Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/VŨ THỊ HIỀN LƯƠNG ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO TỈNH TH
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
VŨ THỊ HIỀN LƯƠNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI ĐỐI VỚI
HỘ NGHÈO TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN KHÁNH DOANH
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của Thầy giáo hướng dẫn khoa học PGS.TS Nguyễn Khánh Doanh và không trùng lặp với bất kỳ luận văn hoặc công trình nào khác Các tư liệu và số liệu sử dụng trong luận văn được thu thập từ các nguồn gốc đáng tin cậy
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2014
Tác giả
Vũ Thị Hiền Lương
Trang 4Tôi xin gửi lời cảm ơn lãnh đạo cơ quan nơi tôi đang công tác đã tạo điều kiện cho tôi được đi học nâng cao trình độ trong thời gian qua
Tôi xin gửi lời cảm ơn gia đình, các bạn bè đồng nghiệp đã tạo điều kiện và giúp đỡ nhiệt tình để tôi có thể hoàn thành quá trình học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên
Xin trân trọng cảm ơn
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2014
Tác giả
Vũ Thị Hiền Lương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
4 Những đóng góp mới của luận văn 2
5 Bố cục của luận văn 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO 4
1.1 Tổng quan về đói nghèo 4
1.1.1 Khái niệm về đói nghèo 4
1.1.2 Tiêu chí về đói nghèo 5
1.1.3 Nguyên nhân đói nghèo 8
1.1.4 Sự cần thiết phải đẩy mạnh xoá đói giảm nghèo 14
1.2 Tín dụng và hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo 17
1.2.1 Những vấn đề cơ bản về tín dụng đối với hộ nghèo 17
1.2.2 Hiệu quả tín dụng hộ nghèo 20
1.3 Kinh nghiệm một số nước về nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo 28
1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước 28
Trang 61.3.2 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam nói chung và Ngân hàng
chính sách xã hội tỉnh Thái Nguyên nói riêng 31
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ CÁC CHI TIÊU NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHCSXH ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO 33
2.1 Các câu hỏi nghiên cứu 33
2.2 Phương pháp nghiên cứu 33
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 36
Chương 3: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO TẠI NHCSXH TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2011 - 2013 37
3.1 Thực trạng đói nghèo tại tỉnh thái nguyên 37
3.1.1 Tổng quan về tình hình kinh tế xã hội tỉnh Thái Nguyên 37
3.1.2 Thực trạng đói nghèo tại Thái Nguyên 46
3.2 Tồng quan về NHCSXH tỉnh Thái Nguyên 48
3.2.1 Quá trình hình thành phát triển 48
3.2.2 Mô hình tổ chức và hoạt động 49
3.2.3 Thực trạng hoạt động tín dụng của NH CSXH tỉnh Thái Nguyên 49
3.3 Đánh giá hiệu quả tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội tình Thái Nguyên đối với hộ nghèo 52
3.3.1 Kết quả cho vay 52
3.3.2 Đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo của NH CSXH tỉnh Thái Nguyên 58
Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỈNH THÁI NGUYÊN 69
4.1 Một số quan điểm định hướng 69
4.1.1 Quan điểm 69
Trang 74.1.2 Định hướng nâng cao hiệu quả tín dụng của NH CSXH 70
4.2 Các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo của NH CSXH tỉnh Thái Nguyên 70
4.2.1 Cho vay theo dự án vùng, tiểu vùng phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng địa phương 71
4.2.2 Tuyên truyền kế hoạch hóa gia đình, bình đẳng giới; xây dựng đời sống văn hóa xã hội lành mạnh 71
4.2.3 Tăng cường công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; Tạo thị trường tiêu thụ cho các sản phẩm của hộ nghèo 72
4.2.4 Đồng bộ hóa các chính sách ữu đãi của Nhà nước đối với hộ nghèo; Thực hiện công khai hóa - xã hội hóa hoạt động NHCSXH 73
4.2.5 Tăng cường truyền thông nâng cao nhận thức của các hộ nghèo vay vốn 74
4.3 Kiến nghị với cấp trên 74
4.3.1 Đối với Nhà nước 74
4.3.2 Đối với NH CSXH 75
4.3.3 Đối với UBND tỉnh Thái Nguyên 75
KẾT LUẬN 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC 79
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ATK : An toàn khu
CT-XH : Chính trị - xã hội
ĐBDTTS : Đồng bào dân tộc thiểu số
ĐTN : Đoàn thanh niên
HCCB : Hội cựu chiến binh
HĐND : Hội đồng nhân dân
HĐQT : Hội đồng quản trị
HND : Hội nông dân
HPN : Hội phụ nữ
HSSV : Học sinh sinh viên
LĐ- TB&XH : Lao động - Thương binh và xã hội NHCSXH : Ngân hàng chính sách xã hội NHNo : Ngân hàng Nông nghiệp
NHTM : Ngân hàng thương mại
NS&VSMT : Nước sạch và vệ sinh môi trường SXKD : Sản xuất kinh doanh
THCS : Trung học cơ sở
TLSX : Tư liệu sản xuất
TTCN : Tiểu thủ công nghiệp
UBND : Ủy ban nhân dân
XĐGN : Xóa đói giảm nghèo
XKLĐ : Xuất khẩu lao động
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình cho vay của ngân hàng CSXH Thái Nguyên từ
năm 2011 - 2013 53
Bảng 3.2: Tình hình cho vay của Ngân hàng CSXH thời kỳ 2011 - 2013 của các tổ chức đoàn hội 54
Bảng 3.3: Doanh số cho vay đối với hộ nghèo thời kỳ 2011 - 2013 55
Bảng 3.4: Tình hình dư nợ cho vay đối với hộ nghèo thời kỳ 2011 - 2013 56
Bảng 3.5: Tình hình thu hồi nợ vay và nợ quá hạn thời kỳ 2011 - 2013 57
Bảng 3.6: Mức vốn cho vay đối với hộ nghèo của Ngân hàng CSXH thời kỳ 2011 - 2013 58
Bảng 3.7: Số hộ vay vốn trong năm thời kỳ 2011-2013 59
Bảng 3.8 Thời hạn cho vay theo các chương trình, mục đích cho vay 59
Bảng 3.9 Tình hình đầu tư TLSX của hộ nghèo vay vốn tại NHCSXH 61
Bảng 3.10 Tác động của vốn tín dụng đến TLSX 61
Bảng 3.11 Tác động của vốn tín dụng đến công ăn việc làm 62
Bảng 3.12 Tác động của vốn tín dụng đến đời sống của hộ dân 63
Bảng 3.13 Thu nhập và sự thay đổi thu nhập của hộ nghèo vay vốn 63
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1 Mô hình tổ chức của Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Thái Nguyên 49
Sơ đồ 3.2 Quy trình cho vay của NHCSXH tỉnh Thái Nguyên 51
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau 28 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đang tăng trưởng nhanh, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, an ninh, chính trị được giữ vững, ổn định Lĩnh vực giảm nghèo cũng đạt được nhiều thành tích, nổi bật là Việt Nam đã hoàn thành Mục tiêu thiên niên kỷ về Xóa đói giảm nghèo trước thời hạn và được Liên hợp quốc đánh giá cao Tuy vậy, mặt trái của sự phát triển đang bộc lộ rõ nét, khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng, một bộ phận không nhỏ dân cư, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa vẫn đang chịu cảnh nghèo đói Có nhiều nguyên nhân dẫn tới nghèo, trong đó có một nguyên nhân quan trọng là thiếu vốn sản xuất kinh doanh Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã xác định tín dụng Ngân hàng là một mắt xích không thể thiếu trong hệ thống các chính sách phát triển kinh tế - xã hội Xuất phát từ những yêu cầu trên, từ năm 1995, Chính phủ đã thành lập Ngân hàng phục vụ người nghèo và đến năm 2002 tách ra thành ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH), với mục tiêu là cho vay ưu đãi hộ nghèo Trong những năm vừa qua, chính sách tín dụng đã có tác dụng to lớn trong việc xoá đói giảm nghèo, đại đa số hộ được vay vốn cho rằng, vốn vay có tác dụng tích cực tới giảm nghèo Nhiều hộ nông dân đã thoát khỏi nghèo, có điều kiện mua sắm thêm các phương tiện sản xuất và tiêu dùng
Tuy nhiên, sự nghiệp XĐGN vẫn đang còn ở phía trước, với nhiệm vụ ngày càng khó khăn, phức tạp; trong đó, lĩnh vực tín dụng cho hộ nghèo nhiều vấn đề vẫn đang bức xúc như: Quy mô tín dụng chưa lớn, hiệu quả XĐGN còn chưa cao, hoạt động của NHCSXH chưa thực sự bền vững.v.v… Những vấn đề trên là phức tạp, nhưng chưa có mô hình thực tiễn và chưa được nghiên cứu đầy đủ Để giải quyết tốt vấn đề nghèo đói ở Việt Nam nói chung và tín dụng cho hộ nghèo nói riêng, đòi hỏi phải được nghiên cứu một cách có hệ thống, khách quan và khoa học, phải có sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước cũng như toàn xã hội
Làm sao để người nghèo nhận và sử dụng được vốn vay có hiệu quả, vừa đảm bảo phát triển bền vững của nguồn vốn tín dụng, vừa giúp người nghèo thoát nghèo là một vấn đề được cả xã hội quan tâm Với những lý do nêu trên, tôi đã chọn
Trang 12đề tài: “Đánh giá hiệu quả của tín dụng tại ngân hàng chính sách xã hội đối với
hộ nghèo tỉnh Thái Nguyên” làm luận văn tốt nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá hoạt động tín dụng cho hộ nghèo của NH CSXH chi nhánh Tỉnh Thái Nguyên, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh việc cho vay đối với hộ nghèo từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay
* Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về tín dụng đối với hộ nghèo
- Đánh giá thực trạng cho vay đối với hộ nghèo có xem xét đến (trong một chừng mức nhất định) tác động của vốn tín dụng đối với xoá đói giảm nghèo của các hộ nghèo vay vốn tại NH CSXH trên địa bàn Tỉnh Thái Nguyên
- Đề xuất định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo của NH CSXH
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động tín dụng phục
vụ sản xuất kinh doanh đối với hộ nghèo của NH CSXH có đề cập đến (trong một chừng mực nhất định), kết quả sử dụng vốn vay và tác động của vốn vay tới hộ nghèo ở Tỉnh Thái Nguyên
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn Tỉnh Thái Nguyên + Về thời gian: Các thông tin, số liệu phán ánh trong luận văn tập trung chủ yếu trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến cuối năm 2013 và đề xuất giải pháp cho các năm tiếp theo
4 Những đóng góp mới của luận văn
Đề tài làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về Nghèo, tín dụng đối với hộ nghèo sự cần thiết phải tăng cường tín dụng đối với hộ nghèo, các chỉ tiêu tính toán hiệu quả tín dụng và rút ra sự cần thiết khách quan và nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo Tiến hành phân tích, đánh giá trên hai góc độ hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội, rút ra những mặt được và chưa được của công tác tín dụng đối với
Trang 13hộ nghèo tại NHCSXH tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011-2013, chỉ rõ nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế Trên cơ sở đó đề xuất các nhóm giải pháp và một số kiến nghị với Chính phủ, NHCSXH Việt Nam, cấp ủy Đảng và chính quyền tỉnh Thái Nguyên, NHCSXH tỉnh Thái Nguyên góp phần nâng cao hiệu quả tín dụng đối với
hộ nghèo
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả tín dụng của ngân hàng đối với hộ nghèo Chương 2: Phương pháp và hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu đánh giá hiệu quả tín dụng của ngân hàng CSXH đối với hộ nghèo
Chương 3: Thực trạng hiệu quả tín dụng hộ nghèo tại ngân hàng CSXH tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011 - 2013
Chương 4: Định hướng và một số giải pháp chủ yếu đẩy mạnh hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại NHCSXH tỉnh Thái Nguyên
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG
ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO
1.1 Tổng quan về đói nghèo
1.1.1 Khái niệm về đói nghèo
Tình trạng đói nghèo ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau về cấp độ và số lượng, thay đổi theo thời gian Người nghèo của quốc gia này có thể có mức sống cao hơn mức sống trung bình của quốc gia khác Bởi vậy, để nhìn nhận và đánh giá được tình trạng đói nghèo của một quốc gia, một vùng và nhận dạng được hộ đói nghèo, để từ đó có giải pháp phù hợp để XĐGN, đòi hỏi chúng ta phải có sự thống nhất về khái niệm và các tiêu chí để đánh giá đói nghèo tại từng thời điểm
Ở nước ta trong những năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Tuy nhiên, bên cạnh sự tăng thu nhập và nâng cao đời sống của số đông dân chúng, vẫn còn tồn tại một bộ phận dân chúng sống nghèo khổ, đặc biệt là những hộ nông dân nghèo sống tập trung ở các vùng nông thôn, miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa…Chính vì vậy, trong xã hội sự phân hoá giàu nghèo đang diễn ra ngày một sâu sắc, khoảng cách giàu, nghèo ngày càng rộng Đây là một thách thức lớn đặt ra đòi hỏi phải có những chính sách và giải pháp phù hợp, đi đôi với phát triển kinh tế - xã hội phải thực hiện thành công chương trình, mục tiêu quốc gia về XĐGN Muốn XĐGN bền vững, thì điều đầu tiên là phải trả lời được câu hỏi: Quan niệm thế nào
là nghèo, người nghèo là ai và vì sao họ nghèo? Để trả lời được các câu hỏi này chính xác, phải hiểu rõ được bản chất và nội dung của đói nghèo
Phải khẳng định rằng không có định nghĩa duy nhất về đói, nghèo Đói nghèo là tình trạng kiệt quệ bao gồm nhiều khía cạnh, từ thu nhập hạn chế đến tính
dễ bị tổn thương khi gặp phải những tai ương bất ngờ và ít có khả năng tham gia vào quá trình ra quyết định chung Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo tại Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP
tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan tháng 9/1993: “Nghèo là tình trạng một bộ phận
Trang 15dân cư không được hưởng và thoã mãn các nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế- xã hội và phong tục, tập quán của địa phương" (Nguyễn Thị Hằng, 2002)
Đói là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức sống tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống
Đói nghèo là tổng hợp khái niệm đói và khái niệm nghèo: Đói và nghèo thường gắn chặt với nhau, nhưng mức độ gay gắt khác nhau Đói có mức độ gay gắt cao hơn, cần thiết phải xoá và có khả năng xoá Còn nghèo, mức độ thấp hơn
và khó xoá hơn, chỉ có thể xoá dần nghèo tuyệt đối, còn nghèo tương đối chỉ có thể giảm dần Vì vậy, để giải quyết vấn đề đói nghèo, ta thường dùng cụm từ
"Xoá đói giảm nghèo"
Cụ thể hơn các khái niệm đói nghèo ta có thể thấy: Dù ở dạng nào, thì đói cũng đi liền với thiếu chất dinh dưỡng, suy dinh dưỡng Có thể hình dung các biểu hiện của tình trạng thiếu đói như sau:
- Thất thường về lượng: Bữa đói, bữa no, ăn không đủ bữa
- Về mặt năng lượng: Nếu trong một ngày con người chỉ được thoả mãn mức 1.500 calo/ngày, thì đó là thiếu đói (thiếu ăn); dưới mức đó là gay gắt
Nghèo đồng nghĩa với nghèo khổ, nghèo túng, túng thiếu Trong hoàn cảnh nào thì hộ nghèo, người nghèo cũng chỉ vật lộn với những mưu sinh hàng ngày về kinh tế, biểu hiện trực tiếp nhất là bữa ăn Họ không thể vươn tới các nhu cầu về văn hoá, tinh thần, hoặc những nhu cầu này phải cắt giảm tới mức tối thiểu nhất, gần như không có Biểu hiện rõ nhất ở các hộ nghèo là hiện tượng trẻ em bỏ học, thất học, không có điều kiện để chữa bệnh khi ốm đau Nhìn chung ở hộ nghèo, người nghèo thu nhập thực tế của họ hầu như chỉ dành chi toàn bộ cho ăn; thậm chí không đủ chi ăn, phần tích luỹ hầu như không có
1.1.2 Tiêu chí về đói nghèo
Theo Ngân hàng Thế giới, biện pháp áp dụng thông dụng nhất để đo lường đói nghèo là dựa trên mức thu nhập hoặc mức chi tiêu Một người được coi là nghèo, nếu mức độ chi tiêu hoặc thu nhập của anh ta xuống dưới mức tối thiểu cần thiết để đáp ứng cho các nhu cầu căn bản Mức tối thiếu này được gọi là “ngưỡng
Trang 16đói nghèo” Các yếu tố đáp ứng nhu cầu căn bản thay đổi theo thời gian và xã hội
Do đó, ngưỡng đói nghèo khác nhau theo thời gian và địa điểm và mỗi quốc gia sử dụng các ngưỡng thích hợp với mức độ phát triển, chuẩn mực và giá trị xã hội của mình Để tổng hợp và so sánh toàn cầu, Ngân hàng thế giới sử dụng ngưỡng tham chiếu $1 và $2/ngày trong thuật ngữ “sức mua tương đương” (PPP) 1993 (PPP đo lường sức mua tương đối của đồng tiền các quốc gia)
Trong quá trình nghiên cứu đói nghèo và thực hiện chương trình XĐGN ở Việt Nam, WB đã đưa ra hai mức chuẩn nghèo đối với Việt Nam:
Thứ nhất, là số tiền cần thiết để mua một số lương thực, thực phẩm đáp ứng
nhu cầu dinh dưỡng với lượng 2.100 calo/người/ngày, gọi là chuẩn nghèo về lương thực, thực phẩm;
Thứ hai, là số tiền cần thiết bao gồm cả chi tiêu cho lương thực, thực phẩm
và chi tiêu cho các nhu cầu cần thiết khác, gọi là chuẩn nghèo chung
Tại Việt Nam hiện nay đang sử dụng một loạt các chỉ tiêu đánh giá về nghèo đói và phát triển xã hội: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (cơ quan thường trực của Chính phủ trong tổ chức, triển khai, thực hiện XĐGN) dùng phương pháp dựa trên thu nhập của hộ gia đình tuỳ theo từng thời gian Các hộ được xếp vào diện nghèo, nếu thu nhập đầu người của họ ở dưới mức chuẩn được xác định Mức này khác nhau giữa thành thị, nông thôn và miền núi Tỷ lệ nghèo được xác định bằng tỷ
lệ giữa dân số có thu nhập dưới ngưỡng nghèo so với tổng dân số trong cùng một thời điểm
Theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30 tháng 01 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo quy định cho giai đoạn 2011-2015 thì hộ nghèo, hộ cận nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người hàng tháng như sau:
- Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống
- Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống
- Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng
Trang 17- Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng
Theo tiêu chí đánh giá này, thì thời điểm đầu năm 2011, tổng số hộ nghèo của cả nước là khoảng trên 3,3 triệu hộ nghèo (chiếm tỷ lệ 15,25%); tổng số hộ cận nghèo là khoảng trên 1,8 triệu hộ (chiếm tỷ lệ 8,58%) Người nghèo tập trung phần lớn ở khu vực nông thôn (90%); ở một số huyện miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, miền núi Duyên hải miền Trung, Tây Nam Bộ là những nơi đồng bào dân tộc thiểu
số sinh sống, tỷ lệ hộ nghèo còn cao (trên 50%), đây là những địa bàn rất khó khăn đối với công tác giảm nghèo
Theo tiêu chí cũ về hộ nghèo, thì đến năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam còn 9.45%, còn theo tiêu chí mới tỷ lệ hộ nghèo tới 15.25%
Phương pháp xác định đói nghèo do Bộ LĐ- TB&XH nêu trên có những ưu điểm nhất định: Dễ hiểu, dễ tính toán, dễ điều tra
Việc đưa ra giới hạn đói nghèo của Bộ LĐ- TB&XH là phù hợp với điều kiện của Việt Nam, tiện lợi cho việc Nhà nước có một bức tranh tổng quát về đói nghèo, đặc biệt là vùng nông thôn và miền núi để có thể đưa ra các giải pháp XĐGN trong cả nước Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện việc bình xét hộ nghèo tại một số địa phương (xóm, bản, xã, phường) đã không thực hiện đúng theo hướng dẫn của Bộ LĐ- TB&XH về các tiêu chí đánh giá hộ nghèo, cho nên đã dẫn đến tình trạng số hộ nghèo thực tế lớn hơn số hộ nghèo được cấp thẻ (hộ nghèo trong danh sách) tại từng thời điểm
Tổng cục Thống kê thì dựa vào cả thu nhập và chi tiêu theo đầu người để tính tỷ lệ nghèo Tổng cục Thống kê xác định ngưỡng nghèo dựa trên chi phí cho một giỏ tiêu dùng, bao gồm lương thực và phi lương thực; trong đó, chi tiêu cho lương thực phải đủ đảm bảo 2.100 calo mỗi ngày cho 1 người Các hộ được coi là thuộc diện nghèo, nếu mức thu nhập và chi tiêu không đảm bảo giỏ tiêu dùng này
Phương pháp đo lường đói nghèo bằng chi tiêu tỏ ra là một phương pháp tốt Tuy nhiên, một trong những hạn chế của phương pháp này là nó đòi hỏi rất nhiều số liệu, chi phí điều tra cao, thời gian dài
Trang 181.1.3 Nguyên nhân đói nghèo
Đói nghèo là hậu quả đan xen của nhiều nguyên nhân nằm trong các nhóm nguyên nhân Nhóm nguyên nhân khách quan, do môi trường tự nhiên (vị trí, khí hậu, đất đai); kinh tế - xã hội (trình độ dân trí thấp, yếu tố tập quán của từng dân tộc, từng vùng miền, chính sách của Nhà nước) và nhóm nguyên nhân do bản thân người nghèo; đi vào phân tích các nguyên nhân như sau:
1.1.3.1 Nhóm nguyên nhân do môi trường tự nhiên; kinh tế - xã hội
- Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt đã tác động sâu sắc đến SXKD của các hộ gia đình, đặc biệt là các hộ nghèo
Đói nghèo tập trung khu vực nông thôn: Nghèo có đặc thù rõ rệt về mặt địa
lý Ở Việt Nam, với 80% dân số và 90% số người nghèo sống ở nông thôn “Những
đặc trưng của người nghèo vẫn giống như trước đây - đói nghèo vẫn là hiện tượng phổ biến ở nông thôn và đối với các dân tộc thiểu số, thì mức độ đói nghèo cao và nghiêm trọng hơn so với đa số người Kinh Các đặc trưng khác của đói nghèo, là rủi ro cao về thu nhập, do thường xuyên bị thiên tai và tình trạng thiếu việc làm nghiêm trọng ở nông thôn” [13, trang 1]
Đa số người nghèo là ở nông thôn, trình độ tay nghề thấp, ít khả năng tiếp cận nguồn lực trong sản xuất (vốn, kỹ thuật, công nghệ…), thị trường tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều khó khăn do điều kiện địa lý và chất lượng sản phẩm kém, chủng loại sản phẩm nghèo nàn, những người nông dân nghèo thường không có điều kiện tiếp cận với hệ thống thông tin, khó có khả năng chuyển đổi việc làm sang các ngành phi nông nghiệp Phụ nữ nông dân ở vùng sâu, vùng xa, nhất là phụ nữ chủ
hộ độc thân, phụ nữ cao tuổi là những nhóm nghèo dễ bị tổn thương nhất, phụ nữ nghèo lao động nhiều thời gian hơn, nhưng thu nhập thấp hơn, họ có ít quyền quyết định trong gia đình và cộng đồng, do đó có ít cơ hội tiếp cận các nguồn lực và lợi ích do chính sách mang lại
Điều kiện vị trí không thuận lợi đã hạn chế nhiều đến sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và sinh hoạt của các hộ gia đình Người nghèo tập trung ở các vùng có điều kiện sống khó khăn; đa số người nghèo sinh sống ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng
Trang 19xa, vùng nông thôn hoặc ở các vùng đồng bằng sông Cửu Long, miền trung; do sự biến động của thời tiết (bão, lụt, hạn hán…) khiến cho các điều kiện sinh sống và sản xuất của người dân càng thêm khó khăn, đặc biệt sự kém phát triển về hạ tầng
cơ sở đã làm cho các vùng này càng bị tách biệt với các vùng khác
Đói nghèo trong khu vực thành thị: Đa số người nghèo đô thị làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức, công việc không ổn định, thu nhập thấp và bấp bênh Một số lao động mất việc làm do chuyển đổi cơ cấu kinh tế và chủ sở hữu trong khu vực Nhà nước, dẫn đến điều kiện sống của họ càng khó khăn, một số người thất nghiệp Các hộ nghèo thường có ít đất đai và tình trạng không có đất đang có xu hướng tăng lên tại một số nơi Thiếu đất đai ảnh hưởng đến việc bảo đảm an ninh lương thực của người nghèo, cũng như khả năng đa dạng hóa sản xuất
để hướng tới sản xuất các loại cây trồng với giá trị cao
- Điều kiện kinh tế - xã hội
Người nghèo, đồng bào dân tộc ít người và các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt thường có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt,
ổn định Mức thu nhập của họ hầu như chỉ đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu và
do vậy, không có đủ điều kiện nâng cao trình độ của mình trong tương lai, để thoát khỏi cảnh đói nghèo Bên cạnh đó, trình độ học vấn thấp ảnh hưởng đến các quyết định có liên quan đến giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái… Những ảnh hưởng này tác động không những đối với thế hệ hiện tại, mà cả đối với các thế hệ tương lai Suy dinh dưỡng ở trẻ em và trẻ sơ sinh là nhân tố ảnh hưởng đến khả năng đến trường của con em các gia đình nghèo nhất và sẽ làm cho việc thoát nghèo thông qua giáo dục, trở nên khó khăn hơn Số liệu thống kê về trình độ học vấn của người nghèo cho thấy, khoảng 90% người nghèo chỉ có trình độ phổ thông cơ sở hoặc thấp hơn Kết quả điều tra mức sống cho thấy, trong số người nghèo, tỷ lệ số người chưa bao giờ đi học chiếm 12%, tốt nghiệp tiểu học chiếm 39%; Trung học cơ sở chiếm 37% Chi phí cho giáo dục đối với người nghèo còn rất lớn, chất lượng giáo dục mà người nghèo tiếp cận được còn hạn chế, gây khó khăn cho họ trong việc vươn lên thoát nghèo Tỷ lệ nghèo giảm xuống khi trình độ giáo dục tăng lên; 80% số người nghèo làm các công việc trong nông nghiệp có mức thu nhập rất thấp Trình độ học
Trang 20vấn thấp, hạn chế khả năng kiếm việc làm trong các khu vực khác, trong các ngành phi nông nghiệp và những công việc mang lại thu nhập cao và ổn định hơn Do trình
độ dân trí thấp, nên việc bất bình đẳng giới thường xảy ra Bất bình đẳng giới còn sâu sắc hơn tình trạng nghèo đói trên tất cả các mặt Ngoài những bất công mà cá nhân người phụ nữ và trẻ em gái phải chịu đựng do bất bình đẳng giới, thì còn có những tác động bất lợi khác đối với gia đình Phụ nữ chiếm gần 50% trong tổng số lao động nông nghiệp và chiếm tỷ lệ cao trong số lao động tăng thêm hàng năm trong ngành nông nghiệp Mặc dù vậy, nhưng phụ nữ chỉ chiếm 25% thành viên các khóa khuyến nông về chăn nuôi và 10% các khóa khuyến nông về trồng trọt Phụ nữ
ít có cơ hội tiếp cận với công nghệ, tín dụng và đào tạo; họ thường xuyên gặp khó khăn do gánh nặng công việc gia đình, thiếu quyền quyết định trong hộ gia đình và thường được trả công lao động thấp hơn nam giới ở cùng một loại công việc Phụ
nữ có học vấn thấp, dẫn tới tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh và bà mẹ cao hơn, sức khỏe của gia đình bị ảnh hưởng và trẻ em đi học ít hơn Bất bình đẳng giới còn là yếu tố làm gia tăng tỷ lệ sinh và tăng tỷ lệ lây truyền HIV do phụ nữ thiếu tiếng nói và khả năng tự bảo vệ trong quan hệ tình dục “Nghèo cũng liên quan chặt chẽ tới nhóm dân tộc, ngay cả khi tất cả các đặc điểm khác nhau là giống nhau, chi tiêu của một người thuộc dân tộc thiểu số cũng thấp hơn chi tiêu của một người thuộc hộ người Kinh hoặc người Hoa 13% Trình độ giáo dục cũng tạo sự khác biệt đáng kể; một
hộ gia đình chủ hộ có trình độ trung cấp có mức chi tiêu cao hơn mức trung bình gần 19% và nếu chủ hộ có trình độ đại học thì mức cao hơn là 31% Con số này là 29% nếu vợ/chồng có trình độ trung cấp và 48% nếu vợ/chồng có trình độ đại học” (Ngân hàng CSXH Việt Nam, 2004)
