Kế hoạch năm 2008 đặt mục tiêu tăng GDP ở mức 8.5-9%, bằng cách vừa tập trung kêu gọi nước ngoài đầu tư trực tiếp và đầu tư tài chính gián tiếp, vừa tăng cường vaitrò của các tập đoàn qu
Trang 1Khủng hoảng kinh tế Việt Nam 2008:
sự sai lầm về chính sách và vai trò của tập
đoàn kinh tế quốc doanh*
Vũ Quang Việt
*Đây là bản viết lại bài “Vietnam’s Economic Crisis: Policy Follies and the
Role of State-Owned Conglomerates” trong
Southeast Asian Affairs 2009, tr 389-417
Nhập đề
Năm 2007 đã để lại một dấu ấn quan trọng trong lịch sử kinh tế khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Quốc tế(WTO) vào ngày 11 tháng 1 năm 2007 sau khi gói đề nghị của Việt Nam được Đại Hội đồng của WTO chấp nhận vào ngày 7 tháng 11 năm 2006 Đối với giớilãnh đạo chính trị và dân chúng Việt Nam, trở thành thành viên WTO là cuộc vượt rào cản cuối cùng để Việt Nam hoàn toàn có thể hòa nhập với cộng đồng thế giới, đặc biệt khi mà Mỹ lúc đó vẫn có khả năng ngăn chận chuyện này, và như thế chặn đường phát triển kinh tế của Việt Nam nhằm mục đích đòi hỏi cácnhân nhượng về chính trị Việc gia nhập WTO do đó được các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam coi là một thắng lợi lớn Và như tất cả các cuộc thắng lợi lớn trong quá khứ, dù là đối với Pháp hay với Mỹ, họ như được uống liều thuốc thánh, trở nên mê hoặc với các kế hoạch vĩ đại bất chấp thực tế
Lần này, chính quyền của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tin rằng việc nhanh chóng bắt kịp các nước trong khu vực đã nằm trong tầm tay Kế hoạch năm 2008 đặt mục tiêu tăng GDP ở mức 8.5-9%, bằng cách vừa tập trung kêu gọi nước ngoài đầu tư trực tiếp và đầu tư tài chính gián tiếp, vừa tăng cường vaitrò của các tập đoàn quốc doanh và các công ty con của chúng bằng cách cung cấp đất công, tiền ngân sách và tín dụng một cách dễ dãi
Về mặt chính trị, nội các của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng rất có thể đã tin rằng kế hoạch kinh tế này sẽ được sự ủng hộ của đảng viên và các chính quyền địa phương cả nước bởi vì nó mang lại lợi ích cho họ qua việc phát triển của các tập đoàn và tổng công ty quốc doanh bằng cách cấp tiền vốn ngân sách,
Trang 2phân phát quyền sử dụng đất, tạo ra cổ phần trong hàng trăm các công ty nửa tưnửa công mà các tập đoàn và tổng công ty nhanh chóng dựng nên Nhưng ngay trong năm 2008 kế hoạch này cũng nhanh chóng,làm lạm phát nhảy vọt, thị trường chứng khoán suy sụp và nền kinh tế bị đe dọa trầm trọng bởi khả năng xảy ra khủng hoảng cán cân thanh toán Việc này chưa làm mất ghế, nhưng đã làm mất uy tín của vị thủ tướng trẻ, người hình như có đầy tham vọng tập trungquyền điều hành kinh tế vào cá nhân mình Vào tháng 11 năm 2008, chính phủ Việt Nam đã phải giảm chỉ tiêu tăng GDP xuống 6,7%,[1] nhưng rồi cuối cùng cũng chỉ đạt được 6,2%
Phần đầu của bài viết sẽ đánh giá những nét quan trọng về kết quả đạt được trong nền kinh tế Phần này sẽ là cơ sở để tìm hiểu về hệ quả chính trị có
thể có trong phần hai
I Thành tích kinh tếTăng trưởng kinh tế
Nói về GDP, kinh tế Việt Nam có những thành tích khá, tính từ năm
2002 Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm thời kỳ 2002-2007 là 8,1% Mặc
dù không quá thấp hơn tốc độ bình quân hàng năm của Trung Quốc (là 8,8%), tốc độ tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam cao hơn bình quân của Ấn Độ (6,8%)
Nói chung, tốc độ của Việt Nam là cao hơn hầu hết các nước khác ở Đông Nam
Á (xem Bảng 1)
BẢNG 1 Tốc độ tăng GDP và lạm phát ở các nước Đông Nam Á, Trung Quốc và Ấn
Độ, 2002-2007
Quốc gia GDP 2007
(tỷ USD)
GDP đầu người năm 2007 (USD)
Bình quân năm 2002-2007 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Tốc độ tăng GDP Tốc độ lạm phát năm tính theo chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Trang 3Nguồn: Số liệu GDP và CPI ở các nước Đông Nam Á là từ ASEAN Secretariat, nhưng CPI của Việt Nam
là số liệu đã điều chỉnh lại củaTổng cục Thống kê Việt Nam Số liệu GDP bình quân đầu người, GDP bằng USD là từ Cục Thống kê LHQ CPI của TQ và Ấn Độ là từ Asian Development Bank (ADB).
