Để thực hiện mục đích, việc nghiên cứu đề tài này đặt ra những nhiệm vụ sau: - Tổng hợp và phân tích các quan điểm lý luận về quản lý chất thải rắn, vai trò của quản lý CTRSH đối với bảo
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ XÂY DỰNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
QUẢN LÝ ĐÔ THỊ VÀ CÔNG TRÌNH
HÀ NỘI - 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ XÂY DỰNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐÔ THỊ VÀ CÔNG TRÌNH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu của luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Xin gửi lời cảm ơn trân trọng, chân thành đến những người thầy của tôi: GS.TS Nguyễn Hữu Dũng, PGS.TSKH Nguyễn Xuân Nguyên, đã hướng dẫn tận tình và động viên tôi hoàn thành bản luận án
Xin cảm ơn Ban lãnh đạo Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, Khoa sau Đại học, Bộ môn Quản lý Đô thị và Công trình sau đại học Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận án
Xin cảm ơn Ban lãnh đạo Học viên Hành Chính Quốc gia, lãnh đạo và các đồng nghiệp của Khoa QLNN về đô thị và nông thôn; Cục Hạ tầng Bộ Xây dựng, một số cơ quan liên quan ở các tỉnh, thành phố: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị; các nhà khoa học, các chuyên gia đã giúp tôi hoàn thành luận án
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua để hoàn thành luận án
Tác giả luận án
Hà Nội 10/2015
Trang 5MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Giải thích một số thuật ngữ liên quan đến đề tài 5
6 Đóng góp mới của luận án 8
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 9
8 Cấu trúc luận án 9
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I TỔNG QUAN QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT THEO HƯỚNG XÃ HỘI HÓA TẠI MỘT SỐ ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM 10
1.1 Công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị Việt Nam 10
1.1.1 Thực trạng CTRSH và quản lý CTRSH ở các đô thị Việt Nam 10
1.1.2 Thực trạng các công nghệ xử lý CSHTR ở các đô thị Việt Nam 18
1.1.3 Một số mô hình quản lý CTRSH đô thị ở Việt Nam 20
1.1.4 Đánh giá thực trạng quản lý CTRSH đô thị dưới góc độ XHH 24
1.2 Thực trạng thể chế và chính sách liên quan quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị Việt nam 27
1.2.1 Thực trạng hệ thống văn bản pháp luật về quản lý CTRSH ở các đô thị Việt Nam 27
1.2.2 Các qui định của pháp luật về xã hội hóa quản lý CTRSH 29
1.2.3 Hệ thống tổ chức quản lý CTRSH ở các đô thị Việt Nam 31
1.2.4 Những chủ thể quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị ở Việt Nam 34
1.2.5 Các công cụ về pháp lý quản lý CTRSH tại Việt Nam 36
1.3 Thực trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt theo hướng xã hội hóa tại một số đô thị Bắc Trung Bộ Việt Nam 37
1.3.1 Giới thiệu về Bắc Trung Bộ và một số đô thị Bắc Trung Bộ 37
Trang 61.3.2 Thực trạng quản lý CTRSH tại các đô thị Bắc Trung Bộ 39
1.3.3 Thực trạng quản lý CTRSH ở thành phố Thanh Hóa và thị xã Sầm Sơn 41
1.3.4 Thực trạng quản lý CTRSH ở thành phố Hà Tĩnh và thị xã Hồng Lĩnh 45
1.4 Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại
1.4.2 Thực trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở thành phố Vinh 48
1.4.3 Thực trạng xã hội hóa trong quản lý CTRSH tại các đô thị
Bắc Trung Bộ và thành phố Vinh 53
1.5 Tổng quan một số công trình khoa học đã công bố liên quan
1.6 Đánh giá hiện trạng và một số vấn đề cần nghiên cứu 60
CHƯƠNG II CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ
CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT THEO HƯỚNG XÃ HỘI HÓA 63
2.1 Chất thải rắn sinh hoạt và tác động đến môi trường và
2.1.1 Chất thải rắn sinh hoạt nhìn từ góc độ kinh tế 63
2.1.2 Quá trình đô thị hóa và vấn đề quản lý chất thải rắn sinh hoạt 64
2.1.3 Tác động của CTRSH đối với môi trường và sự phát triển bền vững 65
2.2 Quản lý chất thải rắn sinh hoạt 69
2.2.1 Nội dung công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt 69
2.2.2 Nguyên tắc quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị 72
2.2.3 Các phương thức và công cụ quản lý chất thải rắn sinh hoạt 74
2.2.4 Cơ sở pháp lý của quản lý chất thải rắn sinh hoạt và theo hướng XHH 75
2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến mô hình quản lý CTRSH 77
2.3.2 Điều kiện kinh tế tài chính trong quản lý và xử lý chất thải rắn 80
2.3.3 Thành phần của chất thải rắn sinh hoạt 80
2.3.4 Công nghệ và kỹ thuật quản lý chất thải rắn sinh hoạt 81
Trang 72.3.6 Vai trò của các tổ chức, các thành phần kinh tế và cộng đồng 83
2.4 Xã hội hóa trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt 84
2.4.1 Sự cần thiết xã hội hóa quản lý CTRSH tại các đô thị Việt Nam 84
2.4.2 Chủ trương xã hội hóa các dịch vụ công trong quản lý nhà nước
2.4.3 Nội dung của xã hội hóa quản lý chất thải rắn sinh hoạt 87
2.5 Một số kinh nghiệm quản lý hiệu quả chất thải rắn sinh hoạt
trong nước và quốc tế theo phương thức xã hội hóa 93
2.5.1 Kinh nghiệm của một số nước công nghiệp phát triển và trong khu vực 93
2.5.2 Kinh nghiệm thu hút xã hội hóa trong quản lý CTRSH tại
CHƯƠNG III MÔ HÌNH VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT
THẢI RẮN SINH HOẠT THEO HƯỚNG XÃ HỘI HÓA
3.1 Quan điểm xã hội hóa hoạt động quản lý CTRSH 106
1 Quản lý CTRSH - Trách nhiệm chính quyền địa phương 106
2 Tạo điều kiện kinh tế chất thải để thu hút đầu tư 106
3 Huy động các nguồn lực trong hoạt đông thu gom, vận chuyển
và đầu tư xử lý, tái chế CTR 106
4 Xóa bỏ bao cấp; Lộ trình nâng cao dần phí và lệ phí đủ cho chi phí
quản lý và xử lý CTR; Kiểm soát nhóm lợi ích, đấu thầu giá thấp 107
5 Quản lý tốt CTRSH tạo dựng văn minh đô thị và phát triển bền vững 107
3.2 Đề xuất một số mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt theo hướng
3.2.1 Nghiên cứu đề xuất một số mô hình quản lý CTRSH theo hướng
xã hội hóa cho một số đô thị Bắc Trung Bộ và thành phố Vinh 107
3.2.2 Khả năng áp dụng mô hình cho các đô thị ở BTB 116
3.2.3 Nghiên cứu khả năng áp dụng mô hình quản lý CTRSH theo hướng
XHH ở thành phố Vinh 121
Trang 83.2.4 Vai trò, trách nhiệm của các chủ thể trong mô hình quản lý CTRSH
3.2.5 Các điều kiện cần thiết cho việc áp dụng mô hình quản lý theo hướng
3.3 Đề xuất các giải pháp 135
3.3.1 Các giải pháp về cơ chế chính sách 135
3.3.2 Các giải pháp tổ chức thực hiện mô hình quản lý CTRSH theo hướng
xã hội hóa 139
3.4 Bàn luận kết quả nghiên cứu 145
3.4.1 Bàn luận về mô hình quản lý CTRSH theo hướng xã hội hóa
tại một số đô thị Bắc Trung Bộ 145
3.4.2 Bàn luận về thực hiện các giải pháp quản lý CTRSH theo hướng
xã hội hóa tại một số đô thị Bắc Trung Bộ 151 3.4.3 Bàn luận khả năng áp dụng mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt
Các bài báo khoa học của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài 163
Tài liệu tham khảo 164
Phụ lục
Trang 9CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN
BVMT Bảo vệ môi trường
ÔNMT Ô nhiễm môi trường
UBND Ủy ban nhân dân
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN
Số hiệu
Bảng 1.1 Lượng CTRSH đô thị phát sinh năm 2007 đến năm 2013 10
Bảng 1.2 Tỷ lệ thu gom của các vùng KT trong cả nước phân theo các
cấp đô thị 16
Bảng 1.3 Đầu tư cho quản lý chất thải rắn 18
Bảng 1.4 Số lượng và cấp loại đô thị ở Bắc Trung Bộ 39
Bảng 1.5 Thống kê hoạt động quản lý CTRSH tại các đô thị BTB năm
Bảng 1.6 Thành phần trong CTRSH tại một số đô thị Bắc Trung Bộ 41
Bảng 1.7 Lượng CTRSH phát sinh tại các ĐT thống kê qua các năm 42
Bảng 1.8 Khối lượng thu gom, xử lý CTRSH tại các đô thị năm 2013 42
Bảng 1.9 Khối lượng thu gom, xử lý CTRSH tại TP Vinh 50
Bảng 2.1 Thiệt hại kinh tế do suy thoái và mất quỹ đất gây ra bởi các
Bảng 3.1 Khả năng áp dụng mô hình cho các cấp loại đô thị ở BTB 118
Trang 11DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN
Biểu đồ 1.2 Tỷ lệ thu gom CTRSH tại các cấp loại đô thị VN 15
Biểu đồ 2.1 Chi phí trong vận hành và bảo dưỡng các hệ thống
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ TRONG LUẬN ÁN
Số hiệu
