*Người liên lạc thd@viet-studies.info Lời nói đầu Sau cuộc Hội thảo Hè ** ở Đà Nẵng vào tháng 7 năm 2005 trong đó vấn đề giáo dục là một đề tài thảo luận chính, một số thành viên tham
Trang 1Sử dụng trí thức Việt kiều để xây dựng giáo dục đại học chất lượng cao tại Việt Nam: Một đề án
Trần Văn Thọ
Giáo sư kinh tếĐại học WasedaTokyo, Nhật Bản
Chuyên viên cao cấp
Vụ trưởng Vụ Tài khoản Quốc gia (Chief of National Accounts
Section)Cục Thống kê Liên Hợp Quốc (United Nations Statistics
Division).
Trang 2*Người liên lạc ( thd@viet-studies.info )
Lời nói đầu
Sau cuộc Hội thảo Hè (**) ở Đà Nẵng vào tháng 7 năm
2005 trong đó vấn đề giáo dục là một đề tài thảo luận chính, một số thành viên tham dự Hội thảo đã tập hợp nhau lại để
cụ thể hoá các ý tưởng thảo luận trong Hội thảo qua việc
xây dựng một đề án về trường đại học chất lượng cao ở
Việt Nam Đề án này hoàn thành và gửi về Thủ tướng Chính
phủ ngày 20.9.2005, tuy nhiên chưa hề được công bố trên bất kỳ một phương tiện truyền thông hay sách vở nào Ngày 5.10.2005, báo điện tử VietnamNet đăng một bài viết nhan
đề Xây dựng một trường đại học hàng đầu ở Việt Nam,
Đề cương thảo luận của ông Thomas Vallely, giám đốc
Chương trình Việt Nam của Đại học Harvard (Hoa Kỳ) Ngày 23.11, tờ báo cũng đăng một bài phỏng vấn anh Trần Văn Thọ, một trong 6 tác giả đề án, trực tiếp đề cập tới một
số nội dung của đề án, nhưng cũng chỉ giới hạn trong vài câu.
Từ đó đến nay, ở trong nước đã có nhiều cuộc thảo luận về việc xây dựng một đại học chất lượng cao, và kết quả ban đầu là quyết định của thủ tướng Phan Văn Khải thành lập một Tổ công tác nghiên cứu xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế (ĐHĐCQT), sau đó là quyết định của thủ tướng giao cho Tổ công tác trình dự án khả thi vào quí 1 năm 2007 – Mới đây, tân thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã quyết định giao Tổ này cho đích thân bộ trưởng bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân phụ trách Tuy nhiên, quyết định của thủ tướng Phan Văn Khải ngày 26 tháng 6 năm 2006 về chủ trương và định hướng vẫn còn có nhiều điểm chờ được xác định rõ ràng hơn, chẳng hạn như xây mới ĐHĐCQT hay xây dựng đại học này trên cơ sở một đại học sẵn có Song, theo chúng tôi được biết, khâu xích cốt yếu nhất – triết lý giáo dục – vẫn chưa được đề cập tới, vì những lý do chính trị mà ông Trần Đức Nguyên, một thành viên của Ban
Trang 3nghiên cứu chính phủ (đã giải thể ngày 28.7.2006 theo quyết định của tân thủ tướng) đã nói thẳng trên mặt báo là “tế nhị” Ít ra, cho tới thời điểm này (tháng 8.2006), theo những tin tức có được, đề án đang được bàn cãi của chính phủ vẫn chỉ hướng về xây dựng một đại học có tính chất thuần túy kỹ thuật (khoa học tự nhiên và công nghệ), và không bao hàm những bộ môn khoa học xã hội và nhân văn – để có thể đáp ứng một yêu cầu được nhiều người nêu lên khẩn thiết từ nhiều năm nay: trao cho các nhà khoa học nhiều “tự do” hơn về nghiên cứu, về chương trình giảng dạy v.v., mà
không sợ “chệch hướng” Nếu thế, các khái niệm về quyền
tự do nghiên cứu, độc lập tư duy – những cơ sở không thể thiếu để phát triển một nền đại học đích thực – sẽ chỉ còn phần xác mà không có phần hồn, kể cả đối với những nhà khoa học “chính xác” hay công nghệ Ví dụ kinh điển