Trang 4Các chỉ tiêu khác cũng cho thấy kinh tế Việt Nam nói chung là tốt, ít nhất là đến cuối năm 2006, mặc dù nhiều dấu hiệu xấu đã xuất hiện từ năm
2004, đòi hỏi sự điều chỉnh chính sách tiền tệ và các chính sách liên quan khác.Những dấu hiệu xấu này là lạm phát và thiếu hụt cán cân thương mại quốc tế tăng cao, do chính sách phát hành tiền và mở rộng tín dụng Lạm phát tăng từ dưới mức 4% hàng năm trước năm 2004 lên khoảng 7-8% từ năm 2005 và năm
2006, rồi sau đó tăng mạnh hơn nữa Cán cân thương mại trở nên âm, ở mức khá cao, hơn 5% Cũng vào thời kỳ này, may mắn là mức nợ nước ngoài so với GDP tương đối thấp và tiền trả nợ hàng năm cũng thấp, tất cả là vì các nước đã xóa nợ cho Việt Nam Dự trữ ngoại tệ tăng lên đạt khoảng 20,7 tỷ US vào
tháng 6 năm 2008, dù vậy cũng rất thấp, chỉ đủ 3 tháng nhập khẩu.[2]
Thành quả kinh tế có thể coi là quan trọng nhất là việc giảm tỷ lệ dân số nghèo đói từ 37% năm 2000 xuống 19,4% năm 2004.[3] Tuy vậy một nghiên cứu mới nhất cho thấy tỷ lệ nghèo đó 14.6% năm 2007 đã tăng lên 17% năm
2008, khi ngưỡng nghèo đói cá nhân được điều chỉnh lại theo lạm phát.[4] Điềunày có nghĩa là lạm phát đã xóa đi một phần những thành quả đạt được kể từ năm 2004
BẢNG 2 Các chỉ số quan trọng khác về kinh tế Việt Nam, 2000-2006
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Tích lũy /GDP (%) 29,6 31,2 33,2 35,4 35,5 35,6 36,8 41,7 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tỷ USD) 1,1 1,3 1,4 1,4 1,6 1,9 2,3 6,6 Đầu tư gián tiếp tài chính (tỷ USD)* 0 0 0 0 0 0,9 1,3 6,2
Thiếu hụt ngân sách nhà nước /GDP (%) -4,3 -3,5 -2,3 -2,2 0,2 -1,1 -1,8 -5,4 Cán cân thương mại (tỷ USD) 1,2 1,5 -3,0 -6,5 -8,5 -4,6 -4,6 -14,6 Cán cân thanh toán (tỷ USD) 3,6 2,1 -1,7 -4,9 -3,5 -1,1 -0,3 -9,8 Chỉ số giá tiêu dung -CPI (%) -1,6 -0,04 3,9 3,2 7,8 8,4 7,4 8,3 Tốc độ tăng tiền – M2 (%) 39,0 25,5 17,6 24,9 29,5 29,7 33,6 46,0 Tốc độ tăng tín dụng (%) 73,3 23,2 25,5 32,1 37,1 34,7 24,7 50,2
Nợ thêm nước ngoài trung và dài hạn –
Tổng nợ nước ngoài (tỷ USD) 12,8 12,6 13,3 16,0 18,0 19,2 20,2
Trang 5Tổng nợ nước ngoài /GDP (%) 41,7 40,5 38,7 41,0 40,5 37,7 33,2
Nợ trả hàng năm/xuất khẩu (%) 8,9 7,8 6,7 3,6 2,7 2,8 2,2 2,4
Dự trữ ngoại tệ (tỷ USD) 3,4 34 4,1 6,2 7,0 9,0 13,3 20,7
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam và Ngân hàng châu Á (ADB)
Ghi chú: Bao gồm cả cố phiếu và trái phiếu Việt Nam phát hành (thí dụ gồm cả US$750 triệu trái phiếu chính phủ phát hành năm 2005 để cấp vốn cho Vinashin)
Với thành tích phát triển kinh tế tốt và với việc trở thành thành viên
WTO, Việt Nam tưởng như mở ra thời kỳ thu hút mạnh đầu tư nước ngoài
(FDI) và chính vì thế mà báo chí Việt Nam đã nói đến thời cơ vàng cho quốc gia mình FDI thực hiện tăng gần gấp ba trong một năm từ 2,3 tỷ USD năm
