Đặc biệt, với HS lớp 9 nhưng có không ít trường hợp viết không đúng chính tả, không biết thế nào là xây dựng một đoạn văn, một bài văn đúng theo yêu cầu,kĩ năng trình bày, diễn đạt rất y
Trang 1TỔ CHỨC PHÂN NHÓM RÈN KĨ NĂNG TẠO LẬP VĂN BẢN
VÀ HỌC NGỮ VĂN THEO SƠ ĐỒ TƯ DUY
CHO HỌC SINH
A. Ặ Đ T V Ấ N Đ Ề
1 Lí do chọn đề tài
Trong quá trình dạy môn Ngữ văn ở cấp THCS , tôi nhận thấy một thực trạng đáng buồn và khá phổ biến hiện nay là kĩ năng trình bày, chữ viết, xây dựng bố cục cho một bài viết của không ít HS là rất yếu Bên cạnh đó, hiện tượng học chay, học vẹt trong giới HS hiện nay vẫn rất phổ biến, dẫn đến hậu quả HS học như con vẹt mà không hiểu, không có kĩ năng làm bài Đặc biệt, với HS lớp 9 nhưng có không ít trường hợp viết không đúng chính tả, không biết thế nào là xây dựng một đoạn văn, một bài văn đúng theo yêu cầu,kĩ năng trình bày, diễn đạt rất yếu kém; đồng thời hiện tượng HS học như cuốc kêu theo các đề GV cung cấp nhưng khi làm bài kiểm tra, thi cử thì kết quả rất thấp do không biết xác định yêu cầu đề bài, cứ đưa y nguyên những gì đã học thuộc lòng vào bài viết dẫn đến lạc
đề, làm thừa hoặc thiếu yêu cầu của đề…những kết quả đó của HS khiến cho
GV, nhất là GV giảng dạy môn Ngữ văn phải suy nghĩ
Thực trạng này có một phần do cuộc sống hiện nay, HS thiên về các môn học
tự nhiên bởi các môn tự nhiên thiên về tính toán, nó phù hợp với xã hội công nghệ thông tin, xuất hiện nhiều tư tưởng lệch lạc của HS: chẳng hạn như chữ xấu thì đã sao? Có máy tính nên cần gì phải rèn chữ? HS vẫn ảnh hưởng của lối học văn mẫu, ngại suy nghĩ, lười tư duy…
Theo tôi , những lý do trên cũng đúng nhưng một nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là thuộc về các GV giảng dạy môn Ngữ văn; có không ít GV chưa chú trọng đến việc rèn kĩ năng cho HS; GV chưa thể hiện sự đổi mới trong phương pháp dạy học …dẫn đến HS thực hành tạo lập một văn bản thì rất lúng túng
Để giúp HS có kĩ năng tạo lập văn bản; khả năng học ngữ văn đạt kết quả tốt đòi hỏi GV phải có sự kết hợp nhiều phương pháp dạy học, ngoài truyền thụ kiến thức thì GV cần chú trọng nhiều hơn đến kĩ năng làm bài của HS và bản thân không ngừng tiếp thu những phương pháp dạy học phù hợp
Vậy làm thế nào để giúp cho việc học ngữ văn của HS đạt được tốt hơn? Theo tôi, có rất nhiều tiêu chí để áp dụng nhưng tôi tâm đắc nhất là việc phân nhóm học tập giúp HS có thể tương tác trong học tập và học theo sơ đồ tư duy
Trang 2trong môn ngữ văn Do đó, trong đề tài sáng kiến này, tôi xin được nêu một số ý kiến nho nhỏ trong việc: “ Tổ chức phân nhóm học tập rèn kĩ năng tạo lập văn bản và học ngữ văn theo sơ đồ tư duy cho học sinh”
Đề tài tôi nêu ra có 2 nội dung:
+ Nội dung 1 – Tổ chức nhóm học tập cho HS
+ Nội dung 2 – Dạy học ngữ văn theo sơ đồ tư duy
2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài.
a Mục tiêu: Nhằm đề xuất các giải pháp giúp nâng cao hiệu quả học tập môn
Ngữ văn của HS bằng phương pháp học theo nhóm và học ngữ văn bằng sơ đồ
tư duy trong học sinh ở trường THCS Hồng Lý để giúp các em có kĩ năng làm bài tốt hơn, có hứng thú học tập môn Ngữ văn hơn từ đó có thể cải thiện được kết quả học tập môn Ngữ Văn của HS
b.Đối tượng áp dụng.
