Nhìn chung, hệ thống hệ kinh tế sinh thái của các hộ gia đình vùng này về cơ bản là tương đối đầy đủ, tuy nhiên sự tương tác, liên kết giữa các yếu tố trên như thế nào để đem lại hiệu qu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Đỗ Thị Ngọc Ánh
MÔ HÌNH HÓA VÀ MÔ PHỎNG HỆ KINH TẾ
SINH THÁI CỦA MỘT SỐ HỘ GIA ĐÌNH TẠI
KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN KHE RỖ,
HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Đỗ Thị Ngọc Ánh
MÔ HÌNH HÓA VÀ MÔ PHỎNG HỆ KINH TẾ
SINH THÁI CỦA MỘT SỐ HỘ GIA ĐÌNH
TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN KHE RỖ,
HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: Khoa học Môi trường
Mã số : 60440301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN VĂN SINH
Hà Nội – 2015
Trang 3Lời cảm ơn
Qua luận văn này, em xin được bày tỏ lời cảm ơn đến các thầy cô giáo Khoa Môi trường – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ em trong quá trình học tập và rèn luyện trong hai năm học vừa qua
Đặc biệt, em xin cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Văn Sinh – Phó viện trưởng Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật – Viện hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Ngoài ra, em cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn tới các cán bộ phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang, cán bộ xã An Lạc và các
hộ gia đình tại khu Bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ đã tạo điều kiện giúp đỡ trong quá trình điều tra, khảo sát thực địa và cung cấp tài liệu, số liệu để em hoàn thành luận văn này
Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô, đồng nghiệp trường Đại học Nông Lâm Bắc Giang, đặc biệt là các anh chị đồng nghiệp trong Khoa Tài Nguyên Môi trường đã tạo điều kiện thuận lợi giúp em hoàn thành luận văn
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên và giúp đỡ em trong suốt thời gian qua, đặc biệt trong quá trình làm luận văn tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 06 năm 2015
Học viên
Đỗ Thị Ngọc Ánh
Trang 4Mục lục
DANH MỤC BẢNG BIỂU i
DANH MỤC HÌNH VẼ ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 3
1.1.1 Điều kiện tự nhiêu khu vực nghiên cứu 3
1.1.2 Tình hình kinh kế xã hội 5
1.1.3 Tình hình về đa dạng sinh học tại khu vực nghiên cứu 8
1.2 Tổng quan về tình hình kinh tế sinh thái nông hộ ở Việt Nam 9
1.2.1 Các khái niệm cơ bản về kinh tế sinh thái nông hộ 9
1.2.2 Tình hình nghiên cứu về mô hình HKTST nông hộ ở Việt Nam 12
1.2.3 Tình hình nghiên cứu và phát triển về HKTST nông hộ phía Bắc Việt Nam 15
1.3 Tổng quan nghiên cứu về mô hình 17
1.3.1 Tình hình nghiên cứu về mô hình 17
1.3.2 Tính năng của phần mềm MM&S 19
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng nghiên cứu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 22
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22
2.2 Phương pháp nghiên cứu 22
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 22
2.2.2 Phương pháp phỏng vấn và điều tra thực địa 22
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 22
Trang 52.2.4 Phương pháp phân tích hệ thống, mô hình hóa cấu trúc của các HKTST trên
máy tính để phân tích cấu trúc HKTST nông hộ 23
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
3.1 Kết quả điều tra về các dạng HKTST hộ gia đình tại khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang 25
3.1.1 Đặc điểm chung về HKTST các hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu 25
3.1.2 Kết quả mô tả đặc điểm chính của mô hình HKTST của hộ gia đình điển hình tại khu vực nghiên cứu 26
3.1.3 Năng suất và chi phí của các nhóm yếu tố trong mô hình HTHKTST nông hộ tại khu vực nghiên cứu 31
3.2 Phân tích, mô tả các yếu tố của HKTST hộ gia đình đại diện tại khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang 35
3.2.1 Nhóm rừng trồng thuần loài keo 35
3.2.2 Nhóm yếu tố cây lúa nước 36
3.2.3 Nhóm yếu tố cây hoa màu 36
3.2.4 Nhóm yếu tố chăn nuôi 36
3.3 Lựa chọn các yếu tố đưa vào mô hình, xây dựng mô hình 37
3.3.1 Lựa chọn các yếu tố đưa vào mô hình 37
3.3.2 Xây dựng mô hình 37
3.3.3 Kết quả xây dựng mô hình (dạng văn bản và dạng sơ đồ mô phỏng) 40
3.3.3.1 Mô hình văn bản 40
3.3.3.2 Mô hình dạng sơ đồ mô phỏng 42
3.4 Tính toán mô phỏng biến động các yếu tố của mô hình (chạy mô hình) và đưa ra kết quả 45
3.4.1 Kết quả tính toán ngân quỹ của hộ gia đình tại thôn Biểng, xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang 45
Trang 63.4.2 Kết quả tính toán lợi nhuận ròng của các nhóm yếu tố (rừng; lúa nước; hoa
màu; chăn nuôi) 47
3.4.2.1 Kết quả tính toán lợi nhuận ròng của nhóm yếu tố rừng 47
3.4.2.2 Kết quả tính toán lợi nhuận ròng của nhóm yếu tố lúa nước 48
3.4.2.3 Kết quả tính toán lợi nhuận ròng của nhóm yếu tố hoa màu 48
3.4.2.4 Kết quả tính toán lợi nhuận ròng của nhóm yếu tố chăn nuôi 49
3.4.3 Vẽ đồ thị mô phỏng biến động của các yếu tố 50
3.4.3.1 Đồ thị thời gian 50
3.4.3.2 Đồ thị pha 51
3.5 Thử nghiệm mô phỏng các phương án sản xuất của HTHKTST hộ gia đình tại thôn Biểng, xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang 52
3.5.1 Dự kiến các phương án sản xuất của HTKTST của hộ gia đình 52
3.5.2 Sơ đồ mô phỏng hệ thống HKTST của hộ gia đình trị khu vực nghiên cứu theo 3 phương án dự kiến 53
3.5.3 Kết quả tính toán ngân quỹ của hộ gia đình theo các phương án thông qua phần mềm mô phỏng (MM&S) 55
3.5.4 Đồ thị mô phỏng biến động của các yếu tố theo 3 phương án dự kiến của mô hình 57
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
PHỤ LỤC 66
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1 Năng suất từ rừng keo của hộ gia đình 31
Bảng 2 Lượng củi thu được trong khoảng thời gian 10 năm 32
Bảng 3 Năng suất của các nhóm yếu tố: hoa màu và lúa nước 32
Bảng 4 Năng suất của vật nuôi hộ gia đình /năm (đồng) 33
Bảng 5 Chi phí đầu vào cho toàn mô hình hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu 33
Bảng 6 Lượng gỗ thu được trong khoảng thời gian 10 năm 35
Bảng 7 Lượng củi thu được trong khoảng thời gian 10 năm 36
Bảng 8 Kết quả tính toán ngân quỹ của hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu 46
Bảng 9 Kết quả tính toán lợi nhuận ròng từ rừng 47
Bảng 10 Kết quả tính toán lợi nhuận ròng từ lúa nước 48
Bảng 11 Kết quả tính toán lợi nhuận ròng từ hoa màu 48
Bảng 12 Kết quả tính toán lợi nhuận ròng từ chăn nuôi 49
Bảng 13 Kết quả tính toán ngân quỹ của hộ gia đình theo 4 phương án 56
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1 Cấu trúc và mối liên hệ giữa các hợp phần trong HKTST 11
Hình 2 Cửa sổ chính và các cửa sổ con của chương trình MM&S 20
Hình 3 Sơ đồ mô tả lát cắt ngang của HKTST nông hộ 27
Hình 4 Sơ đồ mô phỏng HKTST của hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu 42
Hình 5 Thông tin và khai báo thông tin cho yếu tố không đổi 43
Hình 6 Thông tin và khai báo thông tin cho yếu tố liệt kê 43
Hình 7.Thông tin và khai báo thông tin cho yếu tố trung gian 44
Hình 8 Thông tin và khai báo thông tin cho yếu tố trạng thái 44
Hình 9 Đồ thị mô phỏng biến động của các yếu tố trong mô hình 50
Hình 10 Đồ thị pha giữa yếu tố Ngân quỹ gia đình và yếu tố lợi nhuận ròng từ chăn nuôi 51
Hình 11 Sơ đồ mô phỏng HKTST của hộ gia đình theo phương án 2 54
Hình 12 Sơ đồ mô phỏng HKTST của hộ gia đình theo phương án 3 54
Hình 13 Sơ đồ mô phỏng HKTST của hộ gia đình theo phương án 4 55
Hình 14 Đồ thị mô phỏng biến động giữa các yếu tố theo phương án 2 57
Hình 15 Đồ thị mô phỏng biến động giữa các yếu tố theo phương án 3 57
Hình 16 Đồ thị mô phỏng biến động giữa các yếu tố theo phương án 4 58
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9MỞ ĐẦU
