Trong những năm gần đây, sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam vô cùng mạnh mẽ. Đặc biệt là việc Việt Nam được tham gia vào WTO đã đưa nước ta hội nhập toàn diện và sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Điều đó đã tạo ra nhiều thời cơ và thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam. Để tồn tại và phát triển trong một môi trường năng động và cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ đòi hỏi các nhà doanh nghiệp phải không ngừng hoàn thiện mình có đủ khả năng tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Có nhiều mảng nhiều khía cạnh mà một doanh nghiệp cần phải quan tâm khi muốn đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh cao nhất. Một trong các vấn đề đó là việc quản lý và sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Bởi lẽ, tài sản của doanh nghiệp tham gia vào từng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó, dù là trực tiếp hay gián tiếp. Tài sản của doanh nghiệp gồm hai loại là TSCĐ và TSLĐ. TSLĐ đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra thường xuyên, liên tục. Từ đó có thể thấy việc tổ chức quản lý và sử dụng TSLĐ có hiệu quả hay không sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả quản lý tài chính nói chung của doanh nghiệp. Sau một thời gian thực tập có điều kiện đi sâu tìm hiểu thực tế tại công ty cổ phần xây dựng và phát triển đô thị Hòa Phát, nhận thấy được những ưu điểm cũng như những khó khăn còn gặp phải trong công tác quản lý và sử dụng TSLĐ của công ty, em đã đi sâu vào nghiên cứu đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ tại công ty cổ phần xây dựng và phát triển đô thị Hòa Phát”. Nội dung chính của đề tài gồm có 3 chương chính: Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hiệu quả sử dụng tài lưu động của doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại công ty cổ phần xây dựng và phát triển đô thị Hòa Phát. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại công ty cổ phần xây dựng và phát triển đô thị Hòa Phát. Do thời gian nghiên cứu và trình độ có hạn nên bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót, yếu kém. Em kính mong nhận được sự chỉ bảo và những ý kiến đóng góp của các thầy cô giúp em hoàn thiện bài viết đạt hiệu quả thực tiễn cao hơn. Trong quá trình nghiên cứu em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy PGS. TS Vũ Duy Hào trong việc lựa chọn đề tài nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu logic cũng như sự giúp đỡ của các anh chị phòng kế toán của công ty cổ phần xây dựng và phát triển đô thị Hòa Phát trong việc lựa chọn số liệu phù hợp cho bài viết. Em xin chân thành cảm ơn Hà Nội, ngày 06 tháng 07 năm 2008. Sinh viên
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam vôcùng mạnh mẽ Đặc biệt là việc Việt Nam được tham gia vào WTO đã đưanước ta hội nhập toàn diện và sâu rộng vào nền kinh tế thế giới Điều đó đã tạo
ra nhiều thời cơ và thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam Để tồn tại vàphát triển trong một môi trường năng động và cạnh tranh ngày càng mạnh mẽđòi hỏi các nhà doanh nghiệp phải không ngừng hoàn thiện mình có đủ khảnăng tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Có nhiềumảng nhiều khía cạnh mà một doanh nghiệp cần phải quan tâm khi muốn đạtđược hiệu quả sản xuất kinh doanh cao nhất Một trong các vấn đề đó là việcquản lý và sử dụng tài sản của doanh nghiệp Bởi lẽ, tài sản của doanh nghiệptham gia vào từng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó, dù làtrực tiếp hay gián tiếp
Tài sản của doanh nghiệp gồm hai loại là TSCĐ và TSLĐ TSLĐ đảmbảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra thườngxuyên, liên tục Từ đó có thể thấy việc tổ chức quản lý và sử dụng TSLĐ cóhiệu quả hay không sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả quản lý tài chính nóichung của doanh nghiệp
Sau một thời gian thực tập có điều kiện đi sâu tìm hiểu thực tế tại công ty
cổ phần xây dựng và phát triển đô thị Hòa Phát, nhận thấy được những ưu điểmcũng như những khó khăn còn gặp phải trong công tác quản lý và sử dụng
TSLĐ của công ty, em đã đi sâu vào nghiên cứu đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ tại công ty cổ phần xây dựng và phát triển đô thị Hòa Phát”.
Nội dung chính của đề tài gồm có 3 chương chính:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hiệu quả sử dụng tài lưu động củadoanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại công ty cổphần xây dựng và phát triển đô thị Hòa Phát
Trang 2Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tạicông ty cổ phần xây dựng và phát triển đô thị Hòa Phát.
Do thời gian nghiên cứu và trình độ có hạn nên bài viết không thể tránhkhỏi những thiếu sót, yếu kém Em kính mong nhận được sự chỉ bảo và những
ý kiến đóng góp của các thầy cô giúp em hoàn thiện bài viết đạt hiệu quả thựctiễn cao hơn
Trong quá trình nghiên cứu em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình củathầy PGS TS Vũ Duy Hào trong việc lựa chọn đề tài nghiên cứu và phươngpháp nghiên cứu logic cũng như sự giúp đỡ của các anh chị phòng kế toán củacông ty cổ phần xây dựng và phát triển đô thị Hòa Phát trong việc lựa chọn sốliệu phù hợp cho bài viết Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 06 tháng 07 năm 2008.
Sinh viên
Phan Thị Phương Quỳnh
Trang 3Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP.
1.1 Tổng quan về tài sản lưu động của doanh nghiệp.
Đối với một quốc gia, sự phát triển kinh tế là một trong những mục tiêuquan trọng hàng đầu Sự phát triển kinh tế là một trong những chỉ tiêu quantrọng để đánh giá tiềm lực của một quốc gia trên trường quốc tế Để quá trìnhvận hành nền kinh tế đạt được hiệu quả cần có sự phối hợp hài hòa giữa cácthành viên bên trong nó Trong đó, doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng quyếtđịnh sự tồn tại và phát triển chung của bất kỳ nền kinh tế nào Các doanhnghiệp được hình thành, đi vào hoạt động và phát triển với nhiều hình thứckinh doanh khác nhau Có doanh nghiệp hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợinhuận, cũng có doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu công ích xã hội Và xét chođến cùng thì mọi hoạt động của doanh nghiệp vẫn là nhằm đạt đến tối đa hóagiá trị của chủ sở hữu Bởi lẽ, mỗi doanh nghiệp thuộc về các chủ sở hữu nhấtđịnh Họ chỉ quyết định tiếp tục phát triển khi nhận thấy giá trị đầu tư của mìnhtăng lên Quản lý tài chính doanh nghiệp chính là nhằm thực hiện mục tiêu đó.Trong giới hạn của khoá luận này xin chỉ xét đến hoạt động của doanh nghiệphoạt động sản xuất kinh doanh nghiệp vì mục tiêu lợi nhuận
Doanh nghiệp hoạt động không tách rời với các mối quan hệ với môitrường xung quanh Nền kinh tế thị trường càng phát triển đặt ra những điềukiện về chất lượng, mẫu mã, giá cả của hàng hóa, chất lượng của dịch vụ ngàycàng cao hơn, tinh tế hơn Do đó, để có đủ sức cạnh tranh các doanh nghiệpbuộc phải không ngừng cải tiến sản phẩm, đảm bảo sản xuất kinh doanh cóhiệu quả và chất lượng cao Trong sự vận động của thị trường, các mối quan hệtài chính của doanh nghiệp được thể hiện rất đa dạng trong toàn bộ quá trìnhhoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Để tiến hành sản xuất - kinhdoanh, các nhà tài chính doanh nghiệp phải xử lý các quan hệ tài chính thông
Trang 4qua phương thức giải quyết ba vấn đề cơ bản quan trọng của tài chính doanhnghiệp Đó là:
Một là, nên đầu tư dài hạn vào đâu và bao nhiêu cho phù hợp với loại
hình sản xuất kinh doanh đã lựa chọn Đây chính là chiến lược đầu tư dài hạncủa doanh nghiệp và là cơ sở để sự toán vốn đầu tư
Hai là, nguồn vốn đầu tư doanh nghiệp có thể khai thác là nguồn nào?
Ba là, doanh nghiệp sẽ quản lý hoạt động tài chính hàng ngày như thế
nào? Đây là các quyết định tài chính ngắn hạn và chúng có liên quan chặt chẽtới quản lý TSLĐ của doanh nghiệp
Ba vấn đề trên không phải là tất cả các vấn đề của tài chính doanhnghiệp, nhưng là các vấn đề lớn nhất, quan trọng nhất mà mỗi quyết định vềcác vấn đề đó đều có ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình hoạt động của doanhnghiệp Mỗi vấn đề đó bao gồm nhiều nội dung, nhiều khía cạnh khác nhau.Trong phạm vi khoá luận này sẽ chỉ phân tích tới những nội dung cơ bản củacông tác quản lý TSLĐ trong doanh nghiệp
Trước hết là những lý luận chung về TSLĐ cũng như công tác quản lýTSLĐ của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm về TSLĐ của doanh nghiệp.
Trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản là khoản mục nằmbên trái được thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoảncao, các khoản phải thu và dự trữ Có nhiều cách phân loại tài sản trong cácdoanh nghiệp Xét về mặt giá trị và tính chất luân chuyển của tài sản, toàn bộtài sản của doanh nghiệp có thể được chia làm hai loại: TSLĐ và TSCĐ Mỗimột loại tài sản đó có những hình thái vật chất và vai trò riêng nhưng đều nhằmphục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Theo cách phân loại này,
TSLĐ có thể được hiểu là toàn bộ những tài sản ngắn hạn và thường xuyên luân chuyển trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Trang 51.1.2 Phân loại TSLĐ của doanh nghiệp.
TSLĐ gồm nhiều loại với tính chất và công dụng khác nhau Vì vậy, đểtạo điều kiện cho việc quản lý đạt hiệu quả nhất, TSLĐ cần được phân loại chophù hợp với mục tiêu quản lý
Xét theo lĩnh vực tham gia luân chuyển, TSLĐ có thể được phân thành
ba loại: TSLĐ sản xuất, TSLĐ lưu thông và TSLĐ tài chính
• TSLĐ sản xuất là những tài sản dự trữ cho quá trình sản xuất(trong đó gồm các nguyên, nhiên vật liệu, công cụ, dụng cụ… đang dự trữtrong kho) và tài sản dùng trong sản xuất (là các giá trị sản phẩm dở dang)
• TSLĐ lưu thông bao gồm tài sản dự trữ cho quá trình lưu thông(như các thành phẩm, hàng hóa dự trữ trong kho, hàng đang gửi bán), và tài sảntrong quá trình lưu thông (gồm vốn bằng tiền và các khoản phải thu)
• TSLĐ tài chính là các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn với mụctiêu kiếm lời (đầu tư liên doanh, liên kết, đầu tư vào chứng khoán…)
Xét theo mức độ thanh khoản, tức dựa vào khả năng huy động cho việcthanh toán, người ta chia TSLĐ thành các loại khác nhau Bao gồm:
• Ngân quỹ: bao gồm tiền mặt tại két của doanh nghiệp, tiền gửi tạingân hàng và các tổ chức tín dụng, tiền đang chuyển Đây là khoản mục có tínhthanh khoản cao nhất trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp
• Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn bao gồm đầu tư chứng khoánngắn hạn có khả năng thanh khoản cao, đầu tư ngắn hạn khác, các khoản dựphòng đầu tư ngắn hạn… Đây là những tài sản có tính thanh khoản cao nhưngthêm vào đó chúng còn có khả năng sinh lời cho doanh nghiệp Khi có nhu cầuthanh toán, doanh nghiệp có thể bán các chứng khoán này để chi trả
• Các khoản phải thu, còn được gọi là các khoản tín dụng thươngmại, bao gồm: các khoản phải thu khách hàng, các khoản trả trước cho ngườibán, các khoản VAT được khấu trừ, các khoản phải thu nội bộ và các khoảnphải thu khác Các khoản phải thu này có thể được hình thành qua các mối
Trang 6quan hệ kinh doanh với khách hàng, với các nhà cung cấp hay với chính cán bộcông nhân viên của doanh nghiệp.
• Dự trữ, tồn kho: đó là các nguyên, nhiên vật liệu, công cụ, dụng cụphục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, các sản phẩm dở dang hay bánthành phẩm, thành phẩm lưu kho Khoản mục này ở các doanh nghiệp khácnhau là khác nhau tùy thuộc vào hoạt động của doanh nghiệp đó
• TSLĐ khác: bao gồm các khoản tạm ứng chưa thanh toán, chi phítrả trước, chi phí dở dang, chi phí chờ kết chuyển, tài sản thiếu chờ xử lý, cáckhoản thế chấp, kí cược, kí quỹ…
Tuy vậy, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ các khoản mục đótrong TSLĐ của mình Tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp khác nhau mà cáckhoản mục đó có thể thay đổi khác nhau nhưng thông thường bao gồm: tiềnmặt và chứng khoán thanh khoản cao, các khoản phải thu, dự trữ
1.1.3 Cơ cấu TSLĐ của doanh nghiệp.
Theo cách phân loại dựa vào tính thanh khoản của các loại tài sản, TSLĐbao gồm 4 khoản mục chính: ngân quỹ, chứng khoán có khả năng thanh khoảncao, các khoản phải thu và dự trữ Cơ cấu TSLĐ có thể được hiểu là tỷ trọngcủa từng loại TSLĐ trong tổng số TSLĐ của doanh nghiệp Đối với mỗi loại tàisản đó, doanh nghiệp luôn đứng trước sự đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận Cácloại TSLĐ đều cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh Việc nắm giữTSLĐ càng nhiều, nguy cơ mất khả năng thanh khoản càng thấp, nghĩa là rủi rokinh doanh càng thấp Tuy nhiên, việc nắm giữ TSLĐ là có chi phí Do đó, sức
ép của việc duy trì cơ cấu TSLĐ ở mức hợp lý sao cho hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp không bị gián đoạn là rất lớn Việc lựa chọn cơ cấuTSLĐ tối ưu sẽ được phân tích kỹ hơn trong các phần sau của khoá luận này
1.1.4 Tầm quan trọng của TSLĐ đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều cần phải có tài sản Tài sản là một tiềm lực kinh tế của doanh
Trang 7-nghiệp, biểu thị cho những lợi ích mà doanh nghiệp có được trong tương laihoặc những tiềm năng phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.TSLĐ là một trong hai bộ phận của tài sản trong doanh nghiệp TSLĐ tham giavào tất cả các quá trình kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy, để hoạt độngkinh doanh được tiến hành liên tục thì doanh nghiệp cần phải có đủ TSLĐ Nhucầu về TSLĐ giữa các doanh nghiệp khác nhau không chỉ về quy mô mà còn cả
về cơ cấu, tùy thuộc vào đặc điểm và loại hình hoạt động kinh doanh Một cơcấu hợp lý sẽ đáp ứng một cách kịp thời nhu cầu kinh doanh của đơn vị giúpgiảm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh doanh Không những thế, thông qua cơcấu TSLĐ ta có thể biết được tình hình tài chính hiện tại của doanh nghiệp vềkhả năng thanh toán và các rủi ro tài chính của doanh nghiệp
Vì vậy, một chính sách quản lý và sử dụng TSLĐ khoa học là rất cầnthiết, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tăngsức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường
1.2 Công tác quản lý TSLĐ của doanh nghiệp.
TSLĐ tồn tại ở tất cả các khâu, các lĩnh vực trong suốt quá trình sảnxuất, tái sản xuất của doanh nghiệp Việc quản lý và sử dụng hợp lý các loạiTSLĐ có ảnh hưởng rất quan trọng đến việc hoàn thành các chỉ tiêu mà doanhnghiệp đặt ra Hơn nữa, thông qua việc quản lý TSLĐ giúp các chủ sở hữu, cácnhà đầu tư và đối tác có thể biết được thực trạng sử dụng TSLĐ trong doanhnghiệp, thông qua đó thể hiện một phần năng lực của nhà quản lý Công tácquản lý TSLĐ bao gồm: quản lý tiền mặt và các chứng khoán thanh khoản cao,các khoản phải thu và dự trữ
1.2.1 Quản lý tiền mặt và các chứng khoán thanh khoản cao.
Tiền mặt được hiểu là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán củadoanh nghiệp tại ngân hàng Nó được sử dụng để trang trải các khoản chi tiêutrong doanh nghiệp như: mua nguyên, nhiên vật liệu phục vụ sản xuất, trảlương cho công nhân viên, mua sắm TSCĐ, trả tiền thuế… Bản thân tiền mặt làtài sản không sinh lãi hoặc có tỷ suất sinh lời thấp Nhưng nếu doanh nghiệp
Trang 8giữ một lượng tiền mặt dư thừa sẽ làm giảm hiệu suất sinh lời của vốn chủ sởhữu và do vậy sẽ ảnh hưởng đến giá trị của doanh nghiệp Tuy nhiên, việc giữmột lượng tiền mặt trong kinh doanh là vấn đề hết sức cần thiết, bởi:
Thứ nhất, đảm bảo cho các giao dịch hàng ngày Những giao dịch
thường xuyên diễn ra trong ngày có thể là: thanh toán cho khách hàng, thanhtoán cho nhà cung cấp, thu tiền từ khách hàng… Từ những giao dịch đó mà tạo
ra các số dư giao dịch
Thứ hai, bù đắp cho ngân hàng về việc ngân hàng cung cấp các dịch vụ
cho doanh nghiệp, chẳng hạn chuyển khoản thanh toán cho nhà cung cấp haykhách hàng, cho vay để sản xuất… Số dư tiền mặt này được gọi là số dư bùđắp
Thứ ba, đáp ứng nhu cầu dự phòng cho các biến động bất thường liên
quan đến các dòng tiền vào và ra trong doanh nghiệp Loại tiền này tạo nên số
dư dự phòng
Thứ tư, duy trì số dư nhằm mục đích đầu cơ để cho phép doanh nghiệp
tận dụng các cơ hội kiếm lời
Bên cạnh đó việc giữ tiền mặt cũng có những lợi thế nhất định:
• Trong các giao dịch với nhà cung cấp, khi doanh nghiệp có đủ tiềnmặt sẽ tận dụng được những lợi thế chiết khấu thương mại
• Việc giữ đủ tiền mặt, duy trì tốt các chỉ số về khả năng thanh toánngắn hạn giúp doanh nghiệp duy trì tín nhiệm với nhà cung cấp hay với ngânhàng Từ đó có thể được mua hàng với những điều kiện ưu đãi, được hưởngmức tín dụng ưu đãi
• Giữ đủ tiền mặt còn giúp doanh nghiệp tận dụng được các cơ hộithuận lợi trong kinh doanh vì chủ động được trong các hoạt động chi trả
• Khi có đủ tiền mặt, doanh nghiệp có thể đối phó kịp thời trong cáctrường họp khẩn cấp, các chi tiêu đột xuất như rủi ro từ những biến động củathị trường, khó khăn do yếu tố thời vụ
Trang 9Quản lý tiền mặt đề cập đến việc quản lý tiền giấy và tiền gửi ngân hàng.
