Hà Nội là nơi tập trung dân cư với mật độ lớn nhất của cả nước. Theo kết quả cuộc điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 2009, dân số Hà Nội là 6.448.837 người. Mật độ dân số Hà Nội hiện nay, cũng như trước khi mở rộng địa giới hành chính, không đồng đều giữa các quận nội ô và khu vực ngoại thành. Trên toàn thành phố, mật độ dân cư trung bình 1.979 ngườikm², nhưng tại quận Đống Đa, mật độ lên tới 35.341 ngườikm². Trong khi đó, ở những huyện như ngoại thành như Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức, mật độ không tới 1.000 ngườikm². Nên nhu cầu tiêu dùng các loại nông sản rất lớn. Các loại nông sản phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của Thủ đô Hà Nội được cung cấp bởi các địa phương khác là chính. Trong đó nhiều loại hoa quả có giá trị dinh dưỡng, giá trị kinh tế cao được tiêu dùng dưới dạng bảo quản và nhiều loại mặt hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ. Trong khi nhu cầu của người tiêu dùng các loại nông sản có chất lượng cao ở khu vực nội đô ngày càng cao. Trong những năm gần đây với sức ép về dân số, quá trình đô thị hóa ở Hà Nội diễn ra nhanh khiến cho hàng ngàn hecta đất sản xuất nông nghiệp màu mỡ phải nhường chỗ cho các khu công nghiệp, đô thị mới,… nhiều vùng sản xuất rau hoa quả truyền thống đã bị thu hẹp lại và dần dịch chuyển ra các huyện ngoại thành và vùng phụ cận Hà Nội. Với lợi thế về thị trường tiêu thụ, là nơi tập trung nhiều cơ sở nghiên cứu, nhiều chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân; cơ chế hỗ trợ phát triển sản xuất thoáng, mặt bằng tiếp nhận các tiến bộ khoa học công nghệ tương đối đồng đều và ở mức khá,… Việc phát triển một số vùng sản xuất các sản phẩm rau, hoa, quả đặc thù và có giá trị cao của Hà Nội như: Các loại rau không qua bảo quản, hoa tươi, Cam canh, Bưởi diễn, Hồng xiêm xuân đỉnh,… để cung cấp cho thị trường nội đô là cần thiết. Một số huyện ngoại thành của Hà Nội và các huyện phụ cận Hà Nội thuộc các tỉnh Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Hưng Yên có điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và thị trường tiêu thụ sản phẩm thuận lợi để phát triển sản xuất một số loại nông sản tươi sống, đặc biệt là các loại rau, hoa, quả có giá trị hàng hóa cao cung cấp cho thị trường Hà Nội như. Ngoài ra, quỹ đất có thể khai thác và chuyển đổi sang sản xuất một số chủng loại cây ăn quả vẫn còn tương đối lớn và người dân đã có kinh nghiệm trong sản xuất cây ăn quả phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của người dân nội đô.
Trang 1THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI 1
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1 Tính cấp thiết của Đề tài 3
2 Mục tiêu của đề tài 4
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Một số khái niệm liên quan 5
1.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất một số chủng loại rau, hoa, quả có giá trị hàng hóa cao ở một số nước trên thế giới 7
1.2.1 Tình hình nghiên cứu phát triển vùng chuyên canh sản xuất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị tại một số nước trên thế giới 7
1.2.1.1 Trung Quốc 7
1.2.1.2 Thái Lan 9
1.2.1.3 Nhật Bản 12
1.2.2 Tình hình sản xuất mô ̣t số chủng loa ̣i rau, hoa, quả .14
1.2.2.1 Tình hình sản xuất rau trên thế giới 14
1.2.2.2 Tình hình sản xuất hoa 17
1.2.2.3 Tình hình sản xuất cây ăn quả 18
1.3 Tình hình nghiên cứu phát triển vùng sản xuất chuyên canh và tình hình sản xuất một số chủng loại rau, hoa, quả có giá trị hàng hóa cao ở Việt Nam 19
1.3.1 Tình hình nghiên cứu phát triển vùng sản xuất chuyên canh về một số chủng loại rau, hoa, quả tại Việt Nam 19
1.3.1.1 Tình hình nghiên cứu phát triển một số vùng sản xuất rau chuyên canh 21
1.3.1.2 Tình hình nghiên cứu về một số vùng chuyên canh hoa 23
1.3.1.3 Tình hình nghiên cứu về một số vùng chuyên canh quả 24
1.3.2 Tình hình sản xuất mô ̣t số chủng loa ̣i rau, hoa, quả 27
1.3.2.1 Tình hình sản xuất một số chủng loại rau 27
1.3.2.2 Tình hình sản xuất một số chủng loại hoa 29
1.3.2.3 Tình hình sản xuất một số chủng loại trái cây 31
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Đối tươ ̣ng, pha ̣m vi .33
2.1.1 Đối tươ ̣ng nghiên cứ u: 33
2.1.2 Pha ̣m vi nghiên cứ u: 33
Trang 22.2 Nô ̣i dung và phương pháp nghiên cứu 33 CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35 3.1 Đánh giá hiện trạng và khả năng phát triển sản phẩm nông nghiệp có giá trị hàng hoá cao ở vùng nghiên cứu 35
3.1.1 Điều kiện tự nhiên và tình hình phát triển kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu .35 3.1.2 Hiện trạng sản xuất nông nghiệp và đánh giá tình hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật tại vùng nghiên cứu .41
3.1.2.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp tại vùng nghiên cứu 41 3.1.2.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp tại vùng nghiên cứu 42 3.1.2.3 Tình hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất, sơ chế, bảo quản sau thu hoạch các sản phẩm rau, hoa, quả chính tại vùng nghiên cứu 49
3.1.3 Tiềm năng, lợi thế so sánh trong phát triển sản xuất một số chủng loại rau hoa quả
có giá trị hàng hóa cao ở Hà Nội và vùng phụ cận 55
3.1.3.1 Tiềm năng, lợi thế dựa trên những điều kiện tự nhiên 55 3.1.3.2 Những tiềm năng, lợi thế từ nguồn lực kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu đối với sản xuất các loại rau, hoa, quả có giá trị hàng hoá cao 57
3.2 Kết quả nghiên cứu xác định một số chủng loại rau, hoa, quả có giá trị hàng hóa cao tại vùng nghiên cứu phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của người dân nội thành Hà Nội 58
3.2.1 Nhu cầu về một số sản phẩm rau, hoa, quả thiết yếu 58
3.2.1.1 Nhu cầu tiêu dùng về một số sản phẩm rau an toàn của khu vực nội thành Hà Nội 59 3.2.1.2 Nhu cầu tiêu dùng về một số sản phẩm hoa chất lượng cao của khu vực nội thành Thủ đô Hà Nội 61 3.2.1.3 Nhu cầu tiêu dùng về một số loại quả chất lượng cao của khu vực nội thành Hà Nội 64 3.2.1.4 Nhu cầu tiêu dùng về một số sản phẩm nông nghiệp đã qua sơ chế và chế biến của khu vực nội thành Hà Nội 67
3.2.2 Kết quả nghiên cứu, đánh giá khả năng sản xuất và cung cấp về một số chủng loại rau, hoa, quả có giá trị hàng hóa cao của vùng nghiên cứu, cung cấp cho khu vực nội thành Thủ đô Hà Nội .68
3.2.2.1 Khả năng sản xuất và cung cấp một số loại rau an toàn (rau ăn lá, ăn củ
và ăn quả) có giá trị hàng hóa cao của vùng Nghiên cứu 69 3.2.2.2 Khả năng sản xuất và cung cấp một số loại hoa cao cấp có giá trị hàng hóa cao của vùng nghiên cứu 70
Trang 33.2.2.3 Khả năng sản xuất và cung cấp một số loại quả chất lượng tốt có giá trị
hàng hóa cao của vùng Nghiên cứu 73
3.3 Kết quả nghiên cứu các tiến bộ kỹ thuật chủ yếu phục vụ sản xuất và các giải pháp hỗ trợ phát triển một số chủng loại rau hoa quả có giá trị hàng hóa cao tại vùng nghiên cứu, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân nội thành Thủ đô 76
3.3.1 Kết quả nghiên cứu các tiến bộ kỹ thuật chủ yếu phục vụ sản xuất một số loại rau, hoa, quả có giá trị hàng hóa cao cung cấp cho nội thành Thủ đô Hà Nội 76
3.3.1.1 Các tiến bộ kỹ thuật sản xuất một số chủng loại rau có giá trị hàng hóa cao theo hướng VietGAP phù hợp với điều kiện vùng nghiên cứu 76
3.3.1.2 Các tiến bộ kỹ thuật sản xuất một số chủng loại hoa chất lượng cao theo hướng sản xuất hàng hóa phù hợp với điều kiện vùng nghiên cứu, cung cấp cho Hà Nội vào một số ngày lễ tết 78
3.3.1.3 Các tiến bộ kỹ thuật sản xuất phục vụ sản xuất một số chủng loại quả có giá trị hàng hóa cao phù hợp với điều kiện vùng nghiên cứu 80
3.3.1.4 Thực trạng về hoạt động ứng dụng tiến bộ kỹ thuật thâm canh Cam Canh (cam đường Canh) theo hướng sản xuất hàng hóa phù hợp với vùng nghiên cứu 83 3.3.2 Một số giải pháp hỗ trợ thúc đẩy phát triển một số chủng loại rau, hoa, quả có giá trị hàng hóa cao tại Hà Nội và vùng phụ cận 86
3.3.2.1 Một số giải pháp hỗ trợ nhằm thúc đẩy sản xuất một số loại rau an toàn theo hướng VietGap cung cấp cho nội thành Hà Nội 87
3.3.2.2 Một số giải pháp hỗ trợ thúc đẩy sản xuất một số loại hoa chất lượng cao theo hướng hàng hóa, cung cấp cho nội thành Hà Nội vào những ngày lễ tết .91
3.3.2.3 Một số giải pháp hỗ trợ thúc đẩy sản xuất một số loại quả chất lượng cao, an toàn theo hướng hàng hóa, cung cấp cho nội thành Hà Nội 94
3.4 Kết quả xây dựng một số mô hình trình di ễn ứng dụng tiến bộ kỹ thuật sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm rau, hoa, quả có giá trị hàng hoá cao 98
3.4.1 Mô hình sản xuất rau an toàn theo hướng VietGap quy mô 1 ha 98
3.4.2 Mô hình sản xuất hoa lyli chất lượng cao 99
3.4.3 Mô hình trồng thâm canh bưởi Diễn 101
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 104
1 Kết luận 104
2 Đề nghị 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 107
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT
CNCBRQ Công nghiệp Chế biến rau quả
VietGAP Sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam
GDP Tổng sản phẩm quốc nội (Gross domestic product)
IPM Quản lý dịch hại tổng hợp (Intergrated pest management)
KH&CN Khoa học và Công nghệ
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
TBKT Tiến bộ kỹ thuật
DHNTB Duyên hải Nam Trung Bộ
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Tình hình sản xuất rau của thế giới giai đoạn 1980 - 2010 14 Bảng 1.2: Tình hình sản xuất rau của các châu lục năm 2010 15 Bảng 1.3: Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam giai đoạn 1980 – 2010 27 Bảng 1.4: Một số loại rau hàng hoá chủ yếu của Việt Nam 28 Bảng 1.5: Tốc độ phát triển của ngành sản xuất hoa, cây cảnh giai đoạn
Bảng 1.6: Tình hình sản xuất một số loại cây ăn quả Việt Nam (2007 – 2011) 32 Bảng 3.1: Các yếu tố khí hậu của vùng nghiên cứu năm 2011 35 Bảng 3.2: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) giá hiện hành và cơ cấu chia
theo nhóm ngành kinh tế các tỉnh trong vùng nghiên cứu năm
2005 và 2010
38
Bảng 3.3: Chuyển dịch cơ cấu lao động Nông thôn ở vùng đồng bằng sông
Bảng 3.4: So sánh tỷ lệ lao động với tổng dân số của các địa phương vùng
Bảng 3.5: Tình hình sử dụng đất của các tỉnh trong vùng nghiên cứu từ năm
Bảng 3.6: Giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá so sánh năm 1994 phân theo
Bảng 3.7: Tình hình sản xuất lúa, ngô cả năm 2011 của các địa phương
Bảng 3.8: Tình hình sản xuất một số loại rau của trên địa bàn tỉnh Vĩnh
Trang 6xuất một số loại rau vùng nghiên cứu
Bảng 3.14: Kết quả điều tra về tình hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản
Bảng 3.15: Kết quả điều tra về tình hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản
Bảng 3.16 Kết quả điều tra khảo sát về giá rau an toàn và rau thường tại Hà
Bảng 3.16a Bảng danh sách một số loại rau có lợi thế ở vùng nghiên cứu có
Bảng 3.17: Kết quả điều tra về nhu cầu tiêu dùng một số sản phẩm hoa chất
lượng cao của khu vực nội thành thủ đô Hà Nội trong dịp tết 62 Bảng 3.18: Kết quả nghiên cứu về tần suất mua các loại hoa của người dân tại