Phát triển công nghiệp mạnh mẽ đã làm thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng của con người Bên cạnh những thành tựu vượt bậc về nâng cao sản lượng và năng suất lao động, việc phát triển công nghiệp cũng đã gây ra những hậu quả về môi trường, làm suy thoái môi trường Đó là một trong những lý do mà nền kinh tế công nghiệp hóa đang có xu hướng bị phủ định bởi nền kinh tế sinh thái hiện đại
Kinh tế hộ gia đình là một loại hình kinh tế tương đối phổ biến và được phát triển ở nhiều nước trên thế giới Nó có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh
tế, nhất là trong nông nghiệp Ở Việt Nam, kinh tế hộ gia đình lại càng có ý nghĩa to lớn, bởi vì nước ta là một nước có nền nông nghiệp lâu đời với khoảng 80% dân số đang sinh sống ở nông thôn và nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp
Hiện nay, ở Việt Nam đã có nhiều chương trình chính sách nhằm đầu tư phát triển đời sống người dân khu vực nông thôn như chương trình 661- trồng 5 triệu ha rừng, chương trình 325, mô hình phát triển kinh tế của các đề tài khoa học….[25] Tuy nhiên, sự phát triển hệ kinh tế nông hộ vẫn còn hạn chế, đặc biệt là vùng Đông Bắc còn nhiều bế tắc về phương thức đầu tư sản xuất, thiếu kinh nghiệm về kỹ thuật trồng rừng, canh tác, chăn nuôi gia súc, gia cầm [3] Do đó, việc tìm ra giải pháp đầu tư phát triển hợp lý cho hệ kinh tế nông hộ của cả nước nói chung và vùng Đông Bắc Việt Nam nói riêng là rất cần thiết và cấp bách
Khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ nằm trong địa phận xã An Lạc, huyện Sơn Động của tỉnh Bắc Giang với hệ sinh thái rừng nhiệt đới đặc trưng của vùng Đông Bắc Việt Nam và là khu vực tiềm năng phát triển du lịch sinh thái của tỉnh Bắc Giang Tuy nhiên, đời sống kinh tế người dân vùng này còn thấp và phương thức sản xuất chủ yếu là tự cung tự cấp [1] Mô hình sản xuất của người dân vùng này chủ yếu gồm các yếu tố sau: 1 Rừng trồng; 2 Cây ăn quả; 3 gia súc, gia cầm; 4 Cây nông nghiệp (hoa màu và lúa nước) Nhìn chung, hệ thống hệ kinh tế sinh thái của các hộ gia đình vùng này về cơ bản là tương đối đầy đủ, tuy nhiên sự tương tác, liên kết giữa các yếu tố trên như thế nào để đem lại hiệu quả kinh tế cho hộ gia đình nơi đây thì
Trang 10chưa được nghiên cứu kỹ và sâu Do vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu phân tích sự tương tác của các yếu tố của hệ thống hệ kinh tế sinh thái của các hộ gia đình tại khu vực bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ, đồng thời trên cơ sở đó đề xuất các phương án đầu
tư hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cho các hộ gia đình là rất cần thiết
Có thể nói việc sử dụng mô hình toán trong một số lĩnh vực nghiên cứu như
hệ sinh thái rừng, môi trường, đã được tiến hành trên thế giới từ lâu, kể cả mô hình thống kê và mô hình cấu trúc [4,27,28,29,30] Trong nước đã có nhiều nghiên cứu
về hệ kinh tế sinh thái (HKTST) nông hộ, tuy nhiên, vấn đề ứng dụng mô hình cấu trúc để mô phỏng cấu trúc HKTST nông hộ để tìm ra phương án đầu tư hiệu quả thì vẫn còn hạn chế [2,7,8,9,11,18,20] Là một công cụ mô hình hóa và mô phỏng các
hệ động, phần mềm MM & S đã được áp dụng trong việc phân tích các hệ động khác nhau (Nguyen Van Sinh, 2006, 2012) [16, 17]
Vì những lý do trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Mô hình hóa và mô phỏng hệ kinh tế sinh thái của một số hộ gia đình tại khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang”
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Xây dựng mô hình toán và mô phỏng động thái HKTST của một số hộ gia đình tại khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang làm cơ
sở để phân tích rút ra kết luận về khả năng đầu tư tối ưu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cho hộ gia đình
Nội dung nghiên cứu bao gồm:
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và đa dạng sinh học khu vực nghiên cứu
- Xác định các dạng đặc trưng của HKTST hộ gia đình, lựa chọn các HKTST
hộ gia đình đại diện, các yếu tố của các HKTST hộ gia đình được nghiên cứu
- Ứng dụng phương pháp phân tích hệ thống, mô hình hóa cấu trúc của các
HKTST trên máy tính để phân tích cấu trúc HKTST nông hộ
Trang 11CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về khu vực nghiên cứu
1.1.1 Điều kiện tự nhiêu khu vực nghiên cứu
a) Vị trí địa lý, địa hình, địa mạo
An Lạc là xã miền núi nằm ở phía đông bắc của huyện Sơn Động, cách trung tâm huyện lỵ (thị trấn An Châu) 13 km Địa hình của xã An Lạc mang đặc trưng của miền núi bị chia cắt mạnh bởi các đồi núi cao, khe sâu với các dải đất bằng nhỏ hẹp xen kẽ lẫn nhau, độ cao trung bình 340 m Địa hình có xu hướng thấp dần từ phía Bắc xuống Nam từ Đông sang Tây, do chênh lệch độ cao nên địa hình có nhiều biến đổi lớn mang đặc thù xã trung du miền núi Bắc bộ Địa hình không đồng đều, đồi núi phân bố rộng trong phạm vi toàn xã Với đặc điểm của địa hình phức tạp nên việc sản xuất nông nghiệp của xã chủ yếu là ruộng bậc thang nhỏ lẻ nằm xen kẽ giữa các thung lũng và sườn đồi[1]
- Chế độ nắng: Tổng số giờ nắng trung bình hàng năm là 1.665 giờ
- Lượng mưa vào mùa mưa chiếm 70% lượng mưa cả năm Lượng mưa
trung bình năm 200÷1300 mm; lượng mưa ngày lớn nhất là 218 mm Vào mùa khô, trong các tháng 1, 2 có mưa phùn kèm rét kéo dài do ảnh hưởng của các đợt gió mùa Đông Bắc
- Lượng nước bốc hơi trung bình hàng năm 955 mm, cao nhất vào tháng 7
là 92 mm và thấp nhất vào các tháng 2 và 3 là 58 mm
Trang 12- Gió: hướng gió chủ đạo gồm gió Đông và gió Đông Bắc thổi vào mùa
đông; mùa hạ có gió Đông Nam kèm theo hơi nước Tốc độ gió mạnh nhất 35 m/s
c) Thủy văn
Xã An Lạc có địa hình chia cắt phức tạp, các nguồn nước phân bố không đồng đều Do địa hình dốc nên lưu lượng nước tại các khe suối ít nhất là vào mùa khô, do đó luôn xảy ra tình trạng hạn hán gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp Điều kiện thủy văn của xã chịu ảnh hưởng của các dòng chảy trên địa bàn
xã có các sông Lục Nam, sông Rãng, suối Kìa, khe Rỗ và khe Vàng [1]
d) Các nguồn tài nguyên
Tài nguyên đất
Theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2010, diện tích tự nhiên của xã có 11.960,53 ha; bao gồm 9.873,16 ha đất nông nghiệp; 556,47 ha đất phi nông nghiệp; 1.530,90 ha đất chưa sử dụng Đất đai của xã An Lạc có độ phì nhiêu thấp, vùng trồng lúa có độ mùn thấp, độ chua lớn Đất đai của An Lạc bao gồm 3 nhóm chính là: đất vàng, đất phù sa, đất bạc màu [1]
- Đất đỏ vàng phát triển trên đá phiến sét: loại đất này có diện tích tương đối lớn và phân bố rộng khắp trên địa bàn toàn xã, tầng đất day từ 30 cm đến 1 m, đất
có kết cấu tương đối tốt thích hợp cho việc trồng cây lâu năm và lâm nghiệp
- Đất vàng nhạt trên đá cát và đá dăm cuội kết, phân bố ở khu vực núi cao
- Đất đỏ vàng biến đổi trồng lúa nước
- Đất phù sa ven sông, thích hợp cho việc trồng các loại cây hoa màu có giá trị kinh tế cao
- Đất bạc màu phát triển trên đất phù sa cổ có diện tích nhỏ phân bố chủ yếu
ở các vùng đồi núi trọc, thích hợp cho phát triển một số cây ngắn ngày
Tài nguyên nước
Tài nguyên nước của xã có hai nguồn chính là nước ngầm và nước mặt [1]:
Trang 13- Nguồn nước ngầm: Tuy chưa được tính toán cụ thể nhưng qua thăm dò thực tế sử dụng của nhân dân cho thấy mực nước ngầm có độ sâu từ 20-60 m, chất lượng phục vụ sinh hoạt tốt
- Nguồn nước mặt: Gồm có sông Lục Nam, suối Kìa, khe Rỗ và Khe Vàng cung cấp nguồn nước tưới cho sản xuất nông nghiệp
1.1.2 Tình hình kinh kế xã hội
a) Dân số - xã hội [1,5,6]
Dân số toàn xã là 3.156 người với mật độ dân số trung bình là 27 người/km2 được phân bố trên 12 thôn bản là Nà Trắng, Nà Noọc, Mới, Biếng, Nà Ó, Đồng Bây, Thác, Đồng Bài, Đồng Khao, Đồng Dương, Rõng, Đường Lội với 8 dân tộc cùng sinh sống bao gồm: Kinh, Tày, Cao Lan, Hoa, Dao, Sán Chỉ, Nùng và Mường
Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2011 là 9,82o/oo
Công tác xoá đói, giảm nghèo được chỉ đạo và tổ chức thực hiện có hiệu quả,
do đó đời sống của nhân dân trong xã được cải thiện Tỷ lệ hộ nghèo năm 2009 là 41%, giảm 29,48% so với năm trước
Mạng lưới giao thông đường bộ trên địa bàn xã đã được mở rộng, nâng cấp đầu tư mạnh mẽ Trên địa bàn xã có tuyến đường quốc lộ 279 đi qua, đây là đường giao lưu đối ngoại quan trọng để giao lưu phát triển kinh tế Tuy nhiên, hệ thống mạng lưới đường giao thông chủ yếu là đường dân sinh, được hình thành chủ yếu từ
Trang 14nhu cầu sinh hoạt của nhân dân Do đó mạng lưới giao thông còn manh mún chưa liên hoàn, chưa có sự liên hệ giữa các trung tâm các thôn với nhau
Về thủy lợi, nguồn nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp từ 2 suối (Khe
Rỗ và Khe Vàng) Toàn xã có 18,4 km mương tưới và 2 trạm bơm Nà Tược thôn Cò Nọoc và trạm bơm Nà Kiện thôn Đồng Bây
Về năng lượng, nguồn điện cung cấp cho nhân dân trong xã được sử dụng từ trạm trung gian 110 KV Sơn Động Nguồn điện cung cấp đã đảm bảo nhu cầu điện sinh hoạt và sản xuất cho nhân dân trong xã Tuy nhiên, lưới điện hạ thế dẫn đến các
hộ gia đình còn chắp vá, chất lượng dây còn kém, độ an toàn không cao, tổn hao điện còn lớn
Hiện nay, trên địa bàn xã An Lạc đã có một trung tâm y tế, đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân trong xã Xã cũng đã tập trung đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho sự nghiệp giáo dục ở quy mô phổ thông ba cấp học Xã có một điểm bưu điện văn hóa phục vụ liên lạc thông tin của nhân dân trong vùng Bên cạnh đó, tại xã An Lạc cũng có nhà văn hóa để phục vụ đời sống tinh thần của người dân trong xã
b) Tình hình phát triển kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm sau tăng so với năm trước, các chỉ tiêu kế hoạch đặt ra cho các ngành kinh tế đều đạt kế hoạch Đời sống nhân dân được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người tăng rõ rệt, số hộ giàu tăng nhanh, giảm tỷ lệ nghèo theo tiêu chuẩn mới
Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ngành sản xuất nông, lâm nghiệp luôn giữ vai trò chủ đạo Việc triển khai một số đề án dẫn đến sự chuyển dịch tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng của các ngành tiểu thủ - công nghiệp và thương mại, giảm dần tỷ trọng của ngành nông nghiệp Tuy nhiên tốc độ chuyển dịch còn chậm, chưa phát huy hết tiềm năng của địa phương
Trang 15Đối với tình hình sản xuất nông lâm nghiệp, An Lạc là xã có hình thức hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp kết hợp Trong những năm qua sản xuất nông nghiệp của xã phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng Trong những năm gần đây, xã đã thực hiện thâm canh tăng vụ, chuyển dịch cơ cấu cây trồng có năng suất cao vào sản xuất với luân canh là 2 lúa, 1 màu Thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ như: trợ giá, trợ cước giống cây trồng, vật nuôi, thực hiện cung ứng kịp thời đầy đủ các loại phân bón Sản lượng lương thực có hạt 1.170,8 tấn, lương thực bình quân đầu người đạt 338kg/người/năm Cụ thể, diện tích gieo trồng lúa là 207,3 ha đạt năng xuất 37,8 tạ/ha với sản lượng 768,8 tấn; diện tích gieo trồng ngô là 88,86 ha đạt năng xuất 45,32 tạ/ha với sản lượng 402 tấn; diện tích gieo trồng khoai lang 24,3 ha đạt năng xuất 70 tạ/ha, diện tích gieo lạc là 36,2 ha đạt năng xuất 15 tạ /ha, diện tích gieo trồng đậu tương là 16,41 ha đạt năng xuất 13 tạ /ha, diện tích trồng các loại rau là 18,7 ha đạt năng xuất 80 tạ/ha
Tình hình sản xuất chăn nuôi, phát triển chăn nuôi đàn gia súc và gia cầm có giá trị kinh tế cao với mô hình lợn nái sinh sản, chăn nuôi gia cầm, gà thả vườn phát triển có hiệu quả Trên toàn xã có 667 con trâu, 49 con bò, 5.150 con lợn; trong đó lợn nái 320 con, đàn gia cầm có 58.600 con
Sản xuất lâm nghiệp trong xã được đầu tư bằng nhiều nguồn vốn thuộc các chương trình, dự án và đầu tư của nhân dân đã trồng mới được 890,54 ha rừng đặc dụng và rừng kinh tế, trong đó trồng cây phân tán được 62,24 ha, nâng độ che phủ của rừng lên 80%
Hiện nay, hoạt động sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đã từng bước phát triển mang lại nguồn thu nhập cho nhân dân và từng bước giải quyết công
ăn việc làm cho lao động dôi dư Tuy nhiên việc phát triển còn ở mức nhỏ lẻ Giá trị sản xuất toàn xã ước đạt 1,2 tỷ đồng/năm
Hoạt động thương mại diễn ra tại chợ xã, các cửa hàng bán lẻ ở thôn, bản được phát triển Toàn xã có trên 32 cơ sở kinh doanh nhỏ lẻ với doanh thu ước đạt 1,5 tỷ đồng/năm
Trang 161.1.3 Tình hình về đa dạng sinh học tại khu vực nghiên cứu [10, 24]
Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Khe Rỗ nằm trong trung tâm vùng núi Đông Bắc Bộ, có đồi núi thấp nối liền với tỉnh Quảng Ninh, địa hình có độ cao 250-886m KBTTN Khe Rỗ có hệ thực vật nhiệt đới phong phú điển hình với 1055 loài,
577 chi và 150 họ, nhiều loài có giá trị sử dụng và giá trị khoa học, quý, hiếm Khu
hệ động vật rừng Tây Yên Tử khá đa dạng, mặc dù mới chỉ khảo sát sơ bộ cũng đã thống kê được 226 loài động vật thuộc 81 họ, 24 bộ, trong đó có một số loài quý
hiếm đã có tên trong sách đỏ Việt nam: Gấu ngựa (Ursus thibetanus), Sơn dương (Capriornis sumatraensis), Gấu chó (Ursus malayanus), Rùa núi vàng (Indotestudo
alongata), Khỉ vàng (Macaca mulatta), Khỉ đuôi lợn (Macaca leonina), Cu li nhỏ
(Nycticebus pygmaeus), Ác là (Pica pica), Gà tiền xám ( Polyplectron bicalcaratum ), Gà lôi trắng (Lophura nycthemera), Tắc kè (Gekko gecko), Ô rô vấy (Acanthosaura lepidogaster), Kỳ đà nước (Varanus salvator), Rắn hổ mang (Naja
naja), Ếch Yên Tử (Odorrna yentuensis)…
Thực vật trong khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ bao gồm 45 loài thuộc 38 chi
và 28 họ thực vật bậc cao có mạch quý hiếm bị đe dọa có nguy cơ tuyệt chủng ngoài thiên nhiên, có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Danh lục Đỏ Việt Nam (2007) Hầu hết các loài ở phân hạng Sẽ nguy cấp (VU) với 36 loài (80%), Nguy cấp (EN) 8 loài (17,78%), Rất nguy cấp (CR) chỉ có 1 loài (2,22%)
Theo danh sách CITES về thực vật hoang dã quy định trong các phụ lục của Công ước về buôn bán quốc tế các loài thực vật hoang dã nguy cấp, ở KBTTN Khe
Rỗ có 7 loài thuộc 6 chi 6 họ ở 2 phụ lục II và III Phụ lục II là loài sẽ bị đe dọa tuyệt chủng có 5 loài (71,43%) và phụ lục III là loài theo quy định mỗi quốc gia để ngăn chặn hay hạn chế khai thác có 2 loài ( 28,57%) Các loài nằm trong 3 ngành Ngành Polypodiophyta 3 loài ở phụ lục II (42,86%) Ngành Pinophyta có 3 loài (42,86%): 1 loài ở phụ lục II và 2 loài phụ lục III Ngành Magnoliophyta chỉ có 1 loài ở phụ lục II (14,29%)
Trang 17Loài có tên trong nhóm II của Nghị định số 32/2006/NĐ – CP của Chính phủ
là các loài thực vật rừng bị hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại Ở KBTTN Khe Rỗ có 12 loài thuộc 9 chi 8 họ (tương ứng chiếm 1,14 %; 1,56 %; 5,33% số loài, chi, họ ở Khe Rỗ), nằm trong nhóm này chiếm 14,81 % số loài trong Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ở Việt Nam
Loài đặc hữu và cận đặc hữu Việt Nam ở KBTTN Khe Rỗ có 48 loài thuộc
43 chi, họ (tương ứng chiếm 4,55%; 7,45%; 22% số loài, chi, họ ở Khe Rỗ) Trong
đó đặc hữu có 5 loài thực vật thuộc 5 chi, 4 họ (tương ứng chiếm 0,47% , 0,87%, 2,67% số loài, chi, họ ở Khe Rỗ), cận đặc hữu có 34 loài thuộc 29 chi, 25 họ (tương ứng chiếm 3,22%, 5,03%; 16,67% số loài, chi, họ ở Khe Rỗ) và cận đặc hữu hẹp gặp ở vùng Đông Bắc Bộ có 9 loài thuộc 9 chi, 7 họ (tương ứng chiếm 0,85%, 1,56%; 4,67% số loài, chi, họ ở Khe Rỗ), tất cả các loài đều thuộc ngành Magnoliophyta