Ngoài yếu tố dân trí ra thì phong tục, tập quán lạc hậu và các tệ nạn xã hội như buôn bán thuốc phiện, khai thác khoáng sản bừa bãi và di dân tự do cũng là nguyên nhân dẫn đến đói nghèo Một số vùng đồng bào dân tộc hiện nay vẫn còn những hủ tục lạc hậu, như người ốm không đưa đến các trạm y tế để chữa bệnh mà mời thầy cúng đến làm lễ để cúng “con ma” ám vào người bệnh (họ cho rằng người
ốm là do ma ám) Làm lễ cúng như thế, bệnh của người ốm ngày càng nặng thêm và rất tốn kém về kinh tế, dẫn đến gia đình nghèo càng nghèo thêm
Trang 21- Chính sách nhà nước
Do cơ chế chính sách Nhà nước thiếu hoặc không đồng bộ về chính sách đầu
tư xây dựng, kết cấu hạ tầng cho từng vùng nghèo, chính sách khuyến khích sản xuất, chính sách tín dụng, chính sách giáo dục đào tạo, y tế, chính sách đất đai…đã ảnh hưởng đến kết quả XĐGN
Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định trong thời gian qua là một trong những nhân tố ảnh hưởng lớn đến mức giảm nghèo Việt Nam đã có những thành tích giảm đói nghèo rất đa dạng và trên diện rộng Tuy nhiên, quá trình phát triển và
mở cửa nền kinh tế cũng có những tác động tiêu cực đến người nghèo:
Cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, tỷ lệ đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn còn thấp, chủ yếu mới tập trung cho thuỷ lợi, các trục công nghiệp chính, chú trọng nhiều vào đầu tư thay thế nhập khẩu, vẫn chưa chú trọng đầu tư các ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động, chưa chú trọng khuyến khích kịp thời phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; nhiều chính sách trợ cấp như lãi suất tín dụng, trợ giá, trợ cước… không đúng đối tượng, làm ảnh hưởng xấu đến sự hình thành thị trường nông thôn, thị trường ở những vùng sâu, vùng xa
Cải cách doanh nghiệp Nhà nước và những khó khăn về tài chính của các doanh nghiệp nhà nước đã dẫn tới việc mất đi gần 800.000 việc làm trong giai đoạn đầu tiến hành cải cách doanh nghiệp Nhiều công nhân bị mất việc đã gặp rất nhiều khó khăn trong tìm việc làm mới và bị rơi vào nghèo đói Phần lớn số người này là phụ nữ, người có trình độ học vấn thấp và người lớn tuổi
Chính sách cải cách nền kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, tự do hoá thương mại tạo ra được những động lực tốt cho nền kinh tế, khuyến khích các doanh nghiệp phát triển Tuy nhiên, một số ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động chưa được chú trọng, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng tạo việc làm chưa đựợc quan tâm và tạo cơ hội phát triển Tình trạng thiếu thông tin, trang thiết
bị sản xuất lạc hậu, khả năng cạnh tranh của sản phẩm thấp và năng lực sản xuất hạn chế đã làm không ít các doanh nghiệp nhỏ và vừa bị phá sản và đẩy công nhân vào cảnh thất nghiệp, buộc họ phải gia nhập vào đội ngũ người nghèo
Trang 22Tăng trưởng kinh tế giúp XĐGN trên diện rộng, song việc cải thiện tình trạnh của người nghèo về thu nhập, khả năng tiếp cận, phát triển các nguồn lực lại phụ thuộc vào loại hình tăng trưởng kinh tế Việc phân phối lợi ích tăng trưởng trong các nhóm dân cư bao gồm cả các nhóm thu nhập phụ thuộc vào đặc tính của tăng trưởng Phân tích tình hình biển đổi về thu nhập của nhóm dân cư cho thấy, người giàu hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế nhiều hơn và kết quả đã làm tăng thêm khoảng cách giàu nghèo
Kết cấu hạ tầng giao thông đến các vùng sâu, vùng xa, vùng đói nghèo còn thiếu và yếu kém Việc tiếp cận đến các vùng này còn hết sức khó khăn, đầu tư của Nhà nước chưa đáp ứng được yêu cầu, đóng góp nguồn lực của nhân dân còn hạn chế, chủ yếu bằng lao động Hệ thống pháp luật kinh tế vẫn chưa đầy đủ và đồng
bộ, thiếu một số đạo luật quan trọng Nhiều văn bản pháp quy dưới luật chưa được ban hành kịp thời và thiếu nhất quán đã gây không ít cản trở trong quá trình thực hiện Chất lượng một số luật về kinh tế, một số văn bản pháp quy dưới luật còn yếu
Việc mở các lớp bồi dưỡng về khoa học kỹ thuật mới đối với hộ nghèo còn
ít, hiệu quả chưa cao Nhà nước chưa định hướng cụ thể cho người dân nên trồng cây gì, nuôi con gì cho phù hợp với điều kiện từng vùng, từng thời kỳ Rủi ro trong SXKD của hộ nghèo chưa được xử lý kịp thời để hỗ trợ họ
1.1.3.2 Nhóm nguyên nhân do bản thân hộ nghèo
Hộ nghèo thường thiếu nhiều thứ như: Tri thức, học vấn, kỹ năng lao động, khả năng tiếp cận thị trường, sức khỏe
Người nghèo thường thiếu nhiều nguồn lực (vốn SXKD, kiến thức và kỹ năng làm ăn, tư liệu sản xuất: Đất sản xuất, công cụ lao động, sức kéo…); trong đó, thiếu khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng để SXKD là một lực cản lớn nhất trong việc thoát khỏi đói nghèo Người nghèo thường không đủ điều kiện để vay được nhiều vốn, trong khi nguồn vốn tự có khiêm tốn hoặc không có Thiếu vốn là một trong những nguyên nhân trì hoãn khả năng đổi mới sản xuất, áp dụng khoa học công nghệ, giống mới…Mặc dù trong khuôn khổ của dự án tín dụng cho người nghèo thuộc chương trình XĐGN quốc gia, khả năng tiếp cận tín dụng đã tăng lên rất nhiều Song vẫn còn khá nhiều người nghèo, đặc biệt là người rất nghèo không
Trang 23có khả năng tiếp cận với các nguồn tín dụng Một mặt, không có tài sản thế chấp, những người nghèo phải dựa vào tín chấp với các khoản vay nhỏ, hiệu quả thấp đã làm giảm khả năng hoàn vốn Mặt khác, đa số người nghèo không có kế hoạch sản xuất cụ thể, hoặc sử dụng các nguồn vốn vay không đúng mục đích, do vậy họ khó
có điều kiện tiếp cận các nguồn vốn và cuối cùng sẽ làm cho họ càng nghèo hơn Người nghèo, đồng bào dân tộc ít người và các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt thường có trình độ học vấn thấp, nên không có khả năng tự giải quyết các vấn đề vướng mắc liên quan đến pháp luật Nhiều văn bản pháp luật có cơ chế thực hiện phức tạp, người nghèo khó khăn nắm bắt, mạng lưới các dịch vụ pháp lý, số lượng các luật gia, luật sư hạn chế, phân bố không đều, chủ yếu ở các vùng thành phố, thị xã… Nên người nghèo khó tiếp cận; hơn nữa phí dịch vụ pháp lý còn cao so với khả năng tài chính của họ
Hộ nghèo thường gặp khó khăn và thiếu tự tin trong việc giải quyết các vấn
đề của chính bản thân mình Về giao tiếp xã hội, người nghèo thường quan hệ với những người nghèo như mình, hoặc nghèo hơn mình Không muốn quan hệ với những người khá giả hơn mình Từ đó, càng làm hạn chế về khả năng tiếp cận tư duy mới, cũng như kinh nghiệm làm kinh tế giỏi Đây là một cản trở lớn trong công cuộc XĐGN
Đại đa số hộ nghèo kiến thức và kỹ năng về sản xuất yếu, phương pháp canh tác cổ truyền đã ăn sâu vào tiềm thức Sản xuất tự cung, tự cấp là chính, chưa có khái niệm về sản xuất hàng hoá Kiến thức về marketting không có; bán các sản phẩm làm ra, nhưng chưa qua chế biến, nên giá trị thấp; sản phẩm làm ra chưa xuất phát từ nhu cầu của thị trường (bán sản phẩm của mình có, chứ không bán cái mà thị trường cần) Người nghèo thường sống ở những vùng xa xôi hẻo lánh, giao thông đi lại khó khăn, thiếu phương tiện thông tin liên lạc, con cái thất học…Thiếu việc làm, không năng động tìm kiếm việc làm, lười biếng lao động Do sinh con nhiều, đông con vừa là nguyên nhân, vừa là hệ quả của đói nghèo Trong gia đình các hộ nghèo mặc dù nhân khẩu nhiều, nhưng số người có sức lao động lại ít Các
hộ gia đình nghèo rất dễ bị tổn thương bởi những khó khăn hàng ngày và những biến động bất thường xảy ra đối với cá nhân, gia đình hay cộng đồng Do nguồn thu
Trang 24nhập của họ rất thấp, bấp bênh, khả năng tích luỹ kém, nên họ khó có khả năng chống chọi với những biến cố xảy ra trong cuộc sống (mất mùa, mất việc làm, thiên tai, mất nguồn lao động, mất sức khoẻ…) Với khả năng kinh tế mong manh của các
hộ gia đình nghèo trong khu vực nông thôn, những đột biến này sẽ tạo ra nhưng bất
ổn lớn trong cuộc sống của họ “Các rủi ro trong SXKD đối với người nghèo cũng rất cao, do họ không có trình độ tay nghề và thiếu kinh nghiệm làm ăn Khả năng đối phó và khắc phục các rủi ro của người nghèo cũng rất kém, do nguồn thu nhập hạn hẹp làm cho hộ gia đình mất khả năng khắc phục rủi ro và có thể còn gặp rủi ro
hơn nữa.” (Nguyễn Thành, Bill Tod, Lê Văn Sở, 2003)
Bệnh tật và sức khỏe kém cũng là yếu tố đẩy con người vào tình trạng đói nghèo Khi bị bệnh tật, hộ nghèo phải gánh chịu mất đi thu nhập từ lao động và chi phí cao cho việc khám chữa bệnh; do vậy đẩy họ vào chỗ vay mượn, cầm cố tài sản
