Với cương vị Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, lại trực tiếp phục tráchcông tác ngoại giao, Hồ Chí Minh đã thảo bản tuyên bố về chính sách ngoại giaotrong đó khẳng định chủ trương
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - KĨ THUẬT BÌNH DƯƠNG
KHOA KĨ THUẬT - CÔNG NGHỆ
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI:
HAI MƯƠI NĂM QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT – MĨ
GIẢNG VIÊN: DOÃN THỊ HUỆ LỚP: D14DO3A
NHÓM: 1
Bình Dương, ngày 13 tháng 10 năm 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - KĨ THUẬT BÌNH DƯƠNG
KHOA KĨ THUẬT - CÔNG NGHỆ
BÀI TIỂU LUẬN MÔN: ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI:
HAI MƯƠI NĂM QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT – MĨ
GIẢNG VIÊN: DOÃN THỊ HUỆ LỚP: D14DO3A
NHÓM: 1
Trang 3Bình Dương, ngày 13 tháng 10 năm 2015
MỞ ĐẦU
Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ khôngkhởi đầu từ 20 năm trước, khi hainhà nước thiết lập quan hệ ngoạigiao, mà đã bắt nguồn từ trước
đó rất lâu
Tổng thống Thomas Jefferson làngười Mỹ đầu tiên quan tâm đếnnước Việt Nam Sau đó hơnthế kỷ rưỡi, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã mở đầu bài diễn văn khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa bằng một
câu nổi tiếng: "Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng ", đó cũng là lời mở
đầu bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776, và tác giả không phải aikhác ngoài Thomas Jefferson Bắt đầu từ số báo này, chúng ta sẽ điểm lại một sốcột mốc đáng nhớ trong mối quan hệ giữa hai quốc gia
Tàu Peacock từng đến Việt Nam vào thế kỷ 19
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT-MĨ TRONG LỊCH SỬ
1.1 QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT – MĨ TRƯỚC NĂM 1954
1.1.1 "Cha đẻ" của nước Mĩ tìm giống lúa xứ Đàng Trong
1.1.2 Bản hiệp định thương mại dở dang
1.1.3 "Đại sứ đặc mệnh toàn quyền" Bùi Viện
1.1.4 Trong chiến tranh Đông Dương (1945-1954)
1.2 QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT – MĨ TRONG CHIẾN TRANH CHỐNG MĨ ( 1954 – 1975)
1.3 QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT – MĨ GIAI ĐOẠN (1976-1995)
CHƯƠNG 2: SỰ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT MĨ TỪ NĂM 1995 ĐẾN NAY
2.1 TÌNH HÌNH THẾ GIỚI VÀ KHU VỰC 13 2.1.1 Xu thế phát triển lấy kinh tế trọng điểm
2.1.2 Các nước lớn điều chỉnh quan hệ với nhau theo chiều hướng xây dựng quan hệ bạn bè chiến lược ổn định và cân bằng hướng về lâu dài
2.1.3 Sự phát triển nhanh chóng của nền thương mại thế giới .
2.1.4 Tính quốc tế hóa của nền kinh tế thế giới được tăng cường mạnh mẽ do quá trình quốc tế hóa rất nhanh của nền tài chính thế giới
2.2 LỢI ÍCH CỦA HAI BÊN KHI THIẾT LẬP QUAN HỆ NGOẠI GIAO
Trang 52.2.1 Lợi ích của Mỹ khi thiết lập quan hệ ngoại giao với
Việt Nam
2.2.2 Lợi ích của Việt Nam khi quan hệ với Mỹ
2.3 QUÁ TRÌNH BÌNH THƯỜNG HÓA QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT – MĨ
2.4 NHỮNG NỖI BẬT SAU KHI BÌNH THƯỜNG HÓA QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT – MĨ
2.4.1 Về chính trị - ngoại giao 25 2.4.2 Kinh tế và Thương mại
2.4.2.1 Tình hình Kinh tế thương mại song phương Việt – Mĩ giai đoạn (1995 – 2000)
2.4.2.2 Tình hình Kinh tế thương mại song phương Việt – Mĩ giai đoạn 2000 đến nay
2.4.3 Quốc phòng và An ninh
2.4.4.Văn hóa – xã hội
2.4.4.1 Giáo dục
2.4.4.2 Y tế
2.4.4.3 Du lịch và Thể thao
2.4.5 Khoa học – Công nghệ
2.5 TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT – MĨ TRONG TƯƠNG LAI KẾT LUẬN
Trang 6CHƯƠNG 1: QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT-MĨ TRONG LỊCH SỬ
1.1 QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT – MĨ TRƯỚC NĂM 1954
1.1.1 "Cha đẻ" của nước Mĩ tìm giống lúa xứ Đàng Trong
Trong cuốn US - Vietnam 1787 - 1941, tác giả Hopkins Miller viết rằng sau khituyên bố độc lập (1776), Chính phủ Hoa Kỳ lần đầu tiên đã biết đến xứ