Dạy học môn Ngữ văn ở HS lớp 9 trường THCS Hồng Lý.
B. GI Ả I QUY Ế T V Ấ N Đ Ề
I. THỰC TRẠNG
a.Th ự c tr ạ ng chung.
- Với GV: Trong việc dạy và học môn Ngữ văn hiện nay, đối với người dạy còn không ít GV thiên về đọc chép, biến HS thành cái máy “ ngốn chữ” dẫn đến hiện tượng “ học tủ, học vẹt” , trong quá trình giảng dạy, không ít GV chỉ chú trọng dạy kiến thức mà xem nhẹ việc rèn kĩ năng cho HS Từ đó dẫn đến việc không đáp ứng được yêu cầu kiểm tra, đánh giá theo cách ra đề mở của Sở Giáo dục – Đào tạo Thái Bình; của Phòng Giáo dục huyện Vũ Thư, điều đó được thể hiện trong kết quả thi tuyển sinh vào lớp 10 môn Ngữ văn những năm gần đây ở một số trường còn thấp
- Với HS: Thực trạng môn học Ngữ văn của học sinh hiện nay không thể không nhìn thẳng vào sự thật mà nói rằng “học sinh ngày nay sợ học văn” Hiện tượng không hứng thú với việc học môn Ngữ văn ngày càng nhiều, phần vì do xã hội phát triển, tâm lý các em thiên về các môn khoa học tự nhiên dễ lựa chọn các
Trang 3ngành học sau này; phần vì do việc dạy học Ngữ văn ở không ít GV thiên về văn mẫu, đọc chép, học thuộc…dẫn đến HS ngại học vì dài, thiếu tư duy, sáng tạo…
b Th ự c tr ạ ng ở tr ườ ng THCS H ồ ng L ý
- Là trường xa trung tâm huyện, việc học và ôn thi vào lớp 10 có không ít khó khăn Không ít HS chưa nhận thức đúng tính chất của kì thi chuyển cấp, có những suy nghĩ chưa đúng đắn;kiểu như thi được thì học; không thi được thì đi làm công ty
- Với đội ngũ GV dạy môn Ngữ văn 9 như chúng tôi, năng lực chuyên môn cũng như khả năng tiếp cận các phương pháp, phương tiện dạy học còn không ít những hạn chế
c Th ự c tr ạ ng c ủ a l ớ p 9ª3 tôi gi ả ng d ạ y
Thuận lợi.:
+ Sĩ số lớp ít, chỉ có 31 HS sẽ giúp cho GV có điều kiện tìm và hiểu ưu điểm và hạn chế của từng HS một cách dễ dàng hơn, từ đó GV có điều kiện thuận lợi hơn trong việc quản lí, kèm cặp rèn kĩ năng cho HS
+ Một số em khá ngoan và thông minh,có kĩ năng làm bài khá tốt
Khó khăn
+ Phần lớn HS thuộc diện trung bình, yếu môn Ngữ văn
+ Ý thức tự giác của phần lớn HS chưa cao
+ Lớp có một số HS chưa có kĩ năng tạo lập văn bản;chữ xấu và lỗi chính
tả nhiều
II. MỤC TIÊU
Phát huy hiệu quả học tập môn Ngữ văncủa HS lớp mình dạy qua việc:
Phân nhóm học tập để rèn kĩ năng tạo lập văn bản cho HS đồng thời giúp HS học ngữ văn theo sơ đồ tư duy tránh hiện tượng học tủ, học vẹt
NỘI DUNG 1 – TỔ CHỨC NHÓM HỌC TẬP
Để đáp ứng yêu cầu về đổi mới PPDH cũng như vấn đề nâng cao chất lượng dạy và học môn ngữ văn nói chung; nâng cao chất lượng môn Ngữ văn cho các
em tham dự kì thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT nói riêng; dạy học theo nhóm đạt được giáo viên cần phải có các kĩ năng tổ chức sau:
- Kĩ năng chia nhóm
Trang 4- Kĩ năng tổ chức cho học sinh làm việc trong nhóm.