2006 lên 6,6 tỷ USD năm 2007 (coi Bảng 2) Chỉ số chứng khoán nhảy vọt tới hơn 300% từ 300 đầu năm 2006 lên 1.150 đầu năm 2007 khi Việt Nam chính thức trở tham gia WTO (coi Bảng 1) Tuy nhiên thời cơ vàng dường như đã trởthành giấy lộn vì chính sách kinh tế sai lầm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng
đã đưa đến tình trạng lạm phát nghiêm trọng và khả năng xảy ra cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán, những điều mà bài viết sẽ phân tích sau Thị trường chứng khoán gần như sụp đổ khi chỉ số chứng khoán Việt Nam tụt đến điểm
345 vào ngày 24 tháng 10 năm 2008
Trang 6
HÌNH 1 Chỉ số chứng khoán Việt nam
năm 2008 so với cùng kỳ năm 2007 Vào tháng 5 năm 2008 lạm phát đạt mức cao nhất tính từ năm 2000 ̶ ở mức 3,9% so với tháng trước đó và nếu tính theonăm thì ở mức 60% Lạm phát rõ ràng là do tăng mức phát hành tiền và tăng tíndụng quá trớn trong năm 2007 đạt mức tăng 48% và 50% theo từng loại tươngứng so với năm trước
Lạm phát giảm xuống vào tháng 9 và tháng 10 năm 2008 vì chính sách thắt cổ mức tăng tín dụng chỉ tăng ở mức 18% so với 30% cùng kỳ của năm
2007.[6]
Trang 7HÌNH 2 Tốc độ tăng lạm phát ở Việt Nam vào năm 2007 và 2008
(từ tháng 1 năm 2007 đến tháng 10 năm 2008)
Nguồn: Tổng cục Thống kê
HÌNH 3 Tốc độ tăng hàng năm về cung tiền (M2) và tín dụng từ 1993 đến 2007
Trang 8Nguồn: Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Châu Á (ADB)
Như vậy lạm phát đã là mối đe dọa kể từ năm 2004 khi đó lạm phát ở mức 9,7% năm 2004, 8,8% năm 2005 và 7,5% năm 2006; những mức này đều cao hơn mức ở các nước có buôn bán lớn với Việt Nam, dù ở châu Á hay các vùng khác, và ngày càng trở nên trầm trọng hơn kể từ khi ông Nguyễn Tấn Dũng trở thành Thủ tướng vào ngày 26 tháng 6 năm 2006 với chính sách nhằm đạt được chỉ số GDP thật cao
Tình trạng lạm phát nhảy vọt vừa qua là kết quả của nhiều yếu tố: chính sách bơm tín dụng cho doanh nghiệp quốc doanh, sự kiện tư bản tài chính nước ngoài ồ ạt đổ vào do các báo chí tài chính quốc tế thổi phồng về viễn tượng phát triển ở Việt Nam, kế hoạch kinh tế rầm rộ của những người nắm quyền và sự xông xáo không đắn đo nắm lấy cơ hội làm tiền của những người
có quan hệ, và dĩ nhiên là tình trạng thiếu khả năng xử lý cũng như không muốn xử lý đúng lúc của những người cầm quyền ở Việt Nam Những vấn đề này nằm ngoài giới hạn mà bài viết muốn phân tích nhưng cũng cần được nêu lên như những đề tài nghiên cứu trong tương lai Các vấn đề này cũng là hậu cảnh cho việc phân tích các hệ quả chính trị có liên quan ở phần sau của bài viết
Trang 9Cán cân thương mại quốc tế và cán cân thanh toán – vấn đề bắt nguồn từ yếu kém về điều hành và nỗi ám ảnh tốc độ tăng GDP
Vấn đề lạm phát và cán cân thanh toán dường như là kết quả của nỗi ám ảnh quyết đạt tốc độ tăng GDP cao bằng chủ trương xây dựng tổng công ty nhà nước và các tập đoàn quốc doanh Để nhằm đạt tốc độ cao, tích lũy cũng đã được đẩy mạnh đạt tỷ lệ rất cao Tỷ lệ tích lũy trên GDP tăng từ 29,6% năm