Hình 1.1 Sơ đồ hóa hoạt động thu gom CTRSH tại một số đô
Hình 1.2 Sơ đồ hóa hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý
Hình 1.4 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý CTRSH ở TP Vinh 48
Hình 1.5 Sơ đồ hóa bộ máy tổ chức của Công ty TNHH MTV
MT Nghệ An (URENCO TP Vinh) 49 Hình 2.1 Sơ đồ hóa tổ chức quản lý CTR ở Nhật Bản 94
Hình 2.2 Sơ đồ hóa tổ chức quản lý CTR ở Singapore 96
Hình 3.1
Sơ đồ hóa so sánh mô hình quản lý CTRSH có sự tham gia các tổ chức thành phần kinh tế khác theo hướng xã hội hóa
115
Hình 3.2 Sơ đồ cấu trúc mô hình quản lý CTRSH phối hợp
theo hướng XHH tại một số đô thị Bắc Trung Bộ 119
Hình 3.3 Sơ đồ cấu trúc mô hình quản lý CTRSH riêng rẻ theo
hướng XHH tại một số đô thị Bắc Trung Bộ 120 Hình 3.4 Sơ đồ đề xuất quản lý thu gom CTRSH ở phường/xã 124
Hình 3.5
Sơ đồ hóa về vai trò, trách nhiệm của các chủ thể trong mô hình thu gom CTRSH theo hướng XHH tại
Hình 3.6 Sơ đồ hóa về vai trò, trách nhiệm của các chủ thể
trong vận chuyển CTRSH theo hướng XHH 1126
Hình 3.7 Sơ đồ hóa về vai trò, trách nhiệm của các chủ thể
Hình 3.8 Sơ đồ hóa hoạt động thu gom, vận chuyển CTRSH
Trang 13PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Nguyên tắc thứ 13 của Tuyên bố Stockholm khẳng định: “Nhằm đặt được
việc quản lí tài nguyên hợp lí và tiến đến cải thiện môi trường, các nước cần phải chấp nhận cách tiếp cận tổng hợp và phối hợp trong quy hoạch phát triển nhằm đảm bảo phát triển tương hợp với nhu cầu bảo vệ và cải thiện môi trường vì lợi ích của nhân dân các nướcײ Việt Nam là quốc gia đang đối mặt
với nhiều thách thức về MT là hậu quả của sự thiếu quan tâm đến BVMT trong nhiều thập kỷ qua đặc biệt là vấn đề ô nhiễm chất thải Đây là những thách thức trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và PTBV của đất nước
Môi trường bị ô nhiễm bởi nhiều loại CT khác nhau song CTRSH vẫn là nguyên nhân chủ yếu và khó kiểm soát Tại các đô thị, cùng với tốc độ ĐTH, sự giá tăng dân số, phát triển các khu công nghiệp, lượng CTRSH chưa được thu gom và xử lý triệt để, hiệu quả là nguyên nhân gây ra ô nhiễm các nguồn nước, đất, không khí, nguồn dịch bệnh, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người và PTBV Vì vậy, việc quản lý môi trường đô thị, đặc biệt là việc quản lý CTRSH từ thu gom, vận chuyển và xử lý tại các đô thị còn nhiều bất cập, đang
là vấn đề cấp bách của Nhà nước nói chung và của các cấp chính quyền Thách thức này càng trở nên lớn hơn, khi Việt Nam đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, quá trình ĐTH diễn ra với tốc độ nhanh trong lúc đó HTKT và phương thức quản lý CT đang không đáp ứng được yêu cầu
Tính đến tháng 12/2013, cả nước có 770 đô thị với tỷ lệ dân số khoảng 33,47% tổng số dân (khoảng 30,1 triệu người), tổng lượng CTRSH phát sinh tại các đô thị trên cả nước khoảng 31.500 tấn/ngày [4]; nhu cầu thu gom vận chuyển xử lý CTRSH là rất lớn Nguồn tài chính từ ngân sách đầu tư cho công tác quản lý CTRSH, đặc biệt công tác tái chế, xử lý còn hạn hẹp, rất cần thực hiện XHH huy động nguồn lực từ xã hội để thực hiện công tác này Vì vậy, công tác huy động sự tham gia của các thành phần kinh tế, tổ chức, cá nhân, cộng đồng trong mọi hoạt động BVMT ngày càng được quan tâm cả về mặt
Trang 14chính sách và các biện pháp thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị số 41/2004/NQ/TW về BVMT trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước đã xác định: “BVMT là vấn đề sống còn của nhân loại; là nhân tố bảo
đảm sức khoẻ và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển KTXH, ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta” Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn
2011-2020 được thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ XI đã đặt mục tiêu rất cụ
thể về BVMT “Các đô thị loại 4 trở lên và các khu công nghiệp, khu chế xuất
có hệ thống xử lý nước thải tập trung 95% chất thải rắn thông thường, 85% chất thải nguy hại và 100% chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn”[2].
Trong khi đó, hiện trạng quản lý CTRSH ở nước ta còn yếu kém kể cả về thể chế và năng lực Luật BVMT và các văn bản pháp luật hướng dẫn thực hiện Luật, chưa tạo được cơ chế, chính sách quản lý phù hợp để thu hút các thành phần kinh tế tham gia Các tổ chức, các thành phần kinh tế tư nhân, các cơ quan quản
lý môi trường, qui hoạch xây dựng hầu như chưa quan tâm nhiều đến khía cạnh quản lý CTRSH, đặc biệt là khai thác khía cạnh của kinh tế chất thải Để vượt qua những thách thức này, cần có những mô hình, giải pháp phù hợp cho công tác quản lý CTRSH để mang lại một hiệu quả kinh tế nhất định cho xã hội
Vinh là đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh Nghệ An, là trung tâm của vùng BTB, nơi có sự phát triển toàn diện cả về công nghiệp, dịch vụ, du lịch và đào tạo Dân số của TP cũng lớn so với nhiều đô thị cùng loại Trong tương lai không xa khi hai khu công nghiệp lớn của cả nước, khu công nghiệp Vũng Áng (Hà Tĩnh), khu công nghiệp Nghi Sơn (Thanh Hóa) đi vào hoạt động, TP Vinh sẽ là trung tâm và cũng là cầu nối giữa hai khu công nghiệp này Vị thế này mang lại cơ hội phát triển song cũng là thách thức không nhỏ về mặt BVMT Một trong những thách thức đó là vấn đề CTRSH, dân số của TP và lượng khách du lịch sẽ tăng, kéo theo lượng CTRSH gia tăng Trong bối cảnh
đó, việc quản lý CTRSH cần được chú trọng nếu như TP không muốn đối mặt với những hậu quả có thể tác động xấu đến sự PTBV của TP Trong những
Trang 15vẫn chưa mang lại những kết quả mong muốn Khối lượng chất thải được thu gom, vận chuyển, xử lý chỉ khoảng 84% [65] Công tác VSMT đô thị do Công
ty MT đô thị của TP đảm nhiệm đối mặt với khó khăn do nguồn thu chỉ đảm bảo khoảng 30% cho chi phí thực tế TP Vinh là một trong những đô thị đi đầu công tác XHH quản lý CTRSH đô thị, tuy nhiên quá trình hoạt động còn nhiều lúng túng, chưa hiệu quả [65] Sự tham gia của các thành phần kinh tế, các tổ chức, các cá nhân, cộng đồng dân cư còn hạn chế, chưa phát huy được vai trò
và hiệu quả của chính sách XHH hoạt động bảo BVMT Mặt khác, các nguồn lực đầu tư cho công tác quản lý CTRSH cho các đô thị BTB còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu BVMT Mức độ thách thức của vấn đề quản lý CTRSH không chỉ ở TP Vinh, còn lớn hơn rất nhiều, trong bối cảnh công tác quản lý CTRSH hoạt động thiếu hiệu quả ở các đô thị ở BTB, nơi có có điều kiện kinh
tế còn nghèo, chậm phát triển, cơ sở hạ tầng còn yếu, điều kiện tự nhiên khắc nhiệt, nhiệt độ cao vào mùa hè và mưa nhiều vào mùa mưa
CTRSH phát sinh ngày càng nhiều khi thành phố phát triển, mở rộng, nếu không có một mô hình và giải pháp quản lý CTRSH phù hợp thì điều kiện VSMT ở thành phố sẽ càng xuống cấp nhanh, ảnh hưởng tới sự phát triển kinh
tế và xã hội trong tương lai gần Đặc biệt trong điều kiện ngân sách nhà nước
và địa phương còn hạn chế, việc chọn “Mô hình và giải pháp quản lý chất
thải rắn sinh hoạt theo hướng xã hội hoá cho một số đô thị Bắc Trung Bộ Việt Nam“ làm đề tài nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Luận án thực hiện với mục đích cung cấp những cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm đề xuất mô hình và giải pháp quản lý hiệu quả CTRSH theo hướng
xã hội hóa tại một số đô thị BTB Việt Nam, nghiên cứu thí điểm cho TP Vinh
Để thực hiện mục đích, việc nghiên cứu đề tài này đặt ra những nhiệm vụ sau:
- Tổng hợp và phân tích các quan điểm lý luận về quản lý chất thải rắn, vai trò của quản lý CTRSH đối với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trong xu thế công nghiệp hóa và đô thị hóa;
Trang 16- Tổng hợp và phân tích các căn cứ lý luận và thực tiễn của việc xây dựng
mô hình quản lý chất thải rắn với việc áp dụng rộng rãi chính sách xã hội hóa trong quản lý CTRSH
- Khảo sát, đánh giá thực tiễn quản lý CTRSH ở một số đô thị ở Bắc Trung Bộ và thành phố Vinh, cả về cơ chế, chính sách và thể chế quản lý CTRSH hiện nay cũng như các thiết chế thực hiện, nhận diện và phân tích các mặt thành công, những mặt hạn chế và nguyên nhân của chúng