- Kĩ năng quan sát
- Kĩ năng tổ chức cho học sinh trình bày kết quả học tập
- Kĩ năng đánh giá kết quả học tập
- Kĩ năng phản hồi
Từ đó:
- Nâng cao chất lượng trong việc giáo dục văn hóa cho học sinh, cải thiện chất lượng thì tuyển sinh vào lớp 10 đối với môn Ngữ văn
Cụ thể:
- HS lớp 9 có kết quả thi môn Ngữ văn duy trì bằng hoặc vượt bình quân chung của huyện
- Chất lượng đỗ vào lớp 10 các trường Công lập cao hơn 70%
III. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
Trong kĩ năng phân nhóm học tập môn Ngữ văn đòi hỏi trải qua nhiều công đoạn như tôi đã nêu trên, tuy nhiên trong đề tài này, tôi chỉ đề cập đến một số kĩ năng Cụ thể là:
- Kĩ năng chia nhóm
- Kĩ năng giao nhiệm vụ
- Kĩ năng giám sát
- Kĩ năng tổ chức cho học sinh trình bày kết quả học tập
- Kĩ năng đánh giá kết quả học tập
Bước 1: Chia nhóm.
1 Bi ệ n pháp chung:
Kĩ năng này đòi hỏi GV phải tiến hành ngay từ đầu năm, khi nhận lớp tôi đã tiến hành thực hiện ngay những công việc:
+ Tìm hiểu năng lực môn Ngữ văn của từng HS thông qua việc kiểm tra khảo sát chất lượng đầu năm học
+ Họp Ban cán sự lớp: tìm hiểu qua sở trường, sở đoản của từng HS học môn Ngữ văn từ những năm học trước
+ GV phân chia cặp HS kèm nhau theo các tiêu chí
2 Bi ệ n pháp c ụ th ể :
Trang 5Do đặc thù của môn ngữ văn đòi hỏi các em cần phải có sự kết hợp của nhiều yếu tố mới có thể đạt kết quả tốt Cụ thể là:
- Có kĩ năng làm bài
- Chữ viết phải đúng chính tả
- Văn phong lưu loát
Do đó, nếu với các môn thi trắc nghiệm, chỉ cần HS có kiến thức , chọn được đáp án đúng , tô chì đúng quy định là đạt yêu cầu, nhưng với môn Ngữ văn có kiến thức là chưa đủ; thậm chí có kiến thức, có kĩ năng mà chữ xấu, lỗi chính tả cũng chưa đạt yêu cầu Vậy nên cần phải kết hợp của các yếu tố trên mới có kết quả như mong muốn GV cần phải nắm vững từng đối tượng thuộc các tiêu chí trên để có kế hoạch chia nhóm dựa trên các tiêu chí sau:
Nhóm A
Những HS:
- Nhận thức nhanh
- Có kĩ năng làm bài
- Chữ viết không mắc hoặc ít mắc lỗi chính tả
Nhóm B
Những HS:
- Nhận thức chậm
- Chưa có kĩ năng làm bài
- Chữ viết không mắc hoặc ít mắc lỗi chính tả
Nhóm C
Những HS:
- Nhận thức chậm
- Chưa có kĩ năng làm bài
- Chữ viết xấu, lỗi chính tả nhiều
Sau khi xác định được các nhóm nêu trên, tôi tiến hành phân nhóm dưới hình thức mỗi nhóm có 2 HS, các nhóm về cơ bản sẽ là một HS khá (nhóm A) kèm một
HS yếu kém (nhóm C) Tuy nhiên, với môn Ngữ văn, tôi sẽ dựa theo những đặc thù cụ thể hơn Ví dụ:
+ Một em nhận thức nhanh nhưng chữ xấu, cẩu thả thì tôi lại chọn đi kèm với một em chữ đẹp nhưng nhận thức chậm
+ Một em có kĩ năng làm bài tốt nhưng cẩu thả, chủ quan thì tôi sẽ cho kèm với một em chưa có kĩ năng làm bài nhưng ngoan, chịu khó
Trang 6+ Một em kiến thức, kĩ năng tốt sẽ đi kèm với một em chữ xấu, cẩu thả, lỗi chính tả nhiều, chưa có kĩ năng làm bài.v v
Bước 2: Giao nhiệm vụ.