2000 lên 41,7% năm 2007, điều hiếm có trong lịch sử kinh tế thế giới (coi Bảng2) Tuy nhiên so với Trung Quốc và Ấn Độ thì tốc độ tăng trưởng của Việt Nam trong thời kỳ này lại thấp hơn Yếu kém về điều hành chính là lý do Hệ
số tích lũy trên tăng sản lượng (ICOR) ở Việt Nam rất cao,[7] trung bình là 5,2,nhưng chỉ đạt được tốc độ tăng GDP bình quân năm là 7,7% trong khoảng 2000-2007 Hệ số ICOR của Trung Quốc trong thời kỳ 2001-2006 là 3,9 với mức tăng GDP bình quân năm là 9,7% Còn Nam Hàn với hệ số ICOR là 3,0 nhưng đạt tốc độ tăng bình quân năm là 7,9% vào thời kỳ 1961-1980 tức là thời
kỳ chuyển tiếp trước khi đạt mức được coi là có thu nhập cao Thái Lan vào thời kỳ 1981-1995 đạt tốc độ tăng 8,1% với hệ số ICOR là 4,1 Malaysia có hệ
số ICOR là 4,6 và tốc độ tăng bình quân năm là 7,1% những năm 1981-1995
[8] Không có nước nào có hệ số ICOR tệ như Việt Nam, điều này chứng tỏ
rằng nền kinh tế Việt Nam thiếu hiệu quả, năng suất rất thấp
BẢNG 3
Hệ số ICOR ở Việt Nam 2001-2007
Hệ số ICOR 5,14 5,28 5,31 5,22 4,85 5,04 5,38
Trang 10Nguồn: Tính từ số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam.
Cán cân thương mại quốc tế của Việt Nam tụt xuống mức khủng khoảng vào cuối năm 2007 vì chính sách đạt tốc độ tăng GDP cao và sự yếu kém của doanh nghiệp nhà nước Thiếu hụt năm 2007 là 14 tỷ USD, bằng 19,8% GDP (coi Bảng 4), tăng gấp ba so với ba năm trước đó Nếu mà không có quyết định của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam chận đứng ngay chính sách sai lầm của chính phủ (sẽ được phân tích kỹ hơn dưới đây) thì nhập siêu rất có thể sẽ đạt 30 tỷ USD vào cuối năm 2008, chắc chắn sẽ dẫn đến cuộc khủng hoảng cáncân thanh toán với nước ngoài vì lúc đó dự trữ ngoại tệ chỉ có khoảng 22 tỷ USD, nhất là lúc tư bản tài chính đã chấm dứt đổ vào Việt Nam vì thị trường chứng khoán đã suy sụp
Số liệu 9 tháng đầu năm 2008 cho thấy nhập siêu đã giảm từ 3 tỷ USD một tháng vào tháng đầu năm xuống dưới 1 tỷ USD Điều này là hệ quả của việc áp dụng các mệnh lệnh hành chính nhằm ngăn chặn đầu tư và cắt tín dụngcho các tập đoàn quốc doanh, nhằm hãm phanh lạm phát Dù với chuyển đổi chính sách giữa dòng nhằm ngăn chận nhập siêu như vậy, nhập siêu cũng đã ở mức 15 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm, và cuối cùng vẫn đạt mức 18 tỷ USD vào cuối năm 2008, bằng 20% GDP: một tỷ lệ cực kỳ cao Bảng 4 cho thấy thống kê chi tiết Qua thống kê ta cũng thấy là nhập siêu có nguyên nhân chính
từ các nhà sản xuất Việt Nam chạy theo tốc độ tăng GDP, chứ không phải từ các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vì các nhà đầu tư nước ngoài có xuất siêu ngay cả trong 9 tháng đầu năm 2008
HÌNH 4 Cán cân thương mại 2000-2008[9]
Trang 11Nguồn: Số liệu năm là từ Tổng cục Thống kê; số liệu tháng là từ Bộ Công Thương
Trang 12
BẢNG 4 Xuất nhập khẩu hàng hóa trong 10 tháng đầu năm 2008 (triệu USD)
2008 Tổng xuất Xuất của FDI Tổng nhập Nhập của FDI
Tổng cán cân xuất nhập