Lyssenko nhắc ta tác hại đối với ngành sinh học Liên Xô những năm 1930-1950 không phải của chủ nghĩa duy vật biện chứng mà là của sự ngự trị tuyệt đối và đầy quyền thế của chủ nghĩa đó (xem D Lecourt, “Lyssenko, Histoire réelle d’une “science prolétarienne”, Paris 1976) “Thiết thực” hơn, những đề án phát triển công nghệ lớn (như các
đề án năng lượng quốc gia) có thể nào hoàn chỉnh, hữu hiệu, nếu không có sự hợp tác giữa những nhà khoa học tự nhiên, những kỹ sư, với các nhà nghiên cứu kinh tế, xã hội học? Có cần nhấn mạnh thêm rằng những người tham gia đề
án phải có khả năng và quyền tự do thảo luận, cân nhắc cả những phản biện đi ngược lại với các “định hướng” có trước về đề án, rồi nếu cần, đề nghị sửa đổi các “định
hướng” ấy? Ngày nay, ngay cả những trường đại học kỹ thuật (đào tạo kỹ sư) ở các nước phương Tây, sinh viên vẫn phải dành một phần thời giờ để học những môn khoa học xã hội và nhân văn (như xã hội học, tâm lý, triết học, chưa kể kinh tế!), chính vì đã có sự đồng thuận về sự cần thiết của những kiến thức liên ngành kể cả đối với một người làm kỹ thuật Lập luận trên cắt nghĩa tại sao đề án xây dựng một trường đại học “chất lượng cao” mà chúng tôi giới thiệu dưới đây trước tiên sẽ khẳng định sự cần thiết của một không gian tư duy hoàn toàn tự do, và không chỉ thu hẹp trong khuôn khổ một đại học thuần tuý “khoa học – công
Trang 4nghệ”
Với cụm từ “chất lượng cao”, chúng tôi muốn nhấn mạnh hơn về những tiêu chuẩn cần đạt được của một đại học đích thực, thay cho cụm từ “đẳng cấp quốc tế”, bao hàm sự so sánh, sự vượt trội của đại học đó (ít ra là trong một số lĩnh vực) so với thế giới Tất nhiên, được thiên hạ công nhận
“đẳng cấp quốc tế” là một hoài bão mà chúng ta ai cũng mong có ngày thành hiện thực Nhưng nếu một số ít những
cá nhân xuất chúng vẫn có thể vươn cao từ những điều kiện không thuận lợi và mang lại ít nhiều tiếng tăm cho cộng đồng, vấn đề là làm sao để cả một nền khoa học có thể khẳng định “đẳng cấp quốc tế” của mình nếu không dựa trên những đại học đáp ứng các tiêu chuẩn đã được thừa nhận rộng rãi trên thế giới? Trong tinh thần này, đề án cũng đi sâu ở một mức nhất định vào chương trình học, vấn
đề quản trị đại học, tuyển sinh và tuyển giáo chức Đề án cũng tính toán chi phí tối thiểu, đặt cơ sở trên tính khả thi và điều kiện kinh tế hiện nay của đất nước
Trong ý nghĩa đó, thiết nghĩ đề án này cũng hội tụ với ý tưởng xây dựng một đại học “hoa tiêu” mà nhóm nghiên cứu của giáo sư Hoàng Tuỵ đã đưa ra Có khác chăng, từ vị trí của mình, chúng tôi muốn nhấn mạnh hơn một chút về việc “sử dụng trí thức Việt kiều” để xây dựng đại học đó, như tên gọi của đề án đã nói lên
Giáo sư Đặng Đình Áng đã có nhiều đóng góp to lớn cho toán học và giáo dục tại Việt Nam Chúng tôi cũng đã gửi
bản đề án này vào Kỷ Yếu mừng Giáo sư Đặng Đình Áng
80 tuổi (sẽ được xuất bản khoảng cuối năm 2006) để biểu lộ
tình cảm quý mến, trân trọng của chúng tôi đối với Giáo sư Qua việc công bố này, chúng tôi cũng rất mong được các bậcthức giả chỉ ra những nhược điểm, bất cập của nó, và hi vọngrằng, cùng với những ý kiến quý báu ấy, đề án sẽ đóng góp được phần nào vào cuộc thảo luận cần thiết cho công cuộc cải tổ nền giáo dục đại học Việt Nam, như các mong muốn
từ lâu của Giáo sư Đặng Đình Áng nói riêng và của những
Trang 5người ưu tư về tiền đồ dân tộc nói chung.