- Thu thập và phân tích một số mô hình quản lý CTRSH ở các nước, nghiên cứu khả năng áp dụng những kinh nghiệm của nước ngoài trong quản
lý CTRSH phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và cơ chế, chính sách quản lý của Việt Nam
- Đề xuất mô hình, quản lý CTRSH theo hướng xã hội hóa cho một số đô thị ở Bắc Trung Bộ - Việt Nam với đô thị điểm là thành phố Vinh; Các giải pháp cụ thể để thực hiện
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu Công tác quản lý CTRSH bao gồm các hoạt động thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý CTRSH ở các đô thị Bắc Trung Bộ, thành phố Vinh
- Phạm vi nghiên cứu về mặt nội dung và không gian bao gồm hoạt động quản lý CTRSH trong nội đô thị, bao gồm thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH ở số đô thị Bắc Trung Bộ và TP Vinh;
Bắc Trung Bộ gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị [71], hiện có 88 đô thị [90], nhưng đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu một số đô thị ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh
- Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian bao gồm những hoạt động quản lý CTRSH đô thị trong thời gian từ khi có Luật Bảo vệ Môi trường và những qui định bắt buộc về quản lý chất thải rắn
Trang 174 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu này một cách hiệu quả và đảm bảo độ tin cậy, các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể đã được sử dụng đặt trong yêu cầu cụ thể của từng nhóm vấn đề, từng nhiệm vụ cần thực hiện Cụ thể:
- Trong luận án phương pháp tổng hợp, phân tích được sử dụng để giải quyết các vấn đề lý luận liên quan đến quản lý CTRSH Với phương pháp này, các quan điểm lý luận về quản lý CTRSH được thu thập, tổng hợp và phân tích
từ nhiều khía cạnh
- Phương pháp điều tra, khảo sát (phỏng vấn trực tiếp, điều tra khảo sát) được sử dụng để xác định thực trạng quản lý CTRSH ở các đô thị Bắc Trung
Bộ và thành phố Vinh
- Phương pháp chuyên gia (phỏng vấn chuyên gia, hội thảo khoa học về
đề cương, nội dung luận án, các chuyên đề trong luận án) là những đóng góp quý báu được sử dụng nghiên cứu
- Phương pháp kế thừa được sử dụng một cách chọn lọc các nghiên cứu,
mô hình đã có ở trong nước và nước ngoài về lĩnh vực này nhằm kế thừa những điểm mạnh của các mô hình quản lý CTRSH theo hướng XHH
- Phương pháp so sánh được sử dụng để tìm hiểu các mô hình quản lý CTRSH của một số quốc gia có chọn lọc dựa trên tiêu chí về mức độ phát triển
và điều kiện phát triển tương đồng với Việt Nam
- Phương pháp qui nạp được sử dụng nhằm xây dựng và đề xuất mô hình quản lý chất thải rắn, giải pháp và lộ trình thực hiện mô hình này ở các đô thị Bắc Trung Bộ và thành phố Vinh
5 Giải thích một số thuật ngữ liên quan đến đề tài
Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh
hoạt hoặc hoạt động khác [56]
Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được
thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác[22]
Trang 18Chất thải thông thường là chất thải không thuộc danh mục chất thải nguy
hại hoặc thuộc danh mục chất thải nguy hại nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại [22]
Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh
trong sinh hoạt thường ngày của con người[22]
Chất thải rắn công nghiệp là chất thải rắn phát sinh từ hoạt động sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ[22]
Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm,
dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác[59]
Phân định chất thải là quá trình phân biệt một vật chất là chất thải hay
không phải là chất thải, chất thải nguy hại hay chất thải thông thường và xác định chất thải đó thuộc một loại hoặc một nhóm chất thải nhất định với mục đích để phân loại và quản lý trên thực tế[22]
Phân loại chất thải là hoạt động phân tách chất thải (đã được phân định)
trên thực tế nhằm chia thành các loại hoặc nhóm chất thải để có các quy trình quản lý khác nhau [22]
Chất gây ô nhiễm là các chất hóa học, các yếu tố vật lý và sinh học khi xuất
hiện trong môi trường cao hơn ngưỡng cho phép làm cho MT bị ô nhiễm [56]
Phế liệu là vật liệu được thu hồi, phân loại, lựa chọn từ những vật liệu,
sản phẩm đã bị loại bỏ từ quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng để sử dụng làm nguyên liệu cho một quá trình sản xuất khác[56]
Cơ sở phát sinh chất thải là các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có
phát sinh chất thải [22]
Chủ nguồn thải là các tổ chức, cá nhân sở hữu hoặc điều hành cơ sở phát
sinh chất thải [22]
Quản lý chất thải là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại,
thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải [56]
Trang 19Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh đến
nơi xử lý, có thể kèm theo hoạt động thu gom, lưu giữ (hay tập kết) tạm thời, trung chuyển chất thải và sơ chế chất thải tại điểm tập kết hoặc trạm trung chuyển [22]
Tái sử dụng chất thải là việc sử dụng lại chất thải một cách trực tiếp hoặc
sau khi sơ chế mà không làm thay đổi tính chất của chất thải[22]
Sơ chế chất thải là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật cơ - lý đơn thuần
nhằm thay đổi tính chất vật lý như kích thước, độ ẩm, nhiệt độ để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân loại, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế, đồng xử lý, xử lý nhằm phối trộn hoặc tách riêng các thành phần của chất thải cho phù hợp với các quy trình quản lý khác nhau [22]
Tái chế chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật
để thu lại các thành phần có giá trị từ chất thải [22]
Thu hồi năng lượng từ chất thải là quá trình thu lại năng lượng từ
việc chuyển hóa chất thải [22]
Xử lý chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật
(khác với sơ chế) để làm giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy, chôn lấp chất thải và các yếu tố có hại trong chất thải [22]
Cơ sở xử lý chất thải là cơ sở thực hiện dịch vụ xử lý chất thải (kể cả hoạt
động tái chế, đồng xử lý, thu hồi năng lượng từ chất thải)[22]
Chủ thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt là tổ chức, cá nhân thực
hiện dịch vụ thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt theo quy định [22]
Chủ xử lý chất thải là tổ chức, cá nhân sở hữu hoặc điều hành cơ sở xử lý
chất thải [22]
Hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường bao gồm hệ thống thu gom, lưu giữ,
vận chuyển, tái chế, tái sử dụng, xử lý chất thải và quan trắc môi trường[56]
Công nghiệp môi trường là một ngành kinh tế cung cấp các công nghệ,
thiết bị, dịch vụ và sản phẩm phục vụ các yêu cầu về bảo vệ môi trường[56]
Xã hội hóa là làm cho trở thành sự nghiệp chung của xã hội [80]
Trang 20Xã hội hóa là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của
toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp đó [26]
Khái niệm xã hội hóa trong nghiên cứu luận án được hiểu theo nghĩa là
sự tham gia rộng rãi của xã hội (bao gồm cá nhân, nhóm người, các tổ chức,
cộng đồng ) vào một hoạt động trước đó chỉ được một đơn vị, bộ phận hay
một ngành chức năng của Nhà nước thực hiện Nội hàm của khái niệm này
gồm 3 yếu tố chính sau: (i) có sự tham gia, rộng rãi của các cá nhân, nhóm
người, các tổ chức, cộng đồng; (ii) hoạt động được xã hội hóa trước đó được thực hiện bởi những rất ít các chủ thể mà chủ yếu là các chủ thể thuộc thành phần nhà nước; (iii) mục tiêu của XHH là nhằm hướng tới thu hút các nguồn lực để nâng cao hiệu quả của việc quản lý"
Xã hội hóa hoạt động quản lý CTRSH trong luận án được hiểu là huy động sự
tham gia, thu hút các nguồn lực của người dân, tổ chức, cộng đồng và doanh nghiệp, các thành phần kinh tế trong hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH
Tư nhân hóa là quá trình chuyển đổi về hình thức sở hữu của một doanh
nghiệp từ nhà nước sang tư nhân [33]
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là các doanh nghiệp nhà nước bán
cổ phần của mình cho công chúng và cán bộ công nhân viên trong công ty để huy động nguồn vốn [33].
