Vấn đề đặt ra là phải tìm hiểu hiện trạng tiếp xúc với arsen trong công nhân luyện kim , vì tiếp xúc nghề nghiệp vói arsen nguy cơ bị nhiễm độc không phải là nhỏ.. Xuất phát từ tình hình
Trang 1BỘ Y T ẾTRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
Đ Ả M GIÁ
HÔ HẨP TRONG cô m MHAM luyện kim th ải nguy Im
bề XUẨT THUỐC VÀ BIỆM PHẮP PHÒNG CHốNG
( Khoá luận tốt nghiệp Dược Sĩ Đại Học, 1995 - 2000 )
Người thực hiện : Nguyễn Thị Bích Ngọc
Người hướng dẫn khoa học : PGS TSKH Lê Thành Phước
Thạc sĩ Nguyễn Quốc Thức Nơi thực hiện : Bộ môn Vô cơ - Hoá lý
Viện Y học lao động Thời gian thực hiện : 03/2000 - 05/2000
Hà Nội, 05 - 2000 /* g é ỹ í ị
Trang 2-L ời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến PGS.TSKH Lê Thành Phước người thầy đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khoá luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Thạc sĩ Nguyễn Quốc Thức - Viện y học lao động đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực nghiệm.
Tôi xin chân thành cảm ơn PTS Nguyễn Anh - Phòng kim loại, Trung tâm thí nghiệm địa chất A.E.C đã giúp đỡ tôi tiến hành phương pháp đo phổ hấp thụ nguyên tử.
Tôi cũng xin cảm ơn các thầy các cô trong Bộ môn vô cơ - hoá lý và Viện y học lao động đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành nhiệm vụ.
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Bích Ngọc
Trang 32.4 - Các nghiên cứu về arsen ở Việt Nam trong y học lao động 9
3.3 - Hoá chất, dụng cụ, trang thiết bị 15
3.4.4 - Đánh giá quá trình phân tích mẫu 173.5 - Đường chuẩn định lượng arsen 183.6 - Kết quả đo liều tiếp xúc cá nhân và hàm lượng arsen trong 19không khí
Trang 43.6.2 - Tại phân xưởng tuyển tinh 223.6.3 - Tại phân xưởng luyện thiếc 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5CHÚ GIẢI CHỮ VIẾT TẮT
AAS : Atomic Absorption spectrophotometry - Phổ hấp thụ nguyên tử
GF-AAS : Graphite Furnace Atomic Absorption Spectrophotometry - Phổ hấp thụ nguyên tử không ngọn lửa
HCL : Hollow Cathod Lamp - Đèn catod rỗng,
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
WHO : World Health Organization - Tổ chức Y Tế thế giới
YHLĐ-VSMT: Y học lao động và vệ sinh môi trường
Trang 61 - ĐẶT VÂN ĐỂ
Trong tuần lễ An toàn Vệ sinh lao động (15-21/03/2000), Bộ Y tế, Viện
y học lao động và Vệ sinh môi trường, Viện Bảo hộ lao động cho biết : 3/4
số nhà xưởng ở Việt Nam hiện nay không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh cho
phép Có tới 39% phân xưởng sản xuất bị ô nhiễm bụi, 23% ô nhiễm hơi khí độc .Chỉ riêng năm 1999 đã có 4719 công nhân bị bệnh nghề nghiệp [14] Đến năm 1996, ở Việt Nam đã có 21 bệnh nghề nghiệp được nhà nước công nhận Nhiễm độc arsen là một bệnh nghề nghiệp nguy hiểm nằm trong danh mục đó
Theo thống kê của y tế cơ sở, tỷ lệ nhiễm arsen hàng năm của công
nhân luyện kim là 8%-12% Tỷ lệ công nhân đã từng bị nhiễm độc arsen chiếm từ 25%-30% Vài năm gần đây, ở một số xí nghiệp luyện kim mầu đã xảy ra những trường hợp nhiễm độc cấp tính arsen, có trường hợp tử vong[1 2] Vấn đề đặt ra là phải tìm hiểu hiện trạng tiếp xúc với arsen trong công nhân luyện kim , vì tiếp xúc nghề nghiệp vói arsen nguy cơ bị nhiễm độc không phải là nhỏ