để trang trải chi phí, dẫn đến tình trạng có ít cơ hội cho người nghèo thoát khỏi đói nghèo Trong khi đó, khả năng tiếp cận các dịch vụ phòng bệnh của người nghèo còn hạn chế: Tình trạng sức khỏe của người Việt Nam trong thập kỷ qua đã được cải thiện, song tỷ lệ người nghèo mắc các bệnh vẫn còn khá cao Bệnh tật và sức khoẻ yếu ảnh hưởng đến việc lao động sản xuất và tìm việc làm của người nghèo Theo số liệu điều tra, mức sống năm 2011, chi tiêu cho y tế, chăm sóc sức khỏe của nhóm hộ giàu nhất cao gấp 3.6 lần so với nhóm hộ nghèo nhất, hộ thành thị cao gấp 1.4 lần hộ nông thôn Cũng có những hộ nghèo do có người không chịu làm việc, hoặc hay uống rượu, hoặc chơi cờ bạc
1.1.4 Sự cần thiết phải đẩy mạnh xoá đói giảm nghèo
1.1.4.1 Đói nghèo là nguyên nhân gây mất ổn định xã hội, phá hoại môi trường và cản trở nâng cao dân trí
Đa số người nghèo hiện sống tại khu vực nông thôn Sự chênh lệch ngày càng tăng giữa nông thôn và thành thị là nguyên nhân chính gây nên các vấn đề xã hội Ở nông thôn đất sản xuất có hạn và ngày càng bị thu hẹp; ngành nghề phụ một
số nơi không phát triển và có thu nhập thấp hoặc không có ngành nghề phụ dẫn đến thời gian nông nhàn nhiều, hậu quả góp phần làm nảy sinh các tệ nạn xã hội như cờ bạc, trộm cắp, nghiện hút Các nguồn tài nguyên xuống cấp và cạn kiệt, đánh bắt cá
Trang 25quá mức và các môi trường tự nhiên biển bị phá hủy; môi trường tự nhiên ở vùng đất mặn và ven biển bị mất đi; mất đất rừng tự nhiên ở các vùng núi, cùng với sự phá hoại hệ sinh thái đa dạng; các vùng đất có vấn đề ngày càng lan rộng do sử dụng đất kém và không đúng cách, ô nhiễm nước mặn, đất và nguồn nước khu vực nông thôn Những mất mát đi kèm với việc các hộ nghèo buộc phải bán đất, di dân
tự do ra thành thị và ven đô, nơi họ sinh sống thiếu hoặc không có những dịch vụ cơ bản, một bộ phận con cái họ dễ trở thành nạn nhân của tội phạm (trộm cắp, buôn bán hàng cấm, gái mại dâm…) và sự xuống cấp của môi trường xung quanh tăng ở mức ngoài tầm kiểm soát…Nhiều hộ cả vợ chồng bỏ ra thành phố làm ăn, một năm
về nhà vài lần, ở nhà các con tự nuôi nhau hoặc ở nhà với ông bà già, các con thiếu
sự quản lý, thiếu tình thương bố mẹ, nhiều trường hợp học hành giảm sút bị bỏ dở, tham gia trộm cắp…Tại thành phố sự chênh lệch giàu nghèo rõ nét, thiếu việc làm, không có đất để sản xuất dẫn đến một số người làm ăn phi pháp, tệ nghiện hút ở thanh niên ngày càng gia tăng…
1.1.4.2 Đói nghèo làm ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Mục tiêu tổng quát của Việt Nam trong giai đoạn 5 năm 2011- 2015 là: “ Phát triển nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng nhanh, bền vững, tăng cường tiềm lực phát triển của đất nước, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và chủ động hội nhập quốc tế, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế; đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cải thiện đời sống nhân dân đi đôi với xóa đói, giảm nghèo, tạo việc làm, bảo đảm an ninh xã hội ”
Để đạt được những mục tiêu này, cần phải tiếp tục chuyển đổi cơ cấu kinh tế,
cơ cấu lao động theo hướng nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền kinh
tế Mở rộng và phát triển quan hệ kinh tế quốc tế, tăng cường cở sở hạ tầng kinh tế -
xã hội, cải thiện hệ thống giáo dục đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Tăng cường các lợi thế cạnh tranh trong các cam kết thương mại song phương và đa phương nhằm chủ động hội nhập kinh tế thế giới
Tăng trưởng phải đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, nhằm tạo thêm việc làm, cải thiện sức khoẻ cộng đồng, XĐGN và ngăn
Trang 26chặn kịp thời và có hiệu quả các tệ nạn xã hội Muốn thực hiện các mục tiêu nêu trên, thì yếu tố con người là yếu tố đầu tiên và có tính chất quyết định Vì vậy, phát triển con người là mục tiêu hàng đầu, vừa là động lực to lớn khơi dậy mọi tiềm năng của cá nhân và tập thể trong công cuộc xây dựng đất nước giàu mạnh XĐGN là một trong những chính sách xã hội hướng phát triển con người, nhất là đối với nhóm người nghèo, tạo cơ hội cho họ tham gia vào quá trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước Đói nghèo và lạc hậu bao giờ cũng đi đôi với gia tăng dân số, suy giảm thể lực, trí lực… Vì vậy, XĐGN là một yêu cầu cấp thiết
XĐGN góp phần thực hiện công bằng xã hội thể hiện trên các mặt:
Mở rộng cơ hội lựa chọn cho cá nhân và nhóm người nghèo, nâng cao năng lực cá nhân để thực hiện có hiệu quả sự lựa chọn của mình trong tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống
Tạo cơ hội cho sự phát triển đồng đều giữa các vùng, giảm khoảng cách
và sự chênh lệch quá đáng về mức sống giữa nông thôn và thành thị, các nhóm dân cư XĐGN tham gia vào điều chỉnh cơ cấu đầu tư hợp lý hơn, từng bước thực hiện sự phân phối công bằng cả trong khâu phân phối tư liệu sản xuất lẫn
ở khâu phân phối kết quả sản xuất cho mỗi người, nhất là nhóm người nghèo
Hỗ trợ tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận dịch vụ xã hội, nhất là những dịch vụ xã hội cơ bản
XĐGN không đơn giản là việc phân phối lại thu nhập một cách thụ động, mà phải tạo ra động lực tăng trưởng tại chỗ, chủ động vươn lên thoát nghèo XĐGN không đơn thuần là sự trợ giúp một chiều của tăng trưởng kinh tế đối với các đối tượng có nhiều khó khăn; mà còn là nhân tố quan trọng tạo ra một mặt bằng tương
Trang 27đối đồng đều cho phát triển, tạo thêm một lực lượng sản xuất dồi dào và bảo đảm sự
ổn định cho giai đoạn “cất cánh”
Do vậy, các chính sách ban hành để thực thi chương trình XĐGN giữ vai trò quan trọng, góp phần tích cực hoàn thành mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững của nền kinh tế trên diện rộng với chất lượng cao, tạo cơ hội thuận lợi để người nghèo và cộng đồng nghèo tiếp cận được các cơ hội SXKD và hưởng thụ được từ thành quả tăng trưởng, tạo điều kiện thu hẹp dần khoảng cách chênh lệch giữa các vùng trong cả nước
1.2 Tín dụng và hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo
1.2.1 Những vấn đề cơ bản về tín dụng đối với hộ nghèo
Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay là ngân hàng và bên đi vay là cá nhân doanh nghiệp và các chủ thể khác; trong đó, bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán
1.2.1.2 Đặc điểm
- Hoạt động tín dụng ngân hàng đều được thực hiện dưới hình thức tiền tệ Khi nói các hình thức tín dụng khác, chẳng hạn tín dụng thương mại, việc vay mượn dưới hình thức hiện vật (hàng hoá); ngược lại, các nghiệp vụ tín dụng ngân hàng đều được thực hiện bằng tiền tệ Trên cơ sở huy động mọi nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi hoặc lâu dài trong nền kinh tế, để hình thành quỹ cho vay; đồng thời các Ngân hàng thương mại cũng tiến hành cho các tác nhân và tư nhân vay để bổ sung cho nhu cầu SXKD hoặc tiêu dùng Do huy động và cho vay bằng
Trang 28tiền, nên đối tượng cho vay của ngân hàng rất linh hoạt và đáp ứng mọi nhu cầu trong nền kinh tế
- Ngân hàng thương mại đóng vai trò vừa là người đi vay, vừa là người cho vay; ở đây ngân hàng đóng vai trò là tổ chức trung gian tài chính
- Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng độc lập tương đối với sự vận động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội
1.2.1.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hộ nghèo
Tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng đối với hộ nghèo Nó được coi là công cụ quan trọng để phá vỡ vòng luẩn quẩn của thu nhập thấp, tiết kiệm thấp và năng suất thấp, là chìa khoá vàng để giảm nghèo Vai trò tín dụng ngân hàng được thể hiện ở một số nội dung sau:
- Cung cấp vốn tín dụng, góp phần cải thiện thị trường tài chính cộng đồng, nơi có hộ nghèo sinh sống:
Vốn tín dụng cho người nghèo đã góp phần cải thiện tình hình thị trường tài chính khu vực nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng
có nhiều đồng bào dân tộc ít người sinh sống Trong ba yếu tố cơ bản để hộ nghèo
có điều kiện SXKD; đó là vốn bằng tiền hoặc đất đai, lao động và kỹ thuật; trong
đó, vốn bằng tiền đóng vai trò quan trọng nhất vì nếu có vốn bằng tiền, thì người sản xuất có thể mua sắm các tư liệu sản xuất khác, kể cả đất đai Hiện nay, tích luỹ của người nghèo ở nước ta rất thấp, do đó hầu như các hộ nghèo đều thiếu vốn để SXKD Nhờ nguồn vốn của ngân hàng mà các hộ nghèo có điều kiện tiếp cận được khoa học kỹ thuật, công nghệ mới như các giống cây, con mới, kỹ thuật canh tác mới và cũng nhờ vay vốn, mà hộ nghèo tiếp cận được với công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư
- Tín dụng ngân hàng làm giảm tệ nạn cho vay nặng lãi:
Tệ nạn cho vay nặng lãi đã có từ lâu đời nay, hiện nay vẫn đang tồn tại khá nặng nề ở nông thôn, nhất là vùng cao, vùng sâu, vùng xa Cho vay nặng lãi thể hiện
ở lãi suất cao hơn nhiều so với lãi suất cho vay của ngân hàng hoặc dưới dạng mua bán sản phẩm non như lúa non, lạc non, mía non…ở thời kỳ giáp hạt
Do nhu cầu cấp bách (thường là do đói kém, ốm đau bệnh tật, chi phí con đi học hoặc nhu cầu đột xuất), nên họ phải vay nặng lãi Tín dụng nặng lãi gây nhiều
Trang 29tác hại cho người dân, đặc biệt là hộ nghèo, làm cho hộ nghèo càng nghèo thêm Chính hoạt động tín dụng ngân hàng, nhất là NHCSXH đã trực tiếp làm giảm tệ nạn cho vay nặng lãi
- Giúp người nghèo có việc làm, nâng cao kiến thức tiếp cận thị trường, có điều kiện hoạt động SXKD trong nền kinh tế thị trường:
Cung ứng vốn cho người nghèo theo chương trình, với mục tiêu đầu tư cho SXKD để XĐGN; sau một thời gian thu hồi cả gốc và lãi đã buộc người vay phải tính toán trồng cây gì, nuôi con gì, làm nghề gì và làm như thế nào để có hiệu quả kinh tế cao, tăng thu nhập cho gia đình; đồng thời trả nợ cho ngân hàng Để làm được điều đó, họ phải học hỏi kỹ thuật sản xuất, suy nghĩ biện pháp quản lý Từ đó, tạo cho họ tính năng động, sáng tạo trong lao động sản xuất, tích luỹ được kinh nghiệm trong công tác quản lý kinh tế Mặt khác, khi số đông người nghèo sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá thông qua việc trao đổi trên thị trường, làm cho họ tiếp cận được kinh tế thị trường một cách trực tiếp Đồng thời giải quyết tình trạng không có việc làm cho hàng vạn lao động nghèo, phát huy tiềm năng sẵn có của các
hộ gia đình Như chúng ta đã biết diện tích đất nông nghiệp trên đầu người hiện nay
ở các vùng nông thôn của đất nước quá thấp (do quá trình đô thị hoá nhanh làm cho diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp) Trong khi đó, số lao động nông thôn ngày càng tăng (một phần do sinh đẻ không có kế hoạch), sản xuất thuần nông (không có ngành nghề phụ) nên thời gian nông nhàn của người nghèo lớn (thời gian làm việc của một lao động trong một năm chỉ khoảng 100 ngày, còn 265 ngày không có việc làm) Tình trạng không có việc làm diễn ra phổ biến ở các vùng nông thôn Thông qua vốn tín dụng cho người nghèo đã hỗ trợ phát triển ngành nghề ở nông thôn, như: Chế biến nông sản, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ phục vụ sản xuất
và đời sống cũng như thủ công mỹ nghệ, ngành nghề truyền thống Nhờ vậy, đã giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động Giải quyết phần lớn thời gian nông nhàn Tận dụng lao động để khai thác ngành nghề truyền thống, khai thác tiềm năng nội lực, tạo cơ hội cho người nghèo tự vận động, vượt qua khó khăn, vươn lên thoát khỏi đói nghèo hoà nhập cộng đồng
Trang 30- Cung ứng vốn cho người nghèo góp phần xây dựng nông thôn mới:
Tín dụng cho người nghèo của NHCSXH thực hiện theo các quy định nghiệp
vụ như bình xét công khai đối tượng được vay, thành lập tổ vay vốn, phải qua sự kiểm tra của chính quyền xã, phường, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp từ Trung ương đến xã, vốn vay được phát trực tiếp tận người vay Do đó, thông qua vay vốn, các hộ nghèo trong tổ cùng giúp đỡ nhau trong sản xuất và đời sống; trao đổi kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm quản lý kinh tế, chia sẻ rủi ro, hoạn nạn Thông qua đó mà tình làng nghĩa xóm được gắn bó hơn Đồng thời số lượng các hội viên sinh hoạt tại các tổ chức hội (HND, HPN, HCCB, ĐTN) ngày càng đông, hoạt động của các tổ chức hội phong phú hơn về nội dung, các hội làm dịch vụ uỷ thác cho vay hộ nghèo cũng có thêm khoản thu nhập từ phí uỷ thác ngân hàng trả theo tỷ
lệ và định kỳ nhất định (hàng quý) Kết quả phát triển kinh tế đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế nông thôn Trật tự an ninh, an toàn xã hội được giữ vững; hạn chế được những mặt tiêu cực, tạo ra bộ mặt mới trong đời sống kinh tế - xã hội ở nông thôn
1.2.2 Hiệu quả tín dụng hộ nghèo
Đối với các Ngân hàng thương mại, thì các dịch vụ tín dụng là một trong những sản phẩm quan trọng nhất của ngân hàng, chúng gồm các khoản cho vay và các dịch vụ mang tính chất tín dụng Đối với NHCSXH hiện nay, các khoản cho vay chiếm tỷ trọng chủ yếu trong hoạt động tín dụng ngân hàng và chúng là sản phẩm
dễ bị rủi ro nhất Khái niệm hiệu quả tín dụng hộ nghèo ở đây được hiểu là hiệu quả cho vay
1.2.2.1 Khái niệm
Hiệu quả tín dụng hộ nghèo xét trên các khía cạnh:
- Thực hiện bình xét dân chủ, công khai, vốn đến đầy đủ, đúng địa chỉ hộ nghèo cần vay vốn (hộ nghèo có sức lao động, có khả năng SXKD nhưng thiếu vốn)
và được sử dụng đúng mục đích
- Quy mô tín dụng: Quy mô tín dụng đối với hộ nghèo được thể hiện ở số tuyệt đối dư nợ tín dụng đối với hộ nghèo trong tổng dư nợ ngân hàng, doanh số cho vay, thu nợ hộ nghèo; số tiền vay đối với một hộ Số tuyệt đối dư nợ lớn và tỷ trọng dư nợ cao, doanh số cho vay, thu nợ lớn thể hiện hoạt động tín dụng ngân hàng đã đáp ứng tốt nhu cầu vốn của các hộ nghèo
Trang 31- Chất lượng tín dụng: Chất lượng tín dụng đối với hộ nghèo thể hiện ở mức
độ an toàn tín dụng, khả năng hoàn trả và hiệu quả sử dụng vốn tín dụng của người vay) Nếu tỷ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợ hộ nghèo thấp, cho thấy các khoản tín dụng đối với hộ nghèo an toàn, lành mạnh Tỷ lệ nợ quá hạn cao, phản ảnh sự rủi ro các khoản tín dụng
- Khả năng bảo toàn vốn: Khi ngân hàng cho hộ nghèo vay vốn để phát triển SXKD Ngân hàng tính toán được khả năng thu hồi vốn (cả gốc và lãi), sau khi trừ các chi phí thì vẫn có lãi Từ đó ngân hàng có thể duy trì và mở rộng hoạt động phục vụ của mình
- Mức độ đáp ứng nhu cầu vốn hợp lý cho hộ nghèo, hỗ trợ hộ nghèo phát triển kinh tế, tăng thu nhập vươn lên thoát khỏi đói nghèo, hoà nhập cộng đồng
- Số hộ nghèo thoát khỏi đói nghèo nhờ vay vốn, số việc làm được giải quyết thông qua vay vốn NHCSXH
1.2.2.2 Tiêu chí đánh giá hiệu quả tín dụng hộ nghèo
Tín dụng là hoạt động nghiệp vụ quan trọng nhất của một ngân hàng nói chung, dư nợ tín dụng là khoản mục chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản có của ngân hàng Tín dụng cũng là hoạt động mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho các ngân hàng, thông qua việc đáp ứng nhu cầu vốn hợp lý cho khách hàng Hiệu quả tín dụng đối với ngân hàng là một chỉ tiêu tổng hợp được đánh giá liên quan đến lợi ích của 03 đối tượng: Lợi ích khách hàng vay vốn, ngân hàng và nền kinh tế- xã hội
Trong luận văn này tác giả xin đi sâu đánh giá cụ thể về hiệu quả tín dụng hộ nghèo của NHCSXH
(1) Hiệu quả kinh tế
a Về phía hộ nghèo
- Hiệu quả tín dụng ngân hàng đối với hộ nghèo được thể hiện ở doanh số vay, trả (gốc, lãi) đúng hạn, tỷ lệ nợ quá hạn thấp, rủi ro trong sử dụng vốn thấp Nếu doanh số vay của hộ lớn, hộ vay sử dụng vốn đúng mục đích, trả nợ (gốc, lãi) đầy đủ, đúng hạn cho ngân hàng, trong quá trình sử dụng vốn không gặp các rủi ro gây thất thoát vốn, sau khi trừ đi các khoản chi phí vẫn còn có lãi, thể hiện vốn sử dụng có hiệu quả
Trang 32- Biểu hiện qua việc sử dụng vốn của hộ nghèo vào SXKD như thế nào? Nếu hộ nghèo vay vốn về SXKD thuận lợi, sản xuất nhiều hàng hoá bán thu được lợi nhuận cao, sau khi trừ đi phần trả nợ cho ngân hàng (gốc, lãi), trả tiền công lao động, mà vẫn có lãi, thì đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cao Ngược lại, nếu vay vốn
về SXKD thua lỗ thì hiệu quả thấp; thậm chí mất vốn Có nhiều trường hợp vay vốn ngân hàng về chăn nuôi, trồng trọt, tuy đã trả hết nợ cho ngân hàng đúng kỳ hạn, nhưng vẫn bị đánh giá là hiệu quả thấp vì nguồn để trả nợ cho ngân hàng phải đi vay chỗ khác, chứ không phải từ nguồn thu nhập của người vay Trường hợp này, nếu không đi vay chỗ khác thì hộ nghèo phải bán tài sản hình thành từ vốn vay để trả nợ Cho nên, nếu chỉ nhìn một mặt trả nợ của hộ vay cho ngân hàng để đánh giá
hộ vay sử dụng vốn có hiệu quả là chưa đủ
- Hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo cũng được đánh giá thông qua tiêu chí:
Tỷ suất lợi nhuận và mức sống của hộ nghèo; nếu tỷ suất lợi nhuận được tăng lên, mức sống hộ nghèo được cải thiện tốt, thì hiệu quả tín dụng tốt
- Thông qua việc sử dụng vốn vào SXKD, trình độ quản lý kinh tế của người vay được nâng lên Người nghèo có điều kiện tiếp cận được với kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi tiến tiến, có điều kiện áp dụng khoa học kỹ thuật mới Đây cũng là một trong những tiêu chí đánh giá hiệu quả tín dụng mang lại cho hộ nghèo