6 Đóng góp mới của luận án
- Nghiên cứu bổ sung một số luận điểm khoa học về xã hội hóa các hoạt động trong quản lý CTRSH, về xây dựng mô hình quản lý CTRSH
- Nghiên cứu đề xuất 4 mô hình XHH các hoạt động trong thu gom, vận chuyển và xử lý tái chế CTRSH đô thị áp dụng cho các đô thị BTB Việt Nam
- Đề xuất khả năng áp dụng mô hình đối với các loại đô thị ở BTB và thành phố Vinh
- Đề xuất nhóm giải pháp để thực hiện XHH trong hoạt động quản lý CTRSH: Về các cơ chế chính sách và biện pháp tổ chức thực hiện
Trang 217 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa lý luận đề tài: Đề tài nghiên cứu đóng góp bổ sung một số luận điểm khoa học về mô hình quản lý CTRSH, về XHH hoạt động quản lý CTRSH và đề xuất mô hình, giải pháp quản lý CTRSH theo hướng XHH áp dụng đối với một số đô thị ở BTB và TP Vinh
- Tính thực tiễn đề tài: Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể phục vụ nâng cao hiệu quả công tác quản lý CTRSH theo hướng XHH, phát triển bền vững và
áp dụng cho các đô thị BTB, cụ thể TP Vinh Những kết quả nghiên cứu của luận án được sử dụng cho các hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực quản lý, BVMT và cả xây dựng và thực hiện pháp luật
8 Cấu trúc của Luận án: Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án gồm 3
Trang 22CHƯƠNG I TỔNG QUAN QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
THEO HƯỚNG XÃ HỘI HÓA TẠI MỘT SỐ ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM
1.1 Công tác quản lý CTRSH đô thị Việt Nam
1.1.1 Thực trạng CTRSH và quản lý CTRSH ở các đô thị Việt Nam
1.1.1.1 Lượng phát sinh CTRSH tại một số đô thị ở Việt nam
a Về sự gia tăng lượng CTRSH
Quá trình ĐTH gia tăng, cùng với sự phát triển KTXH, lượng chất thải
phát sinh tại các đô thị gia tăng nhanh chóng Hiện nay, số liệu về phát sinh
CTR mới chủ yếu được thống kê tại khu vực đô thị và các KCN Ở khu vực
nông thôn, hầu như số liệu về CTR chưa được cập nhật và xử lý đầy đủ Thống
kê cho thấy, chỉ số phát sinh CTRSH đô thị bình quân đầu người gia tăng
nhanh hàng năm Bảng 1.1[12], [4]
Bảng 1.1 Thống kê lượng CTRSH đô thị phát sinh năm 2007 đến năm 2013
Nguồn: Báo cáo của Cục hạ tầng Bộ Xây dựng và Bộ Tài nguyên và Môi trường[4],[12]
Số liệu thống kê và biểu đồ (Phần phụ lục) cho thấy tổng lượng CTRSH ở
các đô thị phát sinh trên toàn quốc tăng nhanh, tính đến cuối năm 2013 tổng
lượng CTRSH đô thị tăng lên 31.500 tấn/ngày, khu vực điểm dân cư nông thôn
ước khoảng 31.500 tấn/ngày [4] Như vậy, có thể thấy dân số các đô thị tuy
chiếm khoảng hơn 33% tổng dân số, nhưng lượng CTRSH thải ra chiếm 50%
trên tổng số lượng CTRSH của cả nước Với lượng chất thải lớn như vậy và
với tổng diện tích đất của các đô thị chỉ chiếm hơn 1% đất tự nhiên của quốc
gia thì có thể khẳng định mật độ và tính nghiêm trọng của ô nhiễm CTR ở đô
thị Nếu không có các biện pháp giảm thiểu, thu gom và xử lý thích hợp thì
Trang 23đây chính là một nguồn lớn gây ô nhiễm môi trường đáng báo động Kết quả
nghiên cứu, tổng hợp về lượng phát sinh CTR ở các đô thị cho thấy, tổng lượng CTRSH phát sinh từ đô thị có xu hướng tăng đều, tăng trung bình từ 10 - 16% mỗi năm, đặc biệt các đô thị lớn lượng chất thải gia tăng hàng năm rất nhanh [13] Theo báo cáo của Bộ Xây dựng và Bộ Tài nguyên &Môi trường, lượng CTRSH ở đô thị sẽ tiếp tục gia tăng nhanh trong thời gian tới, dự báo năm
2015, khối lượng CTR phát sinh ước khoảng 62 triệu tấn/năm, lượng CTRSH hơn 32.000 tấn/ngày, CT công nghiệp 7 triệu tấn/năm [13]
b Về thành phần và tính chất của chất thải rắn sinh hoạt đô thị
Thành phần CTRSH thường bao gồm: chất hữu cơ, cao su, nhựa, giấy, bìa cacton, giẻ vụn, vải, da, thủy tinh, gốm sứ, đất đá, cát, gạch vụn, kim loại và một
tỷ lệ nhỏ như pin, mạch điện tử, ắcquy.… Tỷ lệ phần trăm các chất trong CT thường không ổn định, biến động ngay tại ở mỗi nơi thu gom, khu vực sinh sống và phát triển sản xuất của dân cư, theo thời gian, điều kiện khí hậu thời tiết, mức thu nhập, phong tục tập quán, trình độ dân trí, vị trí địa lý … Trong thành phần CTRSH đưa đến các bãi chôn lấp, thành phần CT hữu cơ có thể sử dụng làm nguyên liệu sản xuất phân hữu cơ rất cao từ 54 - 77,1%; tiếp theo thành phần nhựa từ 8 - 16%; CT nguy hại thường chiếm tỷ lệ nhỏ hơn 1% [12]
Theo số liệu điều tra khảo sát, các thành phần trong CTRSH của các đô thị ở các vùng miền có sự khác nhau Đối với các đô thị ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, tỷ lệ chất hữu cơ khá cao, trong khi đó khu vực Đồng bằng sông Hồng
tỷ lệ chất hữu cơ thấp hơn Độ ẩm của CTRSH tại các đô thị thường dao động từ
55 - 70%, tỷ trọng 0,42 - 0,6 tấn/m3 (Biểu đồ 1.1)[12].
Như vậy, trong CTRSH tại các đô thị, tỷ lệ hữu cơ khá cao và tỷ lệ khác nhau ở mỗi vùng Đây là cơ sở để lựa chọn CN tái sử dụng và tái chế CTRSH, nhằm sử dụng nguồn nguyên liệu này một cách hợp lý, hiệu quả đối với từng vùng Thành phần CTRSH chi tiết của một số đô thị ở (Phụ lục.2) cho chúng ta những ý tưởng thích hợp để xây dựng mô hình và giải pháp xử lý CTRSH
Trang 24Biểu đồ 1.1 Thành phần CTRSHĐT bình quân ở các vùng lãnh thổ Việt Nam (%)
Khu vực Tây Bắc
ĐB sông Cửu Long
Khu vực Tây Nguyên
Khu vực Đông Nam Bộ
Khu vực Bắc Trung Bộ
Hữu cơ
Vô cơ Khác
Nguồn: Báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường [12]
1.1.1.2 Quản lý CTRSH tại một số đô thị ở Việt nam
Quản lý CTR nói chung và CTRSH nói riêng tại các đô thị ở Việt Nam
những năm gần đây được các cấp chính quyền đô thị quan tâm; Sự tham gia
của các TPKT khác, cộng đồng dân cư và toàn xã hội vào quản lý CTRSH đã
có những bước phát triển nhất định, tạo tiền đề quan trọng cho chủ trương
XHH hoạt động quản lý CTRSH Tuy nhiên hiện nay việc quản lý CTRSH
chưa đáp ứng được các yêu cầu của chính quyền đô thị và cộng đồng dân cư
Thực tế này được biểu hiện ở những khía cạnh dưới đây
a.Về ý thức giảm thiểu phát sinh CTRSH của dân cư tại một số đô thị
Giáo dục và hình thành ý thức giảm thiểu CTRSH trong các hoạt động
cho dân cư tại các đô thị, hầu như chưa được quan tâm và chú trọng Chưa có
các chính sách khuyến khích và chế tài phù hợp để nâng cao ý thức giảm thiểu
CTRSH và xử lý các hành vi cố ý gây ô nhiễm từ CTRSH
b Phân loại CTRSH tại nguồn
Việc phân loại CT tại nguồn
có ý nghĩa rất lớn đối với việc xử
lý CTR, nhằm nâng cao hiệu quả
của hoạt động quản lý CTR Phân
loại CTRSH tại nguồn là tách CT
Trang 25hữu cơ để có thể có những phương thức xử lý phù hợp, nhanh, sử dụng một cách hữu ích các CT, giảm diện tích chôn lấp, giảm thiểu ô nhiễm môi trường Đối với các nước phát triển, việc phân loại CTR tại nguồn đã đi sâu vào tiềm thức của người dân và đã tạo thành thói quen của cả cộng đồng Việc phân loại CTRSH tại nguồn thúc đẩy tốc độ thu gom và xử lý đặt hiệu quả cao hơn
Ở Việt Nam, CTRSH phát sinh hầu như chưa được phân loại tại nguồn, trừ một số ít địa phương như Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Tp Đà Nẵng đang thực hiện thí điểm theo dự án 3R (Giảm thiểu - Tái sử dụng - Tái chế) do chỉnh phủ Nhật Bản tài trợ [12] Thách thức này bắt nguồn từ nguồn lực và cả từ nhận thức của cộng đồng, của chính quyền Việc phân loại CTRSH tại nguồn phát thải và thu gom đòi hỏi đồng bộ về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị đầu tư phù hợp Đây là bài toán mà các nhà quan lý cần giải đáp và một trong những đáp số nằm ở việc XHH việc quản lý CTR
Trong thực tế, phân loại CTR tại nguồn đã diễn ra tự phát đã ở hầu hết các đô thị; Đó là đội ngũ thu mua phế liệu: Chỉ tính riêng Tp.Hà Nội, mỗi ngày