Cán cân xuất nhập của FDI
Nguồn: Bộ Công Thương
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Đúng là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã làm giảm tác hại của cuộc khủng hoảng ở Việt Nam trong năm 2008 và đã có lúc được quan chức nhà
nước vin vào để biện bạch rằng không có gì phải sợ khủng hoảng cán cân thanh
toán vì tiền đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn tiếp tục đổ vào
Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài thì vốn đăng ký dự án FDI được chấp nhận vào 10 tháng đầu năm 2008 lên tới 59,3 tỷ USD gấp 6 lần số
vốn đăng ký năm 2007 Điều này có vẻ vượt quá khả năng tưởng tượng vì
chưa từng thấy trên thế giới, nhưng nếu nhìn kỹ thì sẽ thấy là hầu hết các dự án
là vào lãnh vực địa ốc, khu du lịch cao cấp, sản xuất thép và lọc dầu; cộng
chung đã lên tới 45 tỷ USD (coi Bảng 5).[10] Những dự án như thế này chắc
chắn sẽ bị ngưng hoặc hủy bỏ vì tình hình nhu cầu thế giới không như trước và
vốn sẵn có cũng không còn Ngoài ra cũng nên thận trọng khi đọc những con
số của Việt Nam Loại trừ trò hứa hão vì mục đích khác thì các chủ dự án FDI
cũng nhằm vào việc vay nguồn vốn từ trong nước Khi tính vốn FDI như vậy
cần phải loại trừ phần mà chủ dự án nước ngoài không bỏ vốn ra Theo tin phân
tích mới nhất của Viện Quản lý Trung ương thuộc Bộ Kế hoạch đầu tư, trong
số 10 tỷ USD được báo cáo là FDI thực hiện trong năm 2008 thì chỉ có 2,2 tỷ
Trang 13USD (tức là 22%) là thực sự do vốn chủ đăng ký nước ngoài đưa vào.[11] Và
theo đúng thông lệ thống kê Liên Hợp Quốc thì chỉ có 2,2 tỷ USD này mới có
thể gọi là FDI Phần vay mượn của công ty FDI là phần vay mượn của nền kinh
tế Việt Nam vì công ty FDI là công ty thuộc thành phần kinh tế Việt Nam
Đối với cả năm 2008 con số nhập siêu hàng hóa là 18 tỷ USD Tuy
nhiên theo IMF nhập siêu hàng hóa là 12,3 tỷ và nhập siêu dịch vụ là 2,3 tỷ nhưvậy tổng nhập siêu hàng hóa và dịch vụ chỉ có 14,6 tỷ,[12] Nguồn vốn chảy ra
là gần 17 tỷ USD nếu cộng thêm chi trả nợ nước ngoài Trong khi vốn chảy
vào là 7,3 tỷ kiều hối, 7,8 tỷ FDI cộng chung là 15,1 tỷ Như vậy số thiếu hụt
phải vay mượn chỉ có khoảng 2 tỷ Vấn đề được đặt ra như ở trên thì con số
7,8 tỷ USD có vẻ không tin cậy được; FDI theo như báo cáo phân tích của ViệnQuản lý trung ương chỉ khoảng 2,2 tỷ Như vậy con số thiếu hụt lên đến 7 tỷ
chứ không phải 2 tỷ Phần này lấy ở đâu cũng khó hiểu: từ gối đầu giường của
dân hay mượn của Trung Quốc vì nhập siêu từ Trung Quốc năm 2008 lên đến
11 tỷ USD?[13]
BẢNG 5 Phân tích các dự án đăng ký FDI lớn được chấp thuận năm 2008 (tỷ USD)
Dự án khu liên hợp thép nhà máy điện và cảng biển tại Ninh Thuận Malaysia 9,79
Dự án xây dựng cảng và nhà máy luyện kim tại Vũng Áng Hà Tĩnh Đài Loan 7,9
Dự án nhà máy lọc dầu Nghi Sơn Thanh Hóa Nhật và Hòa Lan 6,2
Dự án khu du lịch nghỉ dưỡng Hồ Tràm Bà Rịa - Vũng Tàu Canada 4,23
Dự án khu đô thị - đại học quốc tế ở TP,HCM Malaysia 3,5