Chính vì tính chất nguy hiểm của arsen là vừa gây ngộ độc cấp, vừa tích luỹ gây ngộ độc mạn mà việc giám sát arsen trong không khí nơi làm việc có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ người lao động
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, chúng tôi tiến hành khoá luận này
với nội dung: Đánh giá liều tiếp xúc cá nhân với arsen qua đường hô hấp
trong công nhân luyện kim Thái Nguyên nhằm xác định mức độ nguy cơ
gây nhiễm độc Từ đó thảo luận về thuốc và biện pháp phòng chống, với hy
vọng góp phần bảo vệ sức khoẻ những người lao động đang trực tiếp sản xuất
Trang 7Tỷ trọng: 5,73
Nhiệt độ nóng chảy: 815°c (dưới áp suất 36 atm)
Nhiệt độ thăng hoa: 610°c
Trong không khí ở điều kiện bình thường, arsen bị oxy hoá thành oxyd,
ở dạng bột nhỏ arsen bốc cháy trong khí clo Với các kim loại kiềm, kiềm thổ, arsen tương tác tạo nên arsenid Arsen không tan trong dung dịch acid hydrocloric nhưng tan trong acid nitric Trong các hợp chất, arsen thể hiện mức oxy hoá +5, +3, -3 như H3A s04 , As20 3, AsH3
♦ Trạng thái thiên nhiên [3],[5],[6]:
Phần lớn arsen trong thiên nhiên gặp trong hợp chất với kim loại hoặc lưu huỳnh, rất hiếm ở trạng thái tự do, hàm lượng arsen trong vỏ Trái đất từ 2-
5 X Ì0A%
Arsen thường được điều chế từ piritarsenic FeAsS Khi đun FeAsS trong không khí thì As203 được tạo thành, sau đó khử chất này bằng than đến arsen
tự do
Trang 8Arsen tồn tại một vài dạng thù hình: dạng không kim loại của arsen (arsen vàng) kém bền; dạng kim loại của arsen ( arsen xám ) có màu trắng bạc, có tính dẫn điện
Than có nồng độ arsen trung bình khoảng 10 mg/kg, một số loại có tới lOOOmg/kg Trong đất không bị ô nhiễm có dưới 40mg arsen/kg, đất bị ô nhiễm có thể lên tới 500mg/kg
Nước chứa ít hơn 0,0 lmg arsen/1, nhưng đã tìm được trong một số mẫu nước ngọt có nồng độ arsen tới lmg/1 Trong nước biển chứa 0,001-0,008mg/l Giói hạn tối đa cho phép nồng độ arsen trong nước là 0,05 mg/1 [1]
Không khí chứa cả hai dạng arsen vô cơ và hữu cơ As203 là dạng chính trong không khí Nồng độ arsen trong không khí khoảng 0 ,5-1 2,3ng/m3
[6] Giới hạn này phụ thuộc vào mức độ thải vào không khí của các
nghành công nghiệp ở từng nước.
Trong thức ăn, nồng độ arsen thường < 0,25mg/kg (trừ đồ biển và phủ tạng của động vật, gia cầm) Trong cây lương thực có thể chứa arsen do sự lắng đọng của arsen trong đất bỏi các nghành công nghiệp hoặc do sử dụng thuốc trừ sâu có chì arsenat Phủ tạng của động vật và gia cầm chứa hàm lượng arsen cao do dùng các chất phụ gia cho ăn thêm Các chất phụ gia này được sử dụng như chất tăng trưởng cho lợn, gà, hoặc với mục đích làm thuốc thú y để chữa ỉa chảy cho lợn Các chất phụ gia được sử dụng có chứa acid arsonilic(4-aminophenylarsonic), acid 3-nitro-4hydroxyphenyl arsonic và acid 4-nitrophenylarsonic Nồng độ arsen trong gan, thận của lợn và gia cầm thường trên lmg/kg,thậm chí tới lOmg/kg nếu những chất phụ gia có chứa arsen không được ngưng dùng một thời gian trước khi chúng bị giết thịt
Nồng độ arsen trong cá, tôm, cua, sò, hến thường lớn hơn 5mg/kg,đôi khi tới 30mg/kg vói 5% là dạng arsen vô cơ Trong khi đó, đồ uống có hàm
Trang 9lượng arsen thấp, trong rượu chỉ có 0,lmg/l, rượu whisky chứa 0,4mg/l với toàn bộ là dạng arsen vô cơ [6].