có khoảng hơn 600 - 800 người chuyên đi nhặt và thu mua rác thải, phế liệu chưa kể đến khoảng 400 người nhặt rác đang hoạt động hàng ngày tại bãi rác Nam Sơn, huyện Sóc Sơn [5]. Đây là một nguồn lực đáng kể cho việc thu gom,
xử lý CTRSH ở Việt Nam, tạo công ăn việc làm và cũng là một thành tố cần tính đến trong việc đẩy mạnh XHH quản lý CTRSH
Việc quản lý quá trình thu gom, phân loại và xử lý CTRSH thiếu đồng bộ ngay cả ở những chương trình thí điểm Ví dụ, nhiều trường hợp CTRSH đã được phân loại nhưng sau đó lại được thu gom và xử lý chung Điều này dẫn đến dấu hỏi về hiệu quả và ý nghĩa của việc phân loại CTRSH tại nguồn Hiện nay, một lượng đáng kể CTRSH có thể tái chế được đã được các hộ gia đình
và những người thu gom phân loại để bán cho các cơ sở tái chế Sự phân loại
tự phát CTRSH có thể tái chế được, được thực hiện liên tục trên hành trình từ nơi phát thải đến các điểm tập kết và cuối cùng là các khu chôn lấp hoặc điểm tái chế Quá trình này hiện nay vẫn chưa được quản lý một cách đồng bộ
Trang 26c Thu gom, vận chuyển CTRSH tại đô thị Việt nam
Tại hầu hết các đô thị, CTRSH được các URENCO hoặc Công ty Công trình đô thị thực hiện việc thu gom, vận chuyển từ nơi phát sinh đến nơi xử lý; Những đơn vị chịu trách nhiệm chính đối với quản lý CTRSH; đồng thời cũng chịu trách nhiệm thu gom, vận chuyển và xử lý cả CT của công nghiệp và y tế Tại các đô thị, CTRSH từ các khu dân cư được thu gom bằng 2 hình thức:
- Người dân tự đổ vào thùng chứa CTRSH công cộng, tại những vị trí thuận tiện với dung tích từ 240 - 600 lít/thùng Hàng ngày xe tải sẽ đến thu gom theo thời gian quy định và chở đến các trạm trung chuyển hoặc đến nơi xử lý
- Những nơi không đặt được thùng
hoặc xe chở rác không vào được (các ngõ,
hẻm) thì thu gom trực tiếp bằng xe cuốn
ép rác nhỏ hoặc dùng xe để thu gom
Một số lượng không lớn CTRSH do
các tổ chức TN, HTX thu gom, vận
chuyển Khoảng cách vận chuyển CT tại
các đô thị là khác nhau tùy thuộc khoảng cách giữa đô thị với khu xử lý CT, thường dưới 50 km
Nhìn chung quy trình thu gom CTRSH được mô tả theo sơ đồ sau
Công tác thu gom CTRSH tại một thành phố:
Điểm tập kết, trạm trung chuyển
Trang 27Mô hình tổng quát hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH tại các đô
thị Việt Nam
Nguồn: Cục bảo vệ Môi trường [30]
Nguồn: Cục bảo vệ Môi trường [30]
Biểu đồ 1.2 Tỷ lệ thu gom CTRSH tại các cấp loại đô thị ở Việt Nam
Nguồn: Báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường [12]
Tỷ lệ thu gom CTRSH ở các ĐT hàng năm có chiều hướng tăng nhưng tỷ
lệ tăng còn chậm, trung bình cho cả nước chỉ tăng từ 65% đến 81% trong giai
đoạn 2000 đến 2008 [12] Tỷ lệ thu gom CTRSH tăng dần theo cấp loại ĐT
cư, đường phố
Đội vận chuyển CTR
Các tổ chức thu gom, vận chuyển CTRSH
các ngõ
Tổ thu gom vận chuyển
CTRSH cho các đơn vị
Trang 28Tính đến tháng 12/2013 tỷ lệ thu gom CTRSH bình quân tại các ĐT đã tăng
lên 84% [4] Tham khảo thêm bảng Bảng 1.2) [12]
Bảng 1.2 Tỷ lệ thu gom của các vùng kinh tế trong cả nước phân theo các loại đô thị
Đơn vị: %
Loại đô thị
Trung du miền núi phía Bắc
Đồng bằng sông Hồng và KTTĐ Bắc Bộ
Bắc trung bộ
và duyên hải trung bộ, KTTĐ miền Trung
Tây Nguyên (%)
Đồng bằng sông Cửu Long
Đông Nam Bộ
và KTTĐ phía Nam
Nguồn: Báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường [12]
- Trang thiết bị thu gom, vận chuyển:
Việc thu gom, vận chuyển CTRSH ở hầu hết các ĐT đều sử dụng kết hợp các phương tiện thủ công và cơ giới Các xe vận chuyển chuyên dụng mới phần lớn tập trung ở các đô thị đặc biệt, loại I và loại II Hiện nhiều ĐT thiếu trang thiết bị thu gom, số lượng xe không đáp ứng cho vận chuyển lượng CT phát sinh Điều này dẫn đến tỷ lệ thu gom CT ở các đô thị này chưa cao
d Hoạt động tái chế chất thải rắn
Hiện nay, phần lớn các hộ gia đình có thói quen phân loại các CT có thể tái chế để bán cho những người thu mua phế liệu và chuyển đến các cơ sở tái chế ở các làng nghề Theo đánh giá, các hoạt động này đã góp phần làm giảm
15 - 20% khối lượng CTR phát sinh [12] Một số làng nghề tái chế giấy, nhựa, kim loại, v.v đã phát triển mạnh trong thời gian qua, góp phần tạo công ăn việc làm (xem phụ lục 2)[30] Tuy nhiên, tình trạng CN tái chế cũ, lạc hậu, đã gây ô nhiễm nặng tại các làng nghề tái chế, ảnh hưởng VSMT
Hoạt động tái chế từ CTRSH đang là vấn đề đang quan tâm đối với các nhà quản lý Số lượng các nhà máy chế biến phân hữu cơ từ CTRSH còn quá ít Hiện nay, một số CN tái chế được chế tạo trong nước như SERAPHIN, Tâm
Trang 29Sinh Nghĩa, chế biến thanh, viên nhiên liệu, xử lý CTRSH bằng phương pháp đốt của Trung tâm CN mới và MT Đây là những CN rất có ý nghĩa đối với việc
xử lý CTRSH trong tương lai, làm giảm lượng CT phải chôn lấp, tiết kiệm diện tích đất Tuy nhiên, để nhân rộng CN này trên cả nước, cần có các chính sách,
cơ chế, biện pháp cụ thể và sự đầu tư mạnh mẽ của NN cùng với sự tham gia của xã hội, các TPKT, cũng như sự thay đổi thói quen sử dụng sản phẩm tái chế Ngược lại với thực trạng tái chế CTRSH thành phân hữu cơ, việc tái chế nhựa, kim loại tại các ĐT diễn ra rất sôi động mang tính tự phát và chủ yếu do
TN thực hiện Hiện vẫn chưa có những điều tra đánh giá chi tiết nên chưa có số liệu đầy đủ Tuy nhiên, những số liệu ở các bảng phụ lục 1 3, thống kê minh họa cho thấy những đánh giá ban đầu về hoạt động tái chế ở khu vực TN [30]
đ Xử lý chất thải rắn sinh hoạt
Hiện nay, biện pháp xử lý CTRSH chủ yếu là 3 loại hình công nghệ: chôn lấp, sản xuất phân vi sinh và đốt [4]. Chỉ một số ĐT có các cơ sở xử lý HVS, còn phương thức chủ yếu là các bãi chôn lấp tạm, lộ thiên không HVS (trong số
458 bãi chôn lấp chỉ có 121 bãi chôn lấp HVS, các bãi còn lại không HVS chiếm 73,5% [4]), các bãi chôn lấp chưa xử lý triệt để được nước rỉ rác Hiện có khoảng 26 nhà máy xử lý CTR tập trung tại các đô thị (trong đó 03 nhà máy sử dụng CN đốt; 03 nhà máy sử dụng kết hợp cả đốt và sản xuất phân bón compost; các nhà máy còn lại sử dụng CN sản xuất phân compost kết hợp chôn lấp) đã được đầu tư xây dựng và đi vào vận hành với công suất thiết kế chỉ khoảng 5000 tấn/ngày [4] Việc áp dụng CN phù hợp với các ĐT trong xử
lý CTRSH còn gặp khó khăn về kinh phí; lựa chọn CN, thiết bị kỹ thuật chưa được đồng bộ với CSHT xử lý CTRSH
Nhìn chung, quản lý CTRSH tại các ĐT ở nước ta chưa tiếp cận được phương thức quản lý tổng hợp trên quy mô lớn, chưa áp dụng đồng bộ các giải pháp để giảm tỷ lệ CT phải chôn lấp (hoạt động nhằm giảm thiểu phát sinh CTR là một trong những giải pháp quan trọng và hiệu quả nhất trong quản lý CT) Việc tái sử dụng, tái chế mới chỉ được thực hiện một cách phi chính thức,
Trang 30tự phát, chủ yếu do khu vực TN thực hiện XHH hoạt động quản lý CTRSH tuy đã được triển khai ở một số đô thị, nhưng chưa được nhân rộng Nguồn vốn đầu tư cho lĩnh vực quản lý CTR chủ yếu từ NSNN (trong 5 năm gần đây tổng mức đầu tư cho công tác xử lý CTR trung bình 4.300 tỷ đồng/năm, trong
đó 80% là NSNN, 20% do TN tham gia) [5]; XHH trong quản lý CTRSH bắt nguồn từ sự hạn chế, thiếu các cơ chế chính sách cụ thể thu hút các nguồn lực; nguồn vốn ngân sách đầu tư cũng như khả năng kiểm soát của hệ thống cơ quan QLNN; NSNN cho yêu cầu quản lý CTRSH là rất hạn chế Số liệu của bảng 1.3 dưới đây cho thấy phần nào về điều đó
Bảng 1.3 Số liệu đầu tư cho quản lý chất thải (Đơn vị nghìn tỷ đồng)
Tổng nhu cầu đầu tư để đạt được các mục tiêu của
CLBVMTQG giai đoạn 2010-2020
Nguồn: Báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Xây dựng[13]