Chúng tôi xin cám ơn ban chủ biên Kỷ Yếu đã cho phép
đăng lại toàn văn đề án này trên Thời Đại Mới.
ta, chất lượng ở các đại học hiện có, đặc biệt chất lượng đào tạo bậc thạc sĩ và tiến sĩ, đã trở thành vấn đề bức xúc cho toàn xã hội Cải tổ đại học, vì thế, vừa là yêu cầu của bản thân nó (đại học không chỉ có nhiệm vụ đào tạo giáo viên) vừa là bước đi thiết yếu cho công cuộc cải tổ nền giáo dục nói chung Nhưng việc cải tổ toàn bộ hệ thống giáo dục là việc lâu dài Trong một phạm vi hẹp và cụ thể hơn, bài viết này đề xuất một đề án nhằm thiết lập ngay vài đại học chất lượng cao (ĐHCLC) ở Việt Nam; chúng có vai trò xây dựng nền tảng tri thức lâu dài cho xã hội, như cái đỉnh của hệ thống giáo dục Đề án này cũng nhấn mạnh đến vai trò trí thức Việt kiều như một giải pháp trong các ĐHCLC này nói riêng, và trong công cuộc cải tổ giáo dục đại học và phát
Trang 6triển đất nước nói chung.
Lịch sử thế giới cho thấy thông qua các đóng góp khoa học của giáo sư và các sinh viên ra trường, giáo dục đại học
và uy tín của nó có vị trí đặc biệt trong sự phát triển tự do tư duy độc lập, là niềm tự hào về trí tuệ con người, và trở thành trung tâm bồi đắp nền văn minh của các dân tộc Khắp thế giới, những đại học đầu tiên và đại học hàng đầu bao giờ cũng là nơi quy tụ lao động trí óc, tư duy sáng tạo, không bị khiên cưỡng bởi một thể chế chính trị hoặc một mô hình suy nghĩ nào Có thể nói thế giới trong khuôn viên đại học là thế giới của tư duy độc lập Sự hiện hữu của các đại học chất lượng cao do đó có thể xem là một tiêu chuẩn để đánh giá mức độ phát triển của mỗi quốc gia
Cho nên dù hoài bão của mọi người là đại chúng hoá giáodục đại học, chúng ta phải luôn nhớ rằng vai trò tiên phong của đại học là trung tâm của tư duy độc lập, là vườn ươm những ý tưởng sáng tạo, bồi đắp cho tri thức nhân loại Bất
cứ nước nào cũng cần những trung tâm như thế để làm tấm gương phản chiếu cho toàn xã hội Hầu như ai cũng cảm nhận được vai trò quan trọng của đại học Việt Nam từ năm
1954 đến nay Nơi đây đã quy tụ được những bậc thầy khả kính trong đóng góp khoa học cũng như tác phong sư phạm, thí dụ như Giáo sư Đặng Thai Mai, Đào Duy Anh, Tôn Thất Tùng, và nhiều sinh viên xuất thân từ đó cũng trở thành những bậc thầy đáng kính như Giáo sư Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng, Hoàng Tụy, … ở miền Bắc, hay Ngô Gia Hy, Đặng Đình Áng, … ở miền Nam trước 1975 Những vị này được sinh viên và xã hội kính trọng không nhất thiết vì bằng cấp (nhiều người chỉ có bằng tương đương với cử nhân hiện nay) nhưng vì những công trình nghiên cứu và tác phong lao động trí tuệ của họ
Hiển nhiên, mở rộng giáo dục đại học là cần thiết để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế và hoài bão thăng tiến của người dân Tuy nhiên, đại học sẽ không là đúng nghĩa của nónếu đó chỉ là nơi huấn nghệ cao cấp, nhẹ tính hàn lâm Bất
cứ nước nào cũng cần các đại học có chất lượng cao (ở tính
Trang 7hàn lâm lẫn khả năng huấn nghệ) để đào tạo những lớp người chủ chốt cho sự phát triển kinh tế, khoa học, xã hội và văn hoá của nước ấy Ta chưa có những đại học như vậy