- Số hộ thoát nghèo là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá hiệu quả của tín dụng đối với hộ nghèo Hộ đã thoát khỏi ngưỡng đói nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người cao hơn chuẩn mực đói nghèo hiện hành, không còn nằm trong danh sách hộ nghèo do Phòng LĐ- TB&XH huyện, thị, thành phố lập theo từng năm
kỳ
-
Số hộ nghèo trong danh sách cuối kỳ
-
Số hộ nghèo chuyển
đi địa bàn khác trong kỳ
+
Số hộ nghèo chuyển đến trong kỳ Mục tiêu của tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo là giúp họ có vốn sản xuất, thoát nghèo để hòa nhập cộng đồng và hơn thế nữa là ổn định tình hình chính trị -
Trang 33xã hội Do vậy, số hộ thoát khỏi nghèo đói hàng năm cao; trong đó, có hộ vay vốn NHCSXH, có nghĩa là vốn của NHCSXH đã được hộ nghèo sử dụng có hiệu quả Tuy nhiên, hiện nay tại một số địa phương việc đánh giá hộ thoát nghèo không chính xác, vì nhiều lý do khác nhau
- Tỷ lệ hộ nghèo được vay vốn: Đây là chỉ tiêu đánh giá về mặt lượng đối với công tác tín dụng Tỷ lệ này càng cao, một mặt thể hiện nguồn vốn tín dụng lớn để phục vụ hộ nghèo; mặt khác, đánh giá khả năng SXKD của hộ nghèo ngày càng lớn, nguồn vốn có hiệu quả (nếu sử dụng vốn không hiệu quả, thì hộ nghèo sẽ không có nhu cầu vay)
Thứ nhất, quy mô tín dụng: Quy mô tín dụng đối với hộ nghèo được thể hiện
ở số tuyệt đối dư nợ tín dụng đối với hộ nghèo và tỷ trọng dư nợ tín dụng hộ nghèo trong tổng số dư nợ tín dụng của NHCSXH Số tuyệt đối lớn và tỷ trọng dư nợ cao, thể hiện hoạt động tín dụng ngân hàng đã đáp ứng tốt nhu cầu vốn của hộ nghèo
Tỷ trọng dư nợ tín dụng đối với
Trang 34- Tỷ lệ nợ quá hạn là chỉ tiêu cơ bản mà ngân hàng đang dùng để đánh giá chất lượng tín dụng Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ % giữa nợ quá hạn và tổng dư nợ của ngân hàng tại một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm Khi một khoản vay không được hoàn trả đúng hạn như đã cam kết, mà không có lý
do chính đáng thì nó đã vi phạm nguyên tắc tín dụng và bị chuyển sang nợ quá hạn, với lãi suất quá hạn cao hơn lãi suất bình thường (lãi suất nợ quá hạn hiện nay bằng 130% lãi suất cho vay) Trên thực tế, các khoản nợ quá hạn thường là các khoản nợ
có vấn đề ( nợ xấu), có khả năng mất vốn (có nghĩa là tính an toàn thấp) Trong kinh
tế thị trường, nợ quá hạn đối với ngân hàng là khó tránh khỏi, vấn đề là làm sao để giảm thiểu nợ quá hạn Những ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn thấp được đánh giá chất lượng tín dụng tốt, hiệu quả tín dụng cao và ngược lại
Tỷ lệ nợ quá hạn cho vay hộ
Dư nợ quá hạn cho vay hộ nghèo Tổng dư nợ hộ nghèo
x 100%
Thứ ba, khả năng sinh lời: NHCSXH là một tổ chức tín dụng Nhà nước, hoạt
động không vì mục đích lợi nhuận, thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, nhưng phải bảo toàn vốn Muốn duy trì hoạt động bền vững thì NHCSXH phải có chênh lêch dương về thu, chi nghiệp
vụ Các khoản thu chủ yếu là thu lãi tiền vay; chi chủ yếu trả phí ủy thác, hoa hồng, trả lãi tiền vay NHCSXH cho hộ nghèo vay vốn phải thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn, hạn chế thấp nhất về rủi ro xảy ra (kể cả rủi ro bất khả kháng)
Thứ tư, mức độ đáp ứng nhu cầu vốn hợp lý của hộ nghèo, hỗ trợ hộ nghèo
phát triển kinh tế, vượt lên thoát đói nghèo Nếu nguồn vốn của ngân hàng đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn ngày càng tăng của hộ nghèo, thì đánh giá hiệu quả của NHCSXH đối với tín dụng hộ nghèo cao và ngược lại
Thứ năm, về thủ tục đơn giản, thuận tiện, cung cấp nhanh chóng, giảm bớt
chi phí trong hoạt động cho vay, nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng
(2) Hiệu quả xã hội
a Đối với hộ nghèo
- Tạo việc làm cho người lao động: Thông qua công tác cho vay hộ nghèo,
đã thu hút được một bộ phận con, em của hộ nghèo có việc làm ổn định, tạo thêm
Trang 35nhiều của cải cho gia đình và xã hội, góp phần hạn chế tệ nạn xã hội, ổn định trật tự chính trị và an toàn xã hội
- Các vùng nghèo, xã nghèo, nhờ nguồn vốn tín dụng; đặc biệt là vốn tín dụng của ngân hàng phục vụ người nghèo trước đây, nay là NHCSXH đã xoá bỏ được tình trạng vay nặng lãi và bán nông sản non, góp phần thay đổi bộ mặt đời sống nhân dân nông thôn Tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước Thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với hộ nghèo
b Đối với ngân hàng
- Nếu hiệu quả tín dụng của NHCSXH được nâng lên, thì không chỉ các hộ nghèo được vay vốn, mà ngân hàng còn có điều kiện để phục vụ các hộ thuộc vùng khó khăn trong các khoản vay thương mại; phục vụ chính sách phát triển kinh tế của Chính phủ, của địa phương Đây chính là sự tồn tại và phát triển bền vững của NHCSXH
- Mức độ đóng góp vào sự phát triển kinh tế, xã hội của địa phương: Nếu hiệu quả tín dụng cao, ngân hàng sẽ có thêm điều kiện để phục vụ tốt hơn nhu cầu vay vốn của các đối tượng; từ đó sẽ góp phần thúc đẩy kinh tế, xã hội của địa phương phát triển
- Thông qua cho vay của NHCSXH, đã kéo theo một đội ngũ cán bộ ở cấp
xã, huyện vào cuộc cùng ngân hàng, số tiền hoa hồng tổ nhóm, phí ủy thác đã là nguồn thu đáng kể đối với ban quản lý tổ vay vốn và tổ chức hội
- Thông qua vay vốn hộ nghèo, nội dung hoạt động của các tổ chức hội càng thêm phong phú, số lượng hội viên tham gia sinh hoạt ngày càng đông
1.2.2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng hộ nghèo
(1) Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo, những hộ sống ở vùng đồng bằng, nơi có cơ sở hạ tầng tốt, trình độ dân trí cao, khí hậu ôn hòa, đất đai rộng, thì vốn tín dụng hộ nghèo dễ có điều kiện phát huy hiệu quả cao và ngược lại, những nơi cơ sở hạ tầng thấp kém, giao thông đi lại khó khăn, đất đai ít, cằn cỗi, khí hậu khắc nghiệt thì vốn tín dụng phát huy hiệu quả không cao
Trang 36(2) Điều kiện xã hội
Do tập quán canh tác ở một số nơi vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa còn lạc hậu, như chăn nuôi gia súc, gia cầm thả rông, không có chuồng trại, không tiêm phòng dịch, nên hiệu quả không cao Từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tín dụng hộ nghèo Các hộ nghèo thường có số con đông hơn các hộ trung bình, nhưng sức lao động ít; trình độ học vấn của chủ hộ và các thành viên trong gia đình thấp, nên sử dụng vốn kém hiệu quả Một số hộ nghèo do nhận thức còn hạn chế, xem nguồn vốn tín dụng của NHCSXH là vốn cấp phát, cho không của Nhà nước, nên sử dụng chủ yếu vào sinh hoạt trong gia đình; không đầu tư vào SXKD; vốn sử dụng không có hiệu quả, dẫn đến không trả nợ cho Ngân hàng
(3) Điều kiện kinh tế
Vốn tự có của hộ nghèo hầu như không có (chỉ có sức lao động), nên vốn SXKD chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng cũng là một yếu tố làm giảm hiệu quả của vốn vay Cùng với việc thiếu vốn SXKD, thì việc lồng ghép tập huấn các chương trình như: Khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư…hạn chế cũng góp phần làm giảm hiệu quả tín dụng hộ nghèo
Điều kiện y tế, giáo dục, thị trường cũng có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả tín dụng hộ nghèo Những nơi có trạm y tế, có đội ngũ y, bác sỹ đầy đủ, thì nơi đó việc chăm sóc sức khỏe cho người dân được đảm bảo, người dân có sức khỏe tốt đồng nghĩa với sức lao động tốt, có điều kiện để SXKD tốt, sử dụng vốn có hiệu quả; trong đó, có vốn tín dụng hộ nghèo và ngược lại Giáo dục có ý nghĩa quyết định đến việc sử dụng vốn tín dụng có hiệu quả Nếu nơi nào có tỷ lệ người được học cao, thì nơi đó dễ có điều kiện tiếp thu khoa học, kỹ thuật vào sản xuất; nơi đó con người có ý thức tốt hơn; SXKD có hiệu quả, chấp hành pháp luật Nhà nước và thực hiện việc trả nợ cho ngân hàng Tuy nhiên, thực trạng hiện nay có những vùng sâu, vùng xa, vùng điều kiện đi lại khó khăn (vùng đồng bằng Sông Cửu Long…) tỷ lệ học sinh bỏ học nhiều Đó là chưa kể đến việc học sinh đi học ngồi nhầm lớp, có trường học ở miền núi tỷ lệ đậu tốt nghiệp trung học phổ thông năm học 2006- 2007 dưới 1% Cá biệt có trường 100% học sinh trượt tốt nghiệp lần 1
Thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng hộ nghèo Nơi nào có chợ, chợ họp thường xuyên, thì nơi đó kinh tế phát triển, hàng
Trang 37hóa sản xuất ra dễ tiêu thụ, người dân tiếp cận được với khoa học kỹ thuật, có điều kiện tiếp cận được kinh tế thị trường
(4) Chính sách nhà nước