những địa điểm giao dịch khác nhau ở Hà Nội năm 2012 63 Bảng 3.18a Bảng danh sách một số loại Hoa có lợi thế ở vùng nghiên cứu có
Bảng 3.19: Kết quả điều tra về nhu cầu tiêu dùng một số loại quả của người
dân Hà Nội ở các thời điểm khác nhau năm 2012 65 Bảng 3.19a Bảng danh sách một số loại cây ăn quả có lợi thế ở vùng nghiên cứu
Bảng 3.20: Tình hình sử dụng đất năm 2011 của các tỉnh vùng nghiên cứu 68 Bảng 3.21: Kết quả điều tra về tình hình sản xuất một số loại hoa có giá trị
cao của hai vùng trồng hoa chính tại Hà Nội 71 Bảng 3.22: Kết quả điều tra, khảo sát giá bán một số chủng loại quả nhập
Bảng 3.23: Tình hình sinh trưởng, phát triển của rau bắp cải 99 Bảng 3.24: Tình hình sinh trưởng, phát triển của cà chua 99 Bảng 3.25: Tình hình sinh trưởng, phát triển của hoa lily 100
Bảng 3.26: Sinh trưởng, tỷ lệ đậu quả và năng suất năm 2011 102 Bảng 3.27: Tỷ lệ đậu quả và năng suất quả năm 2012 102
Trang 8THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI
1 Tên Đề tài: Nghiên cứu phát triển sản xuất một số chủng loại rau, hoa, quả có giá trị hàng hóa cao ở Hà Nội và vùng phụ cận
2 Cơ quan quản lý: Bô ̣ Khoa học và Công nghê ̣
3 Cơ quan chủ trì và thực hiện Dự án: Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng – Bộ
Khoa học và Công nghệ
Địa chỉ: 70 Trần Hưng Đạo – Hoàn Kiếm – Hà Nội;
E-mail: crd@hn.vnn.vn; Website: http://www.crd.gov.vn;
Điện thoại: 04.39420454; Fax: 04.39421078
4 Chủ nhiệm Đề tài
Họ và tên: Đă ̣ng Ngo ̣c Vươ ̣ng
Học hàm, học vị: Thạc sĩ; Chức vụ: Trưở ng Phòng
Đơn vị công tác: Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng
Điện thoại: Cơ quan: 04.3942430454; Mobile: 0914.262.119
E-mail: dangngocvuong@gmail.com
5 Cơ quan phối hợp thực hiện
Tổ chức 1: Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hà Nội
Tên cơ quan chủ quản: UBND Thành phố Hà Nội
Tổ chức 2: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Vĩnh Phúc
Tên cơ quan chủ quản: UBND tỉnh Vĩnh Phúc
Tổ chức 3: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình
Tên cơ quan chủ quản: UBND tỉnh Hòa Bình
6 Thời gian tiến hành: 30 tháng, từ tháng 01/2011 đến tháng 06/2013
7 Địa điểmthực hiện: Một số huyện thuộc Hà Nội và vùng phụ cận
8 Kinh phí thực hiện nhiệm vụ:
Tổng kinh phí thực hiê ̣n nhiê ̣m vu ̣: 775,0 triệu đồng, trong đó:
- Ngân Sách sự nghiệp Khoa học và công nghệ: 700,0 triệu đồng
- Nguồn vốn khác: 75,0 triệu đồng
Trang 99 Danh sách cán bộ thực hiện Đề tài
1 PGS.TS Lê Tất Khương Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng
2 TS Nguyễn Đắc Bình Minh Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng
3 ThS Phạm Đức Nghiệm Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng
4 ThS Đặng Ngọc Vượng Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng
5 ThS Tạ Quang Tưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng
6 ThS Chu Huy Tưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng
7 ThS Vũ Anh Dân Học viện Hành Chính - Học viện Chính trị QG
8 Phùng Văn Quang Sở KH&CN tỉnh Hòa Bình
9 ThS Nguyễn Thị Kim Liên Sở KH&CN tỉnh Vĩnh Phúc
10 ThS Vương Thị Hạnh Sở NN&PT NT Hà Nội
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài
Hà Nội là nơi tập trung dân cư với mật độ lớn nhất của cả nước Theo kết quả cuộc điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 2009, dân số Hà Nội là 6.448.837 người Mật độ dân số Hà Nội hiện nay, cũng như trước khi mở rộng địa giới hành chính, không đồng đều giữa các quận nội ô và khu vực ngoại thành Trên toàn thành phố, mật độ dân cư trung bình 1.979 người/km², nhưng tại quận Đống Đa, mật độ lên tới 35.341 người/km² Trong khi đó, ở những huyện như ngoại thành như Sóc Sơn, Ba
Vì, Mỹ Đức, mật độ không tới 1.000 người/km² Nên nhu cầu tiêu dùng các loại nông sản rất lớn
Các loại nông sản phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của Thủ đô Hà Nội được cung cấp bởi các địa phương khác là chính Trong đó nhiều loại hoa quả có giá trị dinh dưỡng, giá trị kinh tế cao được tiêu dùng dưới dạng bảo quản và nhiều loại mặt hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ Trong khi nhu cầu của người tiêu dùng các loại nông sản có chất lượng cao ở khu vực nội đô ngày càng cao
Trong những năm gần đây với sức ép về dân số, quá trình đô thị hóa ở Hà Nội diễn ra nhanh khiến cho hàng ngàn hecta đất sản xuất nông nghiệp màu mỡ phải nhường chỗ cho các khu công nghiệp, đô thị mới,… nhiều vùng sản xuất rau hoa quả truyền thống đã bị thu hẹp lại và dần dịch chuyển ra các huyện ngoại thành và vùng phụ cận Hà Nội
Với lợi thế về thị trường tiêu thụ, là nơi tập trung nhiều cơ sở nghiên cứu, nhiều chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân;
cơ chế hỗ trợ phát triển sản xuất thoáng, mặt bằng tiếp nhận các tiến bộ khoa học công nghệ tương đối đồng đều và ở mức khá,… Việc phát triển một số vùng sản xuất các sản phẩm rau, hoa, quả đặc thù và có giá trị cao của Hà Nội như: Các loại rau không qua bảo quản, hoa tươi, Cam canh, Bưởi diễn, Hồng xiêm xuân đỉnh,… để cung cấp cho thị trường nội đô là cần thiết
Một số huyện ngoại thành của Hà Nội và các huyện phụ cận Hà Nội thuộc các tỉnh Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Hưng Yên có điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và thị trường tiêu thụ sản phẩm thuận lợi để phát triển sản xuất một số loại nông sản tươi sống, đặc biệt là các loại rau, hoa, quả có giá trị hàng hóa cao cung cấp cho thị trường
Hà Nội như Ngoài ra, quỹ đất có thể khai thác và chuyển đổi sang sản xuất một số chủng loại cây ăn quả vẫn còn tương đối lớn và người dân đã có kinh nghiệm trong sản xuất cây ăn quả phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của người dân nội đô
Trang 11Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của Bộ Khoa học và Công nghệ theo Quyết định số 3011/QĐ-BKHCN ngày 31 tháng 12 năm 2010, Viện Nghiên cứu và
Phát triển Vùng thực hiện Đề tài: “Nghiên cứu phát triển sản xuất một số chủng loại rau, hoa, quả có giá trị hàng hóa cao ở Hà Nội và vùng phụ cận”
2 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung: Phát triển sản xuất một số chủng loại rau, hoa, quả có giá trị
hàng hóa cao tại Hà Nội và vùng phụ cận để cung cấp các sản phẩm an toàn, chất lượng cao cho người dân Thủ đô
Xây dựng một số mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp có giá trị hàng hoá cao
Trang 12CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1 Khái niệm về hàng hóa và sản xuất hàng hóa
- Hàng hóa là một trong những phạm trù cơ bản của kinh tế chính trị Theo nghĩa hẹp, hàng hóa là vật chất tồn tại có hình dạng xác định trong không gian và có thể trao đổi, mua bán được Theo nghĩa rộng, hàng hóa là tất cả những gì có thể trao đổi, mua bán được Theo kinh tế chính trị Marx-Lenin, hàng hóa cũng được định nghĩa là sản phẩm của lao động thông qua trao đổi, mua bán Hàng hóa có thể là hữu hình như sắt thép, quyển sách hay ở dạng vô hình như sức lao động Karl Marx định nghĩa hàng hóa trước hết là đồ vật mang hình dạng có khả năng thỏa mãn nhu cầu con người nhờ vào các tính chất của nó
- Sản xuất hàng hóa là cũng một khái niệm được sử dụng trong kinh tế chính trị dùng để chỉ về kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra không phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó mà là
để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán Hay nói một cách khác, sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm sản xuất
ra là để bán
1.1.2 Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hóa
Sản xuất hàng hoá có những đặc trưng cơ bản sau đây:
- Sản xuất hàng hóa là sản xuất để trao đổi, mua bán Theo đó, sản phẩm được sản xuất ra để bán chứ không phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó, tức là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán
- Sản xuất hàng hóa có tính chuyên môn hóa cao; quy mô sản xuất lớn
Ưu thế của sản xuất hàng hóa:
- Khai thác được những lợi thế về tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng người, từng cơ sở sản xuất cũng như từng vùng, từng địa phương Bên cạnh đó, sự phát triển của sản xuất hàng hóa lại có tác động trở lại, thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động xã hội, làm cho chuyên môn hóa lao động ngày càng tăng, mối liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng trở nên mở rộng, sâu sắc, làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên nhanh chóng, nhu cầu của xã hội được đáp ứng đầy đủ hơn Khi sản xuất
và trao đổi hàng hóa mở rộng giữa các quốc gia, thì nó còn khai thác được lợi thế của các quốc gia với nhau
Trang 13- Trong nền sản xuất hàng hóa, quy mô sản xuất không còn bị giới hạn bởi nhu cầu và nguồn lực mang tính hạn hẹp của mỗi cá nhân, gia đình, mỗi cơ sở, mỗi vùng, mỗi địa phương, mà nó được mở rộng, dựa trên cơ sở nhu cầu và nguồn lực của xã hội Điều đó lại tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng những thành tựu khoa học -
kỹ thuật vào sản xuất thúc đẩy sản xuất phát triển
- Trong nền sản xuất hàng hóa, sự tác động của quy luật vốn có của sản xuất và trao đổi hàng hóa là quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh buộc người sản xuất hàng hóa phải luôn luôn năng động, nhạy bén, biết tính toán, cải tiến
kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, cải tiến hình thức, quy cách và chủng loại hàng hóa, làm cho chi phí sản xuất hạ xuống đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng ngày càng cao hơn
- Trong nền sản xuất hàng hóa, sự phát triển của sản xuất, sự mở rộng và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, giữa các vùng, giữa các nước không chỉ làm cho đời sống vật chất mà cả đời sống văn hóa, tinh thần cũng được nâng cao hơn, phong phú hơn, đa dạng hơn
1.1.3 Khái niệm về thị trường
Về thị trường có nhiều khái niệm khác nhau Chúng được xem xét từ nhiều góc độ và được đưa ra vào các giai đoạn khác nhau trong quá trình phát triển kinh tế hàng hoá Tuy nhiên xét theo mức độ khái quát thì thị trường còn được quan niệm là
sự kết hợp giữa cung và cầu trong đó người mua, người bán bình đẳng cạnh tranh, số lượng người bán nhiều hay ít phụ thuộc vào quy mô của thị trường lớn hay nhỏ Sự cạnh tranh trên thị trường có thể do xảy ra giữa người bán, người mua hay giữa người bán với nhau Việc xác định giá cả trên thị trường là do cung và cầu quyết định [25]
1.1.4 Đặc điểm về sản phẩm rau, hoa, quả có giá trị hàng hóa cao
Theo quan điểm của nhóm tác giả thực hiện Đề tài thì một sản phẩm được gọi là sản phẩm có giá trị hàng hóa cao cần phải đáp ứng được một số yêu cầu sau:
- Được người tiêu dùng (thị trường) ưa chuộng: mẫu mã, chất lượng, giá thành,
thời điểm cung ứng,…
- Sản phẩm phải có giá trị nhiều mặt: giá trị về dinh dưỡng, về thực phẩm chức năng, về công dụng, về hàm lượng các chất có trong sản phẩm,
- Mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất
- Là cây trồng thân thiện với môi trường, làm đẹp cảnh quan (có giá trị về mặt sinh thái),…
Trang 141.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất một số chủng loại rau, hoa, quả có giá trị hàng hóa cao ở một số nước trên thế giới