Một điều đáng ghi nhận nữa là hầu hết các đại học hàng đầu trên thế giới (cụ thể là khối sử dụng tiếng Anh) hiện nay
đã trở về với việc đòi hỏi sinh viên dù theo ngành chuyên môn nào cũng phải qua một chương trình giáo dục cơ bản (khoảng hai năm) Chương trình này bao trùm mọi khía cạnhcủa nhân văn, xã hội và khoa học, từ toán, vật lý, hoá học cho đến mỹ thuật, âm nhạc, triết học, lịch sử, kinh tế, xã hội học Nói cách khác, khả năng tư duy và phân tích sự vật từ nhiều góc cạnh khác nhau được chú trọng ngay từ những năm đầu đại học Chương trình này được gọi là “liberal arts”,
và bắt nguồn từ quan điểm về “liberal education”, tức là giáodục khai phóng vì mục đích hiểu biết, nhằm trang bị cho sinhviên kiến thức tổng quát và khả năng tư duy độc lập, chứ không chỉ nhằm mục đích huấn nghệ Đây là một mô hình
mà giáo dục đại học cấp cử nhân tại Việt Nam nên theo
Ở một nước đang phát triển (và mong muốn bắt kịp các nước tiên tiến) như nước ta, đòi hỏi đại học phải đáp ứng nhucầu của nền kinh tế là rất cấp bách, không những từ phía người dân mà cả từ phía hệ thống chính trị Phải khẳng định:
đi học là để có việc làm xứng đáng Đào tạo để sinh viên ra trường dễ dàng tìm được vị trí đúng khả năng của họ là quan trọng, nhưng bảo đảm tính hàn lâm của đại học cũng quan trọng không kém Để thực hiện việc này, chúng ta cần thiết lập trong thời gian sớm nhất hai đại học công lập, chất lượngcao, ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Sau này, tùy khả năng và rút kinh nghiệm từ hai đại học này, ta có thể thiết lậpnhiều đại học chất lượng cao ở những nơi khác, và đồng thờinâng cấp những đại học đã có hiện nay
Mục tiêu: ĐHCLC tại Việt Nam nhằm đạt đến chất lượng
đào tạo ngang hàng các đại học hàng đầu trong khu vực hoặccác đại học chất lượng cao ở các nước phát triển cho một số ngành khoa học xã hội - nhân văn và khoa học tự nhiên, cần
Trang 8cho sự phát triển của Việt Nam
Tiêu chuẩn: Nhằm đạt mục tiêu trên, ĐHCLC cần có các
tiêu chuẩn sau:
Là nơi tự do phát huy trí tuệ, tư duy độc lập và sáng tạo
Có nội dung và phương pháp đào tạo với chất lượng của các đại học có uy tín trên thế giới
Có đội ngũ giáo sư giỏi, trình độ cao, tha thiết với giảng dạy và nghiên cứu, và có đủ điều kiện để đảm bảo duy trì chất lượng đào tạo, đặc biệt là lương bổng đúng mức để không phải lo kiếm sống thêm
Có sinh viên giỏi với động lực học tập cao
Có các điều kiện vật chất (tuy tối thiểu) của một đại học quốc tế cho việc dạy, học và nghiên cứu
Đào tạo gắn liền với nghiên cứu, và từng bước đạt được trình độ nghiên cứu quốc tế ở một số ngành Cụ thể, mỗi khoa sẽ có một hay nhiều phòng thí nghiệm,
và các phòng thí nghiệm của cả trường hoạt động liên kết với nhau
Quản lý tốt, hữu hiệu và không lãng phí nguồn lực
Theo tính toán sơ bộ của chúng tôi, một ĐHCLC với 2.000 sinh viên và 150 giáo sư như thế sẽ đòi hỏi đầu tư ban đầu tối thiểu là 11 triệu USD (176 tỷ đồng) và chi phí hàng năm khoảng 5 triệu USD (80 tỷ đồng), nếu như tính lương
giáo sư ở mức thấp nhất là 500 USD/tháng (8 triệu đồng) và