"Cochinchina" tức là "Đàng Trong" Tháng 7.1787, Công sứ Hoa Kỳ tại Pháp lúc bấy
giờ là Thomas Jefferson đang ở Paris tham gia các cuộc đàm phán thương mại đãngỏ ý muốn mua giống gạo của xứ Đàng Trong Ông đã viết một lá thư cho bạn ở
Mỹ: "Ông Poivre người thầu thuế vùng Ile-de - France, đang đi thăm nhiều nước
châu Á, Ông cho biết là ở Đàng Trong trồng nhiều giống lúa, có ba giống cần nước,
có ba giống mọc ở vùng cao" Ý định của Jefferson lúc đó rất rõ ràng: "Lúa cạn Đàng
Trong nổi tiếng là trắng thơm và phát triển tốt, tôi sẽ cố cho đem về ít lúa Đàng
Trong" Và vị tổng thống tương lai của Hoa Kỳ lúc đó đã liên hệ với con trai của
Nguyễn Ánh là Hoàng tử Cảnh để tìm giống lúa 8Do không đi tới kết quả nên 4tháng trước khi cách mạng Pháp bùng nổ (1789) Jefferson tiếp tục viết thư choMalesherbes - chính khách Pháp và cũng là nhà nghiên cứu thực vật học - với nội
dung: "Nếu ngài có thể bận tâm kiếm cho tôi ít giống lúa Đàng Trong thì thật quả là
ông có công lớn đối với đồng hương của tôi" Nhưng cuối cùng Malesherbes đã
không giúp được Jefferson
1.1.2 Bản hiệp định thương mại dở dang
Năm 1829, khi Tổng thống Andrew Jackson lên nhậm chức, một phái bộ doEdmund Roberts được đích thân tổng thống cử sang đem theo dự thảo hiệp địnhthương mại để có thể thay mặt Chính phủ Mỹ ký với triều đình nhà Nguyễn Đầutháng 1.1832 chiến hạm Peacock chở phái bộ đến Vũng Lấm (nay thuộc Khánh Hòa)
vì cách xa thủ đô Huế Vua Minh Mạng lệnh cho Viện ngoại lang Nguyễn Tri Phương
Trang 7và Tư vụ Lý Văn Phức mở tiệc khoan đãi long trọng Vua chuẩn bị cho lần sau đậuthuyền tại vịnh Trà Sơn (tức Cửa Hàn)
Năm 1836 lần thứ hai phái bộ Mỹ vẫn do Edmund Roberts làm trưởng đoàn,cập bến vịnh Trà Sơn để xin được yết kiến trình quốc thư Ngay trong bức thư đầutiên này, Tổng thống Andrew Jackson đã nói rõ ý định giao hảo của Chính phủ Hoa Kỳ
"thư này sẽ được trình Bệ hạ bởi ngài Edmund Roberts, một công dân khả kính của Hoa Kỳ, được cử làm đặc sứ mang trọng trách chuyển tới Bệ hạ những việc hệ trọng của bản quốc Tôi xin Bệ hạ bảo hộ cho ông ta trong khi phụng mệnh và đối đãi với ông ta một cách bao dung và tin cậy, xin hãy hoàn toàn tin tưởng vào những gì mà ông ta nhân danh nhắc lại lời cam đoan về tình hữu hảo và thiện chí đối với Bệ hạ" Tuy nhiên, chuyến đi mở đường này tiếc thay lại chỉ dừng lại ở một
bữa tiệc chiêu đãi và không giải quyết được vấn đề cụ thể Nguyên nhân là doEdmund Roberts bị bệnh và mất đột ngột tại Ma Cao, không hoàn thành được nhiệm
vụ và cũng bỏ lỡ cơ hội bang giao giữa hai nước
1.1.3 "Đại sứ đặc mệnh toàn quyền" Bùi Viện
Có thể xem nhà cải cách Bùi Viện như là một "đại sứ đặc mệnh toàn quyền"
đầu tiên của Việt Nam đi sang Mỹ Một vị đại sứ đặc mệnh mà điểm đặc biệt là ra đichỉ một mình, không quốc thư, không có tùy tùng chính thức Một vị đại sứ đượcquyền tùy ý lựa chọn nước mình đến, và toàn quyền quyết định vấn đề trao đổi thảoluận
Nửa cuối thế kỷ XIX, trong lúc Thiên Hoàng Minh Trị đang đưa nước Nhật Bảntiến mạnh mẽ vào con đường duy tân thì tình hình nước Việt Nam ngày càng có nguy
cơ mất nốt Trung Kỳ, Bắc Kỳ Vua Tự Đức nhu nhược trước âm mưu mở rộng xâmlược của thực dân Pháp, bác bỏ đề nghị cách tân của Nguyễn Trường Tộ và nhiều nhàcách tân tâm huyết khác Tuy vậy, ông vẫn muốn nắm tình hình phương Tây để liệuđiều chỉnh chính sách nên Vua Tự Đức cử Bùi Viện, một nhà nho thức thời và năngđộng, đi ra nước ngoài
Trang 8Tháng 7.1873 Bùi Viện vượt biển ra đi, sau hai mươi ngày lênh đênh trên biểnông đến được Hồng Kông Đầu tiên Bùi Viện đến Lãnh sự Mỹ tại Hồng Kông Tại đâyông kết giao với một sứ giả Mỹ và được ông này giúp đỡ để tiếp kiến Tổng thống Mỹ.Sau đó ông rời Hồng Kông sang Nhật Bản và đến cảng Yokohamaxuống tàu đi Mỹ BùiViện đến San Francisco rồi đến thủ đô Washington Ở đây ông được Tổng thống MỹUlysses Grant tiếp và hứa sẽ giúp Việt Nam bảo vệ đất nước Nhưng Bùi Viện không