1.2.1 Tình hình nghiên cứu phát triển vùng chuyên canh sản xuất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị tại một số nước trên thế giới
1.2.1.1 Trung Quốc
Trung Quốc là nước có nền nông nghiệp lớn và lâu đời nhất thế giới, sau hơn
30 năm cải cách kinh tế (từ 1978), cùng với các ngành khác, ngành nông nghiệp
Trung Quốc đã có những bước phát triển mạnh theo hướng đa dạng hóa ngành nghề
và nâng cao năng suất lao động thông qua việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng như hình thức quản lý kinh doanh mới Có được thành tựu này là do Trung Quốc đã có nhiều giải pháp rất thiết thực phát huy lợi thế và khắc phục những hạn chế trong quá trình phát triển nền nông nghiệp theo huớng hàng hoá
* Kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc phát triển ngành nông nghiệp hàng hoá trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới:
Dưới tác động của quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp, tài nguyên nông nghiệp ngày càng khan hiếm, môi trường bị ô nhiễm nặng nề Đến năm 1999, diện tích đất nông nghiệp bình quân một lao động nông nghiệp Trung Quốc chỉ là 0,2
ha bằng ¼ của Thái Lan, 1/25 mức trung bình của thế giới Diện tích bình quân/hộ của Trung Quốc là 0,5ha/hộ Trong khi Mỹ, EU, Canada là 100 – 500 ha/hộ Nên sau khi Trung Quốc ra nhập WTO (ngày 10/12/2001), hàng loạt các khó khăn đối với nền sản xuất nông nghiệp của Trung Quốc như [21]:
+ Xuất khẩu nông sản Trung Quốc ra nước ngoài gặp nhiều bất lợi
+ Giá cả của một số nông sản giảm mạnh trên thị trường nội địa, dẫn đến giảm thu nhập của nông dân ở một số lĩnh vực, nông dân nản chí không muốn canh tác nữa
Để giảm thiểu những tác động tiêu cực của việc gia nhập WTO tới nông nghiệp, Trung Quốc đã thúc đẩy việc tái cơ cấu và điều chỉnh chính sách nông nghiệp từ giai đoạn cuối của Kế hoạch 5 năm lần thứ IX với những nội dung cơ bản như:
- Tiến hành điều chỉnh cơ cấu sản phẩm nông nghiệp, chú trọng sản phẩm có giá trị gia tăng cao (tiểu mạch cứng, giống gạo chất lượng cao, rau sạch, hoa quả, vật nuôi ăn cỏ nhằm tiết kiệm lương thực, thuỷ sản chất lượng cao ) Đa dạng hóa nông sản và cải thiện chất lượng sản phẩm theo hướng tăng chế biến nông sản
- Điều chỉnh cơ cấu vùng miền, khai thác lợi thế so sánh của địa phương trong nông nghiệp (vùng ven biển giảm sản xuất lương thực để phát triển các loại sản phẩm có khả năng xuất khẩu; miền Trung và miền Tây phát triển trồng trọt)
Trang 15- Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến nông nghiệp, đảm bảo tính đồng bộ về pháp lý (quy định về kiểm dịch động thực vật, hàng rào kỹ thuật trong nông nghiệp, hệ thống tiêu chuẩn chất lượng đối với nông sản, xây dựng các tổ chức tiền tệ ở nông thôn ); điều chỉnh các quy định về hỗ trợ nông nghiệp để phù hợp với các quy định của WTO
- Đẩy mạnh hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp với phương châm “cho nhiều, lấy
ít, nuôi sống”, thực hiện chính sách 4 miễn giảm cho nông dân (miễn thuế nông nghiệp, thuế chăn nuôi, thuế đặc sản nông lâm, thuế giết mổ), trợ cấp 4 hạng mục cho nông dân (trợ cấp lương thực, trợ cấp giống tốt, trợ cấp mua máy nông cụ lớn, trợ cấp nông nghiệp tổng hợp)
- Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật (Trung ương tăng chi dụng KHKT, sản nghiệp hóa nông nghiệp, hỗ trợ chuyển dịch lao động, đào tạo ), tăng cường đầu tư cho cơ sở hạ tầng (nâng cấp thuỷ lợi, cải tạo ruộng thấp trũng, xây dựng đường, điện, kho bãi, hạ tầng lưu thông ), thúc đẩy hình thành hệ thống thông tin thị trường, đổi mới nghiên cứu khoa học - công nghệ nông nghiệp và hệ thống khuyến nông
- Thúc đẩy cải cách hệ thống lưu thông nông sản (cải cách thể chế về lưu thông, tìm tòi phương thức lưu thông mới, phát triển hiệp hội ngành nghề , cải cách thể chế
về ngoại thương đối với nông sản, mở rộng kênh xuất khẩu nông sản )
- Đẩy mạnh chuyển dịch lao động dôi dư ở nông thôn (thúc đẩy đô thị hóa nông thôn, tăng cơ hội việc làm đặc biệt việc làm phi nông nghiệp, điều chỉnh cơ cấu sản phẩm của xí nghiệp hưng chấn, đẩy mạnh mậu dịch gia công bên ngoài, xuất khẩu lao động )
* Kinh nghiệm của Trung Quốc trong quá trình thực hiện phát triển nông nghiệp đô thị
Nông nghiệp đô thị là một trong những vấn đề được nhà nước Trung Quốc đặc biệt quan tâm và trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu đáng kể góp phần giải quyết nhu cầu tiêu dùng của người dân nội đô Một ví dụ điển hình trong việc phát triển nông nghiệp vùng ven đô trong bối cảnh đất đai nội thành bị thu hẹp, tốc độ
đô thị hóa tăng nhanh đó là Thành phố Bắc Kinh:
Bắc Kinh nằm ở mũi phía bắc của đồng bằng Bắc Trung Quốc có diện tích 16.808
km2 và dân số 16.300.000 (2007) Thủ đô Bắc Kinh đã có tốc độ tăng trưởng kinh tế trong những năm gần đây trung bình ở 14,2%/năm Với tốc độ đô thị hóa đạt 84,5% trong năm 2007 đã kéo theo một số thách thức: Sự chênh lệch về thu nhập giữa đô thị và nông thôn (hiện nay là 3:1), số người dân di cư đến lớn (khoảng 4 triệu người tại thời điểm này), đất nông nghiệp nhanh chóng bị mất và sự suy giảm nhanh của môi trường đô thị Bắc Kinh phải đối mặt với tình trạng thiếu đất canh tác và thiếu nước [21]
Trang 16Để giúp đối phó với những vấn đề này, có thể mở rộng quy mô và phát triển bền vững, chính quyền thành phố đã hợp tác với các cơ quan chức năng tích cực thúc đẩy phát triển nông nghiệp đa chức năng và kết hợp với nông nghiệp sinh thái ở các khu ngoại ô của Bắc Kinh Các biện pháp hỗ trợ phát triển nông nghiệp sinh thái bao gồm:
- Hội nhập của nông nghiệp ven đô thị đa chức năng vào sự phát triển lâu dài chiến lược kinh tế xã hội và quy hoạch sử dụng đất của Bắc Kinh
- Thực hiện một chương trình toàn diện cho sự phát triển của nông nghiệp ven
đô "Chương trình 221" và đã dành một phần đáng kể ngân sách thành phố cho đầu
tư trong khu vực ven đô
- Thành lập Hiệp hội Nông nghiệp sinh thái Bắc Kinh, trong đó hỗ trợ các doanh nghiệp và người sản xuất nông nghiệp trong việc tạo ra các cơ sở du lịch, phát triển các nguyên tắc và tiêu chuẩn cho sản xuất nông nghiệp sinh thái và mô hình ứng dụng của họ
Một mạng lưới phát triển nông nghiệp ven đô đã được thành lập và được mở rộng đến các thành phố khác như Thượng Hải, Thành Đô, Lệ Giang, và Nam Kinh Ngoài ra, Trung Quốc đã ban hành, triển khai thực hiện chính sách vĩ mô, dẫn dắt ngành sản xuất hàng hóa nông nghiệp công nghệ cao phát triển nhanh chóng Đồng thời, cũng thực hiện các biện pháp bảo đảm ngành sản xuất nông nghiệp công nghệ cao phát triển một cách ổn định, như tăng cao mức độ sản xuất hàng hóa của sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao [21]
1.2.1.2 Thái Lan
Thái Lan là nước có nền nông nghiệp chiếm địa vị chi phối: với 80% dân số
ở nông thôn, lĩnh vực nông nghiệp đóng góp khoảng 13% vào tổng GDP của Thái Lan, trong đó trồng trọt đóng góp khoảng 68% vào tổng giá trị sản xuất nông nghiệp Với tổng diện tích đất là 51,3 triệu ha, diện tích đất trang trại chiếm khoảng 21 triệu ha, với khoảng 5,7 triệu trang trại, trung bình mỗi trang trại rộng khoảng 3,7ha Năm 2009, xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp của Thái Lan đạt khoảng 1.128.060,6 triệu baht, đứng thứ 6 thế giới về xuất khẩu nông sản; trong khi nhập khẩu nông sản chỉ ở mức khiêm tốn là 456.708,4 triệu baht [22]
Kinh nghiệm của Thái Lan trong sản xuất rau, quả:
- Diện tích trồng rau của Thái Lan đạt xấp xỉ 0,45 triệu ha Những năm gần đây, Chính phủ Thái Lan cũng phát động phương pháp canh tác “trong một môi trường thân thiện”, cung cấp tiền và trợ giúp kỹ thuật cho các khu vực trọng điểm Biện pháp này nhằm tăng xuất khẩu rau quả và giảm thiểu dùng thuốc trừ sâu Chính phủ đề ra
Trang 17tiêu chuẩn quốc gia về trồng rau sạch và thực phẩm an toàn, cấp giấy chứng nhận và logo cho sản phẩm Theo Ban Cấp phép rau sạch Thái Lan (ACT), kể từ năm 2002,
số nông trại trồng rau sạch tăng lên rất nhanh, hiện có hàng ngàn nông trại chuyên trồng rau sạch Ngoài ra có hàng ngàn nông trại khác trồng cả hai loại Và định hướng trong thập kỷ mới (2011-2020), sản xuất rau của Thái Lan sẽ tập trung vào các loại rau có chất lượng cao để phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng nội địa; lượng rau tươi, đông lạnh, chế biến và rau sẵn sàng cho tiêu thụ trực tiếp sẽ gia tăng Bên cạnh các giống rau mới (có được nhờ các công nghệ lai giống cao cấp), nhiều loại rau truyền thống của Thái Lan vẫn đang được sản xuất với tỷ trọng khoảng 70% Nông dân Thái Lan
đã trồng rau từ qui mô vườn nhà từ nhiều thập kỷ trước đến qui mô trang trại và trong những thập kỷ gần đây họ đã lựa chọn và tập hợp được những giống rau truyền thống tốt nhất Nhiều giống rau có giá trị được xử lí bằng công nghệ lai giống đã được triển khai ở các vùng nông thôn, nhiều trong số đó được gieo bằng hạt Những giống rau mới đã tạo nên sự phong phú, đa dạng cho các sản phẩm rau hàng hóa của Thái Lan
Kinh nghiệm thương mại hóa và phát triển thị trường:
Để có được những thành công trong phát triển ngành rau, ngoài làm tốt công tác sản xuất thì Thái Lan đã làm tốt công tác thị trường: Tại Thái Lan, qui mô sản xuất lớn đã buộc các nông hộ (chủ trang trại) và các nhà kinh doanh nhận thức rõ hơn về việc áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật trong sản xuất và kinh doanh rau Hai câu hỏi đặt ra là: (1) Liệu các tiêu chuẩn về rau, đặc biệt là rau an toàn có thực sự an toàn theo nghĩa giá càng cao thì chất lượng càng tốt, độ an toàn càng lớn và (2) liệu người nông dân có động cơ thích đáng để cải tiến chất lượng sản phẩm của mình và cung cấp cho thị trường những sản phẩm tốt nhất hay không Trong trường hợp của Thái Lan, giá rau an toàn cao hơn hẳn so với giá rau thường và được áp dụng phổ biến tại các siêu thị lớn - nơi người tiêu dùng có thể tin tưởng lựa chọn các sản phẩm rau phù hợp với thu nhập của họ Người tiêu dùng Thái Lan có nhu cầu ngày càng cao về các sản phẩm rau chất lượng cao, đặc biệt là rau an toàn, nhờ sự cải thiện của thu nhập thực tế và các nhận thức về vai trò của rau sạch đối với sức khỏe Theo điều tra tại 4 đại siêu thị tại Bangkok vào tháng 10/2005, đã có tới hơn 30 nhãn hiệu rau an toàn và rau hữu cơ được bày bán Ngoài ra, còn có một chuỗi các siêu thị bán lẻ chỉ chuyên cung cấp rau an toàn và rau hữu cơ tại Bangkok
Bên cạnh những đầu tư về vật chất và đào tạo, một chương trình vận động nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng đối với thực phẩm an toàn nói chung và rau an toàn nói riêng đã được Ủy ban thực phẩm và đồ uống của Thái Lan phát động Cơ quan này cũng phát hành các chứng nhận về an toàn thực phẩm cho các nhà sản xuất, chế biến rau an toàn và các siêu thị phân phối rau an toàn Đồng thời, Bộ Nông
Trang 18nghiệp Thái Lan đã hướng dẫn việc áp dụng các chỉ dẫn GAP đối với sản phẩm rau
an toàn và cấp chứng nhận cho các trang trại áp dụng nghiêm túc các tiêu chuẩn này Sản phẩm rau của các trang trại này sẽ dễ dàng thâm nhập các siêu thị lớn và có giá bán cao hơn so với các sản phẩm rau khác