Dự án tổ hợp nghỉ dưỡng sân golf ở Phú Quốc Kiên Giang B,,,V Island 1,6
Dự án khách sạn cao ốc sản xuất vi mạch phần mềm ở TP,HCM Singapore 1,2
Trang 14nghiêm trọng vào tháng 11 năm 2007 trở đi Lạm phát nhảy vọt vào tháng 12 năm 2007 và vào đầu năm 2008 tới mức hơn 50% nếu tính theo trung bình nămlúc đó Đáng lẽ ra đây chính là cơ hội tốt cho ông Nguyễn Tấn Dũng, người trởthành Thủ tướng vào 27 tháng 6 năm 2006, chứng tỏ khả năng điều hành kinh
tế của mình Nhưng ngược lại, ông lại bằng mọi cách đẩy mạnh chiến lược đạt tốc độ tăng GDP cao
Trong cuộc họp tháng 11 năm 2007 của Quốc hội, trong lúc bàn về chỉ tiêu kế hoạch tăng trưởng GDP, một số đại biểu bày tỏ sự lo lắng về lạm phát
và đề nghị đặt mức lạm phát không quá 7% Tuy nhiên chính phủ Thủ tướng Dũng vẫn cương quyết đặt chỉ tiêu đạt tốc độ tăng GDP 8,5-9,0% cho năm
2008 và sẵn sàng chấp nhận lạm phát cao Ông Võ Hồng Phúc, Bộ trưởng Bộ
Kế hoạch và Đầu tư, thay mặt Thủ tướng, thuyết phục Quốc hội rằng ở các nước đang phát triển tốc độ tăng trưởng cao bao giờ cũng kèm theo chỉ số lạm
phát tăng cao và “[n]ếu chúng ta giữ chỉ số giá thấp hơn 7% thì sẽ thấy một
hiện tượng là Chính phủ điều hành rất lúng túng dẫn đến hai tình hình: Một, tốc độ tăng trưởng chậm lại Hai, việc bao cấp về giá tạo nên một khe hở trong quản lý kinh tế.” [14] Như vậy, rõ ràng là chính phủ bị ám ảnh chạy theotốc độ tăng GDP và kế hoạch cho phép các tập đoàn quốc doanh tăng giá nhằm tăng lợi nhuận, ít nhất là nhằm giảm bù lỗ Gần như không có ai trong chính phủ tỏ ra lo lắng về ảnh hưởng mà lạm phát mang đến cho đời sống nhân dân trong kỳ họp Quốc hội này Điều này thật là lạ lùng vì lúc đó ta thấy các cuộc đình công đòi tăng lương của công nhân nhằm bù đắp lại lạm phát nổ ra khắp nơi; số cuộc đình công tăng từ 71 năm 2000 lên 193 trong 3 tháng đầu năm
2006.[15]
Vấn đề lạm phát đã được tác giả bài này báo động trong bài viết năm
2004,[16] phân tích lý do tại sao lạm phát lại thấp vào những năm 2000-2001 ngay cả khi mức phát hành tiền tăng cao, và cảnh báo rằng điều này sẽ không thể tiếp tục mãi như thế Lý do là sau thành công của cuộc cải cách nhằm chấmdứt lạm phát phi mã, vòng quay đồng tiền đã giảm vì dân chúng tin vào sự ổn định của đồng tiền hơn trước, do đó họ sẵn sàng cầm đồng tiền để sử dụng rộngrãi trong giao dịch (gọi là quá trình tiền tệ hóa) Yếu tố thuận lợi này sẽ dần mất đi (hay bão hòa) gây ra lạm phát cao trở lại nếu như tốc độ cung tiền tăng quá trớn: điều này đã xuất hiện vào năm 2004
Trong một nghiên cứu năm 2006,[17] IMF cũng kết luận là “kết quả
chính của nghiên cứu cho thấy phát hành tiền đã có ảnh hưởng ngày càng tăng đối với lạm phát trong vài năm qua và quán tính gây ra lạm phát có vai trò lớn hơn ở Việt Nam so với cá nước khác trong vùng.” Tăng giá lương thực trên thế
giới đặc biệt là lúa gạo đã tác động đến chỉ số lạm phát lương thực thực phẩm ở