có quốc thư ủy nhiệm nào để có ký kết hiệp ước liên kết Thất vọng, Bùi Viện đànhxuống tàu quay về nước
Chuyến đi Mỹ lần thứ hai của Bùi Viện là vào năm 1875 Có trong mình quốcthư của Vua Tự Đức, ông hy vọng sẽ đạt những điều mong muốn Tuy nhiên, bốicảnh trên thế giới lúc này các nước đế quốc đã thỏa thuận xong việc phân chia phạm
vi thế lực lần thứ nhất Pháp cũng đã đứng vững ở Việt Nam Còn Mỹ thì có baonhiêu việc cần ổn định trong nước sau nội chiến, tình hình quốc tế cũng chưa có lợicho họ Bùi Viện lại ôm mối thất vọng trở về
Nếu trước đây Edmund Roberts hai lần tới Việt Nam mà đại sự không thành thìBùi Viện cũng hai lần sang Mỹ mà cũng trở về tay không, hai nước vẫn chưa thiết lậpđược quan hệ ngoại giao Khi nước Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, Mỹ đặtlãnh sự quán tại Sài Gòn và Hà Nội trong lúc đó họ cai trị Philippin sau khi đánh bạiTây Ban Nha
1.1.4 Trong chiến tranh Đông Dương (1945-1954)
Cả hai cuộc tiếp cận lịch sử đều thất bại và từ đó Hoa Kỳ từ bờ Thái Bình Dươngđứng nhìn quá trình chủ nghĩa thực dân Pháp bóc lột nhân dân Việt Nam cho tới khi
nó bị gót sắt của chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản đè bẹp trong chiến tranh thế giớithứ II
Nằm dưới sự đô hộ, cai trị của chủ nghĩa thực dân Pháp, nhân dân Việt Nam đãkhông ngừng đấu tranh để giành lại độc lập tự do và khi cách mạng Tháng 8 - 1945thắnglợi hoàn toàn, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời đã chấm dứt hơn 80
Trang 9năm chế độ Pháp thuộc Nhưng ngay sau khi giành được độc lập, theo qui định củaHiệp ước Postdam, Đông Dương chia làm 2 khu vực để giải giáp quân Nhật: khu vựcphía Bắc từ vĩ tuyết 16 trở lên, khu vực phía Nam từ vĩ tuyến 16 trở xuống QuânTưởng Giới Thạch kéo vào miền Bắc Việt Nam, quân Anh kéo vào miền Nam ViệtNam đại diện cho lực lượng đồng minh giải giáp quân Nhật.
Ngay trong thời kỳ này, giữa Việt Nam và Mỹ cũng bắt đầu có quan hệ bang giaothông qua hợp tác tích cực chống quân đội Phát xít Trong chiến tranh thế giới thứhai, khi nước Mỹ tham gia đồng minh, đang trong hàng ngũ lực lượng dân chủ toànthế giới chống phe trục: Đức - Ý - Nhật, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động đặt quan
hệ với Mỹ Trong suốt thời gian lưu lại Trung Quốc, sau khi được chính quyền TưởngGiới Thạch trả tự do (1943-1944), Hồ Chí Minh đã làm quen với một số sỹ quan Mỹđang hoạt động ở Trung Quốc Trong chuyến đi Côn Minh, Trung uý Mỹ Charles Fenngặp Hồ Chí Minh ngày 17/3 rồi lại gặp ngày 20/3 Fenn ngỏ ý mong muốn được ViệtMinh giúp đỡ Hồ Chí Minh nhận lời nhưng nói không có phương tiện thông tin Do
sự sắp xếp của Fenn, Hồ Chí Minh gặp tướng Claire I.Chennault, tư lệnh quân đoànkhông quân 14 của Mỹ Ngày 27/4 Hồ Chí Minh trên đường về nước gặp thiếu táArchimeder L.A.Patti thuộc tổ chức OSS tại một làng nhỏ gần Tĩnh Tây (Trung Quốc).Cùng đi với Người là 2 người Mỹ: Franckie Tan, gốc Hoa và Maxim
Ngày 16/7, thiếu tá Thomas cùng một số người Mỹ nhảy dù xuống làng Kimlung
và được bố trí ở Tân Trào (Tuyên Quang) Số người Mỹ này làm việc liên lạc với cơquan Mỹ ở Côn Minh và huấn luyện kỹ thuật cho một số cán bộ quân sự của quângiải phóng Người Mỹ cũng đã cung cấp cho Việt Minh một số vũ khí, thuốc menbằng cách thả dù xuống khu căn cứ Việt Bắc hoặc đưa đến Nam Ninh (Trung Quốc)
để Việt Minh chuyển về nước Đến tháng 8 thì nhóm Thomas theo quân du kích của
Hồ Chí Minh xuôi về Hà Nội, trở thành nhân chứng của một trong những sự tích thần
kỳ nhất trong lịch sử Việt Nam - ngày Việt Nam tuyên bố độc lập
Trang 10Với cương vị Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, lại trực tiếp phục tráchcông tác ngoại giao, Hồ Chí Minh đã thảo bản tuyên bố về chính sách ngoại giaotrong đó khẳng định chủ trương quan hệ hoà bình hữu nghị với tất cả các nước trênthế giới, trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập chủ quyền của mỗi nước Với Mỹ,