♦ Các đường xâm nhập của arsen vào cơ thể[2],[6]:
- Nước: trung bình lượng nước tiêu thụ 1,5 lít/ngày với mỗi người thì lượng arsen đưa vào cơ thể khoảng 0,015 mg/ngày hoặc ít hơn, phần lớn là dạng arsen vô cơ Với những người uống hơn 2 lít nước mỗi ngày thì lượng arsen có thể cao hơn Một số nước khoáng có chứa tói 0,2 mg arsen /lít thì với những người hay uống loại nước này sẽ đưa vào cơ thể khoảng 0 , 2 mg arsen mỗi ngày
- Thức ăn: Là nguồn arsen chính được đưa vào cơ thể như thịt, cá, rau quả có sử dụng thuốc trừ sâu có arsen, lượng arsen có thể tới 0 , 1 mg/ngày nhưng dạng hoá học của arsen này chưa rõ Vói những người hay ăn cá (0,2
kg cá /ngày) thì lượng arsen từ cá đưa vào cơ thể là 1 mg/ngày
- Không khí: Mỗi người hít vào khoảng 20 nr* không khí mỗi ngày, lượng arsen đưa vào cơ thể có thể vượt quá 0,00024 mg/ngày ( 0,24 ỊUg/ngày) nơi gần lò nung quặng có thể tới 0,0006 mg/ngày (0 , 6 |ug/ngày) (số liệu của Anh)[5]
Phần lớn lượng arsen hít vào là dạng As20 3, ước lượng với những ngưòi hút thuốc lá thì lượng arsen đưa vào cơ thể là 0,02 mg/ngày (WHO, 1981) nhưng dạng arsen trong khói thuốc thì chưa rõ Vói những người hít vào cơ thể lượng arsen trong thời gian dài chủ yếu là As203 thì sẽ tăng tác động tới bệnh ung thư phổi
♦ Các hợp chất Arsen hay được sử dụng trong công nghiệp[l 1]:
- Arsen trioxyd (As20 3) là bột kết tinh hoặc vô định hình, chứa 76% As Đây là nguyên liệu cho mọi hợp chất arsen As203 được dùng để sản xuất thuỷ tinh, nhồi xác động vật, dùng làm thuốc diệt côn trùng
Trang 10- Arsen clorid(A sơ3) là dung dịch dầu, vàng nhạt, chứa 76%As, hoà tan trong nước để tạo thành arsen trioxyd và acid hydrocloric AsC13 được dùng trong công nghiệp đồ gốm.
