó sẽ góp phần giúp đỡ, giáo dục người chưa thành niên phạm tội sửa chữa sai lầm, phát triển lành
mạnh và trở thành công dân có ích Cùng với việc quy định khi xử phạt tù có
thời hạn, Tòa án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng đã thể hiện rõ nét chính sách nhân đạo sâu sắc của Nhà nước ta đối với người chưa thành niên phạm tội
Thứ năm, án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội khi chưa
đủ 16 tuổi thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm
Theo quy định tại Điều 49 Bộ luật Hình sự thì tái phạm là trường hợp
đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm: đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, đã tái phạm, chưa được xóa án tích
mà lại phạm tội do cố ý
Như vậy, nguyên tắc án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm
Trang 30nguy hiểm đã khẳng định người chưa đủ 16 tuổi phạm tội được coi là "không nguy hiểm cho xã hội" mặc dù hành vi do họ thực hiện là nguy hiểm cho xã hội Do vậy, không nên áp dụng tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm với tư cách là tình tiết định tội của các tội có quy định tình tiết định tội dưới dạng
"…đã bị kết án về tội…, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm…" Việc quy định án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm đã thể hiện quan điểm nhân đạo của Nhà nước khi xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật, nhằm đảm bảo sự phát triển bình thường cho các em
Thời hạn xóa án tích đối với người chưa thành niên là 1/2 thời hạn so với người đã thành niên Người chưa thành niên phạm tội được áp dụng các biện pháp như giáo dục tại xã phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng thì không bị coi là án tích
Những quy định tại Điều 69 và Chương X Bộ luật Hình sự đã cụ thể hóa các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xử lý người chưa thành niên phạm tội, thể hiện một cách nhất quán tính nhân đạo trong chính sách pháp luật của nước ta Các quan điểm này cũng hoàn toàn phù hợp với tư tưởng thống nhất xuyên suốt là lấy giáo dục, phòng ngừa làm mục đích trung tâm trong mọi hoạt động tố tụng của các cơ quan tư pháp mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên Điều đó góp phần khuyến khích người chưa thành niên phạm tội tích cực cải tạo, giáo dục và sửa chữa sai lầm để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội
1.2 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội
1.2.1 Khái niệm các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội
Khi bàn tới tác hại của tội phạm, cách đây hơn 100 năm, C.Mác đã
nhận xét: “Kẻ phạm tội không chỉ sản xuất ra các tội phạm, mà còn sản xuất ra
Trang 31Luật Hình sự và cả vị giáo sư dạy luật hình sự nữa Ngoài ra, nó còn sản xuất ra toàn ngành cảnh sát và tư pháp hình sự, kiểm sát, phẩm phán, cai ngục” Tội
phạm gây ra tác hại rất lớn về vật chất và tinh thần cho đời sống xã hội, xâm phạm trật tự, an ninh và sự tồn tại của Nhà nước, đe dọa cuộc sống bình yên của nhân dân Nhằm thực hiện kiểm soát, hạn chế, phòng ngừa tội phạm, với chức năng mệnh lệnh cưỡng chế của mình, bất kỳ nhà nước nào đều ban hành nhiều biện pháp nhằm cưỡng chế nhằm ngăn chặn đối với các chủ thể
có hành vi xâm hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của nhà nước Để ngăn chủ thể tiếp tục thực hiện hành vi xâm hại khác hoặc buộc các chủ thể phải thực hiện ý chí mệnh lệnh của Nhà nước, cần phải có các biện pháp ngăn chặn Trong các biện pháp ngăn chặn, có thể nói, biện pháp ngăn chặn bị can, bị cáo trong luật tố tụng hình sự được coi là mang tính cưỡng chế và nghiêm khắc nhất Vậy, các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự được hiểu thế nào?