Hồ Chí Minh tiếp tục duy trì những quan hệ đã có trong chiến tranh Nhân dân Chínhphủ Việt Nam, Người đã gửi hàng chục bức thư, điện, công hàm tới Tổng thốngTruman, Chính phủ và Bộ Ngoại giao Mỹ Nội dung của các văn bản ấy xoay quanhvấn đề yêu cầu Mỹ ủng hộ nền độc lập của Việt Nam, khẳng định sự hợp tác của Nhànước Việt Nam dân chủ cộng hoà
Tháng 10/1945 Tổng thống Truman ra tuyên bố 12 điểm về chính sách đối ngoạicủa Mỹ, Hồ Chí Minh đã bày tỏ thái độ hoan nghênh và mong muốn Chính phủ Mỹ sẽthực hiện đúng tinh thần của Bản tuyên bố, ủng hộ chủ quyền của các dân tộc nhượctiểu Song lúc này Chính phủ Mỹ đã ngả hẳng sang chủ trương ủng hộ Pháp trở lạiĐông Dương Những cố gắng trong quan hệ ngoại giao chính thức với Mỹ đã khôngđạt kết quả Tuy vậy, Việt Nam vẫn luôn chú ý đến việc giữ tôn trọng của Chính phủmình đối với vai trò của Mỹ trong đồng minh, sự có mặt của đại diện phái bộ Mỹtrong các buổi lễ ký Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 cũng như trong các văn bản màChủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho Chính phủ Mỹ đã nói lên điều đó
Trong thời gian này, tuy quan hệ ngoại giao chính thức không thành công nhưngquan hệ của Việt Nam với Chính phủ Mỹ vẫn có dấu hiệu khả quan thông qua hìnhthức ngoại giao nhân dân mà điển hình là Hội hữu nghị Việt - Mỹ
Ngày 2/9/1947, trong thư gửi Việt - Mỹ ái hữu hội, Hồ Chủ Tịch đã viết: "Chúng
ta không bao giờ quên sự hợp tác giúp đỡ thân ái của các bạn người Mỹ hồi chúng
ta du kích chống Nhật và chúng ta mong rằng sự hợp tác đó được tiếp tục trong cuộc tranh đấu của chúng ta chống thực dân phản động Pháp giành thống nhất và độc lập Chúng ta mong rằng Hoa Kỳ, nước đầu tiên đã tranh đấu cho nền độc lập
Trang 11và dân chủ của quốc gia, sẽ giúp chúng ta trong công cuộc đấu tranh giải phóng hiện nay và trong công cuọc kiến thiết xây dựng sau này".
Trong chiến tranh Đông Dương (1945-1954), Mỹ đã giúp Pháp trong cuộcchiến tranh xâm lược Việt Nam và tái chiếm thuộc địa của họ Đến cuối chiến tranh,80% chiến phí chủ yếu của Pháp do Mỹ tài trợ, lên đến 1,5 tỷ USD Trong trận ĐiệnBiên Phủ, Mỹ trực tiếp chở khoảng 16 ngàn quân Pháp vào Điện Biên Phủ và hỗ trợkhông quân cho quân đội Pháp Nhờ điều đó mà thực dân Pháp mới có thể duy trìđược cuộc chiến
1.2 QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT – MĨ TRONG CHIẾN TRANH CHỐNG MĨ ( 1954 – 1975)
Trong Chiến tranh Việt Nam (1954-1975), sau khi Pháp thua, Mỹ đã thế chânPháp can thiệp trực tiếp vào Việt Nam dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diêm
đã chứng tỏ rõ ràng ý đồ của Mỹ Ngày 23/10/1954, khi Eisenhour gửi bức thư choNgô Đình Diệm cam kết Mỹ ủng hộ hoàn toàn và sẽ viện trợ đối với chế độ của ông
ta chính phủ Mỹ hậu thuẫn Việt Nam Cộng hòa chống lại Việt Nam Dân chủ Cộnghòa rồi cả Mặt trận Giải phóng miền Nam
Mỹ có tham gia Hội nghị Geneve năm 1954 với một phái đoàn do Bedell Smithlàm trưởng đoàn nhưng cũng như phái đoàn Quốc gia Việt Nam, không ký bản hiệpđịnh Khi chính phủ Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam của Tổng thốngNgô Đình Diệm từchối tổng tuyển cử, Hoa Kỳ cũng ủng hộ lập trường đó Dựa trên thuyếtDomino trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh Hoa Kỳ tăng viện trợ cho Việt Nam CộngHòa Đến năm 1963 có hơn 16.000 cố vấn quân sự Hoa Kỳ và đến đầunăm 1965 thì Tổng thốngLyndon B Johnson cho đổ bộ lực lượng Thủy quân lụcchiến, chính thức tham chiến Đến năm 1973, đã có trên 600.000 binh lính Mỹ vàđồng minh chiến đấu trên chiến trường miền Nam Việt Nam
Năm 1967 ta mở mặt trận ngoại giao phối hợp với mặt trận quân sự và mặt trậnchính trị cùng đánh Mỹ Ta tăng cường đoàn kết với Liên Xô và Trung Quốc cùng các
Trang 12nước xã hội chủ nghĩa khác, củng cố và phát triển mặt trận nhân dân Đông Dương,đoàn kết với phong trào phản chiến ở Mỹ, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnhthời đại.