Mặt khác, ở các quốc gia phát triển, xu hướng quản lý dựa vào sự tham gia và tham vấn của cộng đồng luôn là điều kiện cho sự thành công của các chương trình, chính sách bao gồm các chương trình chính sách BVMT Việt Nam cũng đang ở trong giai đoạn phát triển dân chủ nên việc thu hút các tầng lớp nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội đang được chú trọng Đây chính là nền tảng quan trọng cho việc XHH quản lý CTRSH ở nước ta
1.1.2 Các công nghệ chủ yếu xử lý CTRSH tại các đô thị
1.1.2.1 Một số công nghệ xử lý CTRSH đang áp dụng tại các đô thị
Ở nước ta, hiện nay đang được sử dụng các CN xử lý CTRSH sau đây: Công nghệ chôn lấp; Công nghệ sinh học chế biến phân vi sinh; Công nghệ đốt; và một số công nghệ xử lý tái chế/tái sử dụng CTRSH khác [38] Tuy nhiên các CN này mới chỉ được sử dụng tại một số đô thị
Các công nghệ đã được Bộ Xây dựng thẩm định:
- Công nghệ Seraphin của Công ty CP phát triển CN Môi trường xanh;
Trang 31Sinh Nghĩa - ASC Đây là CN tích hợp trong xử lý CTR: Chế biến phân vi sinh, nhựa phế thải, đốt, chế tạo gạch
- Công nghệ lò đốt Envic của Trung tâm nghiên cứu ứng dụng CN mới và MT; Lò đốt BD-Anpha của Công ty CP TM và đầu tư công nghệ Ecotech;
- Công nghệ MBT.CD-08 - Tạo viên nhiên liệu, của Công ty TNHH Thủy lực máy, công nghệ này tạo ra 2 dòng sản phẩm: CD.08-CN - Viên nhiên liệu dùng công nghiệp; CD.08-DD - Viên nhiên liệu dùng dân dụng
- Công nghệ lò đốt rác công suất nhỏ: Có lò đốt rác Công nghệ NFi-05 của Thái Lan và Công nghệ BD-ANPHA của Công ty TNHH Đức Minh
1.1.2.2 Đánh giá các công nghệ xử lý CTRSH tại các đô thị Việt Nam
a Các vấn đề liên quan tới công nghệ và thiết bị
- Công nghệ chôn lấp CTRSH là phổ biến ở các đô thị, chỉ có khoảng 30% số lượng khu/bãi chôn lấp được quy hoạch; Có khoảng 17% số khu chôn lấp được thiết kế và đầu tư xây dựng HVS [12]; nhiều khu chôn lấp gây ô nhiễm nặng về mùi, ruồi, muỗi, đóng bãi không đúng quy trình kỹ thuật
- Dây chuyền CN xử lý/tái chế CTRSH nhập từ nhiều nước khác nhau, hầu như không phù hợp với tính chất của CTRSH và điều kiện khí hậu của Việt nam
- Các loại hình CN được phép nhân rộng còn hạn chế, chưa có sự đa dạng hóa, CN trong nước do hạn chế đầu tư nên dây truyền thiết bị chưa đồng bộ
b Các vấn đề trong quy trình và kỹ thuật vận hành
- Nguồn nhân lực quản lý và vận hành hạn chế về năng lực nên chưa đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của công nghệ và thiết bị
- Ngân sách vận hành nhà máy xử lý CTRSH chủ yếu vẫn do Nhà nước bao cấp thông qua chính quyền tỉnh/ thành phố
- Nguyên liệu đầu vào của thành phần CTRSH hữu cơ chất lượng kém dẫn đến chất lượng phân bón chưa cao, cũng như các chính sách tiêu thụ sản phẩm chưa có, sản phẩm khó tiêu thụ
c Các vấn đề liên quan trong quản lý
Trang 32- Chưa có hướng dẫn cụ thể cho về tính toán chi phí đầu tư các loại công nghệ xử lý CTRSH vì vậy việc ước tính suất đầu tư rất khác nhau ở các địa phương bởi cơ chế ưu đãi và các chính sách huy động vốn tại từng đô thị không theo một quy định thống nhất nào
- Mô hình đầu tư các CN xử lý CTRSH hiện nay thường là chính quyền
đô thị, thiếu các cơ chế chính sách cụ thể cho từng công nghệ, từng vùng, từng
đô thị Cần phải khuyến khích, tạo cơ chế phù hợp để phát triển CN tái chế
- Chưa có kế hoạch, cơ chế cụ thể về cấp vốn ưu đãi đầu tư xây dựng các nhà máy xử lý CTRSH; Việc đầu tư xây dựng các nhà máy tái chế CTRSH chỉ thực sự có hiệu quả nếu công tác phân loại tại nguồn được tuân thủ
1.1.3 Một số mô hình quản lý CTRSH đô thị hiện nay ở Việt Nam
1.1.3.1 Mô hình quản lý CTRSH ở TP Hà Nội [5], [33], [67]
Để đảm nhiệm thực hiện thu gom, vận chuyển và xử lý hơn 5000 tấn CTR/ngày, TP có hai lực lượng chịu trách nhiệm: (i) Công ty TNHH MTV
MT đô thị (URENCO) là DNNN, chịu trách nhiệm chính trong công tác thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH của TP và 5 Xí nghiệp MT đô thị chịu trách nhiệm thu gom vận chuyển tại các huyện ngoại thành (ii) Ngoài các DNNN còn có sự tham gia của DNTN như: Hợp tác xã Thành Công, Công ty CP Dịch
vụ MT Thăng Long, Công ty CP Xanh; Công ty CP Tây Đô
Từ năm 2004, TP thực hiện công tác XHH thu gom và vận chuyển một phần CTRSH tại 34 phường (01 phường thuộc Quận Đống Đa, 05 phường thuộc Quận Thanh Xuân, 14 phường thuộc Quận Long Biên, 14 phường thuộc Quận Hoàng Mai, và 03 xã: Trung Văn, Mỹ Đình, Mễ Trì thuộc Quận Từ Liêm)
Hiện nay, công tác XHH hoạt động VSMT ở Hà Nội đang rất được chú trọng và đã được triển khai ở một số lĩnh vực và công đoạn cụ thể trong hoạt động VSMT Mô hình XHH thu gom và vận chuyển chất thải đã được triển khai rất thành công tại Hà Nội, Mô hình này được triển khai chủ yếu là 3 hình thức: Tổ thu gom rác dân lập, Hợp tác xã, Công ty CP hay Công ty TNHH
Trang 33- Mô hình Tổ thu gom rác dân lập: Như Tổ thu gom rác dân lập Phường Nhân Chính, các xã Tả Thanh Oai, Hữu Hoà, Việt Long
- Mô hình Công ty CP, Công ty TNHH: Công ty CP Dịch vụ Môi trường Thăng Long, Hà Nội…
Đây là một mô hình điển hình, hiệu quả trong công tác XHH công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải cho TP Hình thức hoạt động của các Công
ty CP hay Công ty TNHH là tự tổ chức hoạt động và kinh doanh, được đầu tư rất lớn, thu hút được nguồn vốn và tài lực từ cộng đồng
- Mô hình Hợp tác xã điển hình là Hợp tác xã Thành Công
Hợp tác xã phối với UBND các phường, tổ trưởng dân phố, cụm trưởng dân cư tiến hành thu tiền phí VSMT trên địa bàn Phường, tổ chức tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành các quy định của TP về VSMT
Mô hình Hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực BVMT cũng là một mô hình hoạt động rất thành công Hợp tác xã vữa huy động được nguồn vốn từ cộng đồng (từ các xã viên đóng góp), vữa có cơ cấu tổ chức hoạt động phù hợp trong hoạt động BVMT
1.1.3.2 Mô hình quản lý CTRSH ở thành phố Đà Nẵng [47], [48]
Đà Nẵng là một trong những TP được Ngân hàng thế giới đánh giá làm tốt công tác VSMT đô thị Lượng rác thu gom trên địa bàn TP đạt 85%, trong đó nội thành 100% VSMT của TP có ưu điểm lớn nhất là khâu thu gom rác, các tuyến đường phố luôn sạch sẽ, không có tụ điểm rác trên lòng, hè, không có ga rác lộ thiên; bãi rác nằm cách trung tâm TP 15km được vệ sinh khá tốt, ít ảnh hưởng đến môi trường, không gây bức xúc trong cộng đồng dân cư
Đạt được kết quả đó do TP đã có các biện pháp thực hiện hiệu quả như sau:
- Coi trọng XHH việc thu gom CT, phát huy được vai trò của các tổ chức quần chúng và chính quyền các cấp trong công tác thu gom CT; phân cấp xác định trách nhiệm cụ thể, rõ ràng và có cơ chế kinh phí bảo đảm để thực hiện
Từ Công ty của TP đến chính quyền, từng tổ chức quần chúng ở các quận, phường, tổ dân phố đều tham gia vào các khâu thu gom CT, vệ sinh đường, hè,
Trang 34ngõ phố với nội dung công việc cụ thể Tổ dân phố tham gia thảo luận điểm đặt thùng rác công cộng và quản lý bảo vệ thùng rác Các đoàn thể đều tích cực tham gia phong trào Ngày Chủ nhật sạch: Trong đó, Hội Phụ nữ, thanh niên, học sinh làm nòng cốt; vận động các gia đình có thùng rác trong nhà, duy trì thường xuyên tổng vệ sinh vào ngày Chủ nhật
- Phí vệ sinh thu được khá tốt, thu theo hộ từ 7.000 - 15.000 đồng và các hộ sản xuất kinh doanh tính theo lượng rác thải Số kinh phí thu được phân bổ lại hợp lý giữa các cấp (thành phố trích 10% cho cơ sở, gồm: 2% tổ dân phố, 3% cho phường, 5% cho quận)