Động vật rừng trong khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ khá đa dạng về thành phần bộ, họ, loài và có nhiều giá trị về kinh tế, bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn gien Hiện trong khu bảo tồn có 226 loài động vật thuộc 81 họ, 34 bộ, 4 lớp, cụ thể là: lớp Thú có 18 bộ, 20 họ, 51 loài; lớp Chim có 13 bộ, 41 họ, 102 loài; lớp Bò sát
có 2 bộ, 15 họ, 40 loài; lớp Ếch nhái có 1 bộ, 5 họ, 33 loài.Đặc biệt, trong đó có 16 loài thú, 5 loài chim, 17 loài bò sát, ếch nhái thuộc loại quý hiếm, có tên trong sách
đỏ Việt Nam
1.2 Tổng quan về tình hình kinh tế sinh thái nông hộ ở Việt Nam
1.2.1 Các khái niệm cơ bản về kinh tế sinh thái nông hộ [26]
Theo thống kê Liên hiệp quốc đưa ra khái niệm “hộ” gồm những người sống chung dưới một ngôi nhà, cùng ăn chung, làm chung và có chung một ngân quỹ
Theo giáo sư Mc Gie (1989), “hộ” là một nhóm người có cùng chung huyết tộc hoặc không cùng chung một huyết tộc ở trong một mái nhà và ăn chung một mâm cơm
Trang 18Giáo sư Frank Ellis, trường Đại học tổng hợp Cambridge (1988) đưa ra một
số định nghĩa về nông dân, nông hộ Theo ông các đặc điểm đặc trưng của đơn vị kinh tế mà chúng phân biệt gia đình nông dân với những người làm kinh tế khác trong một nền kinh tế thị trường là:
Thứ nhất, đất đai: Người nông dân với ruộng đất chính là một yếu tố hơn
hẳn các yếu tố sản xuất khác vì giá trị của nó; nó là nguồn đảm bảo lâu dài đời sống của gia đình nông dân trước những thiên tai
Thứ hai, lao động: Sự tín nhiệm đối với lao động của gia đình là một đặc
tính kinh tế nổi bật của người nông dân Người “lao động gia đình” là cơ sở của các nông trại, là yếu tố phân biệt chúng với các xí nghiệp tư bản
Thứ ba, tiền vốn và sự tiêu dùng: Người ta cho rằng: “người nông dân làm
công việc của gia đình chứ không phải làm công việc kinh doanh thuần túy” (Woly, 1966) nó khác với đặc điểm chủ yếu của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là làm chủ vốn đầu tư vào tích lũy cũng như khái niệm hoàn vốn đầu tư dưới dạng lợi nhuận
Như vây, kinh tế hộ gia đình nông dân (nông hộ) là cơ sở kinh tế đất đai, các
tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của hộ gia đình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất và thường là nằm trong một hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu được đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào thị trường có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao
Hệ kinh tế sinh thái là một hệ thống cấu trúc và chức năng nằm trong tác động tương hỗ giữa sinh vật và môi trường chịu sự điều khiển của con người để đạt mục đích phát triển lâu bền, là hệ thống vừa bảo đảm chức năng cung cấp (kinh tế) vừa đảm bảo chức năng bảo vệ (sinh thái) và bố trí hợp lý trên lãnh thổ
Trang 19Hệ kinh tế sinh thái bao gồm ba phân hệ (phân hệ tự nhiên, phân hệ xã hội và phân hệ sản xuất) và hai chức năng (chức năng kinh tế - tạo đầu ra là hàng hóa và lợi nhuận, biểu hiện bằng các chỉ số kinh tế và chức năng sinh thái – đảm bảo tạo đầu ra của hệ là tính bền vững sinh thái môi trường)
Hình 1 Cấu trúc và mối liên hệ giữa các hợp phần trong HKTST
Theo PGS TS Đăng Trung Thuận và cộng sự (1999) [21], HKTST được xem là một thống kinh tế sinh thái cụ thể được thiết kế và xây dựng trong một vùng sinh thái xác định
Các mô hình HKTST được xây dựng trên cơ sở: kiểm kê, đánh giá hiện trạng môi trường, tài nguyên và tiềm năng sinh học; phân tích chính sách và chiến lược sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường; hoàn thiện các cơ chế kinh tế (theo chu trình sản xuất năng lượng) và cơ chế sinh học (theo chu trình sinh địa hóa)
- Hoạt động sản xuất: phương thức sản xuất, trình độ canh tác, phương tiện kỹ thuật
Sản phẩm kinh tế:
- Năng suất
- Hiệu quả kinh tế
Sản phẩm xã hội:
- Thỏa mãn nhu cầu vật chất
- Thỏa mãn nhu cầu giải trí
Sản phẩm môi trường:
- Ô nhiễm môi trường
- Cải thiện môi trường
Trang 20Một mô hình HKTST được xác lập theo bốn nguyên tắc chung: địa điểm xây dựng mô hình phải mang tính đặc trưng cho toàn vùng để sau khi hoàn tất, mô hình cũng sẽ được áp dụng hiệu quả cho các cùng khác có điều kiện tương tự; mô hình phải có tính khả thi, mang hiệu quả cao về kinh tế và môi trường; quy mô của mô hình phù hợp với cơ chế quản lý mới trong nền kinh tế thị trường; mô hình phải ổn định và có năng suất lao động, cải thiện môi trường, đảm bảo khả năng tự điều chỉnh, tự phát triển của toàn bộ hệ thống
Theo GS TSKH Nguyễn Văn Trương (1992) [22] cho rằng: HKTST nông
hộ là hộ gia đình sinh sống trong một môi trường sinh thái nhất định có tự liệu sản xuất và phương thức sản xuất nhất định trên một số vùng sinh thái nhất định Ví dụ HKTST hộ gia đình có rừng trồng, HKTST hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, HKTST hộ gia đình nuôi trồng thủy sản, vv…
Như vậy, hệ thống hệ kinh tế sinh thái nông hộ là một hộ gia đình sinh sống trong một vùng sinh thái nhất định (đồng bằng, trung du, miền núi) và họ có tự liệu sản xuất (trang thiết bị, máy mọc, đất đai, nguồn vốn, lao động, ) và phương thức sản xuất nhất định phù hợp với điều kiện của vùng
1.2.2 Tình hình nghiên cứu về mô hình HKTST nông hộ ở Việt Nam
Hiện nay, có rất nhiều mô hình HKTST và các mô hình này được áp dụng, phát triển rông khắp trên tất cả các vùng ở Việt Nam Tuy nhiên, hiệu quả của việc
áp dụng các mô hình này là không đồng đều và cần có sự đầu tư hơn nữa về khoa học kỹ thuật cũng như cách thức quản lý để có được hiệu quả cao hơn [22]
a) Mô hình sản xuất chuyên canh trong nông nghiệp:
Mô hình hộ gia đình chuyên canh nông nghiệp phù hợp và phổ biến ở gần các đô thị, doanh nghiệp (cao su, chè, cà phê, bông, mía đường hoặc xí nghiệp chế biến giấy) Mô hình kinh tế hộ loại này thường có quy mô lớn, khối lượng hàng hóa nhiều, cho thu nhập ổn định, đời sống người dân được cải thiện Tuy nhiên, dễ gặp rủi ro do giá cả biến động theo thị trường, ảnh hưởng nhiều bởi thời tiết, khí hậu
Trang 21Đối với mô hình nông hộ chuyên chăn nuôi (mô hình chuyên canh bò sữa,
cá, tôm, cua; hươu, trăn, rắn), mô hình này đang phát triển mạnh ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), đồng bằng sông Hồng (ĐBSH), ven biển miền Trung
Mô hình nông hộ chuyên trồng trọt (mô hình chuyên canh chè, cà phê, cao su) phát triển chủ yếu ở Trung du miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ Đây
là mô hình các hộ kinh tế làm vệ tinh nguyên liệu cho các doanh nghiệp chế biến
b) Mô hình sản xuất lúa nước – nuôi cá nước ngọt – chăn nuôi gia cầm
Mô hình này phát triển chủ yếu ở vùng ĐBSH và ĐBSCL, các tỉnh vùng trũng trồng một vụ lúa nhưng không có hiệu quả cao Doanh thu nhiều hộ hàng năm đạt hàng trăm triệu đồng, thu nhập đạt hàng chục triệu đồng cho thấy hiệu quả cao trong việc áp dụng mô hình này Những nông hộ cung cấp lượng nông sản hàng hóa lớn cho xuất khẩu, tuy nhiên những vấn đề như dịch bệnh, giá cả bấp bênh và thiếu thông tin về thị trường có ảnh hưởng lớn đến sự bền vững của mô hình
c) Mô hình hộ liên kết chăn nuôi lợn theo phương thức bán công nghiệp – thâm canh lúa, màu
Mô hình này đã và đang phát triển có hiệu quả ở ĐBSH Loại mô hình này cần có sự liên kết chặt chẽ giữa các hộ, giữa hộ với các chủ thể thu gom, chế biến, xuất khẩu Để mô hình phát triển cần đảm bảo quy trình kỹ thuật chăn nuôi, phòng trừ dịch bệnh, chuồng trại hiện đại; có giống lợn và giống lúa tốt Bên cạnh đó các chủ hộ cũng cần xác định quy mô hợp lý, chủ động nguồn thức ăn và nắm chắc thông tin thị trường tiêu thụ
d) Mô hình sản xuất cây giống (cây trồng nông, lâm nghiệp), vật nuôi (lợn giống, gia cầm giống và các giống vật nuôi thủy đặc sản)