Trang 15mức hàng chục phần trăm vào năm 2004 nhưng chính sách sách tài khóa đã là nguyên nhân chính làm kích cầu tăng lạm phát nói chung Lương tối thiểu tăng 38% vào tháng giêng năm 2003, 20,7% vào tháng 10 năm 2005 và 28,6% vào tháng 10 năm 2006 chỉ ảnh hưởng tới những người ở mức lương dưới mức tối thiểu Tuy vậy mức tăng lương trung bình của công chức lên đến 30% có thể
đã có tác dụng lớn hơn vào lạm phát Giá dầu lửa chỉ tăng vào năm 2006 và ảnhhưởng đến CPI không nhiều vì nó chỉ chiếm tỷ trọng 3% trong tổng tiêu dùng của hộ gia đình Theo cùng bài viết này của IMF, hệ số liên hệ giữa lạm phát
và cung tiền dường như có vai trò lớn hơn sau cuộc cải cách kinh tế của Việt Nam vào cuối năm 1989, nhằm giải phóng kinh tế khỏi các kế hoạch cứng ngắc, đã thật sự mang lại hiệu quả toàn diện
Vấn đề quan trọng cần nghiên cứu thêm là tình trạng không có liên hệ giữa giá và tiền khoảng thời gian giữa những năm 1999 và 2000: việc tăng cung tiền (M2) rất lớn: 35,7% năm 1999 và 50,5% năm 2000 đưa tỷ lệ
tiền/GDP từ 28,4% GDP năm 1998 lên 35,7% năm 1999, và 50% năm 2000 Tuy vậy việc in tiền này dường như không có ảnh hưởng gì đáng kể đến lạm phát lúc đó Bỏ qua hai năm này, từ 2002 trở đi đã có sự liên hệ thuận giữa tăng tiền M2 và tăng chỉ số giá CPI, và đặc biệt là liên hệ giữa tăng tín dụng và tăng CPI, rõ ràng cho thấy tác dụng giữa chính sách tiền tệ và lạm phát.[18]
Mặc dù tốc độ lạm phát vọt lên rất cao vào cuối năm 2007 và những tháng đầu năm 2008 các nhà hoạch định chính sách vẫn gạt đi không quan tâm – lúc đầu thì cho rằng đó là sai số về phương pháp luận của Tổng cục Thống kê
và sau đó thì biện luận cho rằng lạm phát cao là do giá dầu hoả và giá thực phẩm như lúa gạo tăng cao trên thị trường thế giới
Rồi vào 30 tháng 11 năm 2007 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đã ra thông báo 252/TB-VPCP[19] chỉ thị các cơ quan chức năng chống lạm phát Những chỉ thị này bao gồm lời kêu gọi nâng cao quyết tâm tăng năng suất nhằm đạt sản lượng cao hơn, thí dụ như:
yêu cầu “Bộ Công thương chủ trì phối hợp với các cơ quan Trung
ương và địa phương liên quan chỉ đạo tháo gỡ kịp thời những khó khăn vướng mắc để đẩy mạnh sản xuất xuất nhập khẩu đáp ứng đủ nhu cầu hàng hoá”, hoặc
yêu cầu “Uỷ ban nhân dân các địa phương tổ chức nắm chắc tình
hình sản xuất kinh doanh thị trường giá cả trên địa bàn chủ động thực hiện các biện pháp đảm bảo cân đối cung cầu hàng hoá trong phạm vi địa phương…”, hoặc
Trang 16 yêu cầu các cơ quan “phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương thực
hiện giao ban hàng tuần với lãnh đạo các cơ quan báo chí truyền thông làm tốt công tác thông tin tuyên truyền định hướng dư luận để các doanh nghiệp nhân dân hiểu và ủng hộ các giải pháp điều hành của Chính phủ khắc phục tình trạng thông tin sai thông tin một chiều gây tâm lý bất an trong nhân dân và làm trầm trọng thêm những khó khăn trong quản lý thị trường và giá cả.”