- Arsen pentoxyd(As20 5) là bột màu trắng chứa 65%As và được dùng
để sản xuất thuỷ tinh, bảo quản gỗ, là chất diệt cỏ, diệt nấm mốc
- Axeto arsenit đồng: dùng để bảo quản gỗ, làm sơn chống gỉ cho tàu
2.2 - Độc tính và dược động học của Arsen trong cơ thể người
2.2 1 -Đ ộc tính [2],[10],[11]:
Arsen là một nguyên tố rất độc, những họp chất của nó với các nguyên
tố khác là nguồn gốc gây ra rất nhiều vụ ngộ độc, đầu độc từ trước tới nay Một liều uống thật sự là 0,002g/kg có thể gây chết trong vòng 24 giờ, với người nặng 60kg liều chết là 0,12g As20 3 Dạng arsen hoá trị +3 và -3 độc hơn dạng +5, dạng arsen vô cơ độc hơn dạng hữu cơ
Arsen có ái lực mạnh với nhóm thiol (-SH) và có khả năng ức chế hàng loạt enzym có mang nhóm này Hệ thống men pyruvatdehydrogenase đặc biệt nhạy cảm vói As(III) vì nó tương tác với hai nhóm sulíhydryl của acid lipoic tạo ra vòng sáu cạnh bền vững:
(CH2 ) 4
COOH
Trang 11Do làm rối loại chuyển hoá trong cơ thể, arsen gây ra các triệu chứng nhiễm độc cấp tính, mạn tính rất phong phú:
- Nhiễm độc cấp tính: sốt, khó ngủ, ăn không ngon, gan to, tổn thương thận và rối loạn chức năng tim, phù mặt, tổn thương đường hô hấp trên, ngoài
ra còn có các tổn thương da và viêm nhiều dây thần kinh Nhiễm độc cấp tính AsH3 gây tan huyết, đái ra hemoglobin, rối loạn tiêu hoá
- Nhiễm độc mạn tính: suy nhược cơ thể, rối loạn tiêu hoá, sạm da, các niêm mạc đều bị tổn thương; viêm lợi, viêm họng, tổn thương đường hô hấp Các triệu chứng thần kinh: viêm nhiều dây thần kinh, các phản xạ gân mất, nhưng không có rối loạn cơ bắp Các tổn thương ngoài da: sạm da, sừng hoá, rụng lông tóc Các rối loạn khác: gan có thể thoái hoá mỡ, protein niệu; khả năng gây ung thư như ung thư da, phổi, xương sàng
Arsen làm biến đổi cơ chế sửa chữa ADN, làm sai lạc nhiễm sắc thể do
có sự biến đổi chuyển hoá enzym can thiệp trong quá trình tổng hợp acid nucleic - các tổn thương này không hồi phục
Theo một chương trình nghiên cứu của Allan Smith, viện Đại học Caliíomia tại Berkeley, một người uống nước có chứa 0,05 mg arsen/1, trong suốt cuộc đòi có nguy cơ 0 ,1% bị ung thư nội tạng ( gan, phổi, thận ) và hơn
0 ,2% bị ung thư bàng quang [13]
Trong các tổ chức bị ung thư và trong máu người ung thư có hàm lượng arsen rất cao Sự trao đổi chất của tế bào ung thư rất nhạy cảm với arsen hơn tế bào và các tổ chức bình thường Đã thấy trên thực tế 20% trường họp xơ gan
do arsen tích luỹ chuyển thành ung thư gan, trong khi đối với xơ gan bình thường chỉ là 5% Vì vậy mối quan hệ giữa arsen - ung thư là khá chặt chẽ [24]
Trang 122.2.2 - Dược động học của arsen trong cơ thể người [2],[10],[11]
Arsen và các hợp chất của nó có thể gây độc hại qua cả ba đường: tiêu
hoá, hô hấp, da
- Độc tính của các hợp chất arsen qua đường tiêu hoá phụ thuộc vào độ
tan và kích thước tiểu phân của chúng Những hợp chất ít tan như As203 có
kích thước tiểu phân lớn ít độc hơn vì chúng bị thải ra ngoài theo phân trước
khi được hoà tan trong ống tiêu hoá và được hấp thu, dạng muối của arsen độc
hơn dạng oxyd do có độ tan lớn hơn Các muối arsen hoá trị +3 và+5 đều được
hấp thụ trong ống tiêu hoá
- Tiếp xúc vói hợp chất arsen gây tổn thương da: viêm da tiếp xúc, loét,