- Coi trọng và làm tốt công tác tuyên truyền, vận động người dân nâng cao ý thức thực hiện giữ vệ sinh đường phố; có chế tài xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm quy định Các hộ kinh doanh phải ký cam kết đảm bảo VSMT, nếu vi phạm sẽ bị rút giấy phép kinh doanh Những gia đình ở mặt phố, mặt ngõ nếu vứt rác ra đường đều bị Thanh tra Giao thông xử phạt
- Áp dụng phương thức thu gom tiên tiến, phù hợp với trang thiết bị cải tiến, CT được giữ kín trong suốt quá trình thu gom vận chuyển, không có tạm dồn, dừng trên đường, phố Toàn TP bố trí hơn 4.000 thùng chứa CT cố định và lưu động, có khoá, bình quân cách nhau 100m và 5 trạm trung chuyển Các nhà hàng, công sở đều có thùng chứa rác Các thùng chứa được thiết kế gọn nhẹ, thuận tiện cho đổ rác, vận chuyển, khi đầy được kịp thời vận chuyển bằng xe chuyên dùng đến các trạm trung chuyển
- Đối với CTR xây dựng, chủ công trình (cả nhà ở) ký Hợp đồng với URENCO về việc thu gom, vận chuyển đến nơi quy định Khi lập hồ sơ xây dựng công trình nhất thiết phải có biện pháp thi công đảm bảo an toàn và VSMT
- Trạm trung chuyển, nơi tiếp nhận các thùng rác, được phun hoá chất xử
lý sơ bộ, ép vào các container kín để xe ô tô chở ra bãi chôn lấp Trạm được thiết kế xây dựng hợp lý ngay trong nội thành, kề cận các nhà dân trên mặt đường phố nhưng đảm bảo kín đáo, biệt lập, có phòng điều hành, không toả mùi khó chịu, nên được người dân xung quanh nơi đặt trạm chấp nhận
Trang 35- Cơ chế quản lý nội bộ URENCO khá chặt chẽ, làm tốt việc thanh, kiểm tra, phát hiện các thùng rác đầy, chuyển đi ngay và thay thế thùng trống Có cơ chế khoán cho đội quét dọn, việc quét dọn rác đường phố Công
ty giao cho tổ dân phố Kết quả đạt được của TP Đà Nẵng trong việc thu gom, xử lý CTRSH có được do nhiều nguyên nhân Trong đó có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể của các cấp chính quyền và sự tham gia tích cực, của các đoàn thể, nhân dân Đảm bảo đúng quy trình quản lý, thu gom CTR, với cơ chế thanh, kiểm tra và xử phạt nghiêm khắc, kịp thời
1.1.3.3 Công tác quản lý CTRSH ở TP Hồ Chí Minh [48], [70],
Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương đi đầu về tốc độ tăng trưởng kinh
tế, đóng góp 30% GDP cho cả nước Mỗi ngày, TP.HCM thải ra hơn 7.200 – 8.100 tấn CTRSH Để có thể quản lý lượng CT đa dạng và khổng lồ nói trên, từ nhiều năm nay TP đã hình thành một hệ thống kỹ thuật thu gom từ nguồn, trạm trung chuyển và vận chuyển đến nơi tái chế, xử lý và chôn lấp, phủ kín trên địa bàn 352 phường xã của 24 quận huyện bao gồm hai hệ thống:
Hệ thống chính quy gồm Công ty TNHH MTV - MT đô thị và 22 Công ty TNHH MTV dịch vụ công ích quận - huyện (trừ quận Tân Phú và Bình Tân)
Hệ thống phi chính quy do khoảng 30 nghiệp đoàn thu gom dân lập thực hiện; 5 Hợp tác xã thu gom ở quận 2, quận 4, quận 6, quận Gò Vấp, Thủ Đức
Tỉ lệ thu gom 60% CTRSH của hộ dân do Tổ dân lập và Hợp tác xã thu gom; 40% do Công ty dịch vụ công ích Nhà nước thực hiện Đồng thời TP có chủ trương XHH lĩnh vực xử lý CTR, kêu gọi đầu tư nhằm giảm chi ngân sách, tăng tỉ lệ tái chế, tái sử dụng, giảm lượng chất thải chôn lấp để đảm bảo môi trường Điều kiện để lựa chọn dự án XHH: Công nghệ tiên tiến, phù hợp, bảo đảm VSMT, phí xử lý ít, khả năng tài chính và công suất xử lý đạt yêu cầu
Từ cuối năm 2007, thực hiện chủ trương XHH trong lĩnh vực xử lý CTRSH đô thị, đến nay lượng CTRSH phát sinh của TP đã được xử lý, tái chế
an toàn HVS Công nghệ sử dụng xử lý CTR gồm chôn lấp HVS, sản xuất phân vi sinh, sản xuất phân vi sinh kết hợp đốt Toàn bộ công trình xử lý
Trang 36CTRSH của TP đều được đầu tư, xây dựng bởi nguồn vốn ngoài ngân sách, TP chỉ phải chi trả chi phí vận hành và thực hiện các công tác quản lý hành chính Một số mô hình xử lý CTR theo phương thức XHH như:
Tại Khu liên hợp xử lý CTR Tây Bắc (do Công ty TNHH MTV - MT Đô thị làm chủ đầu tư) có Nhà máy xử lý CTRSH đô thị thành phân vi sinh công suất 1200 tấn/ngày của Cty CP Vietsta đầu tư đang tiếp nhận và xử lý 600 tấn/ngày; Nhà máy xử lý CTR đô thị thành phân vi sinh của Cty CP Tâm Sinh Nghĩa công suất 1.000 tấn/ngày đang tiếp nhận 100 tấn/ngày
Khu liên hợp xử lý CTR Đa Phước (DNTN - Công ty TNHH Xử lý CTR Việt Nam làm chủ đầu tư) đang tiếp nhận và xử lý hơn 5.000 tấn CTR/ngày, có khả năng tiếp nhận đến 14.000 -16.000 tấn/ngày và cao hơn đến năm 2025 Tất cả các dịch vụ từ thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH đã được thực hiện theo phương thức đặt hàng hoặc đấu thầu Để có được kết quả đó, TP đã thực hiện tốt các công tác chuẩn bị đầu tư; nhà đầu tư dự án xử lý CTR được hỗ trợ tối đa về mặt bằng, cơ sở hạ tầng TP hy vọng trong tương lai gần sẽ xử lý triệt để vấn đề ô nhiễm CTR đô thị, góp phần BVMT và phát triển bền vững [70]
1.1.4 Đánh giá thực trạng quản lý CTRSH đô thị dưới góc độ XHH
1.1.4.1 Đánh giá thực trạng quản lý CTRSH ở các đô thị Việt Nam từ
góc độ XHH
Quá trình thực hiện chủ trương XHH công tác BVMT nói chung, quản lý CTRSH tại các ĐT nói riêng, đã đặt được những kết quả nhất định Thực tế cho thấy các ĐT có tỷ lệ thu gom cao là các ĐT đã thực hiện tốt việc XHH trong thu gom và vận chuyển CTRSH Trên cơ sở chủ trương, chính sách XHH công tác BVMT, khuyến khích các DNTN, các tổ chức đẩy mạnh việc thu gom, vận chuyển
và xử lý CTRSH dựa vào cộng đồng và sự hợp tác chặt chẽ với các địa phương
TP Hồ Chí Minh đi đầu trong cả nước về XHH việc thu gom, vận chuyển,
xử lý CT Việc thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH do Công ty MT đô thị đảm nhiệm với tỷ lệ chiếm 35-40% lượng CTR Các đơn vị MT đô thị của các quận huyện thu gom khoảng 20%, các HTX thu gom khoảng 40% Tỷ lệ tham
Trang 37gia của thành phần KTNN và KTTN vào việc thu gom vận chuyển CTRSH ở
TP Hồ Chí Minh là 60% và 40%, trong đó khâu xử lý hoàn toàn được XHH XHH hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý CT đã được triển khai tại một số ĐT như Tại Hà Nội, ngoài URENCO Hà Nội, còn có các Công ty CP; HTX như: Công ty CP Thăng Long, Công ty CP Xanh, HTX MT Thành Công tham gia Tại Hải Phòng, Công ty Thị chính Kiến An; Công ty Công trình Công cộng Đồ Sơn cũng là những DNTN tham gia thu gom và vận chuyển CTR Tại
TP Hạ Long, Công ty CP và CN Hạ Long; v.v.v
Những năm gần đây, đã có một số DNTN trong nước đầu tư vào lĩnh vực thu gom, vận chuyển và xây dựng các nhà máy xử lý CTRSH đô thị Ví dụ, Nhà máy xử lý CTR Sơn Tây với công suất 400 tấn/ngày, chủ đầu tư là Công
ty CP Thăng Long; Nhà máy xử lý rác Thuỷ Phương TP Huế công suất 200 tấn/ngày do Công ty CP đầu tư - phát triển Tâm Sinh Nghĩa đầu tư… Việc xây dựng, vận hành và quản lý các nhà máy xử lý CTR này tuy đang còn nhiều khía cạnh cần xem xét đánh giá nhưng chúng góp phần giải quyết những vấn đề cấp bách về ô nhiễm môi trường và chứng minh sự cần thiết của quá trình XHH quản
lý CTR Thực trạng quản lý CTR nói chung và CTRSH nói riêng được phản ánh
khái quát trong Kết luận của Chính phủ “Thời gian qua, công tác quản lý thu
gom, xử lý CTR đã có nhiều tiến bộ Một số đô thị đã thực hiện tốt việc thu gom, vận chuyển CTR góp phần tạo MT cảnh quan văn minh, sạch đẹp; đã quan tâm đầu tư xây dựng các nhà máy xử lý CTR Việc XHH công tác xử lý CTR đã được triển khai thực hiện ở một số nơi, tạo môi trường cho các doanh nghiệp có điều kiện tham gia Mặc dù vậy, công tác quản lý CTR vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển KTXH do công tác lập, phê duyệt quy hoạch quản
lý CTR trên địa bàn còn chậm, việc huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng
cơ sở xử lý CTR gặp nhiều khó khăn, lúng túng; VSMT nhiều đô thị chưa bảo đảm; rác thải đổ bừa bãi” [28].