Tuy nhiên, Nhà nước Việt Nam luôn luôn phân biệt rõ bạn - thù, phân biệt rõnhân dân Mỹ với những nhà cầm quyền của Mỹ theo đuổi chính sách chiến tranh.Mục đích của nhân dân Việt Nam là đấu tranh để giành độc lập tự do, đem lại hạnhphúc cho dân tộc và chung sống hoà bình với cộng đồng thế giới trên cơ sở bìnhđẳng, hữu nghị Vì vậy Chính phủ và nhân dân Việt Nam sẵn sàng đàm phán với điềukiện là quân Mỹ phải rút khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam Với mục đích đó, ta chủtrương buộc địch xuống thang từng bước, giành thắng lợi từng phần Sau thắng lợitết Mậu Thân (1968), Mỹ buộc phải ngồi vào bàn đàm phán, mở cho ta cục diện vừađánh vừa đàm, kết hợp đấu tranh quân sự và ngoại giao, tạo điều kiện cho thắng lợisau này
Sau bốn năm kiên trì đấu tranh, thương lượng, vào năm 1973, Mỹ phải ký Hiệpđịnh Paris, với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và rút quân chính quy ra khỏi chiếntrường miền Nam Việt Nam
Trong cuộc chiến này, quân đội Hoa Kỳ đã gây ra nhiều tội ác đối với dân thườngViệt Nam, mà nghiêm trọng nhất là chất độc màu da cam (chất độc DIOSIN) gây rahậu quả đến ngày nay
1.3 QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT – MĨ GIAI ĐOẠN (1976-1995)
Khoảng tháng 6 năm 1975, Việt Nam có nhờ Liên Xô chuyển cho Mỹ một
thông điệp không chính thức: "Lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tán thành có
quan hệ tốt với Mỹ trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau Trên tinh thần đó, phía Việt Nam đã tự kiềm chế trong khi giải phóng, tạo cơ hội cho người Mỹ không bị cản trở trong việc tiến hành di tản nhân viên của họ Phía Việt Nam đã cố gắng làm mọi
sự cần thiết để không làm xấu đi quan hệ với Mỹ trong tương lai Không có sự thù
Trang 13địch với Mỹ ở Việt Nam và Việt Nam cũng không muốn thấy như vậy ở phía Mỹ" Tiếp theo đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói trước Quốc hội: "Việt Nam mời gọi Hoa Kỳ bình thường hóa và yêu cầu chính quyền Mỹ chi tiền tái thiết như đã hứa".