Đây là mô hình phát triển sản xuất giống cây trồng ở trung du miền núi (giống cà phê, cao su, chè, cây ăn quả các loại); giống vật nuôi ở ĐBSCL, ĐBSH, ven biển (giống tôm, cua, cá ba ba) Mô hình này phát triển với các loại giống mới, đặc sản, giống sạch, có chất lượng và sản lượng cao, có giá trị trên thị trường trong nước và xuất khẩu Đây là mô hình cho lãi suất cao tuy nhiên chủ hộ phải có vốn
Trang 22lớn, nắm vững khoa học và công nghệ, do đó việc nhân rộng mô hình này là không
dễ thực hiện
e) Mô hình nuôi bò sữa – chế biến – tiêu thụ tại chỗ
Mô hình này được phát triển ở ngoại thành Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh hoặc các vùng có khí hậu thuận lợi như Mộc Châu (Sơn La), Vĩnh Phúc, Lâm Đồng Đây là mô hình được đánh giá là hiệu quả và phát triển bền vững nếu được đầu tư trang thiết bị đảm bảo vệ sinh an toàn và tổ chức quản lý Tuy nhiên, hiện nay mô hình này đang gặp khó khăn do giá cả biến động theo chiều không có lợi cho nông dân
f) Mô hình chuyên canh rau, hoa, quả xuất khẩu dịch vụ thương mại tại nhà
Mô hình này đang phát triển mạnh tại vùng ven thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng), vùng có khí hậu á nhiệt đới: Sa Pa (Lao Cai), Lạng Sơn, Cao Bằng, Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Lục Ngạn (Bắc Giang ) Để mô hình này phát triển, các hộ cần nâng cao hơn nữa chất lượng, hình thức, khả năng bảo quản và uy tín trên thị trường
g) Mô hình nông – lâm kết hợp
Loại mô hình này được phát triển rộng rãi ở vùng trung du và miền núi Mô hình này chủ yếu phát triển với các cây trồng như cây rừng, đỗ đậu, cây ăn quả, cây dược liệu, cây công nghiệp, cây đặc sản.; về vật nuôi bao gồm trâu, bò, lợn, dê, gia cầm, chim, thú rừng… Hoạt động lâm nghiệp gồm: Bảo vệ, khai thác, trồng, sơ chế, chăm sóc, cải tạo rừng… Phương thức canh tác đặc trưng là canh tác trên đất dốc Một số nơi đã xuất hiện các nghề như dịch vụ du lịch sinh thái, sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu Tuy nhiên, mô hình này còn khó khăn về vốn, khả năng ứng dụng khoa học công nghệ, hạ tầng cơ sở…
h) Mô hình sản xuất nông nghiệp kết hợp tiểu thủ công nghiệp
Mô hình này thường hoạt động thành làng, gần đây có nơi đã phát triển thành quy mô nhiều làng, xã Bên cạnh hoạt động tiểu thủ công nghiệp, đa phần các hộ gia đình đều phát triển sản xuất và chăn nuôi nhằm tự túc lương thực, thực phẩm Mô
Trang 23hình này đang có những tồn tại về mặt bằng sản xuất, gây ô nhiễm môi trường, rất cần có quy hoạch lại
i) Mô hình sản xuất – kinh doanh tổng hợp
Mô hình này hình thành ở các thị tam, thị tứ hoặc các trung tâm cụm xã theo đầu mối giao thông Sản xuất nông lâm nghiệp – kinh doanh tổng hợp là mô hình kinh tế hộ ngày càng có hiệu quả ở nhiều địa phương, nhất là ở các tỉnh trung du, miền núi Xu hướng phát triển các hộ gia đình này sẽ thành các trang trại gia đình hoặc doanh nghiệp tư nhân Bên cạnh sản xuất trên quy mô lớn và cần có vốn lớn, các hộ còn kinh doanh phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, vật liệu xây dựng hoặc thu gom, chế biến sản phẩm
Trong các loại mô hình kinh tế sinh thái hộ gia đình đã nêu trên, nhìn chung các hộ gia đình sản xuất kinh – doanh tổng hợp (gồm cả sản xuất – chế biến – tiêu thụ – dịch vụ đầu vào); hộ gia đình nông – lâm nghiệp kết hợp (gồm cả trồng trọt nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi gia súc – thủy sản) đang được phát triển mạnh Điểm chung ở hướng phát triển các hộ này là tiến tới tích tụ ruộng, đất, vốn để hình thành các trang trại, các doanh nghiệp tư nhân đủ sức, đủ lực để hợp tác, liên kết, liên doanh, hợp tác với các thành phần kinh tế khác, với các tổ chức/cá nhân đầu tư vốn, khoa học công nghệ để sản xuất theo hướng thâm canh, đa canh và đa dạng nguồn thu nhập Các hộ gia đình sản xuất kinh doanh cây/con đặc sản đang có cơ hội thị trường trong nước và xuất khẩu
1.2.3 Tình hình nghiên cứu và phát triển về HKTST nông hộ phía Bắc Việt Nam
Đã có nhiều dự án, chương trình phát triển nông thôn miền núi được áp dụng
ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam, điển hình như dự án 661 (trồng 5 triệu ha rừng); các
dự án nông lâm kết hợp (VAC- vườn, ao, chuồng; RVAC- Rừng, vườn, ao, chuồng, ); dự án hỗ trợ của Nhật (ODA) và gần đây là dự án KFW của Đức [2],… ngoài ra các đề tài khoa học trong nước từ cấp cơ sở đến cấp bộ và cấp nhà nước đã được triển khai rất nhiều ở các vùng này Tuy nhiên, các chương trình dự án trên đây đều mới chỉ dừng lại ở khía cạnh thử nghiệm thực tế và triển khai mô hình đã
Trang 24xác định sẵn nên không tính được hiệu quả, cũng như không xác định được hạn chế của từng mô hình Do vậy, khả năng thuyết phục cho các hộ gia đình áp dụng mô hình rất thấp
Theo GS Hoàng Hòe [11], thách thức của việc áp dụng các mô hình kinh tế sinh thái ở khu vực này là trình độ học vấn, trình độ tay nghề của người lao động thấp, việc tổ chức sản xuất, kinh doanh của các hộ gia đình chủ yếu dựa vào kinh nghiệm nên chất lượng sản xuất, kinh doanh chưa cao
Theo TS Trần Thị Thu Thủy [22], phát triển mô hình HKTST nông hộ tại một số tỉnh trung du và miền núi phía Bắc như sau:
Về mô hình, trong khu vực phía Bắc có ba mô hình HKTST chính, đó là mô hình HKTST nông hộ ưu tiên phát triên nông nghiệp với thành phần chủ yếu là cây hàng năm và cây ăn quả; mô hình HKTST nông hộ ưu tiên cây lâm nghiệp như trồng rừng sản xuất như rừng thông, keo, bạch đàn, mỡ, và mô hình HKTST nông
hộ ưu tiên cả nông nghiệp, ngư nghiệp (thủy sản) và lâm nghiệp kết hợp với chăn nuôi gia súc
Về hình thức tổ chức, quy mô trình độ các yếu tố nguồn lực (đất đai, vốn, lao động, khoa học công nghệ áp dụng cho sản xuất) ở các nông hộ trong phát triển mô hình HKTST nông hộ chưa đạt hiệu quả cao
Về công tác quản lý sản xuất kinh doanh, chủ nông hộ trực tiếp điều hành và quản lý toàn bộ công việc của gia đình và của trang trại; việc xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, đưa đên tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và bán sản phẩm ra thị trường được cho là những khó khăn ở hầu hết các hộ gia đình (nông hộ)
Về thực trạng tiêu thụ sản phẩm, các nông hộ cung cấp ra thị trường với số lượng sản phẩm lớn tuy nhiên lợi nhuân đạt được chưa cao Cụ thể, nông sản các nông hộ cung cấp ra thị trường chiếm 31,28% - 76,56% giá trị sản phẩm
Các tỉnh phía Bắc mặc dù có các mô hình phát triển HKTST nông hộ cùng loại nhưng cách thức bố trí sản xuất khác nhau, do đó hiệu quả kinh tế mang lại
Trang 25khác nhau Cụ thể, hệ canh tác nông lâm, lâm nông ở Yên Bái và hệ nông lâm ngư, súc lâm kết hợp ở Hòa Bình cho hiệu quả kinh tế lớn nhất Còn hệ nông lâm và lâm nông ở Tuyên Quang và hệ nông lâm ngư và súc lâm kết hợp ở Bắc Giang cho hiệu quả kinh tế thấp nhất [22]
Về tình hình phát triển mô hình HKTST nông hộ ở một số tỉnh phía Bắc, trong trường hợp cùng địa bàn nhưng khác mô hình áp dụng cũng đưa ra những hiệu quả khác nhau Cụ thể:
Ở tỉnh Hòa Bình, HKTST nông lâm ngư mang lại hiệu quả kinh tế lớn nhất và hệ nông lâm là mô hình HKTST kém hiệu quả nhất
Ở tỉnh Yên Bái, HKTST nông lâm ngư mang lại hiệu quả kinh tế lớn nhất và kém hiệu quả nhất HKTST súc lâm kết hợp Hệ kinh tế sinh thái trang trại cây hàng năm mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất và HKTST trang trại chăn nuôi có hiệu quả kinh tế thấp nhất
Ở Sơn La, HKTST nông lâm ngư có hiệu quả kinh tế lớn nhất, còn HKTST súc lâm kém hiệu quả nhất
Điều kiện tự nhiên, thị trường tiêu thụ nông, lâm sản, các chính sách, trình
độ tổ chức, quản lý và sự phát triển khoa học công nghệ là những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển mô hình HKTST nông hộ và mô hình HKTST trang trại vùng trung du và miền núi phía Bắc
1.3 Tổng quan nghiên cứu về mô hình
1.3.1 Tình hình nghiên cứu về mô hình