Theo từ điển nghiệp vụ phổ thông ngành công an thì: “Các biện pháp ngăn chặn trong phòng, chống tội phạm là biện pháp chủ động đối phó kịp thời không để cho bọn phản cách mạng và bọn tội phạm khác thực hiện âm mưu phạm tội của chúng” Nội dung khái niệm này cho thấy, biện pháp ngăn
chặn được thể hiện chủ yếu là tính chủ động tấn công phòng ngừa tội phạm
mà chưa nêu ra được các chủ thể một cách rõ ràng, chưa nêu ra được những đối tượng bị áp dụng và những căn cứ nào dùng để giải quyết vụ án hình sự
Theo các tác giả Phạm Thanh Bình, Nguyễn Vạn Nguyên thì:
Những biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế cần thiết trong tố tụng hình sự do các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án áp dụng đối với bị can, bị cáo và trong một số trường hợp được pháp luật quy định, có thể áp dụng đối với cả những người chưa bị khởi tố (người bị bắt trong trường hợp quả
Trang 32tang hoặc trong trường hợp khẩn cấp) nhằm ngăn chặn những hành
vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử hay thi hành án
Về nội dung, khái niệm này là cơ bản đầy đủ nhưng vẫn chưa hoàn chỉnh
vì khi bắt người phạm tội quả tang, không nhất thiết chỉ có cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, toà án mà bất kỳ người nào trông thấy cũng có quyền bắt, hay lực lượng quản lý giáo dục, cải tạo phạm nhân tiến hành công tác thi hành án phạt tù Những cơ quan này có phải là cơ quan tiến hành tố tụng hay không?
Từ sự phân tích trên ta có thể rút ra khái niệm về các biện pháp ngăn chặn như sau:
Các biện pháp ngăn chặn là các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự được áp dụng đối với bị can, bị cáo và người chưa bị khởi tố về hình
sự để kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, cũng như không cho họ có những hành động làm cản trở hoạt động điều tra, xét xử hoặc thi hành án hình sự
Đối với người chưa thành niên phạm tội, mặc dù đối tượng này là những người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm lý và có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ những họ vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình Do đó, khi người chưa thành niên phạm tội họ vẫn
có thể bị áp dụng các biên pháp ngăn chặn như đối với người phạm tội là người đã thành niên
Theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, các biện pháp ngăn chặn bao gồm: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm
- Bắt người: Là biện pháp ngăn chặn có vị trí quan trọng trong quá
trình điều tra, xử lý vụ án hình sự Đây là biện pháp ngăn chặn có tính chất
Trang 33cưỡng chế nghiêm khắc của nhà nước, nhằm tước bỏ quyền tự do thân thể của một người và hạn chế đến một số quyền, lợi ích hợp pháp của họ
Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 quy định các trường hợp bắt người như sau: bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người trong trường hợp khẩn cấp và bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang hay đang bị truy nã
- Tạm giữ: Tạm giữ là một biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự
do cơ quan có thẩm quyền áp dụng đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang Đối tượng bị tạm giữ là những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hay phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hay đối với người bị bắt theo quyết định truy nã Tuy nhiên không phải tất
cả các trường hợp trên đều bị tạm giữ mà chỉ khi cần có đủ thời gian đề cơ quan điều tra có thẩm quyền kiểm tra, xác minh tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, nơi cư trú, những tình tiết trong lời khai của người bị bắt… thì mới
áp dụng biện pháp tạm giữ để đảm bảo cho hoạt động điều tra
- Tạm giam: Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do
cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay bị can bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tù trên
2 năm và có căn cứ để cho rằng người đó có thể bỏ trốn hay cản trở việc điều
tra, truy tố xét xử hoặc tiếp tụ phạm tội Đây là biện pháp ngăn chặn nghiêm
khắc nhất so với các biện pháp ngăn chặn khác Biện pháp này tước bỏ quyền
tự do thân thể đồng thời còn hạn chế một số quyền khác như quyền ứng cử,
quyền bầu cử… của người bị áp dụng
- Biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú: Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện
pháp ngăn chặn có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nhằm đảm bảo sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của cơ quan điều tra,
Viện kiểm sát, Toà án Đối tượng bị áp dụng biện pháp này là bị can, bị cáo
Trang 34phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú
rõ ràng, thái độ khai báo thành khẩn, có cơ sở để cho rằng họ không bỏ trốn,
không gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử hay tiếp tục phạm tội
- Biện pháp bảo lĩnh: Là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp
tạm giam Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị can, bị cáo, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà
án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh
- Biện pháp đặt tiền hoặc tài sản để đảm bảo: Đặt tiền hoặc tài sản có
giá trị để đảm bảo là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có thể quyết định cho họ đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo
sự có mặt của họ theo giấy triệu tập
Đối với mỗi biện pháp ngăn chặn, pháp luật tố tụng hình sự đều quy định những nội dung, trình tự, thủ tục, thẩm quyền, đối tượng áp dụng đối với mỗi biện pháp cụ thể Trong thực tiễn áp dụng, các cơ quan tiến hành tố tụng phải dựa trên quy định này để áp dụng sao cho đúng pháp luật, đồng thời phải đảm bảo tính linh hoạt, mềm dẻo, có như vậy mới đạt được mục đích trong quá trình tố tụng, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật đối với bị can, bị cáo nói chung và bị can, bị cáo là người chưa thành niên nói riêng
1.2.2 Đặc điểm các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội
1.2.2.1 Đặc điểm về mục đích áp dụng
Cũng giống như các biện pháp ngăn chặn đối với người đã thành niên phạm tội, các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội với mục đích cuối cùng là kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi
có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố,
Trang 35xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án hình
sự Qua đó, tạo điều kiện thuận lợi cho các thủ tục điều tra, tố tụng, xét xử, thi hành án hình sự được tiến hành thuận lợi, đúng quy định
1.2.2.2 Đặc điểm về chủ thể áp dụng
Chủ thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn được quy định trong BLTTHS Không phải ai tham gia vào quan hệ tố tụng hình sự cũng được áp dụng các biện pháp ngăn chặn Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định một cách rõ ràng các chủ thể được quyền thực hiện đối với từng biện pháp ngăn chặn cụ thể, đó là các cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án nhân dân Tuy nhiên, không phải tất cả các cơ quan tiến hành tố tụng đều được thực hiện tất cả các biện pháp ngăn chặn nói trên Pháp luật tố tụng hình sự lại quy định chủ thể có thẩm quyền áp dụng đối với từng biện pháp, cụ thể như sau:
- Đối với biện pháp bắt người: Thẩm quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để
tạm giam là Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân và Viện Kiểm sát quân sự các cấp; Chánh án, Phó chánh án Toà án nhân dân tối cao
và toà quân sự các cấp; Thẩm phán giữ chức vụ Chánh toà, Phó Chánh toà phúc thẩm toà án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử; Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp
Những người có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp: Thủ trưởng, Phó thủ
trương cơ quan điều tra các cấp; người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương, người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới, người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng
Thẩm quyền, thủ tục bắt người phạm tội quả tang hay đang bị truy nã:
Bất kỳ người nào cũng có quyền bắt, tước vũ khí và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hay Uỷ ban nhân dân nơi gần nhất, các
Trang 36cơ quan này phải lập biên bản và giải ngay người bị bắt đến cơ quan điều tra
có thẩm quyền
- Đối với biện pháp tạm giữ: Bao gồm những người có thẩm quyền bắt người và chỉ huy trưởng cùng cảnh sát biển có quyền ra quyết định tạm giữ
- Đối với biện pháp tạm giam: Những người có thẩm quyền ra lệnh tạm
giam có quyền ra lệnh tạm giam