tỷ lệ giáo sư/sinh viên là 1/15 Trong tương lai không nên xa lắm, phải tiến tới tỷ lệ 1/10, tương đương với các đại học hàng đầu ở Mỹ Như vậy, hai trường như thế cần nhà nước đầu tư khoảng 22 triệu USD (352 tỷ đồng) và chi phí hàng năm khoảng 10 triệu (160 tỷ đồng) (xem Phụ lục 1)
Nhu cầu tài chính để thiết lập hai trường ĐHCLC này rõ
Trang 9ràng là không quá lớn (dù trong tình trạng nguồn lực quốc gia còn eo hẹp như hiện nay), nhất là khi hàng năm nhà nướcđang chi ra một số ngoại tệ khá lớn để gửi sinh viên đi du học hoặc đáp ứng số nhu cầu chi phí cho các lưu học sinh tự túc kinh phí nhưng số trở về không đáng kể Đất đai, trường
sở, thiết bị bước đầu cần được nhà nước đầu tư Diện tích khuôn viên phải đủ rộng (ước lượng vào khoảng 60 hecta mỗi trường) cho sự tăng trưởng lâu dài của trường Phòng
ốc, phương tiện giảng dạy phải được thiết kế, trang bị thích hợp cho từng ngành Quá trình xây dựng, mua sắm thiết bị, xây dựng thư viện, v.v cần rất nhiều công sức và phải được giám sát chặt chẽ ngay từ đầu để tránh lãng phí
Khó khăn lớn nhất để thiết lập ĐHCLC ở Việt Nam hiện nay là tuyển dụng (cho cả hai trường) được số 300 giáo sư theo đúng chuẩn mực giáo sư của các trường đại học có uy tín trên thế giới, tức là phải có bằng tiến sĩ, có công trình đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế có uy tín (các tạp chí
mà bài nộp đăng phải thông qua một quy trình thẩm định khách quan, độc lập của các chuyên gia cùng ngành) Ít nhất một phần tư số giáo sư được bổ nhiệm chính thức phải hội
đủ các điều kiện cao nhất, số còn lại là các giảng viên trẻ, có bằng tiến sĩ (trên một nửa) hoặc chuẩn bị bảo vệ luận án tiến
sĩ trong năm được bổ nhiệm (phần còn lại), đã chứng tỏ khả năng nghiên cứu (xem Phụ lục 4)
Để thực hiện dự án này, hai trường ĐHCLC lúc đầu sẽ
đào tạo cấp sau cử nhân và sau đó mở rộng ra cấp cử nhân
Trường có nhiệm vụ kết hợp nghiên cứu và giảng dạy, cấp bằng thạc sĩ (Masters) và tiến sĩ (Ph.D.) về những ngành nhân văn (văn học, lịch sử, triết học, chính trị, kinh tế, xã hội, tâm lý, v.v) và khoa học cơ bản (toán, vật lý, hóa học, sinh học, tin học, v.v.) Ít nhất là trong giai đoạn đầu, hai trường này sẽ không có những ngành đào tạo kỹ sư (do kinh phí sẽ cao hơn rất nhiều) Hệ thống các trường Bách Khoa (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng), với chương trình đào tạo “kỹ sư chất lượng cao”, được Pháp hỗ trợ, đang làm tốt một phần nhiệm vụ này
Trang 10Trong giai đoạn đầu, trường có thể tập trung vào năm khoa: văn-triết, sử-địa-chính trị, kinh tế-xã hội, toán-lý-tin học, hóa-sinh Tuy nhiên, như ở các đại học lớn của thế giới, sinh viên mỗi khoa không bị buộc phải giới hạn theo học cácmôn trong khoa mình Ngược lại, họ được khuyến khích mở rộng kiến thức bằng việc phải theo học một tỉ lệ nhất định (khoảng 15-25%) một số môn của các khoa khác
Cụ thể, hai trường ĐHCLC này có nhiệm vụ:
Đào tạo các trí thức hàng đầu cho đất nước, những người có thể trở thành chuyên gia cho bộ máy hành chính, kinh tế hoặc các giáo sư giỏi trong tương lai;
Trở thành trung tâm nghiên cứu về khoa học xã hội - nhân văn và khoa học tự nhiên có uy tín trong khu vực, luôn luôn là nơi cổ vũ và đón nhận thường xuyên các tranh luận khoa học được phản ánh qua các cuộc trao đổi trên các tạp chí khoa học do trường xuất bản;