Sự quản lý này có mối liên quan chặt chẽ với việc quản lý các loại tài sản gắnliền với tiền mặt như các loại chứng khoán thanh khoản cao Các loại chứngkhoán thanh khoản cao giữ vai trò như một “bước đệm” cho tiền mặt vì trongtrường hợp cần thiết có thể chuyển đổi chúng sang tiền mặt một cách dễ dàng
và tốn ít chi phí để có thể đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp không bịgián đoạn Đó là lý do trong quản trị tài chính, các nhà quản trị sử dụng chứngkhoán thanh khoản cao để duy trì tiền mặt ở một mức độ mong muốn Điều này
có thể được biểu hiện rõ qua sơ đồ luân chuyển sau:
Các chứng khoán thanh khoản cao
Đầu tư tạm thời bằng cách
mua chứng khoán thanh
khoản cao
Bán những chứng khoánthanh khoản cao để bổ sungcho tiền mặt
Dòng thu tiền mặt Tiền mặt Dòng chi tiền mặt
Hình 1.1: Sơ đồ luân chuyển giữa tiền mặt và chứng khoán thanh khoản cao.
Một trong các chính sách quản lý TSLĐ quan trọng chính là việc xâydựng một mức dự trữ tiền mặt hợp lý Mức dự trữ tối ưu liên quan đến việcđánh đổi chi phí cơ hội của việc giữ tiền và chi phí giao dịch do thiếu hụt quỹtiền mặt Để xác định được mức tiền mặt tối ưu, có hai mô hình đã được pháttriển nhằm hỗ trợ cho các nhà quản trị tài chính
1.2.1.1 Mô hình Baumol.
Mô hình này được ứng dụng nhằm thiết lập một mức dự trữ tiền mặt tối
ưu Cũng giống như các mô hình khác, mô hình này được xây dựng dựa trênnhững giả định:
• Doanh nghiệp áp dụng tỷ lệ bù đắp tiền mặt không đổi
Trang 10• Không có số thu tiền mặt trong kỳ hoạch định.
• Không có dự trữ tiền mặt cho mục đích an toàn
• Dòng tiền rời rạc chứ không liên tục
Hình 1.2: Mô hình Baumol.
Theo mô hình này, lượng dự trữ tiền mặt tối ưu được xác định là:
M* = (2Mⁿ × Cb/i) 1/2Trong đó:
M*: tổng mức tiền mặt giải ngân hàng năm
Cb: chi phí cho một lần bán chứng khoán thanh khoản
i: lãi suất
Từ công thức trên cho thấy: nếu lãi suất càng cao thì người ta càng ít giữtiền mặt và ngược lại, nếu chi phí cho việc bán chứng khoán càng cao họ lạicàng giữ nhiều tiền mặt
Tuy nhiên những giả định của mô hình này là không đúng với thực tế.Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp rất hiếm khi có lượng tiền vào, racủa doanh nghiệp lại đều đặn và dự kiến trước được, do đó làm cho mức dự trữcũng khó có thể đều đặn như giả định Một số hạn chế của mô hình này đãđược khắc phục nhờ mô hình Miller - Orr
1.2.1.2 Mô hình Miller - Orr
Khác với mô hình Baumol, mô hình Miller - Orr xây dựng mức dự trữ tối
ưu dựa trên dòng thu và chi tiền mặt diễn ra ngẫu nhiên trong ngày Mô hình
Ti n m t u k = C
Ti n m t bình quân = C/2
Ti n m t cu i k C = 0
Tu n
Trang 11Miller - Orr liên quan đến cả dòng thu và dòng chi với giả định dòng tiền mặtròng có phân phối chuẩn Dòng tiền hàng ngày có thể dao động trong mộtkhoảng, tức là lượng tiền dự trữ sẽ biến thiên từ cận thấp nhất đến giới hạn caonhất Nếu lượng tiền mặt ở dưới mức thấp nhất thì doanh nghiệp phải bánchứng khoán để có lượng tiền mặt ở mức dự kiến Ngược lại, tại giới hạn trên,doanh nghiệp có thể sử dụng số tiền vượt quá mức giới hạn mua chứng khoán
để đưa lượng tiền mặt về mức dự kiến
Khoảng dao động lượng tiền mặt dự kiến phụ thuộc vào 3 yếu tố cơ bản:
Một là, mức dao động của thu chi ngân quỹ hàng ngày lớn hay nhỏ Sự
dao động này được thể hiện ở phương sai của thu chi ngân quỹ Phương sai củathu chi ngân quỹ là tổng các bình phương của thu chi ngân quỹ thực tế càng có
xu hướng khác biệt nhiều so với thu chi bình quân
Hai là, chi phí cố định của việc mua bán chứng khoán
Ba là, lãi suất càng cao thì các doanh nghiệp sẽ giữ lại ít tiền và do vậy
khoảng dao động tiền mặt sẽ giảm xuống
Hình 1.3: Mô hình Miller – Orr.
Khoảng dao động tiền mặt được xác định bằng công thức:
d = 3(¾ × Cb × Vb/i) 1/2Trong đó:
d: khoảng cách của giới hạn trên và giới hạn dưới của lượng tiền mặt dự trữ.Cb: chi phí cho mỗi lần giao dịch mua bán chứng khoán
Trang 12Vb: phương sai của thu chi ngân quỹ.
i: lãi suất
Đây là mô hình được rất nhiều doanh nghiệp áp dụng trên thực tế Khi ápdụng mô hình này, mức tiền mặt ở giới hạn dưới thường được lấy là mức tiềnmặt tối thiểu Phương sai của thu chi ngân quỹ được xác định bằng cách dựavào số liệu thực tế của một quỹ trước đó để tính toán Khi doanh nghiệp hoàntoàn dự kiến được luồng tiền vào và tiền ra một cách chắc chắn thì hầu nhưdoanh nghiệp chỉ cần giữ lại một lượng tiền không đáng kể, còn lại sẽ đầu tưvào chứng khoán ngắn hạn để kiếm lời
1.2.2 Quản lý dự trữ, tồn kho.
Trong quá trình luân chuyển của vốn lưu động phục vụ cho sản xuất kinhdoanh, việc tồn tại hàng hóa tồn kho là cần thiết cho hoạt động bình thường củadoanh nghiệp Hàng hóa tồn kho có ba loại: nguyên vật liệu thô phục vụ choquá trình sản xuất - kinh doanh, sản phẩm dở dang và thành phẩm Nguyên vậtliệu dự trữ không trực tiếp tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp nhưng nó đóngvai trò rất lớn góp phần đảm bảo cho quá trình sản xuất - kinh doanh được tiếnhành bình thường Việc dự trữ quá nhiều hay quá ít có thể ảnh hưởng đếndoanh nghiệp Nếu thiếu sẽ làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp, ảnh hưởng đến năng suất lao động, hiệu quả kinh doanh Nhưng nếuquá dư thừa sẽ gây tốn kém chi phí, ứ đọng vốn Do vậy các doanh nghiệp cần
có chiến lược dữ trữ tối ưu nhằm đạt hiệu quả cao nhất Thông thường trongquản lý, vấn đề chủ yếu được đề cập đến là nguyên vật liệu dữ trữ cho sản xuấtkinh doanh
Hàng tồn kho chịu ảnh hưởng chủ yếu của doanh số bán Quản lý tồnkho đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa các bộ phận bán hàng, mua hàng, sản xuất
và tài chính Sự hợp tác thiếu chặt chẽ giữa các bộ phận, dự báo doanh sốkhông chính xác sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng Mục tiêu quản lý tồnkho là đảm bảo lượng hàng tồn kho cần thiết để duy trì hoạt động sản xuất kinhdoanh bình thường với chi phí tối thiểu
Trang 13Có nhiều phương pháp quản lý hàng tồn kho Ở đây có thể đề cập đếnmột vài phương pháp chủ yếu hay được áp dụng:
1.2.2.1 Mô hình EOQ - quản lý tồn kho theo phương pháp cổ điển.
Giả định mà mô hình này đưa ra là những lần cung cấp hàng hóa là bằngnhau Khi doanh nghiệp tiến hành dự trữ hàng hóa sẽ dẫn theo là hàng loạt cácchi phí khác phát sinh kèm như: chi phí bốc xếp hàng hóa, chi phí bảo quản, chiphí lắp đặt… Tuy vậy có thể tựu chung lại thành hai loại chính:
• Chi phí lưu kho: là những chi phí liên quan đến việc tồn trữ hàng hóa.Chi phí này bao gồm:
+ Chi phí hoạt động như chi phí bốc xếp hàng hóa, chi phí do giảmgiá hàng hóa…
+ Chi phí tài chính: chi phí sử dụng vốn như lãi tiền vay, chi phí vềthuế, khấu hao…
Gọi số lượng mỗi lần cung cấp hàng hóa là Q, lượng dự trữ trung bình sẽ
Gọi D là toàn bộ lượng hàng hóa cần sử dụng trong một đơn vị thời gianthì số lượng lần cung ứng hàng hóa sẽ là D/Q
Gọi C2 là chi phí mỗi lần đặt hàng thì tổng chi phí đặt hàng sẽ là C2×D/QNếu số lượng mỗi lần cung ứng giảm thì tổng chi phí đặt hàng tăng.Gọi TC là tổng chi phí tồn kho, ta có:
Trang 14TC = C1 × + C2 × D/QCông thức trên có thể biểu diễn qua đồ thị như sau:
về chậm hoặc không có đủ hàng, hàng không đảm bảo chất lượng…) làm giánđoạn quá trình sản xuất Điều đó có thể dẫn đến sự giảm sút về doanh số bánChi phí
0
Trang 15hàng, và gây mất lòng tin đối với khách hàng Nhưng nếu đặt hàng quá sớm sẽlàm tăng lượng nguyên liệu tồn kho Do vậy, các doanh nghiệp cần phải xácđịnh điểm đặt hàng mới kịp thời và kinh tế nhất.
Thời điểm đặt hàng mới được xác định bằng số lượng nguyên liệu sửdụng mỗi lần × độ dài thời gian giao hàng
Lượng dự trữ an toàn: Nguyên vật liệu được sử dụng mỗi ngày khôngphải là một số cố định mà biến động không ngừng, nhất là đối với những doanhnghiệp sản xuất mang tính thời vụ hoặc sản xuất những chủng loại hàng hóanhạy cảm với thị trường Nếu đơn hàng đến trễ hay nhu cầu vật liệu lớn hơnmong đợi trong khi chúng ta đang chờ hàng về, việc hết tồn kho có thể xảy ra,
có nghĩa là tồn kho không hữu hiệu Vì vậy, để đảm bảo cho sự ổn định của sảnxuất, doanh nghiệp cần phải duy trì một lượng hàng tồn kho ở mức an toàn.Lượng dự trữ an toàn là lượng hàng hóa dự trữ tại thời điểm đặt hàng
1.2.2.2 Phương pháp cung cấp đúng lúc hay dự trữ bằng 0.
Tư tưởng cơ bản của phương pháp này là các doanh nghiệp trong một sốngành nghề có liên quan chặt chẽ với nhau hình thành nên những mối quan hệ,khi có đơn đặt hàng nào đó họ sẽ tiến hành thu gom trực tiếp những hàng hóa
và sản phẩm dở dang của doanh nghiệp khác mà không cần dự trữ
Phương pháp này nếu được sử dụng sẽ giúp cho doanh nghiệp có thềgiảm tới mức tối đa chi phí cho dự trữ vì lúc đó dự trữ của doanh nghiệp gầnnhư bằng 0 Tuy vậy, phương pháp này chỉ nên được áp dụng cho một số loại
dự trữ nào đó của doanh nghiệp và phải kết hợp với các phương pháp quản lýkhác để đạt hiệu quả cao nhất
1.2.3 Quản lý các khoản phải thu.
Để nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường, các doanh nghiệp có thể sửdụng nhiều chiến lược khác nhau về chất lượng, mẫu mã sản phẩm, về phươngthức tiếp thị sản phẩm, về các dịch vụ hậu mãi… Trong điều kiện nền kinh tếcạnh tranh như hiện nay, việc mua bán chịu là không thể thiếu Các khoản phảithu được hình thành thông qua quá trình mua bán chịu đó của doanh nghiệp với
Trang 16khánh hàng hay nhà cung cấp của mình Chính sách mua bán chịu (chính sáchtín dụng thương mại) này là cần thiết đối với các doanh nghiệp song cũng tạo racho các nhà quản trị nhiều vấn đề Khi cấp tín dụng thương mại cho kháchhàng, doanh nghiệp có thể phải gánh chịu những khoản tăng lên của chi phíhoạt động Do khách hàng được trả chậm nên doanh nghiệp phải chịu thêm chiphí cho việc đòi nợ, chi phí bù đắp cho sự thiếu hụt ngân quỹ Thời hạn cấptín dụng càng dài thì các khoản chi phí càng tăng lên Trong trường hợp kháchhàng không trả tiền hoặc chậm trả tiền thì rủi ro đối với doanh nghiệp càng lớn.
Vì vậy, các nhà quản trị cần so sánh giữa khoản tăng lên của thu nhập và chiphí phải bỏ ra cũng như những rủi ro tiềm ẩn từ đó đưa ra các quyết định vềchính sách tín dụng thương mại mang lại hiệu quả nhất Khi cân nhắc có sửdụng chính sách tín dụng thương mại, cần chú ý một số nội dung:
* Phân tích khả năng tín dụng của khách hang: Trước hết, doanh
nghiệp cần xây dựng một hệ thống tiêu chuẩn tín dụng hợp lý Sau đó, dựa trên
cơ sở của hệ thống tiêu chuẩn đã xây dựng, các khách hàng sẽ được xác minhphẩm chất tín dụng của khách hàng Tuy nhiên, việc xây dựng một hệ thốngtiêu chuẩn tín dụng đạt được sự cân bằng thích hợp là không đơn giản Nếu tiêuchuẩn đặt ra quá cao có thể làm mất đi nhiều khách hàng tiềm năng, làm giảmlợi nhuận Nhưng nếu tiêu chuẩn đặt ra quá thấp thì sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro cóthể gây những thiệt hại về kinh tế
* Phân tích đánh giá khoản tín dụng được đề nghị Cũng giống như
nhiều sự phân tích lựa chọn khác, việc phân tích các khoản tín dụng thương mạiđược đề nghị sử dụng chỉ tiêu NPV của dòng tiền Doanh nghiệp sẽ cân nhắcgiá trị của NPV để ra quyết định có cấp tín dụng hay không
* Theo dõi các khoản phải thu Sau khi cấp tín dụng cho khách hàng,
doanh nghiệp cần theo dõi chặt chẽ các khoản phải thu của khách hàng để cóthể có những thay đổi kịp thời phù hợp với tình hình thực tế
Một chính sách tín dụng thương mại bao gồm: kỳ hạn tín dụng, tiêuchuẩn tín dụng, chính sách thu tiền, chiết khấu
Trang 17• Kỳ hạn tín dụng là độ dài thời gian mà khoản tín dụng được cấp.Việc tăng kỳ hạn tín dụng thường gây ra hiệu ứng kích thích doanh số, tuynhiên kèm theo đó là các khoản chi phí phát sinh liên quan tới các khoản giatăng doanh thu.
• Tiêu chuẩn tín dụng đề cập đến điểm mạnh và uy tín mà kháchhàng phải chứng minh để có thể nhận được tín dụng
• Chính sách thu tiền đề cập tới các thủ tục mà doanh nghiệp tuânthủ để thu tiền từ các khoản thu đến hạn Quá trình thu tiền có thể tốn kém vềmặt chi phí xét trên phương diện chi phí trực tiếp và danh tiếng bị tổn thất Tuynhiên ít nhất phải có tính kiên định cần thiết để tránh tình trạng kéo dài thờigian thu tiền quá mức và để tối thiểu hóa tổn thất hiện hữu
• Chính sách chiết khấu Chiết khấu có thể thu hút sự chú ý củakhách hàng và khuyến khích khách hàng thanh toán sớm để được hưởng chiếtkhấu Song chiết khấu vì thế cũng sẽ làm giảm thu nhập trên mỗi đơn vị hàngbán cho doanh nghiệp Do đó, các nhà quản trị cần cân nhắc kỹ các điểu khoảncủa chính sách chiết khấu đảm bảo lợi ích cho cả khách hàng và doanh nghiệp
1.3 Hiệu quả sử dụng TSLĐ.
1.3.1 Khái niệm về hiệu quả sử dụng TSLĐ.
Trong bất kỳ lĩnh vực nào, hiệu quả luôn là tiêu chí được xem xét hàngđầu Theo nghĩa chung nhất, hiệu quả là khái niệm phản ánh trình độ sử dụngcác yếu tố cần thiết để tham gia vào một hoạt động nào đó với mục tiêu xácđịnh do con người đặt ra Như vậy, có thể hiểu hiệu quả sử dụng tài sản trongdoanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ, năng lực khai thác và
sử dụng tài sản của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mụcđích tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa chi phí
Quản lý tài sản trong doanh nghiệp nói chung và TSLĐ nói riêng đạthiệu quả là vấn đề có ý nghĩa quan trọng, quyết định đến hiệu quả sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Vì thế nâng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ là hết sứccần thiết và quan trọng đối với các doanh nghiệp hiện nay
Trang 181.3.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSLĐ của doanh nghiệp.