ban eczema
- Thở hít hợp chất arsen vô cơ ở nồng độ cao trong không khí gây viêm
đường hô hấp trên, viêm mũi, viêm họng, viêm thanh quản
Đặc biệt hợp chất của arsen vối hydro là arsin(AsH3) là khí không màu,
không mùi, kích thích nhẹ mũi, họng Khi hấp thụ vào phổi và sau đó vào
máu, Arsin có tác dụng tiêu huỷ hồng cầu Theo thống kê, trong số bênh nhân
nhiễm độc do hít phải AsH3 thì có tói 20% tử vong
♦ Sau khi được hấp thụ vào cơ thể, arsen vào gan, thận, tim, rồi đến xương, lông, tóc, móng, não và tích luỹ một phần ở các tổ chức trên Khi vào
máu, chúng được hoà tan trong huyết thanh và hấp thụ lựa chọn vào hồng cầu
Tới các cơ quan, arsen chủ yếu tham gia vào phản ứng methyl hoá, chuyển
hoá thành dạng monomethyl và dimethyl (75% lượng arsen hấp thụ ) ít độc
hơn, còn 25% tham gia vào phản ứng oxy hoá khử thành As+5 mang tính độc
hơn [6],[7],[10],[13]
Trang 13♦ Arsen hấp thụ vào được đào thải chủ yếu qua thận Sau khi tiếp xúc
với một liều duy nhất As(III) ở người cũng như súc vật, 75% lượng arsen hấp
thụ vào được thải ra nước tiểu và vài phần trăm theo phân ngay tuần lễ đầu tiên Trong trường hợp arsen hoá trị V sự thải trừ diễn ra chậm hơn
Dạng arsen được thải ra là acid dimetylarsenic(do sự methyl hoá) và acid methylarsenic chiếm tỷ lệ lần lượt là 65% và 20% lượng arsen cho mỗi loại Tuy nhiên, sự methyl hoá không bao giờ hoàn toàn, nói một cách khác arsen vô cơ còn tồn tại một phần nào trong cơ thể, tích luỹ ở nhiều cơ quan
[6],[7],[11]
2.3 - Các nghê nghiệp tiếp xúc với arsen [11]
Nguy cơ nhiễm độc nghề nghiệp có nhiều và gặp ở một số công việc
sau:
- Xử lý quặng arsen
- Sản xuất các hợp chất arsen
- Sử dụng As20 3 trong công nghiệp thuỷ tinh
- Sản xuất và sử dụng hoá chất trừ sâu có arsen
- Sản xuất và sử dụng các màu arsen: màu xanh Scheele (arsenit-Cu), màu đỏ sulíurarsen (As2S2), màu vàng (các sulíurarsen khác), màu xanh Schweinfurt (axeto-asenit-Cu)
- Sử dụng trong thuộc da và làm rụng lông
Nguy cơ chủ yếu là nhiễm độc do hít thở, ăn uống hay hấp thụ qua da một lượng bụi, hod, khói sương mù Ngoài ra còn nguy cơ kích thích da và niêm mạc Trong quá trình sử lý quặng arsen, trong khi nghiền sàng các quặng này có nhiều bụi nhỏ, mịn bốc lên lơ lửng trong không khí, nguy cơ gây bệnh không nhỏ
Trang 142.4- Các nghiên cứu về arsen ở Việt Nam trong y học lao động và môi trường:
* Về phương pháp phân tích:
Năm 1993, thường qui Viện y học lao động sử dụng phương pháp lấy mẫu bằng phương pháp hấp thụ (dùng acid hấp thụ As20 3), dùng amonimolipdat trong Ascorbic khử, phân tích định lượng bằng so màu với độ nhạy lý thuyết là 0,03mg/m3[16]
Năm 1996, Viện y học lao động đã nghiên cứu, bổ sung bệnh nhiễm độc arsen vào danh mục các bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm (áp dụng phương pháp so màu, định lượng trong không khí)[1 2]
Phương pháp định lượng arsen trong nước tiểu bằng quang phổ hấp thụ nguyên tử đã được Viện y học lao động và vệ sinh môi trường đề xuất [7]
Việc tiến hành lấy mẫu và định lượng arsen trong không khí theo các phương pháp trên đòi hỏi nhiều thủ thụât phức tạp, mà độ nhạy hạn chế Vì vậy việc áp dụng một phương pháp tiên tiến của NIOSH (Mỹ) là hết sức cần thiết do việc phân tích, xử lý mẫu đạt độ chính xác cao, mà ở khoá luận này chúng tôi bước đầu thực hiện [2 0 ]