Việc sử dụng mô hình toán trong một số lĩnh vực nghiên cứu như hệ sinh thái rừng, môi trường, đã được tiến hành trên thế giới từ lâu, kể cả mô hình thống
kê và mô hình cấu trúc
Mô hình là sự mô tả trừu tượng các mối tương quan của một hệ thống thực bằng một hình thức ước lệ, thường là bằng phương trình toán học Mô phỏng là sự thí nghiệm trên một mô hình Phần mềm mô hình hóa và mô phỏng hệ thống cho phép các chuyên gia không chuyên sâu về toán giải quyết các bài toán phi tuyến
Trang 26bằng việc mô hình hóa và mô phỏng hệ thống - bước quan trọng cuối cùng trong quá trình phân tích hệ thống (Bossel, 1992) [12]
Trong các nghiên cứu có sử dụng phương pháp mô hình hóa cấu trúc và mô phỏng thì phần mềm Stella (High Performance Systems, 1985) được sử dụng rộng rãi hơn cả Lý thuyết về phân tích hệ thống, mô hình hóa cấu trúc và mô phỏng đã được Bossel (1986, 1994) [28, 31] nghiên cứu rất kỹ
Bruenig và các cộng sự (1986) đã nghiên cứu và đưa ra hướng dẫn áp dụng phân tích hệ thống trong bảo tồn, sử dụng và phát triển tài nguyên đất nhiệt đới và á nhiệt đới của Trung Quốc [24]
Barry Richmond (2005) cho rằng, cần đưa tư duy hệ thống (system thinking) vào trường phổ thông và hy vọng bằng cách đó sẽ tạo được sự tiến hóa về tư duy, giao tiếp và học tập; từ đó có thể tiến tới giải quyết các vấn đề xã hội đầy áp lực (vô gia cư, đói, nghiện, bất công trong thu nhập, hiểm họa môi trường, dịch AIDS) đã xuất hiện từ lâu nhưng không giải quyết được và ngày càng trầm trọng [12] Công
cụ được Barry Richmond sử dụng là phần mềm Stella của Mỹ Jay Forrester (1989) [19], người tiên phong trong lĩnh vực động thái hệ thống, cho rằng cần chuyển đổi phương pháp giảng dạy quản trị kinh doanh từ dựa trên nghiên cứu trường hợp (case study) sang phân tích động thái hệ thống với việc mô hình hóa động thái hệ thống Theo ông, dù là dạy trong trường phổ thông hay trường đại học, vấn đề quan trọng là tập trung truyền thụ một số cấu trúc chung nhất (generic structures)
Bossel (2007) đã phát triển các dạng mô hình cơ bản nhất của các lĩnh vực khác nhau, các cuốn sách đã thể hiện khả năng ứng dụng mô hình hóa và mô phỏng trong việc giải quyết vấn đề thực tiễn của nhiều lĩnh vực khác nhau: vật lý và chế tạo máy, khí hậu, hệ sinh thái, tài nguyên, kinh tế, xã hội và phát triển [19]
Ngoài ra, còn nhiều nghiên cứu hệ sinh thái rừng khác đã sử dụng phương pháp mô hình hóa cấu trúc và mô phỏng (Lars et al 2006, Nadporozhskaya et al
2006, Bampfyde et al 2005, Akihiko Ito 2005, ) [27, 28, 29, 30] Tuy nhiên đối tượng là HKTST nông hộ (hộ gia đình) và mục tiêu mô hình hóa cấu trúc để phân tích, đánh giá, tìm giải pháp đề xuất phương án đầu tư tối ưu nhằm đem lại hiệu quả
Trang 27kinh tế cho HKTST nông hộ thì hầu như chưa bao giờ được nghiên cứu Các nghiên cứu về HKTST nông hộ nếu có sử dụng mô hình toán thì hầu hết chỉ là những mô hình thống kê được dùng để thể hiện mối tương quan giữa một số yếu tố Mô hình cấu trúc chưa được áp dụng nhiều để thể hiện và mô phỏng biến động của cấu trúc
HKTST nông hộ
1.3.2 Tính năng của phần mềm MM&S [12,13,14, 15,30]
MM & S là công cụ mô hình hóa và mô phỏng các hệ động, đã được thiết kế trên cơ sở quan điểm “Bốn nhóm yếu tố” và quan điểm "Hệ số biến đổi" (Nguyen Van Sinh, 2006, 2012) [16]
Quan điểm “Bốn nhóm yếu tố” cho rằng các yếu tố của hệ động có thể chia làm 4 nhóm: (1) Các yếu tố không đổi; (2) Các yếu tố trạng thái; (3) Các yếu tố trung gian; (4) Các yếu tố liệt kê Trong đó, các yếu tố không đổi không bao giờ thay đổi giá trị của chúng hoặc ít nhất là trong thời gian chúng ta xem xét hệ Yếu tố trạng thái thay đổi giá trị của chúng nhưng chúng ta có thể xác định giá trị của chúng ở bất cứ thời điểm nào bằng cách cân, đo, đong, đếm mặc dù đôi khi rất khó Các yếu tố trung gian thay đổi giá trị của chúng và giá trị của chúng ở một thời điểm chỉ có thể được tính toán từ giá trị của các yếu tố khác (Bossel, 1992) [31] Và cuối cùng là nhóm yếu tố liệt kê, chúng thay đổi giá trị theo thời gian nhưng giá trị của chúng ở mọi thời điểm hay ở một số thời điểm trong khoảng thời gian ta xem xét hệ đã được cho trước (giá trị của chúng được liệt kê) (Nguyễn Văn Sinh, 2011) [15]
Quan điểm “Hệ số biến đổi” có nghĩa là mỗi yếu tố trạng thái có một hệ số biến đổi như là thuộc tính của mình Các yếu tố khác tác động lên một yếu tố trạng thái bằng việc tác động lên hệ số biến đổi của nó và yếu tố trạng thái tác động lên các yếu tố khác của hệ bằng giá trị của mình
Phần mềm MM&S bao gồm 4 cửa sổ con, đó là cửa sổ văn bản, cửa sổ đồ thị, cửa sổ bảng, cửa sổ sơ đồ mô phỏng (hình 2)
Trang 28 Cửa sổ mô hình dạng văn bản: cho phép soạn thảo và lưu mô hình dưới dạng tệp văn bản trơn với đuôi tệp là “*.ptm” (ptm=plain text model) Khuôn thức của mô hình gồm phần khai báo khung thời gian và phần khai báo các yếu tố của
hệ Phần khai báo khung thời gian gồm 3 dòng để khai báo thời điểm bắt đầu, thời điểm cuối và bước thời gian Phần khai báo các yếu tố chia làm 4 nhóm: nhóm các yếu tố không đổi (hằng số) được bắt đầu bằng dòng có từ khoá CONSTANT_ELEMENTS; nhóm các yếu tố trung gian được bắt đầu bằng dòng
có từ khoá INTERMEDIATE_ELEMENTS; nhóm các yếu tố trạng thái được bắt đầu bằng từ khoá STATE_ELEMENTS và nhóm yếu tố liệt kê bắt đầu bằng từ khóa LISTED_ELEMENTS Mô hình hoàn thiện lưu dưới dạng tệp có thể được tính toán bằng cách kích chuột vào nút hình người chạy trên thanh công cụ cửa số chính và chọn tệp mô hình trong hộp thoại hiện ra sau đó
Hình 2 Cửa sổ chính và các cửa sổ con của chương trình MM&S
Trang 29 Cửa sổ đồ thị: cho phép vẽ đồ thị và lưu đồ thị dưới dạng tệp hình ảnh (*.bmp) hoặc dạng vec tơ với đuôi tệp “*.stm” Có thể vẽ đồ thị thời gian (thể hiện biến động giá trị các yếu tố của hệ theo thời gian) và đồ thị pha (thể hiện tương quan 1 cặp yếu tố theo thời gian)
Cửa sổ sơ đồ mô phỏng: cho phép vẽ sơ đồ mô phỏng thể hiện tương tác giữa các yếu tố của hệ: (*) biểu tượng hình vuông dành cho yếu tố trạng thái, (*) biểu tượng hình tròn dành cho yếu tố không đổi, (*) biểu tượng hình thoi dành cho yếu tố trung gian và (*) biểu tượng hình tròn với 3 dấu cộng hoặc trừ bên trọng thể hiện các yếu tố liệt kê Các đường liên kết được đánh dấu điểm xuất phát từ một yếu
tố tác động bằng 1 khung tròn và điểm đến yếu tố bị tác động bằng 1 đoạn màu đỏ
và mũi tên Có thể nạp thông tin và công thức vào sơ đồ mô phỏng qua hộp thoại bằng cách kích đúp chuột lên từng biểu tượng đại diện cho các yếu tố của hệ Khi đã nạp công thức xong có thể chạy tính toán mô phỏng từ cửa sổ sơ đồ mô phỏng
Cửa sổ bảng: cho phép hiển thị kết quả tính toán mô phỏng dưới dạng bảng, lưu dưới dạng tệp (*.tbl) và lưu vào tệp văn bản trơn (*.txt) hoặc tệp excel (*.xls)
Trang 30CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hệ kinh tế sinh thái của một số hộ gia đình tại khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại thôn Biểng xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2014
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin
Kế thừa có chọn lọc các dữ liệu, thông tin trong và ngoài nước liên quan đến nội dung của đề tài; thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, đa dạng sinh học khu vực nghiên cứu, kinh tế hộ gia đình, hệ kinh tế sinh thái và phần mềm MM&S
2.2.2 Phương pháp phỏng vấn và điều tra thực địa
Dùng phương pháp phỏng vấn trực tiếp 30 hộ gia đình kết hợp với điều tra thực
tế để xác định các dạng đặc trưng của HKTST hộ gia đình, lựa chọn các HKTST hộ gia đình đại diện, các yếu tố của các HKTST hộ gia đình được nghiên cứu, đa dạng sinh học các loài cây con được trồng và chăn nuôi tại các HKTST, kết quả điều tra và phỏng vấn được ghi vào các biểu ở trong phần phụ lục