Có rất nhiều chỉ tiêu khác nhau được sử dụng nhưng khi tiến hành phântích các nhà quản trị chủ yếu vẫn thường sử dụng một vài chỉ tiêu cơ bản sau:
1.3.2.1 Chỉ tiêu về khả năng hoạt động.
Để đánh giá khả năng hoạt động của các khoản mục trong TSLĐ ta cóthể sử dụng một số các chỉ tiêu:
* Số vòng quay hàng tồn kho: Đây là một chỉ tiêu khá quan trọng đểđánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chỉ tiêu này đượcxác định bằng tỷ số giữa doanh thu trong năm và giá trị dự trữ bình quân
Doanh thu K1 = ─────────────────
Tồn kho bình quân trong kỳ
Tỷ số này cho biết số lần hàng tồn kho được luân chuyển trong kỳ Chỉtiêu này càng lớn có nghĩa là hàng tồn kho được luân chuyển nhanh, làm giảmcác loại chi phí lưu kho cũng như chứng tỏ sự lưu thông hàng hóa của doanhnghiệp là rất tốt Dựa vào chỉ tiêu này mà các nhà quản trị có thể đánh giá đượctình hình tồn kho của doanh nghiệp từ đó có thể đưa ra các biện pháp xử lýnhằm đẩy nhanh quá trình lưu thông, đảm bảo an toàn cho doanh nghiệp
* Số ngày tồn kho bình quân
Tỷ số này cho biết một lần luân chuyển của hàng tồn kho trung bình hếtbao nhiêu ngày Tỷ số này được xác định bằng công thức:
Thời gian bình quân kỳ kinh doanh K2 = ────────────────────
─
Số vòng quay hàng tồn kho
∗ Kỳ thu tiền bình quân hay thời gian thu tiền là số ngày của một vòngquay các khoản phải thu Tỷ số này cho biết, cứ trung bình K2 ngày thì doanhthu từ bán chịu hàng hóa cho khách hàng được thanh toán Tỷ số này càng nhỏchứng tỏ hiệu quả sử dụng TSLĐ càng cao
Tổng số ngày trong kỳ K3 = ─────────────────────
─
Số vòng quay khoản phải thu trong kỳ
Trang 19Trong đó, số vòng quay các khoản phải thu trong kỳ được xác định bằng:
Doanh thu bán chịu trong kỳ
Số vòng quay khoản phải thu trong kỳ = ─────────────────
Các khoản phải thu bình quân
Do đó, công thức xác định kỳ thu tiền bình quân có thể được viết lại:
Khoản phải thu K3 = ─────────────────────
Doanh thu bán chịu bình quân ngày
∗ Vòng quay tiền: tỷ số này được xác định bằng cách lấy doanh thutrong năm chia cho tổng số tiền và các loại TS tương đương tiền bình quân
Doanh thu K4 = ─────────────────────
─ Tiền + chứng khoán thanh khoản cao
Tỷ số này cho biết số vòng quay tiền trong năm Tỷ số này càng lớnchứng tỏ doanh nghiệp sử dụng TSLĐ càng hiệu quả
* Thời gian vòng quay tiền: tỷ số này cho biết số ngày cần thiết để tiềnchu chuyển được một vòng Thời gian vòng quay tiền càng thấp chứng tỏ hiệuquả sử dụng TSLĐ của doanh nghiệp càng cao và ngược lại
Số ngày trong kỳ K5 = ─────────────
─
Số vòng quay tiền
∗ Số ngày bán hàng để tạo quỹ tiền mặt:
Tiền + chứng khoán thanh khoản cao K6 = ─────────────────────
─ Doanh thu bình quân ngày
Việc xác định tỷ số này bao nhiêu cho hợp lý đối với một doanh nghiệp
cụ thể là không dễ Lý do vì các doanh nghiệp luôn cần một lượng tiền mặt đểđáp ứng nhu cầu giao dịch hàng ngày với khách hàng, các nhà cung cấp, cácđối tác kinh doanh cũng như với ngân hàng Lượng tiền đó thay đổi từng ngày.Hơn thế nữa, các chứng khoán thanh khoản cao là nguồn thanh khoản quantrọng đối với doanh nghiệp trong những trường hợp khẩn cấp Do đó, việc xác
Trang 20định lượng tiền tồn quỹ tối thiểu là bao nhiêu liên quan đến nhiều vấn đề khác,trong đó có việc đảm bảo tính thanh khoản tốt nhất cho doanh nghiệp.
ở đầu kỳ và cuối kỳ Thông thường kỳ sử dụng để tính là 1 năm Do vậy, TSLĐ
sử dụng bình quân trong kỳ được tính theo công thức:
Tổng TSLĐ bình quân các quý trong năm TSLĐ sử dụng bình quân trong kỳ = ───────────────────────
─
Số quý trong năm
∗ Kỳ luân chuyển TSLĐ: là số ngày bình quân cần thiết để TSLĐ thựchiện một vòng quay trong kỳ Thời gian của một vòng luân chuyển càng ngắnthì tốc độ lưu chuyển càng nhanh, hiệu quả sử dụng TSLĐ càng cao Chỉ tiêunày phản ánh sự phát triển của trình độ quản lý và sử dụng TS trong doanhnghiệp
Thời gian của kỳ phân tích K8 = ───────────────────
* Tỷ trọng các khoản phải thu trong TSLĐ:
Các khoản phải thu K9 = ─────────────
Trang 21khoản phải thu khó đòi như vậy sẽ đe dọa đến khả năng thanh toán của doanhnghiệp.
* Tỷ lệ cân đối các khoản phải thu khách hang so với các khoản phải trảngười bán
Phải thu khách hàng K10 = ─────────────
* Tỷ số về khả năng thanh toán hiện hành
Tổng TSLĐ K11 = ─────────────
* Tỷ số khả năng thanh toán nhanh: là tỷ số giữa các TS quay vòngnhanh và nợ ngắn hạn TS quay vòng nhanh là những TS có thể nhanh chóngchuyển đổi thành tiền với chi phí thấp, bao gồm: tiền mặt, chứng khoán thanhkhoản cao, các khoản phải thu TS tồn kho là các TS khó chuyển thành tiền hơntrong tổng TSLĐ và dễ bị lỗ nhất nếu được bán Tỷ số này được xác định bằngcông thức:
TS quay vòng nhanh
Trang 22Tiền + chứng khoán thanh khoản cao K13 = ──────────────────────
─
× 100
Nợ ngắn hạn 1.3.2.3 Chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng TSLĐ.
Để đánh giá hiệu quả sử dụng TSLĐ của doanh nghiệp có một số chỉ tiêuthường được sử dụng:
* Khả năng sinh lời của TSLĐ
Lợi nhuận sau thuế K14 = ───────────────
TSLĐ bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của TSLĐ Nó cho biết mỗi đơn
vị TSLĐ sử dụng đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế
* Mức đảm nhiệm TSLĐ
TSLĐ sử dụng bình quân trong kỳ K15 = ────────────────────
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết, để đạt được mỗi đơn vị doanh thu, doanh nghiệpphải sử dụng bao nhiêu phần trăm đơn vị TSLĐ
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng TSLĐ.