Kinh nghiệm nâng cao chất lượng sản phẩm:
+ Đầu tư cho khâu giống: Đầu tư thích đáng cho khâu nghiên cứu sản xuất
giống mới, nhập khẩu giống mới, nhân giống mới và cải tạo giống, hỗ trợ nông dân
trong việc sử dụng giống mới để tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ + Quy hoạch các khu trồng rau công nghệ cao: Thái Lan có trình độ phát triển
kinh tế đi trước Việt Nam khoảng 30 năm Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của Bangkok cho phép nông nghiệp ở đây hình thành các vùng sản xuất vệ tinh chuyên môn hóa xen kẽ các khu công nghiệp và dân cư, cách thủ đô từ 40 -100 km Các sản phẩm sạch và có giá trị kinh tế cao được chú trọng phát triển Tại những vùng nông nghiệp gần Bangkok, nông dân phát triển sản xuất rau quả an toàn trên liếp Tại các vùng cách xa thủ đô hàng trăm km, nông dân phát triển các mô hình nông nghiệp tổng hợp, với các trang trại chăn nuôi kết hợp trồng cây ăn quả, hoặc phát triển sản xuất lương thực kết hợp với nuôi thả cá để giải quyết vấn đề môi trường và an toàn lương thực Vấn đề tiêu thụ sản phẩm được giải quyết trên cơ sở phát triển quan hệ hợp đồng giữa các công ty chế biến nông sản của Bangkok và các hộ nông dân ở các vùng nông nghiệp vệ tinh Đặc biệt, chính phủ Thái Lan rất quan tâm đến các chính sách tài chính, tín dụng, khuyến nông, xây dựng cơ sở hạ tầng, giải quyết ô nhiễm… thúc đẩy các vùng sản xuất vệ tinh này phát triển
Trình độ phát triển hiện tại của lực lượng sản xuất và các kiến trúc quy hoạch cũ chưa cho phép Hà Nội đổi mới ngay lập tức kiến trúc đô thị và việc phân bố các vùng nông nghiệp theo yêu cầu sinh thái giống như mô hình của Bangkok Tuy nhiên kinh nghiệm phát triển nông nghiệp đô thị ở Thái Lan có thể được nghiên cứu vận dụng trong việc hình thành các vùng nông nghiệp đáp ứng yêu cầu sinh thái cho Hà Nội trong những năm 2020
+ Đa dạng hóa các sản phẩm của ngành rau:
Việc đa dạng hóa các sản phẩm nhằm tăng doanh thu trong ngành và giảm thiểu rủi ro biến động thời tiết và thị trường đã được người nông dân Thái Lan lựa chọn Những sản phẩm có giá trị cao như rau hữu cơ, rau an toàn, rau chế biến, đóng hộp, rau tươi sẵn sàng cho tiêu thụ trực tiếp đã được đầu tư sản xuất Các nhà xuất khẩu của Thái Lan đã đầu tư dây truyền công nghệ cho các sản phẩm rau đủ tiêu chuẩn xuất khẩu theo qui định của Hoa Kỳ và châu Âu Một phần các sản phẩm này cũng
Trang 19được xúc tiến tiêu thụ nội địa, đặc biệt tại các thành phố lớn nơi mức sống cao hơn so với các khu vực khác
Những người nông dân Thái Lan quyết định đưa các sản phẩm rau có giá trị cao vào sản xuất đã phải chấp nhận đầu tư nhiều vốn, công sức và các nỗ lực lớn về công nghệ để đảm bảo tiêu chuẩn sản xuất các sản phẩm này cũng như đạt được mức lợi nhuận nhất định
+ Nâng cấp giá trị của sản phẩm rau, tăng tính cạnh tranh so với các sản phẩm
khác trong khu vực:
Các nhà sản xuất và xuất khẩu rau quả của Thái Lan cũng thành công trong việc nâng cấp giá trị của các sản phẩm trong hai thập kỷ trở lại đây Không chỉ riêng mặt hàng gạo, trái cây và rau của Thái Lan có sức cạnh tranh và mức giá cao hơn hẳn so với giá của các nước trong khu vực cũng có cùng điều kiện tự nhiên và thổ nhưỡng như Trung Quốc và Việt Nam
+ Cải tiến công nghệ và nâng cao năng suất:
Với những nỗ lực ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất, người trồng rau Thái Lan đã không chỉ kiểm soát được hoạt động sản xuất của họ bằng các kinh nghiệm truyền thống mà bằng cả sự hỗ trợ của các công nghệ hiện đại Sử dụng các công nghệ sinh học tiên tiến trong việc cải tạo giống, nguồn nước, đất trồng và đối phó với sâu bệnh là một trong những hướng đi quan trọng mà ngành rau Thái Lan đã lựa chọn Kinh nghiệm của Thái Lan cho thấy những hỗ trợ từ phía nhà nước đối với việc ứng dụng công nghệ trong ngành rau là rất quan trọng Một lượng ngân sách lớn
đã được dành cho các công nghệ về xử lí đất, nguồn nước và ứng phó với sâu bệnh, cũng như những kỹ thuật gieo trồng, bón phân mới nhằm đảm bảo sự phát triển tự nhiên và tối ưu nhất của các loại rau trồng Việc đa dạng hóa các giống cây và các hoạt động trong trồng trọt cũng đòi hỏi sự hậu thuẫn rất lớn bởi công nghệ
1.2.1.3 Nhật Bản
Nhật Bản là nước có diện tích đất đai canh tác có hạn, số lượng người đông, đơn
vị sản xuất nông nghiệp chính tại Nhật Bản vẫn là các hộ gia đình nhỏ, mang đậm tính chất của nền văn hóa lúa nước Với đặc điểm tự nhiên và xã hội, trong phát triển nông nghiệp Nhật Bản đã đề ra một chiến lược khôn khéo và hiệu quả, như tăng năng suất nền nông nghiệp quy mô nhỏ (bằng cách thâm canh tăng năng suất trên đơn vị diện tích và trên đơn vị lao động để nông nghiệp Nhật Bản cung cấp đầy đủ lương thực, thực phẩm cho nhu cầu của nhân dân); dưỡng sức dân, tạo khả năng tích lũy và phát huy nội lực; thâm canh tăng năng suất; xuất khẩu nông, lâm sản (nguồn thu ngoại tệ quan trọng) để nhập khẩu máy móc, thiết bị phục vụ công nghiệp hóa; phi
Trang 20tập trung hóa công nghiệp, đưa sản xuất công nghiệp về nông thôn, gắn nông thôn với công nghiệp, gắn nông thôn với thành thị Những bước đi thích hợp này là những điều kiện quan trọng để phát triển nông nghiệp, nông thôn Nhật Bản theo hướng hiện đại hóa [24]
Để trở thành một nước có nền nông nghiệp phát triển như ngày nay có thể thấy rằng Nhật Bản đã có những bước đi rất đúng đắn trong sản xuất nông nghiệp của mình Những kinh nghiệm đó tập trung vào những vấn đề: phát triển nông nghiệp, phát triển nông thôn, phát triển nông dân [16]
Trong phát triển nông nghiệp Nhật Bản tập trung vào phát triển khoa học -kỹ thuật; cải cách ruộng đất; Phát triển sản xuất có chọn lọc, nâng cao chất lượng nông sản; Phát triển các Hợp tác xã và các tổ chức kinh tế hợp tác xã dịch vụ; Chính sách
hỗ trợ nông nghiệp
Phát triển khoa học-kỹ thuật nông nghiệp: Để phát triển khoa học - kỹ thuật nông nghiệp, Nhật Bản chủ yếu dựa vào các viện nghiên cứu nông nghiệp của Nhà nước và chính quyền các địa phương Viện quốc gia về khoa học nông nghiệp được thành lập ở cấp Nhà nước là cơ quan có trách nhiệm tổng hợp gắn kết toàn bộ các viện nghiên cứu cấp ngành thành một khối Bên cạnh đó, các viện nghiên cứu nông nghiệp cũng tăng cường liên kết nghiên cứu với các trường đại học, các xí nghiệp tư nhân và các hội khuyến nông; liên kết với các tổ chức này và các tổ chức của nông dân để giúp nông dân tiếp cận công nghệ, trang thiết bị tiên tiến, giúp tăng năng suất, chất lượng, đảm bảo nông nghiệp tăng trưởng ổn định
Phát triển các HTX và các tổ chức kinh tế HTX dịch vụ: Hợp tác xã có vị trí rất quan trọng trong phát triển nông nghiệp ở Nhật Bản Hầu hết những người nông dân đều là xã viên của HTX nông nghiệp Chính phủ rất coi trọng thể chế vận hành các HTX nông nghiệp và đã ban hành, thực hiện nhiều chính sách giúp đỡ phát triển, không ngừng mở rộng quy mô sản xuất nhằm giúp người nông dân thoát khỏi cảnh đói nghèo và cùng hội nhập vào nền kinh tế thế giới Vai trò của các HTX và tổ chức kinh tế HTX dịch vụ đã thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất và chuyên môn hóa sâu theo hướng thương mại hóa trong nông nghiệp nước này
Chính sách hỗ trợ nông nghiệp: Nhật Bản luôn có chính sách hỗ trợ kịp thời để khuyến khích phát triển nông nghiệp như: hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cấp các trang thiết bị, vật tư cho nông nghiệp, cung cấp thông tin, xúc tiến thương mại, cho vay vốn tín dụng,
Trang 211.2.2 Ti ̀nh hình sản xuất một số chủng loại rau, hoa, quả
1.2.2.1 Ti ̀ nh hình sản xuất rau trên thế giới
Rau xanh là loại thực phẩm thiết yếu của cuộc sống con người, cung cấp phần lớn khoáng chất và vitamin, góp phần cân bằng dinh dưỡng trong bữa ăn hàng ngày Rau là cây trồng có giá trị kinh tế cao, là mặt hàng xuất khẩu của nhiều nước trên thế giới Hiện nay nhiều nước trên thế giới trồng rau với diện tích lớn, tại các nước đang phát triển tỷ lệ cây rau/cây lương thực là 2/1, còn ở các nước đang phát triển tỷ lệ này là 1/2 Trên thế giới có nhiều chủng loại rau được gieo trồng, diện tích trồng rau ngày càng gia tăng để đáp ứng nhu cầu về rau của người dân
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất rau của thế giới giai đoạn 1980 - 2010
TT Năm Diện tích (nghìn ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (nghìn tấn)
(Nguồn: FAO statistic, 2011)
Hình 3.1 Diện tích, năng suất, sản lượng rau của thế giới giai đoạn 1980 -2010
Trang 22Số liệu bảng 1.1 và hình 3.1 cho thấy diện tích rau trên thế giới không ngừng tăng từ 1980 đến nay Năm 1980 toàn thế giới trồng được 8.066.840 ha, năm 1990 là 10.405.270, tăng 2.338.430ha (trung bình 1 năm tăng 233.843 ha) Năm 2000 diện tích rau của thế giới đạt 14.572.540, tăng 4.167.270 ha (trung bình 1 năm tăng 416.727 ha) Năm 2010 trồng được 18.075.290 ha, tăng 3.502.750 ha so với năm
2000 (trung bình 1 năm tăng 350.275 ha), tăng 7.670.020 ha so với năm 1990 và 10.008.450 ha so với năm 1980
Về năng suất rau của thế giới không ổn định qua các năm Năm 1980 năng suất rau chỉ đạt 106,11 tạ/ha, năm 1990 là 134,89 tạ/ha, tăng 28,78 tạ/ha Năm 2000 có năng suất rau cao nhất, đạt 146,84 tạ/ha, tăng 11,95 tạ/ha so với năm 1990 và 40,70 tạ/ha so với năm 1980 Sau năm 2000 năng suất rau có xu hướng giảm dần, tuy mức
độ không nhiều nhưng cũng là con số đáng lo ngại cho ngành trồng rau Năm 2010 năng suất rau trên thế giới chỉ đạt 132,88 tạ/ha, giảm 13,96 tạ/ha so với năm 2000, giảm 2,01 tạ/ha so với năm 1990
Do năng suất giảm trong thập kỷ gần đây nên sản lượng rau của thế giới đạt cao nhất vào năm 2008 là 249.702.200 tấn, tăng 35.719.020 tấn so với năm 2000, tăng 109.345.500 tấn so với năm 1990 và 164.104.960 tấn so với năm 1980 Năm 2010 sản lượng rau chỉ còn 240.177.290 tấn, giảm 9.524.910 tấn so với năm 2008
Bảng 1.2 Tình hình sản xuất rau của các châu lục năm 2010
Trang 23Mặc dù Châu Á có diện tích trồng rau lớn nhất thế giới nhưng năng suất rau đứng hàng thứ 3 trong các châu lục Năm 2010 năng suất rau của Châu Á đạt 145,54 tạ/ha, cao hơn năng suất trung bình của thế giới là 12,66 tạ/ha Châu Âu có năng suất rau cao nhất thế giới (168,03 tạ/ha), cao hơn năng suất trung bình của thế giới là 35,15 tạ/ha và cao hơn năng suất rau của Châu Á là 22,49 tạ/ha Châu Phi có năng suất rau thấp nhất thế giới, chỉ đạt 61,39 tạ/ha, bằng 46,2% năng suất rau của thế giới, 42,18% năng suất rau của Châu Á
Do có diện tích trồng rau lớn nên sản lượng rau của Châu Á cao nhất là 205.368.870 tấn, chiếm 85,51% sản lượng rau của thế giới Châu Phi có sản lượng rau đứng thứ 2 là 16.867.030 tấn, chiếm 7,02% sản lượng rau của thế giới, bằng 8,21% sản lượng rau của Châu Á Châu Đại Dương mặc dù có năng suất rau cao thứ
2 thế giới nhưng do diện tích gieo trồng ít nên sản lượng thấp nhất là 551.130 ha, chỉ bằng 0,23% sản lượng rau của thế giới, bằng 0,27% sản lượng rau của Châu Á