Các phương pháp phân tích arsen trong không khí theo NIOSH
Tên hợp chất ị 'hương pháp lấy mẫu Phương pháp phân
Trang 15*Thái Nguyên và ngành luyện kim [8]:
Thái Nguyên nằm ở phía Tây-Bắc Hà Nội với diện tích 3.541,lkm2,
dân số khoảng 1.020.000 người (mật độ gần 290 người/km2) Đây là một tỉnh
có nhiều thuận lợi cho việc phát triển cả nghành luyện kim đen và nghành
luyện kim màu Ước tính, riêng trong khu vực kinh tế quốc doanh, số công
nhân luyện kim đen đã là khoảng 25.000 người Đội ngũ công nhân luyện kim
mầu cũng lên đến trên 10.000 người Công nghệ luyện kim ở đây rất đa dạng
cả về qui mô và kỹ thuật Hầu hết các qui trình sản xuất ở đây đều sử dụng
khá nhiều lao động thủ công Người lao động phải làm việc, tiếp xúc vói một
môi trường có nguy cơ bị ô nhiễm bởi nhiều yếu tố như các hơi khí độc, bụi
silic, bụi kim loại nặng (chì, arsen )
Với khoảng gần 8.000 công nhân, công ty Luyện kim mầu Thái Nguyên
là một trong những đơn vị điển hình với nhiều công nhân có nguy cơ tiếp xúc
với arsen trong không khí ở hàm lượng cao Theo thống kê của y tế cơ sở, tỷ lệ
nhiễm arsen hàng năm của công nhân luyện kim là 8-12%.Tỷ lệ công nhân đã
từng bị nhiễm độc arsen chiếm từ 25-30% Qua khảo sát sơ bộ cho thấy, đây
là một trong những nhóm công nhân có nguy cơ tiếp xúc với arsen vô cơ khá điển hình ở Việt Nam Một nghiên cứu đánh giá liều tiếp xúc vói arsen vô cơ ở đây không những là điều cần thiết cho việc bảo vệ môi trường và sức khỏe công nhân luyện kim Thái Nguyên, mà còn có thể cung cấp những dữ liệu hữu
ích cho công tác bảo vệ môi trường và phòng chống nhiễm arsen nghề nghiệp cho công nhân cả nước
* Tuy xa vói mục tiêu của khoá luận, nhưng chúng tôi vẫn lưu ý một thông tin mới nhất rất đáng quan tâm về arsen và sức khoẻ cộng đồng[15] Đó là: Viện kỹ thuật Hoàng gia Thụy Điển và chuyên gia UNICEF đã phát hiện một số mẫu nước ngầm ở đồng bằng sông Cửu Long, nơi hiện có 50.000 giếng khoan phục vụ nước sinh hoạt cho dân, có hàm lượng arsen cao hơn 5- 6 lần
Trang 16tiêu chuẩn cho phép (Chú ý rằng, 1961 ở Đài Loan đã có 100.000 người nhiễm độc arsen từ các giếng nước ngầm; còn hiện nay ở Ân Độ và Bangladesh có quốc nạn về arsen đang ảnh hưởng đến sức khoẻ hàng chục triệu người).
2.5 - Đề xuất thuốc điều trị [8],[11],[18],[19],[21],[24]
Các thuốc giải độc kim loại nặng đều có tính chất chung là tạo phức bền vững với kim loại độc rồi đào thải khỏi cơ thể, giải phóng các enzym hoặc các phân tử sinh học khỏi sự phong bế Các thuốc giải độc này là phối tử, còn được gọi là tác nhân tạo phức, do chúng tạo với kim loại phức chelat Đối với nhiễm độc arsen cấp tính và mạn tính, thuốc giải độc chính là BAL ( British Anti Lewisite; Dimercaprol) theo cơ chế:
BAL ( dễ tan, đào thải nhanh)
Cơ chế giải độc của BAL
Chú ý: Thường chỉ dùng BAL để giải độc các kim loại Me là As, Hg,
Au, Cd, Bi, Cr, Cu Không dùng BAL giải độc chì mạn tính vì phức Pb-BAL không bền sẽ giải phóng ồ ạt chì tự do từ các “kho lưu trữ chì”, gây nguy cơ
Trang 17chì huyết cao đột xuất Phức Fe-BAL rất độc, nên không bao giờ sử dụng các chế phẩm chứa Fe trong khi đang giải độc bằng BAL.