Ngày 7 tháng 5 năm 1976, Tổng thống Gerald R Ford đề nghị Quốc hội Hoa Kỳtạm ngưng cấm vận Việt Nam trong sáu tháng để tạo điều kiện cho việc đối thoạigiữa hai nước Ngày 8 tháng 5 năm 1976, Bộ trưởng Ngoại giao Henry Kissinger gửicông hàm cho Quốc Vụ khanh Bộ Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, đề nghị thảo luậnvấn đề bình thường hóa quan hệ hai nước
Ngày 6 tháng 1 năm 1977, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa ra lộ trình ba bước bìnhthường hóa quan hệ với Việt Nam Và phía Hoa Kỳ cũng đưa ra điều kiện để nối lạibang giao là Việt Nam phải làm đầy đủ hồ sơ về lính Mỹ mất tích (MIA), trao trả hàicốt lính Mỹ Phía Việt Nam cũng đòi Hoa Kỳ phải bồi thường chiến tranh, trong khi
đó Hoa Kỳ cho rằng Việt Nam đã vi phạm Hiệp định Paris nên không thể bàn đếnkhoản tiền bồi thường
Trong 2 năm 1975-1976, Mỹ 3 lần phủ quyết việc Việt Nam gia nhập Liên HiệpQuốc Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng phát triển Châu
Á (ADB) Mỹ làm ngơ trước thiện chí mà Chính phủ ta đã nhiều lần bày tỏ để tạođiều kiện cho 2 bên có thể gặp nhau, nhằm giải quyết vấn đề còn lại giữa 2 bên.Năm 1977, khi Jimmy Carter nhậm chức tổng thống, ông đã nỗ lực đẩy mạnhviệc bình thường hóa quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ Tháng 3 năm 1977, Carter gửi mộtphái đoàn sang Hà nội do ông L.Woodcook dẫn đầu để bàn về việc nối lại bang giao.Ngày 17 tháng 3 năm 1977, tại Hà Nội, Phó Thủ tướng Nguyễn Duy Trinh đã tiếpLeonard Woodcock Ngày 4 tháng 5 năm 1977, chính quyền Carter đồng ý để ViệtNam vào Liên Hiệp Quốc
Ngày 3 tháng 5 năm 1977, phiên đàm phán đầu tiên giữa hai phái đoàn ViệtNam - Hoa Kỳ đã diễn ra tại Paris Phía Việt Nam khăng khăng đòi Mỹ phải chi 3,25 tỷ
Trang 14đô-la bồi thường chiến tranh Phía Hoa Kỳ đề nghị bình thường hóa trước, viện trợsau Trưởng đoàn đàm phán Phan Hiền báo cáo với ông Nguyễn Cơ Thạch, ôngThạch thuyết phục Bộ Chính trị nhưng không được.
Trong khi các cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Hoa Kỳ chưa có một chút biếnchuyển gì thì tình hình quốc tế có nhiều thay đổi Khi Biên giới Tây Nam được đặttrong tình trạng chiến tranh và Trung Quốc đã được Ban Chấp hành Trung ươngĐảng Cộng sản Việt Nam xác định là kẻ thù, Việt Nam bắt đầu nhận thấy vai trò quantrọng của việc bình thường hóa với Hoa Kỳ, một siêu cường trên thế giới Đầu năm
1978, tại Tokyo, ông Phan Hiền thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam tuyên bố: "Việt Nam
sẵn sàng bình thường hóa vô điều kiện với Hoa Kỳ" Nhưng lúc này Mỹ và Trung
Quốc bắt đầu có sự hợp tác để đi đến bình thường hoá quan hệ, Mỹ đã bàn vớiTrung Quốc để xây dựng mối quan hệ chiến lược lâu dài giữa 2 nước trong đó có cảviệc phối hợp để chống Liên Xô Cuối 1978, Trung Quốc và Mỹ xúc tiến đàm phán đểbình thướng hoá quan hệ Đối với Việt Nam, Tổng thống Mỹ J.Carter đã quyết địnhxếp lại kế hoạch đàm phán Vậy là cơ hội thiết lập quan hệ ngoại giao Việt - Mỹ mộtlần nữa lại tuột khỏi tầm tay và bị bỏ lỡ
Trong một nỗ lực cuối cùng, tháng 10 năm 1978, Nguyễn Cơ Thạch hối thúc cácnhà đàm phán Hoa Kỳ ký thỏa thuận bình thường hóa Nhưng Hoa Kỳ đã từ chối
khéo: "Mỹ không thay đổi lập trường bình thường hóa quan hệ với Việt Nam,
nhưng phải chậm lại vì cần làm rõ ba vấn đề: sự thù địch của Việt Nam với Campuchia; Hiệp ước Việt-Xô và tình trạng gia tăng thuyền nhân Việt Nam" Tuy
nhiên theo ông Trần Quang Cơ viết trong hồi ký "Hồi ức và suy nghĩ" thì: "Tôi nghĩ,
thực ra Mỹ đã quyết định dứt bỏ quá trình đàm phán bình thường hoá quan hệ với Việt Nam từ khi Việt Nam tham gia khối Comecon, tháng 6-1978, và sau đó, ký hiệp ước với Liên Xô" Sau đó thì việc bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ bị gián
đoạn bởi các cuộc Chiến tranh biên giới Tây Nam và Chiến tranh biên giới Việt Trung
Trang 15-Trong thập niên tám mươi chính quyền của Tổng thống Reagan (1980-1988)phản đối việc bình thường hóa cho đến khi có sự xác nhận Việt Nam đã rút hết quân
ở Campuchia và có sự hợp tác đầy đủ của Việt Nam trong việc tìm kiếm những người
Mỹ mất tích
Ngày 20/1/1988 Tổng thống Regan tuyên bố: Trong khung cảnh một giải phápcho vấn đề Campuchia bao gồm Việt Nam rút hoàn toàn quân đội ra khỏiCampuchia, Mỹ sẵn sàng đi vào bình thường hoá quan hệ với Việt Nam trên cơ sởtiến bộ trong vấn đề MIA trở lại trại cải tạo
Năm 1989, Tổng thống Bush đắc cử và đã quyết định thay đổi chính sách đối vớiViệt Nam, mở ra một thời kỳ mới với nhiều hy vọng
Ngày 26/9/1989, Việt Nam hoàn thành việc rút quân khỏi Campuchia
Ngày 6/8/1990 đối thoại Việt - Mỹ vòng 1 giữa đại sứ Trịnh Xuân Lãng và Phótrợ lý Bộ trưởng Ngoại giao K.Quyn về quan hệ Việt - Mỹ
Từ ngày 29 đến 30/9/1990 Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch gặp Bộtrưởng Ngoại giao Giêm UBây - Cơ tại Niu Joóc
Ngày 9/4/1991, phía Mỹ đưa ra lộ trình (Roadmaping) bốn bước bình thườnghoá quan hệ với Việt Nam lần đầu tiên đưa ra công khai, chính thức chính sách đốivới Việt Nam
Ngày 20/4/1991, Tướng Vétxi vào Việt Nam lần 2, bàn về vấn đề lập văn phòngMIA tại Hà Nội
Ngày 25/4/1991 phía Mỹ tuyên bố lần đầu tiên viện trợ 1 triệu USD giúp ViệtNam về lĩnh vực chân tay giả
Ngày 23/10/1991 Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm gặp bộ trưởng Ngoạigiao Mỹ Giêm Bây - Cơ tại Pari nhân dịp ký Hiệp định Pari về Campuchia
Trang 16Từ 31/1/1992 đến 1/2/1992 đặc phái viên tướng G Vét - xi vào Việt Nam lầnthứ tư bàn về các biện pháp thúc đẩy vấn đề MIA và các vấn đề khác trong quan hệViệt - Mỹ.