Khi đọc các chỉ thị trên người ta có cảm tưởng rằng lạm phát là do một lực lượng nào đó đang lũng đoạn đầu cơ phá rối thị trường Nhưng tệ hơn thế,
thông báo trên còn ra lệnh cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư “khẩn trương điều chỉnh
phương pháp tính chỉ số giá tiêu dùng của nước ta cho phù hợp với thông lệ quốc tế nhất là về cơ cấu rổ hàng hoá.” Trước đó cũng Thủ tướng Nguyễn Tấn
Dũng cũng đã đặt Tổng cục Thống kê (TCTK) dưới quyền điều hành của Bộ
Kế hoạch và Đầu tư này thay vì để TCTK độc lập như trước) Chỉ thị này đã không được thi hành sau khi bị chỉ trích.[20] Lạm phát ai cũng có thể cảm thấy
và đo được chứ đâu có thể làm nó biến mất bằng cách thay đổi phương pháp đolường
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các quan chức trong chính phủ tuy vậy vẫn tiếp tục lý luận rằng chính sách kinh tế của họ đang theo đuổi là đúng
đường Trong một bài phỏng vấn trên Financial Times với ký giả Amy
Kazmin[21] trước chuyến đi thăm nước Anh vào ngày mùng 2 tháng 3 năm
2008, khi bị ký giả đặt nghi vấn về sự tự tin quá đáng vào tình hình kinh tế ViệtNam trước chiều hướng đi xuống của kinh tế Mỹ, cũng như về tình hình lạm phát ở Việt Nam đang tăng cao, thì Thủ tướng Dũng vẫn quả quyết rằng kinh tếViệt Nam sẽ đạt tốc độ tăng 8 tới 9 % do chính sách đẩy mạnh xuất khẩu và tăng cường đầu tư của ông
Vào ngày 28 tháng 3 năm 2008, Bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh khi
bị chất vấn trước Quốc hội về nguyên do của lạm phát đã phát biểu rằng lạm
phát là “bất khả kháng” khi giá cả trên thế giới đang tăng Ông bác bỏ ý kiến
cho rằng trong 3 tháng đầu năm lạm phát tiếp tục tăng là do Chính phủ điều
hành kém Ông nói “[đ]ến giờ phút này tôi chưa nhìn thấy Chính phủ điều
hành sai mà đang làm rất quyết liệt phải họp hằng ngày để đề ra những quyết sách kịp thời.” Và ông cho rằng: “Đúng là trong nhiều nguyên nhân khiến lạm phát năm 2007 tăng cao thì có việc dự báo đánh giá tình hình không sát thực
tế Chính phủ đã kiểm điểm việc này.” Câu trả lời quả là nhằm đổ lỗi không
đúng chỗ cho dự báo sai Khi có đại biểu hỏi gặng thêm rằng tại sao các nước khác trong vùng cùng chịu tác động bởi điều kiện giống nhau về giá nguyên
liệu thì lại không bị lạm phát cao như ở Việt Nam, ông Ninh trả lời “[c]húng