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thống kê từ phỏng vấn trực tiếp 30 hộ gia đình được phân tích và xử lý bằng Excel 2010 để từ đó chọn ra được một mẫu gia đình đại diện với hệ kinh tế sinh thái đặc trưng và các yếu tố có trong hệ kinh tế sinh thái của gia đình đại diện đưa vào
mô hình nghiên cứu
Trang 312.2.4 Phương pháp phân tích hệ thống, mô hình hóa cấu trúc của các HKTST
trên máy tính để phân tích cấu trúc HKTST nông hộ
Mô hình cấu trúc thể hiện tương tác giữa các yếu tố của hệ thống với nhau để tạo nên một hệ thống nhất, có ranh giới, có mục đích Mô hình cấu trúc thể hiện cấu trúc tương tác của hệ qua sơ đồ mô phỏng: hệ bao gồm những yếu tố nào (được thể hiện qua các biểu tượng), yếu tố nào tác động lên yếu tố nào (được thể hiện qua các đường liên kết)
Việc xây dựng mô hình cấu trúc được thực hiện trên phần mềm MM&S - Mô
hình hoá và mô phỏng hệ thống (Nguyễn Văn Sinh, 2008) [14] Phần mềm này được
thiết kế trên quan điểm chia các yếu tố của hệ thống thành 4 nhóm (Các yếu tố không đổi; Các yếu tố trạng thái; Các yếu tố trung gian; Các yếu tố liệt kê) Tương ứng với 4 nhóm yếu tố trên trong hệ thống ta có 4 nhóm biến trong mô hình: nhóm hằng số, nhóm biến trạng thái, nhóm biến trung gian và nhóm hằng số liệt kê [15]
Với MM&S, các yếu tố cùng nhóm được thể hiện trên sơ đồ mô phỏng bằng cùng một biểu tượng: các yếu tố không đổi được thể hiện bằng hình tròn, các yếu tố trung gian được thể hiện bằng hình thoi, các yếu tố trạng thái được thể hiện bằng hình vuông và các yếu tố liệt kê được thể hiện bằng hình tròn với ba dấu cộng hoặc trừ bên trong
Mô hình cấu trúc thể hiện trạng thái ban đầu của hệ thống qua giá trị ban đầu của các biến trạng thái Biến động của hệ thống được mô phỏng bằng việc tính toán giá trị của các yếu tố của hệ trong khoảng thời gian mà ta quan tâm Tại mỗi thời điểm giá trị của các biến trung gian và cả hệ số biến đổi của biến trạng thái được tính từ công thức của chúng bao gồm giá trị của các hằng số, các biến trạng thái và có thể cả các biến trung gian khác Giá trị của biến trạng thái K tại thời điểm t+dt được tính bằng cách cộng giá trị của biến trạng thái này tại thời điểm t với hệ số biến đổi dK của nó:
Kt+dt = Kt + dK
Trang 32Việc kết hợp giữa mô hình thống kê và mô hình cấu trúc được thể hiện qua việc các mô hình thống kê cung cấp các hệ số cho các công thức tính các yếu tố thay đổi theo thời gian trong mô hình cấu trúc Như vậy, mô hình cấu trúc hệ kinh tế - sinh thái
là đích cuối và mô hình này sẽ phải bao gồm những yếu tố cho phép đánh giá được độ bền vững của thu nhập của người dân: khối lượng và giá trị của từng loại sản phẩm mà người dân thu hoạch được từ hệ kinh tế sinh thái
Kết hợp phân tích sơ đồ mô phỏng cấu trúc và kết quả tính toán mô phỏng biến động các yếu tố của HKTST nông hộ được thể hiện dưới dạng bảng và dạng đồ thị để rút ra kết luận về sự tác động, ảnh hưởng của các yếu tố của hệ tới ngân quỹ của hộ gia đình và để xuất các phương án đầu tư hợp lý
Mô phỏng biến động cấu trúc của HKTST nông hộ trên máy tính, mô phỏng tác động của các phương án đâu tư cho HKTST nông hộ đề từ đó rút ra kết luận về hiểu quả của các phương án đầu tư hợp lý cho HKTST nông hộ đã được đề xuất
Trang 33CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Kết quả điều tra về các dạng HKTST hộ gia đình tại khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
3.1.1 Đặc điểm chung về HKTST các hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu
Qua điều tra, bước đầu được ghi nhận cho thấy một số đặc điểm chung về HTHKTST của các hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu , kết quả cụ thể như sau:
- Vị trí địa lý: thôn Biểng, xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
- Tên mô hình HKTST nông hộ: R-V-R-C (Rừng, Vườn, Ruộng, Chăn nuôi)
- Hỗ trợ: Hầu hết các hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu chưa có sự hỗ trợ
về giống, phân bón và tiền công chăm sóc bảo vệ trong quá trình trồng rừng những năm đầu của chu kỳ Tuy nhiên, các hộ được tập huấn đào tạo kỹ thuật về phương pháp và cách thức trồng và bảo vệ rừng
- Mục đích thiết lập mô hình HKTST cho các nông hộ nhằm nâng cao đời
sống vật chất cho nông hộ; đồng thời phủ xanh đất trống đồi núi trọc, điều hòa tiểu khí hậu cho vùng, chống xói mòn rửa trôi, giữ nguồn nước sạch cho hoạt động sản xuất, tưới tiêu phía dưới, tạo cảnh quan đẹp cho vùng ngoài ra còn tạo công ăn việc làm cho rất nhiều lao động trong thôn
- Về thành phần dân tộc: qua điều tra tại thôn Biểng , xã An Lạc có 3 dân tộc
khác nhau (Kinh, Tày, Nùng)
- Tình hình kinh tế: các hộ tại khu vực nghiên cứu chủ yếu thuộc nhóm các
hộ nghèo hoặc trung bình
- Tình hình ngành nghề: Chủ yếu là làm ruộng và không có nghề phụ
- Về tình hình tiêu thụ các sản phẩm từ mô hình: Hầu hết các sản phẩm của
hộ gia đình này được tiêu thụ tại chợ địa phương và chợ thị trấn huyện Sơn Động hoặc tiêu dùng trong gia đình
- Về tình hình quản lý rừng và vốn: Các hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu
thực hiện chính sách giao đất giao rừng của nhà nước, nguồn vốn cho kinh doanh
Trang 34sản xuất chủ yếu là vay từ ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn của huyện với nguồn vốn ban đầu là 10.000.000 đ
- Về cơ sở hạ tầng: nhìn chung trong thôn Biểng nói riêng và toàn xã nói
chung cơ sở hạ tầng như điện, đường, trường trạm tương đối đầy đủ Tuy nhiên đường trong thôn cũng đang xuống cấp nặng, vào mùa mưa đường bị lún và rất bẩn Điều này làm hạn chế cho quá trình tiêu thụ sản phẩm của hộ gia đình này nói riêng
và toàn xã nói chung
- Về đa dạng sinh học: Đối với các hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu thì có
đa dạng sinh học khá cao Bên cạnh việc trồng rừng keo (keo tai tượng, keo lai), thì còn có nhiều loại thực vật nông nghiệp như lúa, ngô, đậu tương, khoai… Ngoài ra, việc trồng nhiều loại rau xanh (rau muống, rau ngót, bí xanh, su su trồng vào vụ hè; rau cải bắp, su hào, súp lơ, cải thìa trồng vào vụ đông) và một số cây ăn quả như vải thiều, nhãn, hồng, dứa… Ngoài thực vật, các hộ gia đình ở khu vực khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ còn nuôi một số vật nuôi như: bò, trâu, lợn, gà, chó, mèo…
3.1.2 Kết quả mô tả đặc điểm chính của mô hình HKTST của hộ gia đình điển hình tại khu vực nghiên cứu
Kết quả thống kê từ phỏng vấn trực tiếp 30 hộ gia đình và điều tra thực tế tại khu vực thôn Biểng thuộc xã An Lạc, huyện Sơn Động, kết hợp với việc lấy giá trị trung bình của các thông tin cần điều tra để đưa ra được một mẫu điển hình và so sánh với các hộ gia đình được nghiên cứu Kết quả cho thấy những thông tin cần thiết của hộ gia đình được điều tra số 12 (gia đình anh Lã Huy Hậu) gần giống nhất với mẫu điển hình Do vậy, nghiên cứu đã lựa chọn hệ kinh tế sinh thái của gia đình
số 12 để đưa vào mô hình nghiên cứu
a) Thông tin chung
Tên chủ hộ: Lã Huy Hậu Giới tính: Nam
Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không
Địa phương: Thôn Biểng, xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang Nghề nghiệp: Làm ruộng Nghề phụ: Không
Tình hình kinh tế: trung bình
Trang 35Hình 3 Sơ đồ mô tả lát cắt ngang của HKTST nông hộ
Trình độ học vấn: 8/10
Tình hình nhân khẩu: có 5 người, trong đó 4 người trong độ tuổi lao động và
1 người ngoài độ tuổi lao động
Quy mô diện tích:
+ Diện tích đất rừng: 5 ha, trong đó rừng trồng thuần loài 2 ha
+ Đất trồng lúa: 1800 m2
(5 sào) + Đất vườn: 30 m2
+ Đất trồng màu: 360 m2 (1 sào)
b) Rừng
Diện tích rừng là 5 ha, trong đó rừng trồng keo lai (Acacia mangium x
Acacia auriculiformis ) và keo tai tượng (Acacia mangium Wild ) là 2 ha với tổng
số cây là 200 cây/ha, được trồng vào năm 2006