Vùng Đông Nam Á có diện tích trồng rau khá lớn, năm 2010 toàn vùng trồng được 1.812.370 ha, bằng 12,84% diện tích rau của châu Á, bằng 10,03% diện tích rau của thế giới Năng suất rau của vùng cũng xấp xỉ năng suất bình quân của thế giới, đạt 130,3 tạ.ha, sản lượng đạt 23.615.180 tấn (chiếm 11,5% sản lượng rau của châu
Á, 9,83% sản lượng rau của thế giới)
Ấn Độ là quốc gia có sản lượng rau lớn thứ 2 thế giới, chỉ sau Trung Quốc, sản lượng rau của Ấn Độ chiếm 15% sản lượng rau toàn thế giới đạt 71 triệu tấn, diện tích trồng rau chiếm 6,2 triệu ha, chiếm 3% diện tích trồng trọt của Ấn Độ
Năm 1993, Ấn Độ xuất khẩu 68,500 tấn rau đã qua chế biến Và kể từ đó đến nay, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu rau đạt trung bình 25% và lượng xuất khẩu đạt 16% Trong đó, lượng xuất khẩu hành chiếm 93% tổng khối lượng xuất khẩu rau tươi của Ấn Độ Ngoài ra Ấn Độ còn xuất khẩu một số các sản phẩm rau tươi khác như: khoai tây, cà chua, đậu, cà rốt, ớt…Các thị trường nhập khẩu rau tươi chủ yếu của Ấn Độ là các quốc gia vùng vịnh, Anh, Sri Lanka, Malaysia và Singapo Mặc dù, đứng thứ 2 thế giới về sản lượng rau tươi nhưng sản lượng trung bình của các loại rau Ấn Độ còn thấp hơn so với các nước khác trên thế giới Hiện tại ở Ấn Độ, nguyên liệu rau tươi không đủ để cung cấp cho các nhà máy chế biến
Các loại rau như: khoai tây, cà chua, hành, bắp cải và súp lơ có tổng khối lượng chiếm khoảng 60% sản lượng rau của Ấn Độ Rau tươi của Ấn Độ hiện được trồng phổ biến trên đồng ruộng, trái ngược với các quốc gia phát triển, hiện tại ở các quốc gia phát triển họ đang sử dụng kỹ thuật trồng rau trong nhà, kỹ thuật này sẽ giúp cho sản lượng rau đạt kết quả cao hơn nhiều Ngành sản xuất rau tươi của Ấn Độ đang đề
Trang 24nghị chính phủ giúp đỡ nguồn nguyên liệu trồng trọt có chất lượng tốt, giảm sử dụng hạt giống cây lai, nâng cao trình độ quản lý và trình độ kỹ thuật để tăng sản lượng rau của Ấn Độ
1.2.2.2 Ti ̀ nh hình sản xuất hoa
Hiện nay, sản xuất hoa trên thế giới đang phát triển một cách mạnh mẽ và trở thành một ngành thương mại cao Sản xuất hoa mang lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế các nước trồng hoa, trong đó có các nước Châu Á Sự phát triển mạnh mẽ và cạnh tranh quyết liệt giữa các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh hoa, đã thúc đẩy việc
mở rộng diện tích trồng, năng suất, chất lượng sản phẩm không ngừng được tăng lên, đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng và nâng cao thu nhập cho doanh nghiệp
Toàn cầu có 300.000 ha sản xuất hoa, phân bố trên 27 nước chủ yếu EU chia sẻ 12%, trong khi các nước châu Á và Thái Bình Dương chiếm 70% diện tích này, trong
đó Trung Quốc 40% (EC, 2006), (120.000 ha, theo People’s Daily Online, 2001) và
Ấn Độ 15% (45.000 ha, theo AIC, 2006) Nhật Bản, Thái Lan và Đài Loan là những nước sản xuất hoa quan trọng ở vùng này với tổng diện tích chiếm 10% Mỹ (7%), Mexico (5%), Brazil (2%) và Colombia (2%) là các nước sản xuất hoa chủ yếu ở châu Mỹ, chiếm tổng số 16% diện tích hoa của thế giới (EC, 2006) [20]
Giá trị xuất nhập khẩu hoa và cây cảnh của thế giới tăng hàng năm Năm 1996
là 7,5 tỷ USD, trong đó thị trường hoa Hà Lan chiếm gần 50% Sau đó đến các nước Colombia, Italia, Đan Mạch, Mỹ, Bỉ, Israel,…mỗi nước trên 100 triệu đô la, tỷ lệ tăng hàng năm 10% [20]
Đức và Mỹ là hai quốc gia chiếm 50% thị trường nhập khẩu hoa với các loại hoa phổ biến là Cẩm chướng, Cúc, Hồng, Layơn, Lan,…
Hà Lan là nước xuất khẩu hoa lớn nhất thế giới, chiếm 64,8% thị trường, trong
đó các loại hoa nổi tiếng xuất khẩu là Lily, Hồng, Layơn, đồng tiền, Cẩm chướng Sản xuất hoa trên thế giới tiếp tục phát triển mạnh ở các nước Châu Á, Châu Phi
và Châu Mỹ Hướng sản xuất hoa trên thế giới là tăng năng suất hoa, giảm chi phí lao động, giảm giá thành Mục tiêu cần hướng tới là sản xuất giống hoa chất lượng cao, giá thành hạ [11]
Hoa Lily loại hoa đẹp, hiện đang là một trong 6 loại hoa cắt cành phổ biến và có giá trị nhất (Hồng, Cúc, Layơn, Đồng tiền, Lily, Cẩm chướng)
Tuy Lily là một loại hoa mới được phát triển gần đây, nhưng ngoài vẻ đẹp quyến rũ chúng lại có hương thơm thanh nhã Vì vậy, Lily là một trong những loại
Trang 25hoa được ưa chuộng nhất trên thế giới, đây cũng là loài hoa rất được ưa chuộng trên thị trường hiện nay
Theo số liệu thống kê của FAO, 1998, hiện nay ở Hà Lan mỗi năm trồng 18.000
ha hoa Lily, trong đó xuất khẩu 70%
Nhật Bản là nước có truyền thống dùng hoa cắm và cũng là nước tiêu thụ và nhập khẩu hoa lớn nhất Châu Á (mỗi năm khoảng 500 triệu USD) [12]
Hàn Quốc là một trong những nước phát triển mạnh nghề trồng hoa, lượng hoa xuất khẩu của Hàn Quốc lớn nhất khu vực Đông Bắc Á Theo thống kê, năm 2002 Hàn Quốc có 15.000 ha trồng hoa với 1,2 vạn người tham gia, trị giá sản lượng đạt
700 triệu Đô la Trong đó Lily là loại hoa mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất trong các loại hoa ở Hàn Quốc
Kenia là nước sản xuất hoa chủ yếu của Châu Phi và là nước xuất khẩu hoa tươi lớn nhất châu lục này Hiện nay Kenia có tới 3 vạn nông trường với hơn 2 triệu người trồng hoa chủ yếu là hoa cẩm chướng, Lily và hoa Hồng Mỗi năm nước này xuất khẩu sang Châu Âu trị giá sản phẩm 65 triệu Đô la, trong đó Lily chiếm 35%, Cẩm chướng chiếm 20%
Công nghệ sản xuất hoa Lily cắt cành ở Đài Loan rất tiên tiến, trình độ còn cao hơn Hàn Quốc, chỉ kém Nhật Bản Năm 2001 Đài Loan đã có 490 ha trồng Lily, trong đó Lily cắt cành xuất khẩu đạt 8,4 triệu đô la
Hà Lan là nước có công nghệ tạo giống và trồng Lily tiên tiến nhất hiện nay mỗi năm Hà Lan tạo ra 15 – 20 giống mới, sản xuất 1.315 triệu củ giống Lily, cung cấp cho 35 nước khác nhau trên toàn thế giới
Ngoài những nước kể trên còn có nhiều nước trồng Lily khác như: Ý, Đức, Colombia, Mehico, Israel,…
1.2.2.3 Ti ̀ nh hình sản xuất cây ăn quả
Theo thống kê, trên thế giới hiện nay có 180 loại trái cây được giao dịch với sản lượng hàng năm đạt trung bình 370 triệu tấn Trong đó, sản lượng trái cây có múi chiếm tới 20% Được biết, ngoài lượng đáng kể trái cây tươi được giao dịch thì có một lượng trái cây nhất định được sử dụng làm nguyên liệu đầu vào cho việc chế biến
ra các sản phẩm khác như: nước ép trái cây, nước trái cây đóng hộp, trái cây sấy khô, các loại mứt trái cây,… Trong năm 2006, tổng giá trị thương mại các sản phẩm từ trái cây trên toàn thế giới đạt 9.200 triệu USD
Hiện nay, Ấn Độ đang là nước sản xuất trái cây hàng đầu thế giới với sản lượng hàng năm đạt 32 triệu tấn, chiếm 8% sản lượng trái cây trên toàn thế giới Điều kiện
Trang 26địa lý và khí hậu thuận lợi giúp Ấn Độ có thể trồng rất nhiều loại trái cây và rau khác nhau Theo thống kê của Hội đồng thẩm định và dự báo thông tin kỹ thuật (TIFAC),
Ấn Độ hiện đang có 8 sản phẩm quả nổi tiếng trên thế giới là: xoài, chuối, quýt, táo,
ổi, đu đủ, dứa và nho [26]
Hàng năm, tốc độ tăng trưởng sản lượng trái cây của Ấn Độ đạt trung bình 3,9% Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng của ngành chế biến trái cây là 20% Cá biệt, tốc độ tăng trưởng của ngành chế biến rau quả sấy khô và rau quả đông lạnh lên tới 24%/năm và 121%/năm Hiện nay, Sản lượng trái cây hiện tại của Ấn Độ có tỷ lệ tăng trưởng hang năm đạt 3,9%, bên cạnh đó ngành công nghiệp chế biến trái cây có tốc độ tăng trưởng đạt 20%/năm, đặc biệt chế biến rau quả đông lạnh và rau quả sấy khô có tỷ lệ tăng trưởng cao và đạt lần lượt 121%/năm và 24%/năm Ở Ấn Độ hiện tại có tới 4.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến quả với công suất chế biến đạt 12.000 tấn Với công suất chế biến này, lượng quả của các nhà mày này chiếm khoảng 4% tổng sản lượng rau quả của Ấn Độ Theo ước tính, có tới 20% sản phẩm chế biến từ quả được phục vụ cho xuất khẩu và xoài là mặt hàng xuất khẩu chính của Ấn Độ, chiếm tới 50% sản lượng xuất khẩu rau quả của Ấn Độ [26]
Mặc dù là quốc gia có sản lượng trái cây lớn nhất trên thế giới nhưng sản lượng trái cây tính trên đầu người của Ấn Độ chỉ đạt 100g/ngày Do có tới 20 – 22% tổng sản lượng trái cây bị hỏng trong quá trình thu hoạch do kỹ thuật thu hoạch chưa tốt, nên sản lượng trái cây trên một đầu người của Ấn Độ trong thời gian tới sẽ còn giảm xuống, xuống tới 80 g/ngày [26]
1.3 Tình hình nghiên cứu phát triển vùng sản xuất chuyên canh và tình hình sản xuất một số chủng loại rau, hoa, quả có giá trị hàng hóa cao ở Việt Nam
1.3.1 Ti ̀nh hình nghiên cứu phát triển vùng sản xuất chuyên canh về một số chủng loại rau, hoa, quả tại Việt Nam
Trong lịch sử, nông nghiệp thường gắn với vùng nông thôn rộng lớn Nói đến nông nghiệp là nói đến nông thôn và ngược lại Các đô thị ra đời đã kéo theo sự hình thành loại hình nông nghiệp mới của nhân loại đó là nông nghiệp đô thị Các đô thị ở nhiều quốc gia trên thế giới đã chú ý đến nông nghiệp đô thị từ rất sớm và họ cũng đã đạt được nhiều thành công trong việc phát triển loại hình nông nghiệp này
Những năm gần đây, dưới tác động của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá, sức ép của các vấn đề dân số, lương thực, thực phẩm, việc làm, thu nhập, môi trường Đã khiến nông nghiệp ở các đô thị nước ta có những thay đổi nhất định: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp, người dân không tập trung phát triển chuyên sâu, sản xuất manh mún, xen ghép, người dân không tìm được hướng phát triển sản xuất
Trang 27nhất định nhằm phát huy lợi thế của vùng mà sản xuất theo nhu cầu tự phát của thị trường,… vì vậy đã dẫn đến tình trạng có những thời điểm thì thừa sản phẩm, nhưng có những thời điểm sản phẩm sản xuất ra không đáp ứng hết nhu cầu của thị trường
Nông nghiệp ngoại thị (Ngoại ô) là bộ phận quan trọng của nông nghiệp đô thị hiện nay Chúng có diện tích canh tác rộng lớn, việc quy hoạch phát triển dễ dàng, hình thành các vùng chuyên canh, các vành đai nông nghiệp, tạo việc làm ổn định và tăng thu nhập cho người dân ven đô đang phải chịu những sức ép về giá cả thị trường của người dân nội đô
Thủ đô Hà Nội (cũ) có vùng hoa tập trung ở Nhật Tân, Tây Tựu (Từ Liêm), vùng rau an toàn Yên Mỹ, Duyên Hà (Thanh Trì); Đặng Xá, Văn Đức (Gia Lâm); Vân Nội, Nam Hồng (Đồng Anh); Thanh Xuân (Sóc Sơn); vùng cây ăn quả đặc sản: cam Canh, bưởi Diễn, hồng xiêm Xuân Đỉnh; vùng nuôi bò chất lượng cao ở Sóc Sơn, Gia Lâm; các vùng trũng thuộc Thanh Trì, Gia Lâm, Đông Anh nuôi thuỷ sản Những vùng sản xuất này đang dần bị thu hẹp bởi quá trình đô thị hóa và sức ép về giá cả đất đai
Khu vực giáp ranh các đô thị, sản xuất nông nghiệp cũng đang chuyển dần theo hướng nông nghiệp hàng hóa Theo khảo sát cho thấy, các vùng sản xuất nông nghiệp cận kề Hà Nội (cũ) thuộc các tỉnh Hà Tây, Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Bắc Ninh, Hưng Yên, Thái Nguyên, Bắc Giang đang có những chuyển dịch theo hướng sản xuất chuyên canh, thực phẩm an toàn, chất lượng cao để cung cấp nhu cầu tiêu dùng của người dân Thủ đô Hà Nội Thực tế này cũng đang diễn ra tại một số vùng sản xuất nông nghiệp xung quanh TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Thanh Hóa,…
Nghiên cứu của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (Jica) tại báo cáo Chương trình Phát triển Đô thị Tổng thể Thủ đô Hà Nội (HAIDEP) đã nêu ra những định hướng chiến lược lớn cho phát triển tổng thể Hà Nội đến năm 2020, tầm nhìn 2030