Như vậy, theo cơ chế chung, BAL có tác dụng cố định các ion As tự do hay đang kết hợp với các nhóm thiol trong cơ thể Do đó các enzym trong cơ thể (có chứa -SH) được phục hồi hoạt tính Arsen bị đuổi ra khỏi tổ chức và lượng As tăng trong nước tiểu BAL tự do hay phức arsen- BAL được thải ra qua thận Sự đào thải này nhanh: sau một mũi tiêm, tác dụng của BAL mạnh vào giờ thứ 3-4 là 80% BAL tiêm vào được đào thải ra ngoài sau 24 giờ
• Với nhiễm độc cấp tính:
- Rửa dạ dày
- BAL là thuốc giải độc nhưng phải dùng sớm Tiêm BAL vào bắp, loại dung dịch dầu 1 0%, cứ trong 6 giờ tiêm 3-4mg/kg thể trọng, trong 2 ngày đầu Sau đó, tiêm mỗi ngày 2 lần với liều lượng như trên Thời gian điều trị 10 ngày Ngoài ra, phải chống mất nước bằng cách tiêm glucose 5% trong dung dịch muối sinh lý và phải điều trị phù phổi, vô niệu, tổn thương gan
• Với nhiễm độc man tính:
- Cho bệnh nhân ngừng tiếp xúc với arsen tạm thời hoặc vĩnh viễn Điều trị dùng BAL tiêm mỗi ngày 1,5mg/kg thể trọng đến khi khỏi, đồng thời dùng Methionin có tác dụng chống độc và bảo vệ gan, dùng thuốc lợi tiểu, trợ tim, lọi mật
Qua sưu tầm tài liệu, chúng tôi được biết: ngoài BAL ra thì Succimer ( Meso 2,3 dimercapro succinic acid = DMSA) và Unithiol ( 2,3 dimercapro propalsulíonat natĩi = DMSP) cũng được dùng trong giải độc arsen Công thức hoá học của hai thuốc như sau:
Trang 18Unithiol dùng cho điều trị nhiễm độc arsen ở Việt Nam.
Mặt khác, việc giải độc các kim loại nặng hiện nay đang hướng vào sử dụng các antioxydants có tính chelat thiên nhiên Do đó, các dược liệu chứa hoạt chất chống gốc tự do cũng cần được nghiên cứu để can thiệp phòng chống nhiễm độc arsen
Trang 193 - THỰC NGHIỆM
3.1- Đối tượng nghiên cứu
Arsen trong không khí hô hấp của công nhân đang làm việc trong dây
truyền luyện kim mầu Thái Nguyên
3.2- Phương pháp nghiên cứu
Để sơ bộ đánh giá mức tiếp xúc nghề nghiệp của công nhân vói arsen
qua đường hô hấp, chúng tôi chọn phương pháp xác định liều tiếp xúc cá nhân
từ không khí hô hấp trong một ca làm việc, 8 giờ/ngày, 40 giờ/tuần
- Phương pháp xác định liều tiếp xúc cá nhân theo NMAM-NIOSH Manual of Analytical Methods,7901(Mỹ)
4» Lấy mẫu arsen trong không khí:
• Màng lọc: giấy lọc cellulose este 0 ,8|0,m, đường kính 37 mm [22]
• Mẫu đối chứng :1 mẫu/10 mẫu phân tích
4»Xử lý mẫu: - x ử lý mẫu bằng phương pháp tro hoá ướt
• 15ml H N 03 65% + 6ml H2O230%