Sau khi đã chia lớp thành các nhóm hợp lý, sẽ là bước giao nhiệm vụ Theo tôi, kĩ năng giao nhiệm vụ hợp lý sẽ quyêt định cơ bản kết quả của nhóm Để tạo được nội lực cho mỗi nhóm, GV không được áp đặt mục tiêu mà cần dựa vào năng lực cụ thể để đề ra mục tiêu đảm bảo tính “vừa sức”, kích thích được tính tích cực của nhóm, đồng thời phải gắn trách nhiệm cho từng thành viên của nhóm Khi giao nhiệm vụ tôi đề ra qui định thưởng,phạt cụ thể và chia ra từng chặng thi đua để đánh giá kết quả Thông thường, trong năm học tôi chia làm 5 chặng thi đua:
+ Chặng giữa học kì I
+ Chặng cuối học kì I
+ Chặng giữa học kì II
+ Chặng cuối học kì II
+ Chặng ôn thi hè
Nhiệm vụ mà tôi giao cho các nhóm :
+ Với nhóm có một em nhận thức nhanh nhưng chữ xấu, cẩu thả với một em chữ đẹp nhưng nhận thức chậm thì nhiệm vụ đặt ra là kĩ năng trình bày và kiến thức cơ bản của nhóm
+ Với nhóm có một em có kĩ năng làm bài tốt nhưng cẩu thả, chủ quan với một
em chưa có kĩ năng làm bài nhưng ngoan, chịu khó thì nhiệm vụ đặt ra là sự cẩn thận và kĩ năng làm bài của nhóm
+ Với nhóm có một em kiến thức, kĩ năng tốt với một em chữ xấu, cẩu thả, lỗi chính tả nhiều, chưa có kĩ năng làm bài thì nhiệm vụ đặt ra là kĩ năng làm bài và chữ viết
Trang 7+ v.v…
Với tiêu chí để giao nhiệm vụ có thể thay đổi sau mỗi chặng tùy theo sự tiến bộ của mỗi nhóm
Bước 3: Giáo viên quan sát các nhóm học tập.
Sau khi phân nhóm và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng nhóm, việc quan sát hoạt động của từng nhóm là rất cần thiết, nó vừa giúp cho GV đánh giá được ý thức hoạt động của từng nhóm để có những điều chỉnh cho những chặng tiếp theo Việc quan sát các nhóm học tập, tôi cũng áp dụng cụ thể với đặc thù của từng nhóm:
+ Với những nhóm có ý thức chưa tự giác, GV cần giao nhiệm vụ cụ thể và giám sát quyết liệt Bởi nếu không giám sát các nhóm này thì việc học nhóm chỉ tạo điều kiện để cho các em nói chuyện, làm việc riêng
+ Với những nhóm có các em tự giác, tích cực thì việc giám sát của GV cũng không quá cần thiết, GV chỉ cần giao nhiệm vụ và chờ kết quả của các em
Trong việc quan sát, tôi cũng phát huy cao sự hoạt động độc lập của HS bằng cách quy trách nhiệm chung Ví dụ: Việc tiến bộ hay chưa tiến bộ của nhóm là trách nhiệm của cả 2 thành viên Trong đó, em có kĩ năng phải có nhiệm vụ hướng dẫn, kiểm tra em chưa có kĩ năng; em chữ đẹp,trình bày khoa học có trách nhiệm hướng dẫn em còn lại rèn chữ, rèn kĩ năng trình bày Các em được bạn hướng dẫn phải có trách nhiệm thực hiện theo các yêu cầu của bạn đặt ra.Do đó, việc giáo viên giám sát các nhóm là rất cần thiết nhưng không phải lúc nào cũng giám sát trực tiếp mà nên gián tiếp bằng hình thức cho HS tự đôn đốc, nhắc nhở nhau
Bước 4: Tổ chức cho các nhóm trình bày kết quả học tập.
Bước này sẽ được thực hiện vào thời gian cuối của mỗi chặng thi đua trong năm học Gần cuối chặng,tôi sẽ đưa ra những yêu cầu cụ thể đối với từng nhóm Yêu cầu các em trong cùng nhóm tự kiểm tra, đánh giá kết quả của nhau và báo cáo với GV
+ Với những em lười học, các em phải trình bày về lĩnh vực kiến thức
Ví d ụ : Yêu cầu trình bày những hiểu biết cơ bản của em về nhà thơ nào đó Các thành viên trong nhóm tự kiểm tra nhau theo hình thức vấn đáp, sau đó yêu cầu thống kê lại các thông tin cơ bản về nhà thơ đó về các lĩnh vực:
- Tên tuổi, lai lịch, quê quán, năm sinh ,năm mất
- Những đóng góp của nhà thơ đó
- Phong cách thơ
- Các tác phẩm chính
- Giải thưởng
Trang 8+ Với các em chưa có kĩ năng làm bài, các em phải thực hành tạo lập một văn bản theo yêu cầu
Ví d ụ : Viết một đoạn văn nêu cảm nhận của mình về một đoạn thơ nào đó? Nhóm tiến hành viết đoạn văn và tự kiểm tra nhau dựa theo các tiêu chí
- Nội dung đã đạt yêu cầu chưa?