Thiết lập chương trình, soạn thảo, dịch thuật và xuất bản sách nghiên cứu và sách giáo khoa;
Thiết lập nhà xuất bản riêng về sách khoa học đại học;
Qua hoạt động và tổ chức, đóng vai trò cầu nối giữa giáo dục đại học trong nước và trí thức gốc Việt ở nước ngoài
Trong đề án này, ĐHCLC sẽ có tư cách pháp nhân của một trường công, có thể thu học phí nhưng hoàn toàn phi lợi nhuận Để gây quỹ nghiên cứu và hỗ trợ các hoạt động khác, trường sẽ tích cực vận động đóng góp của các cá nhân, các tổchức hảo tâm trong và ngoài nước Trường cũng được quyền
ký kết hợp đồng nghiên cứu với các doanh nghiệp, cơ quan chính phủ, và tổ chức quốc tế Tuy nhiên, các đóng góp và hợp đồng với những đối tác bên ngoài không được phép đi ngược tinh thần tự quản, độc lập, và vô vị lợi của trường.Chúng tôi đã nghĩ đến giải pháp biến vài trường đại học hiện nay thành ĐHCLC như phác họa trên đây, hoặc kết hợp
Trang 11một số viện nghiên cứu với đại học để xây dựng những khoa
có uy tín Song các giải pháp này không khả thi vì nhiều lẽ:
Thứ nhất, không dễ nhanh chóng thay đổi quy chế hiện có ở những trường và viện đang đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo (GD&ĐT);
Thứ hai, khó được sự đồng tình của những người mà chức vụ hiện tại của họ sẽ phải xoá đi khi tái tổ chức;
Thứ ba, không thể giải quyết thoả đáng những giáo chức hoặc quan chức không đủ tiêu chuẩn trong hệ thống được kết hợp này;
Thứ tư, quy chế hiện hành không cho phép trả lương khác nhau cho giáo chức trong cùng một đại học;
Thứ năm, việc bổ nhiệm giáo sư hiện nay không do đại học mà do Bộ GD&ĐT, với quy chế tuyển dụng
mà một người mới lấy tiến sĩ ở nước ngoài, hay một Việt kiều dù có công trình đáng kể, khó vào được với chức danh phù hợp
Chính vì những lý do nói trên mà chúng tôi đề nghị là hai
trường này được có quy chế đặc biệt: đó là tính tự quản cao
Ngân sách được cấp thẳng và Viện trưởng được Thủ tướng
bổ nhiệm (hoặc bãi nhiệm) dựa trên đề nghị của Hội đồng Quản trị (Board of Trustees) của trường (xem Phụ lục 3)
Hội đồng Quản trị trường gồm những người có uy tín về
giáo dục, chính trị, doanh thương trong xã hội (kể cả người nước ngoài) được Thủ tướng bổ nhiệm với nhiệm kỳ (chẳng hạn như 5 năm)
Viện trưởng phải là người có uy tín khoa học trong và ngoài nước, biết quản lý, có khả năng tiếp xúc với cộng đồnggiáo dục quốc tế và đặc biệt là có khả năng gây quỹ cho
trường Viện trưởng được một Hội đồng Khoa học tham mưu
và cố vấn trong các định hướng nghiên cứu và phát triển nghiên cứu Hội đồng Khoa học bao gồm một số giáo sư trong và ngoài trường, những nhà khoa học ngoài trường (từ
Trang 1230 đến 40% Hội đồng) do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT bổ nhiệm, họp mỗi năm ít nhất hai lần
Mỗi khoa có Hội đồng Khoa phụ trách điều hành công
việc nghiên cứu và giảng huấn trong khoa Thành viên của Hội đồng này được giáo chức trong khoa bầu ra trong số những giáo sư cơ hữu của trường