Sự can thiệp (điều tiết) của Nhà nước đối với nền kinh tế là một tác nhân quan trọng đối với sự ổn định và phát triển kinh tế Sự điều tiết của Nhà nước đúng, kịp thời sẽ giúp môi trường kinh tế được lành mạnh hóa, hoặc ngược lại sẽ gây rối loạn thị trường Để Nhà nước có các chính sách hỗ trợ vốn cho các vùng nghèo, xã nghèo, hộ nghèo kịp thời, liên tục; có chính sách hướng dẫn hộ đầu tư vốn vào lĩnh vực nào trong từng thời kỳ, xử lý rủi ro kịp thời cho hộ nghèo, thì vốn vay dễ có điều kiện phát huy hiệu quả cao Sản phẩm làm ra của hộ nghèo, nếu có thị trường tiêu thụ tốt, thì dễ tiêu thụ có lợi nhuận và hiệu quả đồng vốn cao và ngược lại; nếu Nhà nước có các chính sách đúng, kịp thời hỗ trợ hộ nghèo trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, thì góp phần làm cho việc sử dụng vốn có hiệu quả Nhà nước phải đầu tư cơ sở hạ tầng, bao gồm xây dựng và nâng cấp các con đường giao thông nông thôn, các công trình thuỷ lợi và chợ Hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, bao gồm cung cấp giống mới và các loại vật tư nông nghiệp khác, tập huấn và khuyến nông
để người nghèo có các điều kiện cần thiết sử dụng vốn có hiệu quả
5) Bản thân hộ nghèo
Khách hàng vay vốn của NHCSXH hiện nay chủ yếu là hộ nghèo và các đối tượng chính sách, mà hộ nghèo thường thiếu nhiều thứ; trong đó, có tri thức, kinh nghiệm SXKD, dẫn đến hiệu quả của SXKD hạn chế, sản phẩm sản xuất ra chi phí cao, chất lượng và khả năng cạnh tranh kém khó vượt qua các rủi ro trong sản xuất
và đời sống Về vốn chủ yếu là vốn vay ngân hàng, không có vốn tự có, dẫn đến bị động về vốn sản xuất Nếu hộ nghèo có ý thức sử dụng vốn đúng mục đích gặp thuận lợi trong sản xuất, chăn nuôi thì có hiệu quả Tuy nhiên, hiện nay tại một số vùng đặc biệt khó khăn là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự trợ giúp của Nhà nước Một số hộ nghèo do ý thức kém, nên sử dụng vốn sai mục đích, không chấp hành việc trả nợ (gốc, lãi) cho ngân hàng đúng hạn
Trang 381.3 Kinh nghiệm một số nước về nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo
1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước
1.3.1.1 Kinh nghiệm cho vay XĐGN của Ngân hàng Grameen (Bangladesh)
Bangladesh là một nước nông nghiệp lạc hậu, diện tích tự nhiên gần 143.000
km2, dân số khoảng 120 triệu người, thuộc nước nghèo nhất thế giới; trong đó, 80% dân số sinh sống ở nông thôn GDP bình quân đầu người dưới 200 USD, nhưng bình quân GDP của nông dân chỉ hơn 100USD/năm Dân trí thấp, nhiều người mù chữ Bangladesh là nước đồng bằng, thiên tai thường xuyên xảy ra Do đó, đời sống của đa số nông dân rất thiếu thốn
Ngân hàng Grameen (có nghĩa là làng xã) hình thành từ năm 1976, vốn ban đầu chỉ có 28 USD của Giáo sư, TS Yumus sáng lập Hệ thống Ngân hàng Grameen gồm: Ngân hàng TW, trụ sở tại thủ đô Datka, Văn phòng đại diện tại các bang hoặc vùng, hơn 1.000 Chi nhánh khu vực ở nông thôn; dưới chi nhánh, mỗi làng có Trung tâm tín dụng do thành viên vay vốn tự xây dựng và tự quản lý, một thành viên làm trưởng Trung tâm tín dụng, mỗi Trung tâm tín dụng có ít nhất 10 Tổ tín dụng Mỗi Tổ tín dụng có 5 thành viên, một thành viên làm tổ trưởng Nông dân nghèo muốn được vay tiền Ngân hàng Grameen phải là thành viên của Ngân hàng Grameen và sinh hoạt trong một Tổ tín dụng, các thành viên trong nhóm được yêu cầu tuân thủ các nguyên tắc của Ngân hàng về tính kỷ luật, đoàn kết, dũng cảm và chăm chỉ, cũng như “16 quyết định” bao gồm:
Duy trì mô hình gia đình nhỏ, tất cả trẻ em đều được đến trường, thực hiện tiến bộ gia đình và giúp đỡ các thành viên khác trong nhóm khi gặp khó khăn Hàng tuần, các trung tâm tín dụng họp với các thành viên một lần, mỗi thành viên phải gửi 1 cata (đơn vị tiền tệ của Bangladesh) vào tài khoản tiền gửi của mình tại chi nhánh Ngân hàng Grameen
Quy chế cho vay của Tổ tín dụng: Đầu tiên 2 thành viên trong tổ được vay vốn; khi trả xong nợ, thì 2 thành viên tiếp theo được vay; tổ trưởng tín dụng là người vay cuối cùng Khi tổ trưởng trả xong nợ, thì lại có 2 thành viên khác được vay vốn, quy chế này được lặp đi, lặp lại Các thành viên trong Tổ tín dụng giám sát lẫn nhau về sử dụng vốn vay đúng mục đích, trả nợ đúng hạn và gửi tiền tiết kiệm
Trang 39Người vay không có tài sản thế chấp với Ngân hàng Grameen, tổn thất về tiền cho vay rất thấp, lãi suất cho vay Ngân hàng Grameen cao hơn lãi suất Ngân hàng thương mại Khi được vay vốn, người vay phải nộp khoản lệ phí, trên số tiền vay, để hình thành quỹ của Tổ tín dụng; trong đó có quỹ phòng ngừa rủi ro và quỹ này được gửi vào chi nhánh Grameen Khi một thành viên vay vốn không còn khả năng trả nợ,
Tổ tín dụng dùng quỹ dự phòng rủi ro để trả nợ thay cho thành viên của mình
Hiện nay, Ngân hàng Grameen có hơn 5 triệu thành viên, hơn 94% thành viên là nữ; vốn điều lệ 150 triệu taka, tương đương 3,75 triệu USD; trong đó, Nhà nước góp cổ phần 18 triệu taka, số còn lại là giá trị cổ phiếu của Ngân hàng TW Bangladesh, các NHTM, các tổ chức quốc tế là thành viên Ngân hàng Grameen hoạt động theo cơ chế tự chủ về tài chính; hạch toán kinh tế chung của cả hệ thống
và kinh doanh phải có lãi, Nhà nước không bù lỗ
Về mặt pháp lý: Nhà nước Bangladesh có bộ luật riêng cho Ngân hàng Grameen Ngân hàng TW Bangladesh cấp một giấy phép hoạt động cho Ngân hàng Grameen TW Trung tâm tín dụng thành lập theo làng và Tổ tín dụng thành lập theo xóm do các thành viên thành lập, trên tinh thần tự nguyện của thành viên Chi nhánh Ngân hàng Grameen phục vụ các thành viên Ngân hàng tại nhà (trong buổi họp các thành viên) Theo bộ luật Ngân hàng Grameen, Ngân hàng này không phải nộp bất cứ một loại thuế nào cho Nhà nước
Ủy ban quốc gia kiểm soát về tài chính - tín dụng, có trách nhiệm giám sát việc tuân thủ các chế độ; kiểm tra và thanh tra tại chỗ về tài chính Ngân hàng Grameen và các chi nhánh của Ngân hàng này
Hàng tuần Trung tâm tín dụng, tổ chức họp với các thành viên để kiểm điểm
và đôn đốc việc: Gửi tiền tiết kiệm, sử dụng vốn vay và trả nợ mỗi thành viên Nhân viên Chi nhánh Ngân hàng Grameen đến dự họp nhận tiền gửi của thành viên; tiền gửi của Tổ tín dụng; thu nợ; cho thành viên vay Ngoài cho vay sản xuất nông nghiệp, Chi nhánh Ngân hàng Grameen còn cho thành viên vay sinh hoạt như xây dựng nhà ở mới, sửa chữa nhà cũ, xây dựng nhà vệ sinh, tạo nguồn nước sạch, chữa bệnh…Một món cho vay của Chi nhánh Ngân hàng Grameen là 200 USD tương đương 3 triệu đồng
Trang 40Nguyên nhân thành công của Ngân hàng Grameen
Một là, tổ chức hệ thống của Ngân hàng Grameen khoa học; chặt chẽ; mang
tính tự quản giữa các thành viên cùng xóm, cùng làng, công khai, minh bạch
Hai là, Nhà nước Bangladesh khuyến khích Ngân hàng Grameen hoạt động
như: Không thu thuế và tạo hành lang pháp lý cho Ngân hàng Grameen hoạt động ngày một phát triển với tốc độ cao Huy động vốn chú ý đến những món tiền nhỏ, như trong một tuần mỗi thành viên phải gửi 01 taka vào tài khoản của mình (tức 4 taka một tháng); các Tổ tín dụng gửi quỹ của Tổ vào Chi nhánh Ngân hàng Grameen Do đó, nguồn vốn huy động rất bền vững
Ba là, Ngân hàng Grameen TW thực sự là chiếc cầu chuyển tải vốn từ thành
thị về nông thôn, điều hòa vốn từ nơi thừa vốn về nơi thiếu như vay vốn các NHTM, tiếp nhận vốn tài trợ trong nước và nước ngoài để cho nông dân nghèo vay, tạo cơ hội cho họ thoát nghèo
Bốn là, các thành viên có tinh thần tự giác và đoàn kết, giúp nhau thoát
nghèo Mỗi Tổ tín dụng có quỹ phòng ngừa rủi ro riêng, dùng để trả nợ thay cho thành viên mất khả năng trả nợ Cho nên Ngân hàng Grameen bảo tồn được vốn điều lệ và bổ sung vốn tự có ngày một tăng
Năm là, nhiều thành viên Ngân hàng Grameen có trình độ đại học, nhưng có
tinh thần phục vụ nông dân nghèo; đi sát các thành viên thông qua cuộc họp của Trung tâm tín dụng Chi nhánh Ngân hàng Grameen là Ngân hàng phục vụ “tại nhà”, thành viên như: Cho vay, thu nợ và nhận tiền gửi sau các cuộc họp
Sáu là, thủ tục cho vay của Ngân hàng Grameen đơn giản, nhưng chặt chẽ,
vì nông dân nghèo giám sát nhau sử dụng vốn vay và trả nợ Do đó, thành viên vay vốn không cần tài sản thế chấp Chi nhánh Ngân hàng Grameen cho thành viên vay phải có sự đồng ý của các thành viên trong tổ tín dụng
1.3.1.2 Kinh nghiệm cho vay XĐGN của Ấn Độ
Việc cấp tín dụng cho người nghèo thông qua NHNo có các chi nhánh tận cấp huyện Việc giải ngân tín dụng ưu đãi được thực hiện thông qua “Tổ tự lực”, mỗi Tổ có số thành viên từ 10- 20 người, tất cả đến từ các gia đình khác nhau, đa số