Vành đai xanh có không gian đủ rộng để phát triển một mô hình nông nghiệp hiện đại, sản xuất ra những sản phẩm có giá trị cao như cây, con giống chất lượng cao; bò sữa, thủy sản, rau an toàn, cá sấu, cá kiểng, hoa, cây cảnh với chất lượng đồng bộ, năng suất cao, công nghệ sau thu hoạch hiện đại bao gồm vận chuyển, phơi sấy, bảo quản, sơ chế Vành đai xanh có khả năng khắc phục hầu hết những hạn chế phát sinh trong quá trình đô thị hoá: Nông dân mất đất trở thành thất nghiệp, môi trường thiên nhiên
bị khai thác triệt để dẫn đến suy thoái Nó còn tạo ra một động lực mới khi chuyển đổi thành mô hình sản xuất nông nghiệp hiện đại Theo tính toán, để phát triển Vành đai xanh đạt tới mô hình nông nghiệp hiện đại thì cần thiết chuyển đổi hàng triệu nông dân trở thành thành viên của hàng chục ngàn xí nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp sản xuất nông nghiệp mới có quy mô từ 10 -100 ha mỗi đơn vị,…
Trang 28* Để nông nghiệp đô thị và ngoại thị (vùng phụ cận thành phố) thực sự là động lực để phát triển bền vững đô thị cần phải:
- Tiếp tục nhận thức đúng đắn hơn về Nông nghiệp đô thị Trước kia, do quan niệm đô thị là nơi tập trung dân cư, hoạt động công nghiệp dịch vụ là chủ yếu, hoạt động nông nghiệp là thứ yếu, với tỷ lệ cụ thể khác nhau Chính do khái niệm này nên trong hàng trăm năm qua, các công trình quy hoạch xây dựng đô thị trên thế giới, hầu hết chỉ tập trung vào quy hoạch phát triển công nghiệp và dịch vụ, chưa có quy hoạch
về phát triển nông nghiệp đô thị Đó là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng các đô thị phát triển không đồng bộ, gây ra những mất cân đối trong các hoạt động kinh tế xã hội, trong sản xuất và đời sống ở các đô thị
- Cần phải có quy hoạch không gian, ổn định địa bàn sản xuất nông nghiệp đô thị phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của đô thị Nông nghiệp đô thị nói chung có địa bàn sản xuất không ổn định
- Lựa chọn khâu đột phá trong phát triển nông nghiệp đô thị và ngoại thị Nông nghiệp phải cung cấp những dịch vụ và sản phẩm an toàn, cao cấp và phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của người dân nội đô Trong điều kiện quỹ đất hẹp, lao động dư thừa, nguồn lực tự nhiên phong phú, thì khâu đột phá quan trọng nhất để phát triển nông nghiệp đô thị chính là ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp để nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm Các lĩnh vực cần được ưu tiên
là sản xuất giống cây, vật nuôi, lựa chọn kỹ thuật canh tác phù hợp, bảo quản và chế biến nông sản, ứng dụng công nghệ thông tin trong xúc tiến thương mại, quản lý giống, dịch bệnh
1.3.1.1 Ti ̀ nh hình nghiên cứu phát triển một số vùng sản xuất rau chuyên canh
Tác giả Tạ Thu Cúc [5] cho biết, nước ta có lịch sử trồng rau từ lâu đời, ngay từ đời vua Hùng, người ta đã phát hiện thấy bầu, bí được trồng trong vườn gia đình Theo sổ sách ghi chép cây rau được nhập vào nước ta từ thế kỷ thứ X Thế kỷ thứ XVIII Lê Quý Đôn đã tổng kết các vùng phân bố rau trong cả nước Vào giữa thế kỷ thứ XVIII đến thế
kỷ thứ IXX nhân dân ta đã biết trồng cải trắng và cải bẹ đông dư, cuối thế kỷ thứ IXX trồng được rất nhiều các loại rau có nguồn gốc từ Châu Âu như cải bắp, su hào, súp lơ,
cà rốt, hành tây… thế kỷ thứ XX các vùng trồng chuyên canh rau đã được hình thành và phát triển Mặc dù nghề trồng rau ở nước ta ra đời từ rất sớm, trước cả nghề trồng lúa nước nhưng sản xuất rau còn manh mún, các chủng loại rau còn nghèo nàn, diện tích và sản lượng rau thấp so với tiềm năng đất đai, khí hậu Việt Nam
Đánh giá về thực trạng sản xuất rau nước ta trong thời gian qua, nhiều tác giả nhận định, sản xuất rau ở nước ta hiện nay đã có bước phát triển đáng kể về diện tích
Trang 29và đa dạng về chủng loại, nhưng bên cạnh đó năng suất và sản lượng rau còn thấp, quy
mô phân tán, chất lượng không ổn định, phần lớn rau không đủ tiêu chuẩn xuất khẩu tươi và chế biến công nghiệp Lý do chất lượng rau không đảm bảo là, thiếu cải tiến kỹ thuật canh tác, chủ yếu thiên về năng suất chưa chú trọng đến chất lượng sản phẩm, việc quản lý về kiểm định chất lượng còn kém cho nên rau tươi ở Việt Nam chưa bảo đảm an toàn cho người sử dụng, dẫn đến xuất khẩu rau còn quá ít, khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế kém Rau quả của nước ta tuy đa dạng và phong phú, nhưng sản xuất chưa gắn với thị trường, chất lượng thấp, bao bì mẫu mã chưa thích hợp, thị trường rau còn đơn điệu và nghèo nàn Hiện Việt Nam có trên 40 nước là thị trường để xuất khẩu nhưng chúng ta lại không có đủ điều kiện, mới chỉ xuất khẩu được khoảng 3% sản lượng Rau ở nước ta không thể cạnh tranh được với thị trường quốc tế mà ngay cả trong nước, rau tươi của ta cũng đang bị các sản phẩm nhập khẩu lấn át
Rau là cây trồng quan trọng trong ngành trồng trọt, được trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau với lợi thế là thời gian sinh trưởng ngắn và có thể trồng được nhiều vụ trong năm, do vậy rau được coi là cây trồng chủ lực trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, xoá đói giảm nghèo cho nông dân Việt Nam Mặt khác, rau
có đặc điểm là kích thước nhỏ nên cây rau rất thích hợp trồng xen hay gối vụ với những cây trồng khác, như vậy trồng rau sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng đất Trồng rau có hiệu quả hơn so với các cây trồng khác về khả năng khai thác năng suất/một đơn vị diện tích/một đơn vị thời gian, vì chúng có đặc điểm sinh trưởng và phát triển nhanh trong một thời gian ngắn
Tác giả Trần Khắc Thi [15] cho biết, hiệu quả kinh tế của sản xuất rau cũng cao hơn so với nhiều loại cây trồng khác Giá trị sản xuất 1 ha rau gấp 2-3 lần so với cây lúa Theo số liệu điều tra của Nguyễn Tiến Mạnh năm 1999, ở tp Hà Nội và 3 tỉnh Hà Tây, Nam Định và Thái Bình tổng thu nhập trên 1 ha lúa là 3.830.000 đồng, ngô là 3.333.000 đồng, khoai tây là 15.641.000 đồng, cải bắp là 11.743.000 đồng và dưa chuột là 23.532.000 đồng So sánh hiệu quả kinh tế giữa công thức luân canh ở đồng bằng sông Hồng tác giả cho biết tổng thu nhập trên đất chuyên canh cao hơn 2 lần so với trên đất 1 lúa - 2 màu và cao hơn 3 lần so với 2 lúa - 1 màu
Kết quả điều tra của Tô Thị Thu Hà và Nguyên Văn Hiền (2005)[9], tại vùng ven đô Hà Nội thu nhập của việc trồng rau cao gấp 4 lần so với các cây lương thực, trong khi chi phí chỉ gấp 2 lần, điều này dẫn đến lãi thuần của cây rau cao hơn 14 lần
so với cây lương thực
Trang 301.3.1.2 Tình hình nghiên cứu về một số vùng chuyên canh hoa
* Hoa lily: Hoa Lily mới được đưa vào trồng ở Việt Nam từ năm 2003 do vậy
việc nghiên cứu, tìm hiểu về đặc điểm nông sinh học, đặc tính sinh lý, sinh thái, kỹ thuật sản xuất,… được các nhà khoa học nông nghiệp Việt Nam rất quan tâm Năm
2006, Bộ NN&PT Nông thôn đã cho ra đời Quy phạm khảo nghiệm giống 10 TCN
1013 trong đó quy định cụ thể các tiêu chí khảo nghiệm, đánh giá các giống hoa Lily được nhập nội vào Việt Nam Hàng loạt cơ sở nghiên cứu khoa học trên cả nước tiến
hành nghiên cứu công nghệ sản xuất, nhân giống hoa Lily:
Bộ môn Hoa Cây cảnh thuộc Viện Rau hoa quả - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đã đưa một số giống hoa Lily Sorbone, Tiber, Acapulo, Yellow,… vào nghiên cứu khảo nghiệm tại Hà Nội và Bắc Ninh đến nay đã phát triển ra hàng chục
Ha Trong quá trình nghiên cứu TS Đặng Văn Đông và cộng sự cho rằng: trong sản xuất hoa Lily không cần phải lựa chọn công nghệ trồng của Hà Lan vì điều kiện của chúng ta chưa theo kịp, nên lựa chọn công nghệ của Trung Quốc cũng có thể sản xuất
tốt loại hoa này
Đề tài nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ sản xuất hoa Lily tại thành phố Thái Nguyên do Thạc sĩ Bùi Bảo Hoàn làm chủ nhiệm, đã khẳng định một số biện pháp kỹ thuật chăm sóc, kỹ thuật sử dụng phân bón vi sinh, phân Vạn Niên Hồng cho các giai đoạn sinh trưởng của Hoa Lily sẽ cho chất lượng hoa tốt, kéo dài độ bền hoa
tự nhiên và hoa cắt cắm, màu sắc và hương thơm đậm đà hơn
Đề tài nghiên cứu ứng dụng công nghệ cao, xây dựng mô hình trồng và nhân giống hoa Lily tại Cao nguyên Mộc Châu” của Trung tâm ứng dụng chuyển giao tiến
bộ KH&CN tỉnh Sơn La và Đề tài: "Nghiên cứu một số biện pháp kĩ thuật nhằm nâng
cao năng suất chất lượng hoa Lily tại Mộc Châu" do PGS.TS Hoàng Ngọc Thuận, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội trực tiếp nghiên cứu, hướng dẫn, kết hợp với kinh nghiệm thực tiễn trồng thử nghiệm 4 vụ hoa Lily năm 2005 - 2009, thu thập các thông tin về kinh nghiệm trồng hoa Lily ở Việt Nam và trên thế giới, tác giả đã đưa ra
một số biện pháp kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa Lily tại Mộc Châu - Sơn La
Đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh học và khả năng cho năng suất, chất lượng của
một số giống hoa Lily (Lilium Spp), Cẩm chướng (Dianthus caryophyllus L.) trong nhà
có mái che tại thị trấn Bần - tỉnh Hưng Yên Của nhóm tác giả PGS.TS Lê Tất Khương; KS Nguyễn Văn Lam, KS Tạ Thế Hùng, KS Đặng Ngọc Vượng, đã đánh giá khả năng thích nghi của một số giống hoa Lily đối với khí hậu vụ Đông – Xuân ở
Đồng Bằng Sông Hồng
Trang 31Trong các đề tài nghiên cứu nhân giống hoa Lily, đáng lưu ý nhất là đề tài “Ứng dụng phôi vô tính và hạt nhân tạo trong nhân giống cây hoa hồng môn và Lily”- một nhánh của đề tài cấp Nhà nước KC 0419 do PGS-TS Đỗ Năng Vịnh chủ trì Kết quả
đã khẳng định: bằng quá trình phát sinh phôi vô tính gián tiếp từ mô sẹo trên môi trường nuôi cấy lỏng tĩnh, đã thiết lập phương pháp tạo phôi vô tính cây Lily một cách đơn giản và đạt hiệu quả cao
* Hoa Cẩm Chướng: Hoa Cẩm Chướng được Người Pháp đưa vào Việt Nam
trồng từ đầu thế kỷ thứ 19, tại các vùng có khí hậu mát mẻ như Sapa, Đà Lạt Hiện nay
ở Việt Nam Cẩm chướng được xếp vào diện hoa cao cấp, Cẩm chướng đắt hơn hoa cúc, hồng từ 5 – 7 lần, thu hút được nhiều nhà đầu tư vào sản xuất và kinh doanh như vùng hoa Đà Lạt, Công ty Hoa nhiệt đới, Viện Nghiên cứu Rau – Quả Việt Nam,…Đến nay, Cẩm Chướng được trồng hầu hết ở các tỉnh trên cả nước Tuy nhiên chưa có những tổng hợp cụ thể chi tiết về diện tích, sản lượng, năng suất hoa Cẩm Chướng trên toàn quốc, song trong quá trình điều tra, chúng tôi thấy những vùng trồng
hoa Cẩm Chướng lớn nhất cả nước là Đà Lạt – Lâm Đồng; Sapa – Lào Cai
Các cơ quan nghiên cứu chủ yếu về hoa Cẩm Chướng ở Việt Nam là Viện Rau Hoa Quả Hà Nội đã xuất bản cuốn sách Công nghệ mới trồng hoa cho thu nhập cao
do TS, Đặng Văn Đông và PGS.TS Đinh Thế Lộc biên soạn Một số công ty sản xuất liên kết với Trung Quốc, nghiên cứu trồng Cẩm Chướng ở các vùng có khí hậu mát
mẻ thuộc một số tỉnh miền núi phía Bắc
1.3.1.3 Tình hình nghiên cứu về một số vùng chuyên canh quả
Cây ăn quả là loại cây trồng cạn, có tính chịu hạn cao, không kén đất, với khả năng này nó tận dụng được đất đai không thể trồng được cây lương thực, với kỹ thuật canh tác trên đất dốc, cây ăn quả có thể trụ lại và phát triển bình thường, sau thời kỳ kiến thiết cơ bản (thường từ 3 - 4 năm) đến thời kỳ sản xuất kinh doanh, thời kì này thường kéo dài tới vài chục năm