- Đối với biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản để đảm bảo: Người có thẩm quyền ra quyết định bắt người, tạm giam và
Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà có quyền ra quyết định về cấm
đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản để đảm bảo
1.2.2.3 Đặc điểm về đối tượng bị áp dụng
Khi áp dụng biện pháp ngăn chặn sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền
cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác Nhà nước đã có chính sách hình sự đối với những người chưa thành niên phạm tội, chủ yếu giáo dục, giúp đỡ người chưa thành niên sửa chữa sai lầm, tạo điều kiện cho họ phát triển lành mạnh để trở thành công dân có ích cho xã hội Vì vậy khi áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội cần phải lưu ý một số vấn đề sau:
- Đối với các biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam: BLTTHS không “khuyến khích” áp dụng các biện pháp này đối với người phạm tội là người chưa thành niên, bởi lẽ, đặc điểm tâm sinh lý của những đối tượng này tương đối nhạy cảm, việc bắt, tạm giữ, tạm giam họ là cách ly họ với môi trường bên ngoài, hạn chế tự do của họ có thể sẽ khiến họ mặc cảm, dễ dẫn đến nảy sinh những suy nghĩ và hành động tiêu cực Vì vậy, khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam đối với người chưa thành niên phạm tội, cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định chính xác độ tuổi của họ nhằm áp dụng đúng các quy định tại Điều 303 BLTTHS, có nghĩa là:
Trang 37- Việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, hay đang bị truy nã là người chưa thành niên phạm tội chỉ được áp dụng đối với những trường hợp đó là:
+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, nếu có đủ các căn cứ quy định tại các Điều 80, 81, 82 Bộ luật tố tụng hình sự nhưng chỉ trong trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng
+Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nếu có đủ các căn cứ quy định tại các Điều 80, 81, 82 Bộ luật tố tụng hình sự nhưng chỉ trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng
- Việc tạm giam, tạm giữ người chưa thành niên chỉ được áp dụng trong những trường hợp sau:
+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi nếu có đủ căn cứ quy định tại các Điều 86, 88 và Điều 120 Bộ luật tố tụng hình sự nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng
+ Người tử đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu có đủ căn cứ quy định tại các Điều 86, 88 và Điều 120 Bộ luật tố tụng hình sự nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng
Đối với các trường hợp bị bắt quả tang, bắt khẩn cấp thì sau khi bắt, cơ quan tiến hành tố tụng phải khẩn trương xác minh độ tuổi của họ để có quyết định xử lý phù hợp Trước khi áp dụng các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam thì cơ quan tiến hành tố tụng cần xem xét, cân nhắc áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác theo quy định của pháp luật như bảo lĩnh, cấm đi khỏi nơi cư trú, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm
Đối với người chưa thành niên đã áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam, cơ quan tiến hành tố tụng phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra
Trang 38và khi xét thấy không còn cần thiết áp dụng biện pháp ngăn chặn đó thì kịp thời hủy bỏ hoặc thay thế bằng các biện pháp ngăn chặn khác không hạn chế
tự do đối với họ, cần hạn chế việc gia hạn thời hạn tạm giữ, tạm giam
Người chưa thành niên phải được tạm giữ, tạm giam riêng, không được giam giữ chung với người đã thành niên Khi xét thấy người chưa thành niên phạm tội có biểu hiện hoang mang, lo lắng có thể manh động dẫn đến hành vi tiêu cực thì cơ quan điều tra yêu cầu cơ sở giam giữ áp dụng các biện pháp phù hợp để tránh hậu quả xấu có thể xảy ra
- Đối với biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, biện pháp bảo lĩnh, biện pháp đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm: Đây là những biện pháp được áp dụng