Tại các doanh nghiệp khác nhau tình hình sử dụng TSLĐ có sự khácnhau do chịu tác động của nhiều yếu tố Có thể xem xét các nhân tố tác độngđến hiệu quả sử dụng TSLĐ của doanh nghiệp theo hai nhóm chủ yếu:
1.4.1 Các nhân tố chủ quan.
Trang 23Đây là nhóm các nhân tố thuộc về phía doanh nghiệp Một số các nhân tốchính có thể kể đến như:
Sự tương ứng giữa TSLĐ và TSCĐ trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp đều có một cơ cấu TS riêng phù hợp với đặc điểm
của doanh nghiệp mình Sự cân đối trong cơ cấu TS có tác động lớn đến hiệuquả sử dụng TSLĐ của doanh nghiệp Nếu TSLĐ quá nhiều sẽ làm tăng chi phícho việc lưu trữ TSLĐ trong khi TSCĐ không đủ đảm bảo cho hoạt động kinhdoanh Nhưng nếu quá ít sẽ làm gián đoạn quá trình sản xuất trong khi chi phíkhấu hao cho TSCĐ lại cao hơn Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp bị ứđọng, sử dụng thiếu hiệu quả, làm giảm lợi nhuận của chủ doanh nghiệp cũngnhư của các nhà đầu tư Do đó, xây dựng một cơ cấu TS hợp lý đảm bảo sửdụng có hiệu quả đem lại lợi nhuận cao là rất cần thiết
Các nhân tố thuộc về trình độ quản lý của doanh nghiệp Việc quản lý
và sử dụng TSLĐ đòi hỏi các nhà quản trị có trình độ chuyên môn cao Việcthiết lập cơ cấu TS hợp lý, các chính sách sử dụng phải được thực hiện mộtcách đồng bộ, khoa học, phù hợp với tình hình của doanh nghiệp và môi trườngkinh doanh Có thể nói, quản trị viên là người đóng vai trò quyết định đến hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy có thể nói trình độ quản lýcủa các nhà quản trị đóng vai trò rất quan trọng đối với hiệu quả sử dụng TSLĐcủa doanh nghiệp
Các yếu tố thuộc về trình độ của nhân viên Không chỉ chịu sự ảnh
hưởng về trình độ của các cấp quản lý, hiệu quả sử dụng TSLĐ của doanhnghiệp còn chịu tác động trực tiếp từ đội ngũ nhân viên trong doanh nghiệp.Nguồn nhân lực là nhân tố quan trọng chính của bất cứ doanh nghiệp nào Họ
là những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh nên làngười trực tiếp sử dụng TSLĐ của doanh nghiệp Chính vì thế trình độ củanhân viên sẽ có tác động trực tiếp đến hiệu quả sử dụng TSLĐ Một đội ngũnhân viên có trình độ sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ trong doanh nghiệp
Vì vậy, các doanh nghiệp cần có các chính sách nhằm nâng cao trình độ của đội
Trang 24ngũ nhân viên góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng TS, phát triển hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp.
Trình độ khoa học công nghệ Sự phát triển của khoa học công nghệ
đòi hỏi các doanh nghiệp muốn có đủ sức cạnh tranh trên thị trường, muốn pháttriển phải thường xuyên thay đổi cả về trang thiết bị, trình độ quản lý cũng nhưchất lượng nguồn nhân lực theo kịp với sự phát triển của thị trường trong nước
và quốc tế
Ảnh hưởng của ngành nghề kinh doanh Ngành nghề kinh doanh cũng
có ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng TSLĐ của doanh nghiệp Mỗi doanhnghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau có nhu cầu về tài sản khác nhau,
do đó hoạt động quản lý sử dụng tài sản cũng khác nhau Đối với các doanhnghiệp hoạt động trong các ngành công nghiệp nặng thì nhu cầu về TSLĐ chỉchiếm khoảng 20 – 30% ∑TS Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong cácngành công nghiệp nhẹ thì nhu cầu về TSLĐ trung bình chiếm khoảng 50%
∑TS Còn đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại - dịch
vụ thì nhu cầu này chiếm đến khoảng 70 – 80% ∑TS Do vậy các doanh nghiệpcần có một chế độ quản lý, sử dụng riêng cho phù hợp với hoạt động của doanhnghiệp mình
1.4.2 Các nhân tố khách quan.
Đây là các nhân tố tác động đến hiệu quả sử dụng TSLĐ của doanhnghiệp mà doanh nghiệp không thể tự kiểm soát, thay đổi được Các nhân tố ấy
có thể là:
Các nhân tố thuộc về môi trường kinh tế Nền kinh tế trong quá trình
vận hành luôn mang trong đó sự biến động Sự biến động thường xuyên củamôi trường luôn đặt doanh nghiệp trước những nguy cơ phá sản nếu không có
sự thay đổi thích ứng kịp thời Đó có thể là tác động của:
− Lạm phát: khi tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế tăng cao sẽ gây ra nhiềuthiệt hại không chỉ cho bản thân doanh nghiệp mà còn cả của toàn nền kinh tế.Lạm phát làm cho giá cả nguyên vật liệu tăng cao kéo theo giá của sản phẩm
Trang 25hàng hóa dịch vụ cũng tăng theo và biến động không theo dự tính Khi đó cácdoanh nghiệp cần phải có các chính sách đối phó, các biện pháp phối hợp vớiChính Phủ để đưa lạm phát vào tầm kiểm soát, tránh gây ảnh hưởng đến hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng và hiệu quả của cả nền kinh tế nóichung
− Sự thay đổi của lãi suất trên thị trường: bất cứ sự thay đổi nào về lãisuất cũng có thể gây ảnh hưởng đến hiệu quả hiệu quả của doanh nghiệp Khilãi suất tăng, chi phí sử dụng các nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng tăng Do
đó, các doanh nghiệp cần xem xét đến các nguồn tài trợ đó nhằm có biện phápthay đổi hợp lý mang lại hiệu quả tốt nhất cho doanh nghiệp
− Biến động về cung – cầu hàng hóa trên thị trường: thị hiếu của kháchhàng thay đổi, chính sách của các nhà cung cấp thay đổi cũng gây ảnh hưởngđến doanh nghiệp Các nhà quản trị doanh nghiệp cần có những dự báo về tìnhhình thị trường để có những đối sách kịp thời tránh gây ảnh hưởng đến hiệu quảhoạt động chung của doanh nghiệp
− Sự thay đổi trong các chính sách kinh tế của Chính Phủ: để điều hànhnền kinh tế hoạt động suôn sẻ, Chính Phủ đưa ra rất nhiều chính sách nhằm đưahoạt động của các doanh nghiệp vào khuôn khổ của pháp luật, ổn định hoạtđộng của toàn bộ thị trường Như vậy, các doanh nghiệp cần phải có các chínhsách vừa đảm bảo tính hiệu quả của hoạt động kinh doanh của đơn vị mình, vừađảm bảo tính đồng bộ tương ứng không vượt ra khỏi phạm vi cho phép củapháp luật
Sự phát triển của khoa học công nghệ: sự phát triển của khoa họccông nghệ có ảnh hưởng đến tất cả các mặt của nền kinh tế xã hội Sự phát triểncủa doanh nghiệp cũng không nằm ngoài những tác động ấy Để có thể bắt kịpvới thị trường, các doanh nghiệp phải chủ động thay đổi, cải tiến kỹ thuật theo
sự phát triển của nền khoa học công nghệ thế giới
Sự biến động của tự nhiên: TSLĐ chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi cácyếu tố tự nhiên Vì vậy, các doanh nghiệp cần chú ý đến những biến động đó
Trang 26tránh gây ảnh hưởng đến chất lượng của TSLĐ, chất lượng của hoạt động sảnxuất kinh doanh.
Chương 2:
THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TSLĐ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
ĐÔ THỊ HÒA PHÁT.
2.1 Những nét khái quát về công ty CP XD&PTĐT Hòa Phát.
Công ty CP XD&PTĐT Hoà Phát được thành lập ngày 28/09/2001 vớilĩnh vực hoạt động chính là xây dựng dân dụng và công nghiệp, kinh doanh bấtđộng sản, cho thuê nhà và văn phòng, đầu tư và xây dựng đồng bộ hạ tầng kỹthuật Ngay từ những ngày đầu đi vào hoạt động, các cán bộ công nhân viêncông ty đã không ngừng phấn đấu đưa công ty phát triển lớn mạnh, uy tín ngàycàng nâng cao Từ thực tiễn phát triển cũng như nhận thức nhu cầu về mặt bằngsản xuất cho các doanh nghiệp ngày càng tăng nhanh, đặc biệt là mặt bằng sẵn
có với hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, công ty đã xây dựng đề án KCN trình ChínhPhủ Năm 2003, công ty được Chính Phủ chấp thuận làm chủ đầu tư dự ánKCN Phố Nối A tại tỉnh Hưng Yên với quy mô 390 ha Tiếp tục nỗ lực phấnđấu cho đến nay, lĩnh vực phát triển đô thị đã mở rộng thêm nhiều dự án mớinhư khu đô thị Phố Nối A (Hưng Yên) với tổng diện tích 300ha; KCN HòaMạc (Hà Nam) với tổng diện tích 200 ha; dự án KCN Đại Đồng – Hưng Yênmới được phê duyệt với quy mô quy hoạch dự kiến là 500 ha và một số dự ánKCN khác đang trong quá trình chuẩn bị hồ sơ
Ngày 09/01/2007 trở thành một cột mốc quan trọng với sự phát triển củacông ty khi trở thành một trong 6 thành viên đầu tiên của Tập đoàn Hòa Phát.Đây là bước ngoặt chiến lược của Hòa Phát, giúp hội tụ sức mạnh cũng nhưnâng hoạt động của tập đoàn lên một tầm cao mới, phục vụ cho các bước pháttriển mạnh mẽ trong thời kỳ hội nhập
Trang 27Nhờ sự năng động trong kinh doanh, mạnh dạn đầu tư, công ty đã đạtđược những kết quả ấn tượng:
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty CP XD&PTĐT Hòa Phát
trong vài năm gần đây
Năm
DT( Tr.đ )
LNTT( Tr.đ )
nộp ngân sách( Tr.đ )
LNST( Tr.đ )
( Nguồn: báo cáo tài chính thường niên năm 2004, 2005, 2006)
Biều 2.1: Kết quả kinh doanh của công ty trong vài năm gần đây và kế hoạch 2008.