- Theo Vũ Công Hậu [10]: Trước hết phải khẳng định trồng cây ăn quả có HQKT lớn hơn so với trồng nhiều cây khác Một số công trình điều tra cho thấy hiện nay thu nhập về cây ăn trái gấp 2 - 4 lần so với lúa trên cùng một đơn vị diện tích Chính nhờ quả bán được giá cao phong trào trồng cây ăn trái đang lên mạnh và xu hướng này còn có thể kéo dài khi tình hình kinh tế ngày càng được cải thiện, vấn đề
an toàn lương thực đã được đảm bảo Nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên đất dốc
ở huyện Văn Yên - Yên Bái các tác giả: Phạm Chí Thành, Lê Thanh Hà, Phạm Tấn Dũng (1996) [14] đã kết luận: hệ thống CAQ trong đó cây trồng chính là mơ và hồng
Trang 32phát triển thuận lợi ở vùng thung lũng đồi nam Văn Yên cho lãi với cây mơ 41 triệu đồng/ha/năm Cây hồng (giống Bảo lương) cho lãi 16 triệu đồng/ha/năm
- Nghiên cứu về hiệu quả kinh tế cây ăn quả trên đất vườn đồi, các tác giả: Trần Thế Tục, Vũ Mạnh Hải, Đỗ Đình Ca (1995) [18] đã kết luận: “Các tỉnh trồng nhiều cam quýt là các tỉnh vùng đồng bằng Sông Cửu Long: Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, Đồng Tháp chiếm 88% diện tích và sản lượng của vùng Trong các loại cây trồng thì quýt cho hiệu quả kinh tế cao nhất, lãi thuần 82,4 triệu đồng /ha/năm; Cam lãi thuần 54,6 triệu đồng/ha/năm”
- Theo Vũ Mạnh Hải -Trần Thế Tục [18], vùng khu 04 cũ: Vùng Phủ Quỳ là vùng có tiềm năng lớn về cam quýt, có nhiều điển hình đạt năng suất cao Trong số các loại cây trồng ở vùng này như cà phê, chè, cao su, cam thì cam cho hiệu quả kinh
- Hiệu quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Thanh Hà - Hải Dương cho thấy: Thanh
Hà có 2000ha vải thiều ước tính thu được 7000 - 8000 tấn quả/ năm thu được 81 tỷ đồng trong khi đó cấy gần 7000ha lúa năng suất bình quân 50 tạ/ ha, sản lượng đạt 35.000 tấn thóc, giá bán 1.500đ/kg, giá trị sản lượng của thóc hơn 52 tỷ đồng Như vậy, giá trị 01 ha trồng vải gấp 6,7 lần trồng lúa [17]
Ngoại thành và vùng phụ cận Hà Nội chịu sự tác động mạnh mẽ của kinh tế đô thị, có thể nói đây là vùng chuyển tiếp giữa kinh tế thành thị và nông thôn Đó là một nền nông nghiệp đô thị Đất ít người đông, bình quân diện tích trên đầu người thấp và đang có xu hướng ngày càng giảm, đặc biệt là đất nông nghiệp Khí hậu của vùng có đặc điểm của khí hậu Bắc Việt Nam đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa đông lạnh
và ít mưa, mùa hè nóng và mưa nhiều, cho phép phát triển nhiều loại cây ăn quả nhiệt đới và á nhiệt đới Nhưng kiểu khí hậu này cũng gây nhiều khó khăn cho sản xuất cây
ăn quả như khô, lạnh, thiếu nước vào mùa đông, ngập úng, đổ, gãy, rụng quả, hoa vào mùa hè đòi hỏi trong sản xuất cây ăn quả phải có các biện pháp canh tác, các giải pháp kỹ thuật nhằm hạn chế các tác hại, phát huy các mặt lợi của khí hậu, thời tiết để phát triển cây ăn quả
Lao động dồi dào, song ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá nhất là đất nông nghiệp ngày càng giảm tạo nên sức ép về việc làm ngày càng lớn và gay gắt Ảnh hưởng của đô thị hoá vừa tạo ra cơ hội cho việc chuyển lao động nông thôn làm nông nghiệp sang lao động các ngành khác có nhu cầu lao động cao hơn và đảm bảo nâng
Trang 33cao đời sống cho người dân ngoại thành song cũng là một thách thức về việc làm, đang đặt ra những bức xúc cho thành phố
Ở các vùng nông thôn ngoại thành đã hình thành các trung tâm kinh tế văn hoá của từng vùng, kết cấu hạ tầng ở những trung tâm này khá tốt tương tự như thành thị
Hệ thống kết cấu hạ tầng của vùng phụ cận Hà Nội là thuận lợi cho sự phát triển kinh
tế - xã hội nói chung và cây ăn quả nói riêng Ngoài ra, đây cũng là vùng gần gần nhiều cơ quan khoa học, viện nghiên cứu, trường Đại học và cao đẳng Đây là một hậu thuẫn lớn để nông thôn ngoại thành tiếp cận trực tiếp khoa học công nghệ và khai thác tiềm năng khoa học hiện đại vào sản xuất
Ngoại thành Hà Nội và vùng phụ cận có đặc điểm của khí hậu miền Bắc Việt Nam - khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh, ít mưu và có mùa hè nóng, mưa nhiều Khí hậu Hà Nội cho phép phát triển tập đoàn cây ăn quả phong phú và đa dạng, phân bố khắp trong các địa phương với sự có mặt cả hai nhóm phân theo đới sinh thái là á nhiệt đới và nhiệt đới với đặc điểm sau:
- Tập quán trồng cây ăn quả lâu đời kết hợp với tính đặc thù về các yếu tố sinh thái, trước hết là khí hậu đã hình thành, tồn tại và phát triển nhiều giống cây ăn quả đặc sản, có giá trị, có thể chọn lọc để phát triển ra diện rộng
- Quỹ đất mở rộng diện tích cây ăn quả trong tương lai còn lớn nhưng không ảnh hưởng đến vấn đề sản xuất lương thực Do đại bộ phận là sử dụng đất đồi núi và bãi màu trồng cây ăn quả góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, tạo công việc cho người lao động, cải thiện điều kiện môi trường
- Thị trường tiêu thụ quả Hà Nội còn rộng lớn, ngoài việc sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội địa còn dành cho xuất khẩu, cây ăn quả đặc sản có thể xuất khẩu sang Trung Quốc và một số nước khác góp phần nâng cao thu nhập cho người lao động, ổn định cuộc sống nhân dân trong vùng
Trải qua nhiều năm trồng trọt, nhân dân một số nơi trong vùng tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý báu trong lĩnh vực nghề làm vườn, đó là một yếu tố quan trọng thúc đẩy nền sản xuất cây ăn quả phát triển một cách vững chắc
Bên cạnh những thành tích đã đạt được như trên, vấn đề sản xuất cũng không tránh khỏi một số khó khăn hạn chế như:
Tình trạng sản xuất cây ăn quả của vùng còn manh mún và phân tán, chưa hình thành các vùng sản xuất cây ăn quả tập trung quy mô lớn với các loại cây ăn quả chiến lược Sản xuất cây ăn quả còn chưa được đầu tư và chú trọng đúng mức Diện tích vườn quả còn nhỏ, phân tán, vườn tạp còn nhiều, hiệu quả kinh tế chưa cao
Trang 34Tuy chủng loại cây ăn quả trong vùng tương đối phong phú nhưng chưa xác định rõ chủng loại chiến lược, thiếu sự đầu tư chọn lọc dẫn đến tình trạng thoái hoá một số giống đã và đang có nguy cơ bị mất trong lúc một số nơi có hiện tượng du nhập giống tràn lan, không theo trình tự quy định, dễ tạo ra nguy cơ dịch hại và làm tạp hoá các vườn, các trang trại trồng cây ăn quả hạ tầng cơ sở, trước hết là điều kiện giao thông vận chuyển còn gặp nhiều khó khăn, một số khu vực có trồng cây ăn quả còn chưa có đường đi lại cho phương tiện cơ giới Điều đáng chú ý là đối với một số loại cây ăn quả để hạn chế sự lây lan của sâu bệnh, cần phải chọn nơi có sự cách ly địa lý, thường là vùng xa xôi hẻo lánh Trong tình hình đó, hạ tầng cơ sở kém là trở ngại lớn cho việc phát triển và mở rộng diện tích cây ăn quả
1.3.2 Ti ̀nh hình sản xuất một số chủng loại rau, hoa, quả
1.3.2.1 Tình hình sản xuất một số chủng loại rau
Việt Nam có vị trí địa lý trải dài qua nhiều vĩ độ, khí hậu nhiệt đới gió mùa và
có một số vùng tiểu khí hậu đặc biệt như Sa Pa, Tam Đảo, Đà Lạt…, có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho sản xuất rau Cây rau du nhập vào nước ta từ đầu thế kỷ X Năm 1721 – 1783 Lê Quý Đôn đã tiến hành tổng kết các vùng phân bố rau Năm
1029 nước ta đã tiến hành trồng thử rau cải trắng và khoai tây Tuy nhiên do nền kinh
tế tự túc kéo dài nên nghề trồng rau của nước ta rất manh mún Đến nay, Việt Nam có
thể trồng được trên 120 loại rau có nguồn gốc nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới và cùng với các tiến bộ KHCN các loại rau trái vụ được sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và phục vụ chế biến xuất khẩu Sản xuất rau có xu hướng ngày càng mở rộng về
diện tích và sản lượng tăng đồng thuận
Bảng 1.3 Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam giai đoạn 1980 – 2010
TT Năm Diện tích(ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
Trang 35Số liệu bảng 1.3 cho thấy trong những năm gần đây diện tích trồng rau của nước
ta tăng lên rõ rệt Năm 1980 cả nước trồng được 220.000 ha, năm 1990 là 261.100 ha, tăng 41.100 ha Năm 2000 diện tích trồng rau của nước ta tăng kỷ lục, đạt 452.900 ha, tăng 191.800 ha so với năm 1990, 232.900 ha so với năm 1980 Tuy nhiên 5 năm trở lại đây diện tích trồng rau của nước ta biến động thất thường, năm 2006 cả nước trồng được 536.914 ha, tăng 84.014 ha so với năm 2000, tuy nhiên 2 năm sau diện tích rau bị giảm nhẹ đến năm 2010 diện tích trồng rau mới tăng trở lại đạt 553.500 ha
Về năng suất rau của nước ta có xu hướng biến động gần giống năng suất rau của thế giới Năm 1980 năng suất rau chỉ đạt 98,84 tạ/ha, năm 1990 đạt 112,35 tạ/ha
và năm 2000 năng suất rau đạt cao nhất là 124,36 tạ/ha Giai đoạn 2006 – 2010 năng suất rau biến động thất thường, năm 2008 có năng suất rau thấp nhất là 117,06 tạ/ha, năm 2010 năng suất ra tăng lên được 212,64 tạ/ha nhưng vẫn thấp hơn 1,83 tạ/ha so với năm 2007, thấp hơn 2,72 tạ/ha so với năm 2000
Sản lượng rau của nước ta tăng lên đáng kể qua các giai đoạn Năm 1980 cả nước thu được 2.164.800,0 tấn, năm 1990 là 2.933.458,5 tấn tăng 768.658,5 tấn so với năm 1980 (trung bình tăng 76.865,85 tấn/năm) Năm 2000 sản lượng rau đạt 5.632.264,4, tăng 2.698.805,9 so với năm 1990 (trung bình tăng 269.880,59 tấn/năm), tăng 3467464.4 tấn so với năm 1980 Năm 2010 sản lượng rau của nước ta cao nhất, đạt 6.732.774,0 tấn, tăng 1.100.509,6 tấn so với năm 2000 (trung bình tăng 110.050,96 tấn/năm, thấp hơn giai đoạn 1990 - 2000)
Bảng 1.4 Một số loại rau hàng hoá chủ yếu của Việt Nam
D.tích (ha)
S.lượng (tấn)
D.tích (ha)
S.lượng (tấn)
D.tích (ha)
S.lượng (tấn)
Trang 361.3.2.2 Tình hình sản xuất một số chủng loại hoa
Nghề sản xuất hoa, cây cảnh của Việt Nam có từ lâu đời, nhưng chỉ được coi là một ngành kinh tế và có giá trị hàng hóa từ những năm 1980 Năm 2011, diện tích hoa cây cảnh cả nước có khoảng 16.200 ha, tăng 138,2% so với 2000 Sản xuất hoa đang cho thu nhập cao, bình quân đạt khoảng 70 - 130 triệu đồng/ha nên rất nhiều địa phương trong cả nước đang mở rộng diện tích hoa trên những vùng đất có tiềm năng Một số tỉnh Duyên hải miền Trung cũng bắt đầu phát triển sản xuất hoa cắt cành theo hướng hàng hoá, chủ yếu phục vụ nhu cầu tại chỗ, với chủng loại tương đối hạn chế
Bảng 1.5 Tốc độ phát triển của ngành sản xuất hoa, cây cảnh giai đoạn 2000-2011
Năm
Tổng diện tích (ha) 6.800 11.200 12.600 16.200 Giá trị sản lượng (tr.đ) 950.000 1.960.000 4.410.000 6.800.000 Giá trị thu nhập TB (tr.đ/ha/năm) 140 275 350 420 Mức tăng diện tích so với 2.000 (lần) 1,0 2,1 1,9 2,4 Mức tăng giá trị SL so với 2.000 (lần) 1,0 2,0 4,6 7,2
(Số liệu thống kê và điều tra tổng hợp của Viện nghiên cứu Rau quả năm 2012)