- Hình thức đoạn văn đã đảm bảo chưa?
- Các câu trong đoạn đã có sự liên kết với chủ đề chưa?
+ Với các em chữ xấu và lỗi chính tả, các em phải thực hành viết đoạn văn cụ thể
Ví d ụ : GV yêu cầu nhóm viết một đoạn văn( chỉ cần ngắn) và sau đó tự kiểm tra lẫn nhau về chữ viết, chính tả…chỉnh sửa cho nhau và viết lại một sản phẩm
để nộp cho GV đánh giá
+ Với các em chưa biết diễn đạt và trình bày bố cục, các em phải trình bày bài viết có bố cục các phần, các đoạn theo yêu cầu
Ví d ụ : Viết bài văn giới thiệu một tác giả nào đó? Nhóm tiến hành viết văn bản
và kiểm tra nhau theo các tiêu chí
- Bố cục bài viết với các phần mở bài, thân bài,kết bài đã hợp lí chưa?
- Diễn đạt có mạch lạc không?
- Giữa các phần, các đoạn có sự liên kết với nhau không?
Bước 5: Đánh giá kết quả học tập.
Đây là bước quan trọng của mỗi chặng thi đua mà đích cuối cùng là kết quả học tập của các em trong cả năm học đòi hỏi giáo viên đánh giá một cách “ nghệ thuật” Đó là làm sao qua đánh giá, HS thấy hứng thú hơn, tích cực thi đua hơn nữa, tránh tình trạng qua đánh giá học sinh thấy chán nản, nhàm chán Muốn vậy, theo tôi GV cần nhìn thấy những tiến bộ của các em so với đầu chặng( dù là nhỏ)
để tuyên dương, khích lệ kịp thời( nhất là đối với các em nhóm C);đồng thời, khi đánh giá kết quả học tập của các nhóm, tôi không quên động viên tính cộng đồng trách nhiệm của em còn lại trong nhóm Sau mỗi chặng, tôi chọn ra từ 3 đến 5 nhóm tiến bộ nhất ; 3 đến 5 cá nhân xuất sắc nhất để tuyên dương,khen thưởng ( phần thưởng không thiên về giá trị vật chất, thường chỉ là vài ba quyển vở, bút ) để tạo cú hích tinh thần cho các nhóm tiến bộ, đồng thời “khích tướng” các nhóm khác cố gắng phấn đấu trong các chặng tiếp theo
NỘI DUNG 2 – HỌC THEO SƠ ĐỒ TƯ DUY
Trong việc dạy và học văn hiện nay, bên cạnh những GV luôn sáng tạo trong các phương pháp giảng dạy của mình thì cũng có không ít GV chưa tạo được
Trang 9những phương pháp dạy học đáp ứng yêu cầu giáo dục hiện nay, nhất là đối với môn ngữ văn, hiện tượng dạy văn mẫu, đọc chép, học tủ, học lệch…khá phổ biến dẫn đến hậu quả nhiều HS ngại học văn do không hứng thú
Dạy học bằng bản đồ tư duy là một phương pháp dạy học khá hiệu quả trong dạy học Phương pháp này đã được Sở Giáo dục Thái Bình và Phòng Giáo dục Đào tạo huyện Vũ Thư triển khai đến các nhà trường, các giáo viên trong những năm gần đây Đây là một phương pháp góp phần đổi mới cách tổ chức dạy học của giáo viên đồng thời góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh phù hợp với các mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học: dạy học theo hướng hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động
Việc dạy học văn bằng sơ đồ tư duy tôi đã áp dụng trong những năm gần đây và cảm thấy rất tâm đắc bởi cách học này tạo hứng thú cho HS trong việc học môn văn bởi không phải học thuộc, không phải ghi nhiều, HS lại có cơ hội thể hiện sự sáng tạo trong quá trình học tập, đồng thời phương pháp này đã ngăn chặn được tình trạng học văn mẫu, học tủ, học vet giúp hiệu quả của việc dạy học môn ngữ văn được cải thiện rõ rệt
II BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
GV hướng dẫn HS làm quen với sơ đồ tư duy và cách học ngữ văn theo sơ
đồ tư duy lần lượt theo các bước và tạo cho HS có thói quen học theo sơ đồ tư duy, các nhóm tự lập sơ đồ tư duy sau mỗi bài học, phân môn hoặc chủ đề trong chương trình học
B
ướ c 1 : Xác đ ị nh t ừ khóa
- Lấy nội dung kiến thức làm từ khóa
Ví dụ: Học xong phần các thành phần biệt lập,cần hệ thống kiến thức bằng sơ
đồ tư duy, HS xác định từ khóa là Các thành phần biệt lập
B
ướ c 2 : V ẽ ch ủ đ ề ở trung tâm.