Ngày 8/10/1992 Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm gặp ngoại trưởng MỹEagleburger và Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Chenry lần đầu tiên tại Bộ ngoại giao Mỹtrao đổi về quan hệ giữa hai nước
Ngày 23/10/1992, Tổng thống Bush tuyên bố rằng Mỹ sẽ nhanh chóng tiến tớibình thướng hoá, kể cả bãi bỏ cấm vận, nếu những tấm ảnh và bằng chứng mà ViệtNam trao có thể bổ xung cho việc giải quyết số phận các quân nhân Mỹ bị mất tích,những người mà Mỹ tin rằng Việt Nam có những tin tức cuối cùng
Năm 1993, Bill Clinton đắc cử Tổng thống Mỹ Chính quyền của Clintơn cũng kếthừa chính sách "lộ trình" của chính quyền G.Bush, trong đó cốt lõi của quá trìnhbình thường hoá quan hệ vẫn là "tốc độ và qui mô" của quá trình bình thường hoá bịtác động bởi sự hợp tác của Việt Nam về vấn đề POW/MIA Tuy rằng lộ trình 4 giaiđoạn cho quá trình bình thường hoá quan hệ với Việt Nam do chính quyền Mỹ công
bố tháng 4/1991 không chính thức được coi là bản chỉ dẫn tuyệt đối cho việc cảithiện quan hệ 2 nước nhưng trên thực tế nhiều bước đi đã diễn ra theo đúng lịchtrình này Ở giai đoạn 3, có 2 điều kiện Việt Nam phải thực hiện là:
Một là tiếp tục ủng hộ và khuyến khích sự ủng hộ của Chính phủ Phnôm Pênh
với Hiệp định hoà bình Campuchia, rút hết các cố vấn, lực lượng quân sự Việt Nam
ra khỏi Camuchia
Hai là Giải quyết các trường hợp POW/MIA không trùng khớp thông tin Trên
thực tế, điều một Việt Nam đã hoàn thành và điều hai cũng được giải quyết tích cựcvới sự giúp đỡ to lớn của Việt Nam Phía Mỹ đã thực hiện đầy đủ các điều ghi trongkhoản 3: Huỷ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận kinh tế đối với Việt Nam ngày 3/2/1994,
mở văn phòng liên lạc và ngoại giao tại Hà Nội và mời Việt Nam lập văn phòng tại
Trang 17Washingtơn cũng như ủng hộ các cơ quan hành chính quốc tế viện trợ để đáp ứngcác nhu cầu cơ bản của con người ở Việt Nam.