Viện trưởng và Hội đồng Quản trị được giao quyền tự quản trường Viện trưởng, từ đề nghị của Hội đồng Khoa học, quyết định bổ nhiệm giáo sư, đặt định quy trình tuyển chọn sinh viên theo các tiêu chuẩn do Hội đồng Quản trị đề
ra và phù hợp với chính sách chung của nhà nước Chương trình giảng dạy do các giáo sư đề xuất 6 tháng trước mỗi đầu niên khóa, được Hội đồng Khoa thông qua và Viện trưởng chuẩn y
Đội ngũ giáo sư có thể tuyển chọn từ các giáo sư hàng đầu ở các trường đại học và các viện nghiên cứu trong nước hiện nay, từ trí thức người Việt hiện đang giảng dạy hoặc làm nghiên cứu ở nước ngoài và các trí thức Việt kiều về hưu có tên tuổi (xem Phụ lục 4) Trường cũng sẽ có chương trình tích cực gửi những sinh viên vừa tốt nghiệp xuất sắc trong nước ra nước ngoài để lấy tiến sĩ, hoặc nghiên cứu hậu tiến sĩ, để bồi dưỡng cho ban giảng huấn tương lai của
trường Việc quy định thang chức giáo sư được tuyển là hoàntoàn do trường quyết định trong một phiên họp của Hội đồngQuản trị mở rộng tới các Khoa trưởng
Thời điểm này là lúc mà nhiều người Việt ở nước ngoài đến tuổi về hưu và có lẽ họ cũng là lớp người cuối cùng giỏi tiếng Việt, gắn bó với đất nước và có thể sẵn sàng hồi
hương Chúng ta phải khai thác ngay “cửa sổ cơ hội” này trước khi nó khép lại Hai trường ĐHCLC với quy chế tự quản như đề nghị ở đây sẽ là nơi tiếp thu những trí thức Việt kiều về hưu mà vẫn còn nhiều ý chí và khả năng đóng góp Trường cũng là nơi phát triển liên hệ gần gũi, cụ thể với các trí thức người Việt ở nước ngoài trong việc thỉnh giảng, đỡ
Trang 13đầu các luận án làm nghiên cứu chung.
Vì hai ĐHCLC đề nghị ở đây phải trở thành trung tâm giảng huấn và nghiên cứu tầm cỡ, giáo sư ở trường sẽ không dạy hơn 9 giờ mỗi tuần và được cung cấp những phương tiệnnghiên cứu tốt nhất (chẳng hạn như phòng làm việc riêng cho từng người, Internet băng rộng, đội ngũ nhân viên hành chính đầy đủ khả năng) Việc bổ nhiệm và thăng tiến của giáo sư vào các ngạch cao hơn và vào biên chế hoàn toàn tùythuộc vào các công trình nghiên cứu, các hoạt động chuyên ngành, và khả năng sư phạm của đương sự Để đảm bảo chất lượng sư phạm, các giáo sư cần có mặt ít nhất là 20-25
giờ/tuần tại nhà trường và không nhận chức vụ nơi khác (nếuchưa được Viện trưởng cho phép)
Hai ĐHCL này có thể mở rộng thêm trong tương lai nhưng không nên có hơn 10.000 sinh viên (theo kinh nghiệmcác nước tiên tiến) Dù dưới hình thức nào trong tương lai, trường đại học được đề nghị ở đây phải trở thành trung tâm giáo dục và nghiên cứu hàng đầu của Việt Nam và có uy tín trên thế giới Mong rằng đề nghị này được chính phủ xem xét và sớm thực thi Vì là ý kiến ban đầu, chúng tôi không đi vào những ý kiến quá chi tiết về tổ chức mà chỉ xin phác thảo một số nét đại cương trong các Phụ lục để dễ thảo luận
và điều chỉnh
Phụ lục 1
Tài chính và tư cách pháp nhân
Giải trình thêm về tư cách pháp nhân của ĐHCLC
Các doanh nghiệp tự chủ kinh doanh ở nhiều nước được phân loại như sau: doanh nghiệp công và doanh nghiệp tư tùy theo sở hữu là công hay tư Cả hai loại doanh nghiệp lại chia làm hai loại: loại vị lợi và vô vị lợi Sự khác biệt giữa vị