- Bước này HS sẽ sử dụng một tờ giấy trắng (không kẻ ô) đặt nằm ngang và vẽ chủ đề ở chính giữa tờ giấy Giấy trắng không kẻ ô sẽ giúp cho bạn sáng tạo hơn, không bị những ô vuông cản trở suy nghĩ của bạn Vẽ trên giấy nằm ngang
sẽ giúp HS có được không gian rộng lớn hơn để triển khai các ý
- HS cần vẽ chủ đề ở chính giữa tờ giấy, từ đó mới phát triển ra các ý khác ở xung quanh nó
- HS có thể tự do sử dụng tất cả các màu sắc các em thích, chủ đề trung tâm có thể là chữ hoặc là hình, nếu kết hợp cả 2 thì càng tốt
Trang 10- Chủ đề trung tâm cần gây sự chú ý để dễ nhìn nhận vấn đề.
B
ướ c 3 : V ẽ thêm các tiêu đ ề ph ụ (nhánh c ấ p 1)
- Tiêu đề phụ nên được viết bằng CHỮ IN HOA nằm trên các nhánh dày để làm nổi bật
- Tiêu đề phụ nên gắn liền với trung tâm
- Tiêu đề phụ nên được vẽ theo hướng chéo góc chứ không nằm ngang, như vậy nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng hơn
B
ướ c 4 : V ẽ các nhánh c ấ p 2, c ấ p 3, …
- Ở bước này, HS vẽ nối tiếp nhánh cấp 2 vào nhánh cấp 1, nhánh cấp 3 vào nhánh cấp 2, v.v… để tạo ra sự liên kết
- Nên vẽ nhiều nhánh cong hơn đường thẳng, như thế sẽ làm cho sơ đồ nhìn mềm mại, uyển chuyển và dễ nhớ hơn
- Chỉ nên tận dụng từ khóa và hình ảnh, ở mỗi nhánh chỉ sử dụng 1 từ khóa Việc này giúp cho nhiều từ khóa mới và những ý khác được nối thêm vào các từ khóa sẵn có một cách dễ dàng
- HS có thể dùng những biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệm không gian và thời gian bất cứ lúc nào có thể
- Tất cả các nhánh của một ý nên tỏa ra từ một điểm và có cùng 1 màu
B
ướ c 5 : Thêm các hình ả nh minh h ọ a
Ở bước này, cho phép HS dùng trí tưởng tượng của mình bằng cách thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, cũng như lưu chúng vào trí nhớ mình tốt hơn vì não bộ của con người có kh ả năng tiếp thu hình ảnh cao hơn chữ viết GV cho HS hiểu bản đồ tư duy không đòi hỏi tính mĩ thuật mà thiên
về kĩ thuật nên đừng ngại mình vẽ xấu, cứ vẽ theo những gì HS nghĩ, liên tưởng, đôi khi càng hài hước càng giúp HS nhớ chúng được lâu hơn
III Những việc làm cụ thể.
+ Ngay khi tiếp nhận HS, tôi triển khai kĩ năng học ngữ văn bằng sơ đồ tư duy, tạo thói quen kiểm tra, đánh giá kiến thức của các em bằng sơ đồ tư duy ngay từ đầu năm học Tạo cho HS thói quen học theo cách học này và trở thành một kĩ năng học tập thường xuyên