Theo kết quả điều tra, keo lai và keo tai tượng có một số đặc điểm sinh thái như sau [22]:
- Keo lai (Acacia mangium x Acacia auriculiformis)
Hoa màu
Khuôn viên nhà
ở và Chuồng trại
Lúa nước Rừng
Keo
Trang 36 Keo lai là sự kết hợp giữa hai loài: keo lá tràm (Acacia auriculiormis) và Keo tai tượng (Acacia mangium) và được trồng rộng rãi ở Việt Nam trong những
năm gần đây Cây mọc tốt ở hầu hết các dạng đất Keo lai là loài cây có khả năng chịu đựng được khô hạn, tăng trưởng nhanh, sức sinh trưởng nhanh hơn cây bố mẹ Keo lai thường được tạo cây con bằng phương pháp vô tính (giâm hom)
Cây có thể cao đến 25 - 30 m, đường kính lên đến 60 - 80 cm Cây ưa sáng, mọc nhanh, có khả năng cải tạo đất, chống xói mòn, chống cháy rừng
Gỗ thẳng, màu vàng trắng có vân, có giác lõi phân biệt, gỗ có tác dụng nhiều mặt: kích thước nhỏ làm nguyên liệu giấy, kích thước lớn sử dụng trong xây dựng, đóng đồ mộc mỹ nghệ, hàng hóa xuất khẩu
Yêu cầu lượng mưa từ 1.500 - 2.500 mm/năm Mọc tốt trên đất có độ
pH từ 3 - 7 Nhiệt độ bình quân: 220C, tối thích từ 24 - 280C, giới hạn 400C
Theo điều tra, rừng keo sau 6 năm có thể thu hoạch làm nguyên liệu giấy Sau 8 năm, có thể thu hoạch cho ngành công nghiệp chế biến gỗ
- Keo tai tượng (Acacia mangium Wild )
Tên khoa học: Acacia mangium Wild
Keo tai tượng được trông rộng rãi ở Việt Nam từ 2006, là loài có biên
độ sinh thái rộng, thích nghi được với nhiều vùng lập địa khác nhau (trồng trên đất
bị xói mòn, nghèo dinh dưỡng, đất chua, bồi tụ, đất phù sa, vùng ngập úng, thoát nước kém)
Cây gỗ trung bình, chiều cao biến động từ 7 đến 30 m, đường kính từ 25-35cm, đôi khi trên 50 cm Thân thẳng, vỏ có màu nâu xám đến nâu, xù xì, có vết nứt dọc Tán lá xanh quanh năm, hình trứng hoặc hình tháp, thường phân cành cao Hoa đều lưỡng tính có màu trắng nhạt hoặc màu kem, cây 18-24 tháng tuổi đã có thể ra hoa nhưng ra hoa nhiều nhất vào tuổi 4-5, mùa hoa chính thường vào tháng 6, tháng 7 Quả đậu, dẹt, mỏng, khi già khô vỏ quả cong xoắn lại Hạt hình trái xoan hơi dẹt, màu đen và bóng, vỏ dày, cứng, có dính giải màu đỏ vàng, khi chín và khô
vỏ nứt hạt rơi ra mang theo giải đó hấp dẫn kiến và chim giúp phát tán hạt đi xa hơn Rễ phát triển mạnh cả rễ cọc, rễ bên, đầu rễ cám có nhiều nốt sần chứa vi khuẩn cộng sinh có khả năng cố định đạm
Trang 37 Thích hợp gây trồng ở những nơi có lượng mưa bình quân năm 2200mm, nhiệt độ bình quân năm 22-27oC, có 0-3 tháng mưa ít hơn 50mm, độ cao 1-500m so với mực nước biển, địa hình dốc <15o; loại đất đỏ trên mắc ma bazơ và trung tính, đất đỏ vàng trên đá khác, đất phù sa, đất xám, độ dày tầng đất trên 100cm
1500- Sau 6 – 7 năm có thể khai thác làm nguyên liệu phục vụ ngành sản xuất giấy và có thể khai thác ở tuổi 9-10 Khi mục đích trồng rừng là để lấy gỗ xẻ phải tiến hành tỉa thưa lần 2 vào tuổi 9-10, cường độ tỉa thưa là 30% số cây hiện có trong lâm phần Khi rừng đến tuổi 15-18 tiến hành khai thác chính theo phương thức chặt trắng
Keo tai tượng có khả năng tái sinh hạt rất tốt, có thể tận dụng khả năng đó sau khai thác luân kỳ 1 để phục hồi rừng mà không cần phải trồng lại
c) Lúa nước:
Qua phỏng vấn trực tiếp chủ hộ gia đình, chúng tôi bước đầu ghi nhận được giống lúa được cấy là Khang dân 18 (KD18 – giống lúa nhập nội từ Trung Quốc, được công nhận giống theo Quyết định số 1659 QĐ/BNN-KHCN, ngày 13 tháng 5 năm 1999 ) Mùa vụ sản xuất lúa nước của hộ này nói riêng và các hộ gia đình khác trong thôn thường là hai vụ chính
Đặc điểm sinh thái của giống lúa Khang dân 18:
Khang dân 18 là giống lúa ngắn ngày Là giống lúa được gieo trồng cả vụ xuân và vụ mùa (vụ xuân từ 130 - 135 ngày, vụ mùa từ 105 – 110 ngày)
Chiều cao cây: 95 - 100 cm Phiến lá cứng, rộng, gọn khóm, màu xanh vàng Khả năng đẻ nhánh trung bình
Hạt thon nhỏ, màu vàng đẹp, chiều dài hạt trung bình: 5,93 mm, tỷ lệ chiều dài/ chiều rộng hạt là 2,28, trọng lượng: 1.000 hạt 19,5 – 20,2 g, chất lượng gạo tốt Năng suất trung bình: 50 - 55 tạ/ha, năng suất cao có thể đạt: 60 - 65 tạ/ha
Khả năng chống đổ trung bình, bị đổ nhẹ - trung bình trên chân ruộng Chịu rét khá
Trang 38 Là giống nhiễm Rầy nâu, nhiễm vừa bệnh bạc lá, bệnh đạo ôn, nhiễm nhẹ với Bệnh Khô vằn
d) Hoa màu: Theo chủ hộ gia đình cho biết, cây hoa màu của gia đình chủ
yếu là trồng ngô và chỉ đủ đáp ứng cho gia đình cải thiện hàng ngày Giống ngô được gia đình sử dụng là ngô SSC 131 do công ty cổ phần giống cây trồng miền Nam lai tạo
Đặc điểm sinh thái của giống ngô SSC 131:
Giống SSC 131 có thời gian sinh trưởng thuộc nhóm trung bình sớm khoảng 105 – 110 ngày, cây xanh khỏe đồng đều, lá gọn, xanh đậm bền, ít nhiễm sâu bệnh
Đặc biệt SSC 131 có bắp to, rất dài (26 – 29cm), trung bình mỗi bắp có
14 – 16 hàng hạt, 42 – 45 hạt/hàng, nhiều hơn từ 6 - 10 hạt/hàng so với các giống đang trồng phổ biến hiện nay
Năng suất hạt của giống này đạt khá cao, trung bình từ 7 – 8 tấn/ha, thâm canh có thể đạt 10 – 12 tấn hạt khô/ha
Giống thích ứng rất rộng, dễ canh tác, bắp hình trụ, to, kết hạt rất tốt, tỷ
lệ hạt trên bắp đạt rất cao, năng suất ổn định qua các vụ
Thời gian sinh trưởng: từ 109 đến 116 ngày
Thời vụ: Trồng được nhiều vụ trong năm Mật độ trồng: 57.000 đến 66.000 cây/ha Khoảng cách trồng 65 x 25 cm hay 70 x 22 cm Gieo một hạt/hốc
e) Rau xanh:
Theo kết quả điều tra, rau xanh được trồng chủ yếu để cung cấp cho nhu cầu trong gia đình, các loại rau xanh được gia đình sử dụng được trồng theo mùa: rau muống, rau ngót, bí xanh, su su trồng vào vụ hè; rau cải bắp, su hào, súp lơ, cải thìa
trồng vào vụ đông
f) Chăn nuôi:
Hộ gia đình này có thành phần chăn nuôi bao gồm 1 con bò và 2 con lợn với mục đích bán lấy thịt Nguồn thức ăn chủ yếu tự túc Do hộ gia đình chủ yếu tập trung vào trồng rừng nên nhìn chung chăn nuôi còn khá nhỏ lẻ
Nhìn chung, hệ kinh tế sinh thái của hộ gia đình này tương đối đầy đủ về thành phần và chủng loại cây trồng và vật nuôi; đáp ứng được tiêu chuẩn của mô
Trang 39hình hệ kinh tế sinh thái phát triển bền vững Bởi vì nó vừa mang tính ổn định (cây ngắn ngày và chăn nuôi gia súc gia cần phù trợ cho phát triển trồng rừng); vừa cho năng suất, vừa có vai trò cải thiện môi trường (môi trường đất, môi trường nước, không khí); vừa giải quyết được công ăn việc làm thường xuyên cho người dân trong thôn, thậm chí cho cả toàn vùng (thông qua hệ thống khai thác, vận chuyển, dịch vụ vv )
3.1.3 Năng suất và chi phí của các nhóm yếu tố trong mô hình HTHKTST nông hộ tại khu vực nghiên cứu
a) Năng suất của nhóm yếu tố rừng keo
Năng suất từ khai thác gỗ keo Theo kết quả điều tra, năng suất và sản lượng và thu nhập của cấu phần rừng trồng keo được tính cho chu kỳ 5 năm (khai thác vào năm thứ 5) và chu kỳ 8 năm ( khai thác vào năm thứ 8) cho thu hoạch chặt trắng
Bảng 1 Năng suất từ rừng keo của hộ gia đình
Loại sản phẩm
Năng suất ( m 3 /ha )
Sản lượng
gỗ thu được (m 3 )
Đơn giá /Đơn vị (đồng/m 3 )
Tổng thu nhập (đồng)
Keo 5 năm: 0,8 ha 23,4 18,72 1.250.000 23.400.000 Keo 8 năm: 1,2 ha 43,9 52,68 1 750.000 92.190.000 Thu nhập trung bình từ sản phẩm keo/năm (chu kỳ 5 năm) của hộ gia đình là: 4.680.000 đồng
Thu nhập trung bình từ sản phẩm keo /năm (chu kỳ 8 năm) của hộ gia đình
là : 11.523.750 đồng
Như vậy, tổng thu nhập trung bình từ sản phẩm keo của gia đình trong toàn
bộ giai đoạn 10 năm là 11.559.000 đồng
Năng suất từ khai thác củi Ngoài khai thác từ gỗ Keo, hộ gia đình còn thu hoạch củi từ rừng để phục vị cho nhu cầu sinh hoạt Lượng củi mà hộ gia đình thu được biến động theo các năm
Trang 40Bảng 2 Lƣợng củi thu đƣợc trong khoảng thời gian 10 năm
Thời
gian (năm)
Lƣợng củi thu đƣợc (m3
)
Đơn giá (đồng/m3
)
Tổng thu nhập (đồng)
Năng suất, (kg, tấn, cây, con, )
Tổng sản lƣợng/năm (kg)
Đơn giá (đồng/kg)
Thu nhập/năm (đồng)