Trang 14lợi và vô vị lợi là vấn đề phân chia cổ tức Doanh nghiệp vị lợi chia cổ tức cho người sở hữu cổ tức (người sở hữu cổ tức
có thể là chính phủ hay tư nhân) Loại vô vị lợi có thể có lợi nhuận nhưng không bị đánh thuế; chúng không có cổ tức và
do đó lợi nhuận không được phân chia mà phải dùng để đầu
tư phát triển Trong các loại doanh nghiệp này, ban giám đốcdoanh nghiệp được tự chủ về tuyển dụng nhân viên, về tài chính mặc dù giá cả sản phẩm làm ra có thể bị kiểm soát nếu
là doanh nghiệp độc quyền hoặc doanh nghiệp vô vị lợi Ngoài các hình thức doanh nghiệp trên là các “đơn vị sự nghiệp” thuộc nhà nước; chúng không có quyền tự chủ về tàichính, hoạt động sản xuất chỉ nhằm phục vụ lợi ích công cộng đặc biệt như chuyên chở công cộng trong thành phố và giáo dục công như trong các trường công hiện nay ở Việt Nam; công nhân viên của doanh nghiệp này là công chức nhà nước
ĐHCLC sẽ có tư cách pháp nhân là doanh nghiệp công
vô vị lợi (thay vì là một “đơn vị sự nghiệp”) Loại doanh
nghiệp này phù hợp với Nghị quyết của chính phủ số
05/2005/NQ-CP:
Chuyển các cơ sở công lập đang hoạt động theo cơ chế
sự nghiệp mang nặng tính hành chính bao cấp sang cơ chế tự chủ cung ứng dịch vụ công ích không bao cấp tràn lan và không nhằm lợi nhuận (gọi tắt là cơ chế cung ứng dịch vụ): có đầy đủ quyền tự chủ về tổ chức và quản lý; thực hiện đúng mục tiêu và nhiệm vụ; hạch toán đầy
đủ chi phí, cân đối thu chi ; thường xuyên nâng cao hiệu quả và chất lượng dịch vụ, sản phẩm; bảo đảm quyền lợi và cơ hội tiếp cận bình đẳng của người thụ hưởng
Đổi mới chế độ thu phí đi đôi với việc thực hiện tốt chính sách ưu đãi các đối tượng chính sách và trợ giúp người nghèo Mức phí quy định theo nguyên tắc đủ trang trải các chi phí cần thiết, có tích luỹ để đầu tư phát triển và xoá bỏ mọi khoản thu khác Người thụ
Trang 15hưởng có quyền lựa chọn cơ sở cung ứng dịch vụ phù hợp với từng lĩnh vực.
ĐHCLC là loại doanh nghiệp công vô vị lợi, khác hẳn doanh nghiệp công vị lợi có tên gọi hiện nay là “doanh nghiệp quốc doanh” ĐHCLC do đó sẽ được nhà nước bỏ vốn, có thể tài trợ một phần chi phí thường xuyên, nhưng sẽ phải cố gắng bươn chải tự túc về chí phí thường xuyên và đi tới ngày tự chủ hoàn toàn về tài chính
Ước lượng sơ lược vốn ban đầu và chi phí thường xuyên
tối thiểu cho một trường được tính dựa vào các giả thiết như sau:
1. Số sinh viên: 2.000 Số giáo sư 150 Số nhân viên hành chính và công nhân: 200
2. Đất với diện tích 60 hecta để có một khuôn viên đại học có khả năng mở rộng cho một trường với 10.000 sinh viên Đất do nhà nước cấp
3. Chi phí xây dựng dựa trên tỷ lệ chi phí xây dựng/sinh viên của trường RMIT ở Việt Nam
4. Giáo sư: lương tối thiểu 500 USD/tháng Nhân viên hành chính và công nhân: lương tối thiểu 100
USD/tháng
5. Thư viện: tối thiểu 50.000 quyển sách
6. Máy tính: mỗi giáo sư một máy tính PC, hai sinh viên một máy tính, có nối mạng vào workstation và
internet
7. Máy tính khấu hao trong vòng 3 năm
8. Phòng thí nghiệm khấu hao trong 5 năm
9. Xây dựng khấu hao trong 25 năm
10.Chi phí sinh hoạt gồm các hoạt động tổ chức hội thảo,
Trang 16tham dự hội nghị và các hoạt động tương tự.
Chi phí thường xuyên hàng năm