đối với những người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng, phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, có thái độ thành khẩn khai báo… Những biện pháp này phù hợp để áp dụng đối với những người chưa thành niên phạm tội bởi đây là những biện pháp không cách ly người phạm tội ra khỏi cộng đồng, không tạo thêm cho họ tâm lý mặc cảm, đồng thời trong thời gian áp dụng những biện pháp ngăn chặn này, những người chưa thành niên phạm tội sẽ nhận được thêm sự quan tâm của gia đình, của nhà trường, bạn bè… Và đây
có thể là biện pháp giáo dục, cải tạo tốt nhất bởi môi trường sống là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách Khi nhận được sự quan tâm, được tiếp nhận những tác động tốt, người chưa thành niên phạm tội có thể suy nghĩ, nhìn nhận lại những hành động sai lầm của mình và tự hoàn thiện mình tốt hơn
1.2.2.4 Đặc điểm về căn cứ áp dụng
Trên cơ sở căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án thì có thể xem xét áp dụng một trong những biện pháp ngăn chặn gồm bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc
Trang 39tài sản có giá trị để bảo đảm Tuy nhiên, để việc xác định và áp dụng loại biện pháp nào cho phù hợp và hiệu quả cần phải dựa trên cơ sở quy định pháp luật quy định về các biện pháp áp dụng và các quy định khác của pháp luật tố tụng hình sự
1.2.2.5 Đặc điểm về nguyên tắc áp dụng
Là một chế định chịu sự điều chỉnh của pháp luật tố tụng hình sự, do
đó, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo nói chung, trong đó có bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau đây:
Một là, áp dụng các biện pháp ngăn chặn phải bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa Việc tuân thủ pháp luật đã trở thành tôn chỉ của mỗi chúng ta:
“Sống-học tập-làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự mang tính mệnh lệnh, cưỡng chế cao từ phía Nhà nước lại càng cần thực hiện theo đường lối, tinh thần chỉ đạo của Đảng và tuân thủ nghiêm ngặt quy định của pháp luật Điều 3 Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2003 quy định nguyên tắc trong quá trình tố tụng, đó là:
“Mọi hoạt động tố tụng hình sự của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng phải được tiến hành theo quy định của
Bộ luật này” [40] Do đó, cần phải coi trọng nguyên tắc tuân thủ các quy định
pháp luật trong quá trình áp dụng biện pháp ngăn chặn
Hai là, áp dụng biện pháp ngăn chặn trên cơ sở tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, đặc
biệt là biện pháp bắt người, tạm giữ, tạm giam người là các biện pháp ngăn chặn nhằm hạn chế một số quyền của công dân, quyền con người của người
bị bắt Các biện pháp ngăn chặn nhằm bảo vệ các quyền con người, quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân nhưng khi áp dụng chúng cũng rất dễ tạo
ra những ảnh hưởng tiêu cực đến quyền con người, quyền và lợi ích hợp
Trang 40pháp của công dân Một số hoạt động tố tụng có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được thông tin của người bị bắt Do vậy, việc xem xét áp dụng loại biện pháp ngăn chặn nào cũng cần phải đảm bảo các quyền cơ bản của công dân, bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân, bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân; quyền bất khả xâm phạm về chỗ
ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân, quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Nắm vững nội dung, thẩm quyền, thủ tục bắt, tạm giữ, tạm giam sẽ bảo đảm cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng áp dụng đúng pháp luật, tránh vi phạm các quy định pháp luật về bảo đảm quyền con người, quyền công dân khi thực thi công vụ Do đó, mà các tổ chức, cán nhân có thẩm quyền “trong phạm vi trách nhiệm của mình phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa”
1.2.3 Ý nghĩa của các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội
Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự là những biện pháp cưỡng chế của nhà nước thể hiện tính mệnh lệnh quyền uy của nhà nước Vai trò của nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự càng được phát huy hiệu quả, trở thành công cụ hữu ích để bảo vệ chế độ, bảo vệ xã hội Việc áp dụng đúng đắn các biện pháp ngăn chặn có ý nghĩa rất to lớn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Cụ thể:
- Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn sẽ kịp thời ngăn chặn tội phạm Tâm lý tội phạm học chỉ ra rằng, sau khi thực hiện hành vi phạm tội,