So với năm 2000, diện tích hoa, cây cảnh năm 2011 đã tăng 2,4 lần, giá trị sản lượng đã tăng 7,2 lần (đạt 6.800 tỉ đồng, trong đó xuất nhập khẩu xấp xỉ đạt 50 triệu USD) Mức tăng giá trị thu nhập/ha là 3,0 lần (đã có nhiều mô hình đạt 800 triệu – 2,5 tỉ đồng/ha/năm) Hiệu quả kinh tế này là rất cao, cao hơn các mô hình cây nông nghiệp khác rất nhiều lần Cũng theo kết quả điều tra, nhu cầu hoa, cây cảnh của Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2011 trung bình tăng 9%/ năm Mức độ tiêu dùng hoa, cây cảnh trung bình của người dân đô thị năm 2000 là 25.000 đồng/người/năm thì đến năm 2011 đã tăng lên 52.000 đồng/người/năm Còn ở nông thôn, mức độ tiêu dùng hoa tương ứng chỉ bằng 20% so với đô thị Theo ước tính, có được kết quả trên
là do sự đóng góp của nhân tố xã hội (do thu nhập ngày càng cao, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện), chiếm 40% đầu tư của Nhà nước về cơ sở hạ tầng và
cơ chế chính sách chiếm 15%; sự nỗ lực của người dân là 25% và do đóng góp của khoa học la 20%
Các tỉnh phía Nam, điển hình là Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó có các huyện Hoóc Môn, Bình Chánh, Gò Vấp, Thủ Đức cùng các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long như Tiền Giang, Đồng Tháp là nguồn cung cấp hoa và cây cảnh đáng kể
Trang 37Tuy nhiên, các địa bàn này chỉ sản xuất chủ yếu một số loại hoa nhiệt đới (cúc móng rồng, cúc đại đoá, huệ, mai…) Lượng hoa cắt cành truyền thống (hồng, cúc, cẩm chướng, layơn, đồng tiền) sản xuất còn rất hạn chế và chất lượng chưa thật cao Lâm Đồng với điều kiện khí hậu, đất đai thích hợp để phát triển các loại hoa có thu nhập cao Hiện nay, Lâm Đồng được coi là trung tâm sản xuất hoa cắt cành lớn nhất cả nước, với khả năng sản xuất hầu như quanh năm Diện tích trồng hoa của Lâm Đồng năm 2012 đạt 3.500 ha, chủ yếu tập trung tại TP Đà Lạt, các xã Hiệp Thành, Hiệp An Sản lượng hoa khoảng 1,2 tỉ cành, nghề trồng hoa ở Đà Lạt đang có xu hướng phát triển mạnh cùng với việc áp dụng những công nghệ mới
Đà Lạt cũng đã lập ra Hiệp hội hoa, lan cây cảnh nhưng hầu như về cơ bản vẫn chưa giúp tháo gỡ được các khó khăn về giống, ngăn chặn bệnh dịch, vẫn chưa liên kết được để xây dựng một thương hiệu đủ tầm Chỉ riêng với địa lan, từ 2 năm nay Đà Lạt đã bị mất đi hàng ngàn chậu do căn bệnh thối rễ hiện chưa có thuốc đặc trị
Chủng loại hoa: Các loại hoa được trồng tại Đà Lạt hiện nay rất đa dạng và phong phú, bao gồm nhiều chủng loại khác nhau:
+ Hoa cúc (Chrysanthemum sp): có trên 40 loại, nguồn gốc Indonesia, gồm 3 nhóm: cúc đại hóa màu vàng anh, trắng, tím; các giống nhỏ và cúc nhóm tia có muỗng
+ Hoa hồng (Rosa sp): Có trên 15 loại có nguồn gốc từ Italia, Hà Lan Hoa hồng Đà Lạt to, cành thẳng, bền, thơm, sinh trưởng và phát triển tốt, khả năng kháng bệnh trung bình đến cao Nhược điểm hay bị biến dạng khi nhiệt độ khá cao, hoặc kháng mốc sương kém
+ Cẩm chướng (Dianthus caryophyllus): Gồm 14 loại, có nhiều màu Hoa nhỏ, cành thấp 30 - 40 cm Hoa đơn, cành cao 70 - 80 cm
Ngoài ra Đà Lạt còn sản xuất một số chủng loại hoa khác như layơn (Gladious communis), huệ tây (Lilium longiphorum), gerbera, ngàn sao, chổi cúc, salem, huệ trắng Tiềm năng về hoa ở Đà Lạt đang được chú ý phát triển nhưng nhìn chung vẫn
là phát triển tự phát, chưa có cơ quan nào đứng ra kiểm nghiệm, công bố giống mới
để đưa ra cho dân Việc nhân giống bằng phương pháp cấy mô tế bào đang trở nên thịnh hành nhưng không ai kiểm soát, đánh giá được chất lượng của giống nên có thể nhân ra cả giống đang có mầm bệnh
Các tỉnh phía Bắc, điển hình là Hà Nội và Sơn La Trong đó, Hà Nội được đánh giá
là vùng hoa lớn nhất tại huyện Từ Liêm với diện tích 500 ha thì xã Tây Tựu có 330 ha (chiếm 66% diện tích trồng hoa toàn huyện, chiếm 84,6% diện tích canh tác toàn xã), chủ yếu trồng hoa cúc, hoa hồng, hoa đồng tiền, hoa ly, hoa loa kèn… Ngoài ra, một số huyện ngoại thành khác và một số tỉnh khác như Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hà Tây, Thái Bình,…
Trang 38Vùng hoa Trung du và Miền núi Bắc Bộ: Theo kết quả điều tra, diện tích trồng
hoa toàn vùng có 135,7 ha, sản lượng đạt 44,08 triệu bông; hoa hồng có diện tích (75,0 ha, chiếm 55,27%) và sản lượng lớn nhất (26,53 triệu bông);
Kết quả điều tra cho thấy: các loại hoa, cây cảnh và cây cảnh truyền thống có
xu hướng giảm dần về diện tích (đồng thời cũng giảm dần về cơ cấu) để thay vào đó
là các chủng loại hoa, cây cảnh mới, có giá trị cao hơn (lily, lan, cát tường, tình nhân thảo, salem, hải đường, ) Có sự thay đổi trên là do nhu cầu của người tiêu dùng luôn luôn hướng đến các chủng loại cây cảnh, cây hoa mới lạ, có chất lượng cao (màu sắc,
độ bền, có hương thơm, hình thái bắt mắt, ); do sự hội nhập với bên ngoài nên ngày càng có nhiều các chủng loại hoa, cây cảnh được du nhập vào Việt Nam bằng nhiều con đường khác nhau; hơn nữa, việc hoạt động tích cực của các cơ quan nghiên cứu trong việc thu thập, lai tạo, tuyển chọn các giống hoa, cây cảnh mới và cùng với sự đầu tư của các doanh nghiệp vào sản xuất hoa đã đem lại cho ngành sản xuất hoa hiệu quả kinh tế rất cao trên cùng một đơn vị diện tích [7]
1.3.2.3 Tình hình sản xuất một số chủng loại trái cây
- Nhóm cây có múi: Vùng trồng tập trung ở khu vực Trung du miền núi phía Bắc và Bắc trung bộ, tâm điểm của vùng là các tỉnh Hà Giang và Hàm Yên – Tuyên Quang Các khu bổ trợ khác như: Phú Thọ, Lạng Sơn, Hòa Bình; vùng phía bắc Trung bộ, tập trung chủ yếu là Nghệ An chủ lực là các giống cam chanh; Hà Tĩnh
- Cây vải: chủ yếu ở các tỉnh Bắc Giang, Hải Dương, Thái Nguyên, Quảng Ninh, một phần của tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc
Năm 2008, theo số liệu của tổng cục thống kê, tổng diện tích cây ăn quả Việt Nam là 786.200 ha, trong đó diện tích cây ăn quả các tỉnh phía Bắc là 316.800 ha (đồng bằng sông Hồng: 80.800 ha, Đông Bắc: 145.200 ha, Tây Bắc: 35.500 ha, Bắc Trung Bộ: 55.300 ha), phía Nam là 469.400 ha (DHNTB: 30.5000 ha, Tây Nguyên: 26.900 ha, ĐNB: 121.600 ha và ĐBSCL: 290.400 ha), trong đó phía Nam chiếm 59,7
% diện tích cả nước
Năng suất cây ăn quả của nước ta nhìn chung đã được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây Tuy nhiên năng suất nhiều loại cây ăn quả còn thấp và không ổn định so với bình quân chung của thế giới cũng như một số nước trong khu vực Năm
2009, năng suất cây ăn quả bình quân cả nước ước đạt 10 tấn/ha, tăng trên 40% so với năm 2002 (7 tấn/ha) Tuy nhiên năng suất quả của nước ta vào loại thấp so với khu vực và thế giới: bình quân năng suất cam, bưởi chỉ bằng 55- 60% so với Thái Lan, Ấn Độ; năng suất dứa chỉ bằng 56% so với Thái Lan, 66% so với Trung Quốc, 35% sới Phillippin; năng suất chuối chỉ bằng trên 60% so với Trung Quốc, Ấn Độ…
Trang 39Sản lượng quả cả nước năm 2008 cũng tăng lên nhanh chóng, hiện ước đạt trên 7 triệu tấn, tăng 78% so năm 2002 (4,5 triệu tấn) Trong đó chuối có sản lượng lớn nhất với trên 1,5 triệu tấn (chiếm khoảng 20% tổng sản lượng), tiếp đến là cam quýt, nhãn, dứa, vải và chôm chôm, xoài (mỗi loại trên 500 nghìn tấn), bưởi (trên 300 nghìn tấn)
Tốc độ tăng diện tích cây ăn quả hàng năm giảm dần do nhiều nguyên nhân: diện tích đất trống không còn, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ diện tích các cây hàng năm có hiệu quả kinh tế kém sang cây ăn quả không còn nhiều do sự cạnh tranh lợi nhuận từ nhiều loại cây trồng khác hiện đang có giá cả thuận lợi trên thị trường trong nước (lúa, sắn, ngô, …và nhiều loại cây công nghiệp như cà phê, cao su, tiêu) Ở ĐBSCL, các đê bao khép kín hiện tại cũng là một trở ngại lớn làm giảm đáng kể diện tích trồng cây ăn quả Bên cạnh đó, một số vườn cây
ăn quả đã bị nhiễm dịch hại nặng (vàng lá trên cây có múi) trong nhiều năm và không còn khả năng phòng trị; hoặc nông dân không đủ nguồn vốn và kỹ thuật để đầu tư
Bảng 1.6 Tình hình sản xuất một số loại cây ăn quả Việt Nam (2007 – 2011)
Sản lượng Diện tích
Sản lượng Diện tích
Sản lượng Diện tích
Sản lượng
Dừa 119,3 1034,9 121,1 1095,1 122,2 1143,7 122,2 1162,2 125,9 1188,8 Cây có múi 140,8 1059,2 138,9 1176,3 142,5 1226,1 - - - - Nhãn, vải,
chôm chôm 216,9 1326 204,2 1328 199,1 1178 186,1 1096 187,1 1340,2 Dứa 42,3 519,3 43,2 482,6 39,3 455,8 39,7 512,3 40,6 532,7 Cây ăn quả
khác 283,8 2521 294,6 2728,5 273,1 2727,5 - - - 571,7
Nguồn: Tổng cục Thống kê 2012
Trong giai đoạn từ năm 2007 – 2011 diện tích các loại cây ăn quả có phần bị thu hẹp hơn trong giai đoạn trước, tuy nhiên về sản lượng lại tăng, có thể lý giải diện tích không tăng là do trong giai đoạn trước người dân trồng ồ ạt các loại cây ăn quả mà không có sự định hướng quy hoạch cụ thể dẫn đến tình trạng giá thành của một số loại quả rất thấp; cụ thể diện tích các cây nhãn, vải, chôm chôm giảm từ 216,9 nghìn ha năm 2007 xuống còn 187,1 nghìn ha Diện tích trồng dứa giảm từ 42,3 nghìn ha năm
2007 xuống còn 40,6 nghìn ha; nhưng nếu xét về sản lượng thì lại tăng 13,4 nghìn tấn Điều đó có thể thấy rằng việc áp dụng khoa học kỹ thuật trong trồng trọt đã đem lại năng suất cao hơn rất nhiều lần để giảm diện tích trồng, nhường đất cho việc trồng các
Trang 40CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tươ ̣ng, pha ̣m vi
2.1.1 Đối tượng nghiên cư ́ u: Một số chủng loại rau, hoa, quả có giá trị hàng hóa
cao tại vùng nghiên cứu
2.1.2 Phạm vi nghiên cư ́ u: Một số quận huyện thuộc Hà Nội và vùng phụ cận
(thuộc Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Hưng Yên)
2.2 Nô ̣i dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung 1: Điều tra, đánh giá hiện trạng và khả năng phát triển sản phẩm
nông nghiệp có giá trị hàng hoá cao ở vùng nghiên cứu (Một số quận huyện thuộc Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hòa Bình và Hưng Yên)
Đánh giá về điều kiện tự nhiên khí hậu và tình hình phát triển kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu
Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng sản xuất nông nghiệp và đánh giá khả năng ứng dụng tiến bộ kỹ thuật tại vùng nghiên cứu
Đánh giá tiềm năng, lợi thế so sánh trong phát triển sản xuất một số chủng loại rau hoa quả có giá trị hàng hóa cao và kỹ thuật sơ chế, bảo quản, vận chuyển và tiêu thụ các sản phẩm sau thu hoạch
Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển vùng chuyên canh sản xuất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị tại một số thành phố trên thế giới: Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản,…
Phương pháp nghiên cứu sử dụng trong Nội dung 1:
+ Phương pháp điều tra, đánh giá thông qua bảng hỏi;
+ Phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của người dân;
+ Phương pháp kế thừa: Tập hợp và kế thừa các tư liệu về điều kiện tự nhiên
– kinh tế xã hội, tình hình nghiên cứu và sản xuất của một số chủng loại rau, hoa, quả; các kết quả nghiên cứu đã có trước đây liên quan tớ i nô ̣i dung nghiên cứu, liên quan tới vùng nghiên cứu Dựa trên kết quả thống kê, báo cáo hàng năm của
vùng nghiên cứu
+ Phương pháp chuyên gia: Dựa trên kết quả nhận định đánh giá của chuyên gia
và định hướng phát triển của cơ quan quản lý về vấn đề nghiên cứu
Nội dung 2: Nghiên cứu xác định một số chủng loại rau, hoa, quả có giá
trị hàng hóa cao tại vùng nghiên cứu phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của người dân nội thành Hà Nội
Nghiên cứu nhu cầu về một số sản phẩm rau, hoa quả thiết yếu