Như vậy có thể thấy tình hình sản xuất kinh doanh của công ty tăngtrưởng qua từng năm Đặc biệt là lợi nhuận năm 2006 đã tăng nhanh hơn hẳn sovới năm các năm trước Thêm vào đó, theo báo cáo tài chính năm 2007, doanhthu của công ty đạt 285 tỷ đồng, tăng 79% so với năm 2006, trong đó doanh thu
từ các hoạt động của KCN như cho thuê đất, cung cấp các dịch vụ KCN nhưcấp nước, thu gom chất thải… chiếm 1646 tỷ đồng, tăng 46% so với năm 2006.Lợi nhuận đạt 54 tỷ đồng, tăng 37% so với năm 2006, trong đó lợi nhuận đạt
Trang 28được chủ yếu từ hoạt động kinh doanh hạ tầng KCN Công ty đóng góp 53,993
tỷ đồng (chiếm 8%) vào kết quả kinh doanh của tập đoàn
2.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng TSLĐ tại công ty CP XD&PTĐT Hòa Phát.
2.2.1 Tình hình TSLĐ của công ty.
• Cơ cấu tài sản của công ty được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng 2.2: Cơ cấu về TS của công ty trong các năm 2004, 2005, 2006.
Khoản mục
tài sản
Đơnvịtính
(Nguồn: báo cáo tài chính đã kiểm toán các năm 2004, 2005, 2006).
Biều 2.2: Cơ cấu tài sản qua các năm 2004, 2005, 2006.
Qua bảng số liệu và biểu đồ ta có thể thấy cơ cấu tài sản của công tykhông ổn định Sự thay đổi cơ cấu giữa TSLĐ và TSCĐ diễn ra thường xuyên.Trong năm 2004, TSLĐ của công ty là 33900 tr.đ chiếm 58.65% ∑TS, sang
Trang 29năm 2005, TSLĐ là 90750 tr.đ chiếm đến 94.29% ∑TS, nhưng đến năm 2006thì TSLĐ của công ty là 52600 tr.đ và chỉ còn chiếm 36.63% ∑TS Sự thay đổi
đó có thể tạo ra do những biến đổi trong hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp
• Về cơ cấu TSLĐ, có thể khái quát như sau:
Bảng 2.3: Cơ cấu TSLĐ của công ty CP XD&PTĐT Hòa Phát.
Khoản mục Đơn
vịtính
Số tiền % Số tiền % Số tiền %
1 Ngân quỹ Tr.đ 11310 33.36 750 0.83 1100 2.092.Các khoản phải thu Tr.đ 6300 18.58 61420 67.68 38510 73.21
3 Tồn kho Tr.đ 16170 47.70 28580 31.49 12990 24.70
(Nguồn: báo cáo tài chính thường niên các năm 2004, 2005, 2006).
Biều 2.3: Cơ cấu TSLĐ qua các năm 2004, 2005, 2006.
Qua bảng số liệu trên có thể thấy sự biến động mạnh trong cơ cấu TSLĐcủa doanh nghiệp Trong đó, các khoản phải thu và tồn kho vẫn chiếm tỷ trọnglớn hơn cả Về ngân quỹ có sự suy giảm mạnh: năm 2004, ngân quỹ của doanhnghiệp là 11310 tr.đ chiếm 33.36% tổng TSLĐ thì sang năm 2005, ngân quỹcủa doanh nghiệp đã giảm xuống chỉ còn 750 tr.đ chiếm 0.83%, năm 2006 đã
có tăng lên một chút là 1100 tr.đ chiếm 2.09% Cùng với ngân quỹ, tồn kho của
Trang 30doanh nghiệp cũng đã giảm đáng kể Nếu trong năm 2004, giá trị tồn kho củadoanh nghiệp là 16170 tr.đ chiếm 47.7% trong tổng TSLĐ thì đến năm 2005,giá trị này là 28580 tr.đ chiếm 31.49% và đến năm 2006 là 12990 tr.đ chiếm24.7% tổng TSLĐ trong năm của doanh nghiệp Trái ngược lại với sự giảm sútcủa ngân quỹ và giá trị hàng tồn kho, các khoản phải thu lại có xu hướng tăngmạnh Từ 6300 tr.đ chiếm tỷ trọng 18.58% trong năm 2004, giá trị của cáckhoản phải thu đã tăng lên 61420 tr.đ trong năm 2005, năm 2006 là 38510 tr.đ
và tương ứng là 67.68% và 73.21% trong tổng TSLĐ Nguyên nhân của sự tăngnhanh của các khoản phải thu là do từ năm 2005, KCN Phố Nối A đã bắt đầu đivào khai thác Hơn thế nữa, KCN Hòa Mạc bắt đầu triển khai thi công đã làmcho hàng tồn kho tăng nhanh Tuy nhiên, việc để cho tình trạng các khoản phảithu tăng quá cao như vậy có thể đe dọa đến khả năng thanh toán của công ty
• Về tỷ trọng các khoản mục thành phần trong ngân quỹ của công ty
Bảng 2.4: Tỷ trọng các thành phần trong ngân quỹ.
tính
Số tiền % Số tiền % Số tiền %
1 Tiền mặt tại quỹ Tr.đ 330 2.92 140 18.67 450 40.9
2 Tiền gửi NH Tr.đ 10980 97.08 610 81.33 650 59.1
(Nguồn: báo cáo tài chính thường niên các năm 2004, 2005, 2006).
Bảng số liệu chỉ ra rằng doanh nghiệp lưu trữ tiền tại quỹ ngày càng tăngthể hiện ở tỷ trọng của tiền mặt tại quỹ trong ngân quỹ của doanh nghiệp ngàycàng tăng cao Nếu trong năm 2004, lượng tiền mặt tại quỹ chỉ chiếm 2.92%trong ngân quỹ thì đến năm 2005, con số này đã tăng lên 18.67% và đến năm
2006 đã là 40.9% Mặc dù vậy nhìn vào bảng cơ cấu ngân quỹ trên có thể thấy,doanh nghiệp chủ yếu vẫn giữ tiền trong các ngân hàng Điều này làm giảm bớt
sự thiệt hại do lưu trữ nhiều tiền mặt vì gửi tiền tại ngân hàng vừa có thể đảmbảo được khả năng thanh toán trong trường hợp cần thiết, vừa tạo thêm mộtkhoản thu nhập cho doanh nghiệp từ lãi tiền gửi
Trang 31• Về tỷ trọng các thành phần chính trong khoản mục các khoản phảithu của công ty:
Bảng 2.5: Tỷ trọng thành phần chính trong khoản mục các khoản phải thu.
vịtính
Số tiền % Số tiền % Số tiền %
1.Phải thu KH Tr.đ 3350 53.17 7070 11.51 21850 56.742.Trả trước cho người bán Tr.đ 1430 22.7 985 1.6 985 2.56
Các khoản phải thu Tr.đ 6300 100 61420 100 38510 100
(Nguồn: báo cáo tài chính thường niên các năm 2004, 2005, 2006).
Biểu 2.4: Tỷ trọng các thành phần trong khoản mục các khoản phải thu.
Có thể thấy, cơ cấu các khoản phải thu của công ty không ổn định Cáckhoản phải thu nội bộ biến động thất thường, có năm thì không có (như năm
2004, 2006) tuy nhiên lại có năm khoản mục này lại chiếm tỷ trọng rất cao,86.89% (năm 2005) Cũng như vậy với khoản phải thu khác: năm 2004, tỷtrọng khoản phải thu khác trong các khoản phải thu chiếm 24.13%, năm 2005
là 0%, năm 2006 lại tăng lên 40.7%; hay phải thu khách hàng trong năm 2004chiếm 53.17% các khoản phải thu của doanh nghiệp, năm 2005 giảm xuốngcòn 11.51% rồi đến năm 2006lại tăng lên 56.74% Riêng tỷ trọng các khoản trả
Trang 32trước cho người bán là giảm đi rõ rệt từ 22.7% trong năm 2004 xuống còn1.6% ( năm 2005) và 2.56% (năm 2006) Như vậy có thể thấy việc công ty bịchiếm dụng vốn là khá lớn, đặc biệt là từ các khách hàng và điều này có thể gâytác động đến khả năng thanh toán của công ty.