1.1.4.2 Đánh giá việc thực hiện xã hội hóa quản lý CTRSH
Xã hội hóa hoạt động quản lý CTRSH trong những năm vừa qua đã thu
Trang 38được nhiều thành công do đã có nền tảng thể chế khá đồng bộ bao gồm chính sách và pháp luật Những thành công này thể hiện ở các khía cạnh dưới đây:
a Công tác quản lý CTRSH đô thị đã từng bước đi vào nề nếp, MT đô thị đang dần được cải thiện với sự tham gia tích cực của cộng đồng và DN, của cá nhân Ở nhiều đô thị và một số vùng nông thôn, người dân đã cùng với chính quyền tham gia trong quản lý chất thải, vệ sinh môi trường [12].
b Một số công nghệ mới nhằm tận thu CTRSH được nghiên cứu và ứng dụng Đã có những dự án xử lý CTRSH mang lại nhiều hiệu quả kinh tế; CTRSH được nhìn nhận như là một nguồn tài nguyên có giá trị
Doanh nghiệp tư nhân tham gia xử lý CTR ngày càng nhiều đã góp phần tạo VSMT ở các đô thị đã có chuyển biến tích cực, tạo tiền đề tốt, góp phần cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
c Bên cạnh đó, XHH hoạt động quản lý CTR tại các đô thị và khu công nghiệp ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế cần được khắc phục
(i) Trong hoạt động quản lý CTRSH, các chủ thể chưa làm tốt công tác truyên truyền, giáo dục, chưa có cơ chế chính sách phù hợp để khuyến khích
sự tham gia của người dân vào các hoạt động giảm thiểu, phân loại tại nguồn Hoạt động phân loại CTRSH mới chỉ dừng lại ở mức thí điểm Bên cạnh đó,
cơ sở hạ tầng cho việc thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH chưa đồng bộ, đáp ứng được yêu cầu quản lý CTRSH do thiếu nguồn vốn đầu tư
(ii) XHH công tác quản lý CTRSH chưa có được những cơ sở vật chất phù hợp Các DN, các cộng đồng khó có thể tiếp cận quỹ đất để xây dựng bãi, khu xử lý CTRSH do chính quyền cơ sở thiếu qui hoạch và chính sách ưu đãi cho khu vực TN trong việc cho thuê hay cấp đất vì mục đích quản lý CTRSH Các HTX, hộ kinh doanh dịch vụ TG, VC, xử lý CTRSH trong điều kiện như vậy dễ có những bãi chôn lấp tự phát Điều này dẫn đến tình trạng chuyển ô nhiễm CTRSH ở địa điểm này sang địa điểm khác Chẳng hạn, trên địa bàn Hà Nội, trong số 361/400 xã có tổ thu gom rác thì 148 xã chuyển được đến khu xử
lý, còn những nơi khác, CTR vẫn tràn ngập khắp nơi công cộng, ao, hồ [82]
Trang 39(iii) Việc thực thi áp dụng các văn bản pháp luật trong quản lý CTRSH chưa nghiêm Việc thực hiện các văn bản pháp luật về quản lý CTRSH đòi hỏi phải kết hợp đồng bộ nhiều yếu tố như: tuyên truyền, giáo dục để nâng cao được ý thức tự giác trong việc thực hiện trách nhiệm của mình, vai trò quản lý nhà nước trong triển khai giám sát thực thi về đầu tư vốn, phương tiện, công nghệ xử lý CTR, việc xác định vi phạm và các chế tài xử phạt, v.v…
(iv) Mặc dù Nhà nước đã có chủ trương khuyến khích các TPKT tham gia quản lý CTR nhưng trên thực tế ở các tỉnh, TP huy động các TPKT tham gia
quản lý CTRSH còn hạn chế Nguyên nhân của tình trạng này là các tỉnh, thành
phố chưa có cơ chế cụ thể để khuyến khích các TPKT tham gia quản lý CTRSH trên các lĩnh vực thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH; Sự quyết tâm của các cấp chính quyền chưa cao, chưa quyết liệt về thực hiện chủ trương; chưa có các biện pháp chế tài thích hợp để xử lý các trường hợp vi phạm các văn bản pháp luật về quản lý CTR Đây có thể xem là nguyên nhân hàng đầu
Mặt khác, vấn đề mấu chốt trong XHH còn tồn tại bất cập: (i) Phí và lệ phí còn mang tính bao cấp chưa đảm bảo cho các hoạt động quản lý; (ii) Định mức mới vừa ban hành về đơn giá thu gom, vận chuyển và xử lý, đặc biệt đơn giá xử
lý chưa phù hợp với phương thức và CN hiện đại mà chỉ phù hợp với CN trang thiết bị cũ, phương thức hoạt động lạc hậu; (iii) Ý thức trách nhiệm các tổ chức và
cá nhân trong việc chịu trách nhiệm đối với quản lý chất thải, cũng như đối tượng phát thải còn chưa cao, gây cản trở cho công tác quản lý CTRSH
(v) Chưa bình đẳng giữa các DN, xí nghiệp dịch vụ công ích và các DNTN,
HTX dịch vụ VSMT; Vấn đề lợi ích nhóm, đấu thầu giá thấp
1.2 Thực trạng thể chế và chính sách liên quan về quản lý CTRSH ở
đô thị Việt Nam
1.2.1 Thực trạng hệ thống văn bản pháp luật về quản lý CTRSH ở các đô thị
Pháp luật là công cụ không thể thiếu của bất cứ lĩnh vực quản lý nhà nước nào và đương nhiên là cả quản lý CTRSH Việc BVMT chống lại sự ô nhiễm
Trang 40do con người gây ra là một trong ba trụ cột của phát triển bền vững Xuất phát
từ tầm quan trọng của việc BVMT và vai trò của pháp luật trong đời sống kinh
tế, Nhà nước đã ban hành LBVMT năm 2014 thay thế LBVMT năm 2005 và tiếp đó là hàng loạt văn bản dưới luật như Nghị định, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư của Bộ, Quyết định của UBND các địa phương
Hệ thống pháp luật về môi trường đã tạo nền tảng cho việc BVMT, trong đó có quản lý CTRSH để giảm thiểu nguy cơ gây ô nhiễm môi trường
Pháp luật về quản lý chất thải rắn bao gồm những văn bản chủ yếu sau:
a Luật Bảo vệ môi trường năm 2014
Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 có mục qui định về quản lý chất thải
có nêu các nội dung của hoạt động quản lý gồm: “là quá trình phòng ngừa,
giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và
xử lý chất thải”[58] Cũng như trách nhiệm của người dân đối với quản lý
CTRSH cũng được qui định trong Luật Bảo vệ môi trường v.v.v
b Các văn bản pháp lý dưới Luật
Nhiều văn bản pháp lý đã được ban hành như:
- Các Nghị định, Quyết định, chỉ thị của Chính phủ
Là những văn bản dưới luật quan trọng điều chỉnh quản lý CTR, bao gồm qui định cụ thể hơn việc quản lý CTR theo đó quản lý CTR bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý CTR, các hoạt động giảm thiểu, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý CTR nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và con người
- Các quyết định, thông tư hướng dẫn của các bộ …
Để thực hiện vai trò quản lý, các bộ, ngành cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm cụ thể hóa và hướng dẫn thực hiện theo yêu cầu của ngành Việc Nghị định 38/2015/NĐ-CP, phân định và phân loại CTR căn cứ vào mức độ nguy hiểm của chúng thành CTR nguy hại và CTR thông thường và căn cứ vào nguồn thải có ý nghĩa quan trọng đối với quản lý CTRSH Các qui