2.2.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng TSLĐ của công ty
• Đánh giá về khả năng hoạt động của công ty Để có thể đánh giá đượckhả năng hoạt động của công ty, chúng ta có thể sử dụng một số chỉ tiêu sau:
Bảng 2.6: Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng hoạt động của các
khoản mục trong TSLĐ
Các khoản mục Đơn vịtính 2004 2005 2006
2 Số ngày tồn kho bình quân Ngày 125.4 101.4 182.7
3 Kỳ thu tiền bình quân Ngày 51.65 166.67 332.3
6 Kỳ luân chuyển TSLĐ Ngày 276.9 300 450
( Nguồn: báo cáo tài chính thường niên các năm 2004, 2005, 2006).
Biều 2.5: Xu hướng số vòng quay hàng tồn kho qua các năm.
Nhìn vào biểu đồ ta có thể thấy được xu hướng số vòng quay hàng tồnkho của công ty đang có chiều hướng giảm xuống Nếu trong năm 2004, 2005
Trang 33số vòng quay hàng tồn kho là 2.87 và 3.55 thì sang năm 2006 chỉ còn 1.97.Điều đó đã thể hiện phần nào các kế hoạch về việc sử dụng hàng tồn kho củacông ty không hiệu quả Và cũng chính sự giảm sút của vòng quay hàng tồnkho đã làm cho số ngày tồn kho bình quân của công ty có xu hướng tăngnhanh Năm 2004, thời gian bình quân để luân chuyển hàng tồn kho là 125.4ngày, năm 2005 là 101.4 ngày và sang năm 2006 thì con số này đã tăng lên182.7 ngày Xu hướng này chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSLĐ của công ty khôngcao Thời gian tồn kho bình quân tăng lên sẽ làm tăng các chi phí liên quan đếnquá trình bảo quản, lưu trữ và như vậy làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanhcủa công ty Qua sự phân tích cả 2 chỉ số đánh giá tình hình sử dụng hàng tồnkho cho thấy sự cần thiết có các biện pháp thay đổi kịp thời trong các chínhsách quản lý và sử dụng hàng tồn kho đạt hiệu quả hơn Nếu tình trạng ấy kéodài sẽ làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty và chắc chắn đókhông phải là điều mà các cổ đông không mong muốn nhất.
Biểu 2.6: Xu hướng của số ngày tồn kho bình quân qua các năm.
Trong khi đó, kỳ thu tiền bình quân cũng đang có xu hướng tăng nhanh.Biểu hiện:
Trang 34Biểu 2.7: Xu hướng kỳ thu tiền bình quân qua các năm.
Con số này tăng nhanh từ 31.65 ngày trong năm 2004 đến 166.67 ngàytrong năm 2005, và đến năm 2006 đã là 332.3 ngày Nguyên nhân của sự tăngmạnh này là do từ năm 2005, các khoản phải thu của công ty tăng, trong đó chủyếu là khoản phải thu khách hàng Do đặc điểm ngành nghề kinh doanh củacông ty mà doanh thu chủ yếu là từ cung cấp các dịch vụ KCN Và năm 2005 lànăm KCN Phố Nối A - một trong các dự án KCN lớn mà công ty làm chủ đầu
tư - đi vào hoạt động Chính vì thế các khoản phải thu của khách hàng tại KCNnày tăng nhanh
Sự biến động mạnh đang có chiều hướng đi xuống của vòng quay tiềncũng là một trong những điều mà công ty cần xem xét lại Từ năm 2004 là 3.89ngày đến năm 2005 đột ngột tăng lên đến 109.3 ngày và năm 2006 là giảm52.6% so với năm 2005 chỉ còn 51.82 ngày Vòng quay tiền biến động mạnh dodoanh thu của công ty có những bước thay đổi đột biến khi các KCN đi vàohoạt động Sự giảm sút của vòng quay tiền trong năm 2006 cho thấy cần cónhững biện pháp cải thiện trong quản lý tiền cũng như các chứng khoán thanhkhoản của công ty để thiết lập lại tốc độ tăng như trong năm 2005 Thấy rõ hơn
xu hướng này qua biểu đồ:
Trang 35Biều 2.8: Xu hướng vòng quay tiền qua các năm.
Sự suy giảm này cũng phần nào gây tác động đến hiệu quả sử dụngTSLĐ Công ty cần có các chính sách quản lý chặt chẽ hơn nhằm cải thiện tìnhhình hiện nay
Một chỉ tiêu khác đánh giá khả năng hoạt động của TSLĐ là số vòngquay TSLĐ Chỉ tiêu này có thể cho biết thêm về sự luân chuyển của TSLĐtrong doanh nghiệp Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ TSLĐ luân chuyển càngnhanh, một đồng TSLĐ tạo ra được nhiều doanh thu hơn
Biều 2.9: Xu hướng vòng quay TSLĐ qua các năm.
Trang 36Biểu đồ trên cho ta thấy tốc độ luân chuyển TSLĐ trong 3 năm này làkhông lớn và có xu hướng giảm dần Năm 2004, vòng quay của TSLĐ là 1.3lần, năm 2005 là 1.2 lần (giảm 7.7%), năm 2006 là 0.8 lần (33.3% so với năm2005) Như vậy, có thể thấy hiệu quả của việc đầu tư vào TSLĐ của công ty làchưa hợp lý Tốc độ tăng doanh thu chưa tương xứng với sự đầu tư tăng lên đó.
Vì vậy công ty cần xem xét điều chỉnh lại cho hợp lý hơn nhằm nâng cao hiệuquả của việc sử dụng TSLĐ
Thời gian luân chuyển TSLĐ của công ty đang có xu hướng tăng lên.Điều này là không tốt vì cho thấy công ty cần mất thêm nhiều thời gian hơn chomột vòng chu chuyển TSLĐ Năm 2004, kỳ luân chuyển TSLĐ là 276.9 ngày,đến năm 2005 đã tăng lên 300 ngày (tương đương tăng 8.34% so với năm2004) và năm 2006 tăng đến 450 ngày (tương đương tăng 50% so với năm2005) Công ty cần chú ý thay đổi cơ cấu TS hợp lý hơn
Biểu 2.10: Xu hướng kỳ luân chuyển TSLĐ qua các năm.
• Đánh giá về khả năng thanh toán
Để đánh giá khả năng thanh toán của công ty ta có thể sử dụng một sốchỉ tiêu sau:
Trang 37Bảng 2.7: Một số chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán.
tính
2004 2005 2006
1 Tỷ trọng các khoản phải thu trong ∑TS % 10.9 41.57 26.8
2 Phải thu KH/Phải trả người bán Lần 0.5 2 2.4
3 Khả năng thanh toán hiện hành % 187.4 127.4 177.7
4 Khả năng thanh toán nhanh % 100.2 74.2 133.8
5 Khả năng thanh toán tức thời % 63.9 1.4 3.6
(Nguồn: báo cáo tài chính thường niên các năm 2004, 2005, 2006).
Đầu tiên là về tỷ trọng các khoản phải thu trên tổng tài sản Chỉ tiêu này
sẽ cho biết tình hình công ty bị chiếm dụng vốn là bao nhiêu Qua bảng số liệutrên có thể thấy các khoản phải thu chiếm một tỷ trọng tương đối trong tổng tàisản của công ty Năm 2004, tỷ trọng các khoản phải thu trên tổng tài sản là10.9%, tuy nhiên trong năm 2005 có sự tăng đột biến lên 41.57% song đếnnăm 2006 đã có sự điều chỉnh lại còn 26.8% Công ty nên duy trì tỷ trọng này
ở mức vừa phải vì tỷ trọng này cao có thể đánh giá việc công ty sử dụng vốnkhông hiệu quả do bị chiếm dụng nhiều Hơn thế nữa khi các khoản phải thu
đó trở nên khó đòi sẽ gây ra tình trạng mất khả năng thanh toán cho công tytrong quá trình tái sản xuất, ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của công ty
Có thể xét đến khả năng cân đối các khoản phải thu so với các khoảnphải trả của công ty để thấy rõ hơn tình hình chiếm dụng và bị chiếm dụng vốncủa công ty Bảng số liệu trên cho thấy công ty bị chiếm dụng vốn nhiều hơn là
đi chiếm dụng vốn từ bên ngoài và tình trạng này có xu hướng gia tăng Cáckhoản phải thu tăng nhanh trong khi các khoản phải trả lại giảm dần, như vậy
có thể thấy các khoản vốn công ty bị chiếm dụng các năm trước không nhữngkhông được thu hồi mà công ty còn bị chiếm dụng nhiều hơn Nếu tiếp tục đểtình trạng bị chiếm dụng như hiện nay sẽ gây đe dọa đến khả năng thu hồi Do
đó, công ty cần có biện pháp nhằm giảm thiểu phần phải thu khách hàng