Ở giai đoạn 4, không có đòi hỏi bổ xung yêu cầu Việt Nam thực hiện trong giaiđoạn này, Mỹ sẽ lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ với Việt Nam, xem xét việc giànhchế độ tối huệ quốc cho buôn bán với Việt Nam của Mỹ
Ngày 28/1/1995, Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Mỹ chính thức thông báo
mở cơ quan liên lạc ở thủ đô 2 nước
Với nỗ lực và thiện trí của cả hai bên, 7/1995 chính thức bình thường hoáquan hệ ngoại giao Đây là một bước đi quan trọng đáp ứng nguyện vọng củanhân dân hai nước, phù hợp với xu thế phát triển hiện nay của tình hình quốc tế,đồng thời góp phần vào sự nghiệp hoà bình, ổn định và phát triển ở Đông NamÁ
CHƯƠNG 2: SỰ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT MĨ TỪ NĂM 1995 ĐẾN
NAY
Trang 182.1 TÌNH HÌNH THẾ GIỚI VÀ KHU VỰC
Sau khi trật tự hai cực tan rã, tình hình thế giới đã có nhiều diễn biến thay đổivới những nét nổi bật là :
Một là, thế giới phát triển nhanh chóng theo hướng đa cực, tuy vậy cục diện đa
cực chưa hẳn đã hình thành mà đang trải qua thời kỳ quá độ từ Trật tự cũ để tiến tớimột Trật tự mới Có người dự đoán thời kỳ quá độ này phải kéo dài trong nhiều năm,
có thể từ 30 đến 50 năm, bởi sự chuyển đổi cục diện thế giới lần này mang đặc điểmmới, quan trọng nhất là không trải qua chiến tranh như các cục diện trước kia Thế
giới hiện đang trong tình hình "một siêu cường, nhiều cường quốc", đó là các nước
Mỹ, Tây Âu (EU) Nhật Bản, Nga và Trung Quốc
Hai là, sự tan rã của Liên Xô đã tạo ra cho Mỹ một lợi thế tạm thời Là cực duy
nhất còn lại, Mỹ ra sức củng cố vị trí siêu cường, mưu đồ giữ vai trò chi phối bá chủthế giới Nhưng mặt khác, tuy là cực duy nhất còn lại, nhưng tình hình thế giới lạikhông phải là thế giới một cực Mỹ đã bị suy yếu tương đối, mâu thuẫn lớn nhất của
Mỹ là giữa tham vọng bá chủ và khả năng thực hiện của nó Rõ ràng là Mỹ khôngmuốn sự phát triển của thế giới theo chiều hướng đa cực, ra sức điều chỉnh chínhsách đối nội và đối ngoại, tăng cường năng lực cạnh tranh, xây dựng Trật tự thế giớimới do Mỹ lãnh đạo, làm cho sự thay đổi của thế giới đi theo quỹ đạo có lợi cho Mỹ
Ba là, hòa bình thế giới được củng cố, nguy cơ chiến tranh thế giới bị đẩy lùi rõ
rệt, nhưng hòa bình ở nhiều khu vực bị đe dọa, thậm chí ở nhiều nơi xung đột quân
sự, nội chiến diễn ra ác liệt Đó là các mâu thuẫn về sắc tộc, tôn giáo, tranh chấp lãnhthổ vốn bị che đậy dưới thời chiến tranh lạnh nay bộc lộ thành xung đột gay gắt.Phần lớn những mâu thuẫn, tranh chấp này đều có căn nguyên lịch sử, nên việc giảiquyết không thể nhanh chóng và dễ dàng
Trang 19Từ những thay đổi của tình hình thế giới, tuy Trật tự quốc tế mới chưa hìnhthành, nhưng trong gần một thập kỷ sau chiến tranh lạnh, có thể thấy những xu thếmới phát triển nổi bật trên thế giới là :
2.1.1 Xu thế phát triển lấy kinh tế trọng điểm
Bài học của thời kỳ chiến tranh lạnh đã chứng tỏ phương pháp quan hệ quốc tếlấy đối đầu chính trị - quân sự là chủ yếu không còn phù hợp, phải chịu nhiều tổn
thất hoặc thất bại như hai nước Mỹ - Xô và "một bị thương một bị mất" Trong khi
đó, phương thức lấy hợp tác và cạnh tranh về kinh tế - chính trị là chính lại thu đượcnhiều tiến bộ, kết quả như các nước Đức, Nhật và NIC Sự hưng thịnh hay suy vongcủa một quốc gia được quyết định bởi sức mạnh tổng hợp của quốc gia đó, mà chủyếu là thực lực kinh tế và khoa học - kỹ thuật
Vì vậy, sau chiến tranh lạnh, tất cả các quốc gia đều đang ra sức điều chỉnhchiến lược phát triển và tập trung mọi sức lực vào ưu tiên phát triển kinh tế Trongthời điểm hiện nay, kinh tế trở thành trọng điểm trong quan hệ quốc tế, cạnh tranhsức mạnh tổng hợp quốc gia thay thế cho chạy đua vũ trang đã trở thành hình thứcchủ yếu trong đọ sức giữa các cường quốc Những cân nhắc về địa - kinh tế trên mức
độ nào đó đã vượt quá tính toán về địa - chính trị
Các nước ngày càng nhận thức sâu sắc rằng, sức mạnh của mỗi quốc gia là mộtnền sản xuất phồn vinh, một nền tài chính lành mạnh và một nền công nghệ có trình
độ cao và đó mới là cơ sở để xây dựng sức mạnh thật sự của mỗi quốc gia
Trong tác phẩm "Sự hưng thịnh và suy vong của các cường quốc" xuất bản
năm 1988, Paul Kennedy nhà sử học Mỹ đã nghiên cứu nguyên nhân quy luật hưngthịnh và suy vong của các nước lớn trên thế giới trong 500 năm gần đây Tác giả nhấnmạnh, các nguồn lực kinh tế, sự phát triển khoa học - kỹ thuật, sức mạnh quân sựtạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nước, quyết định vị trí quyền lực của đất nước
Trang 20trong cục diện thế giới Sự phát triển hay suy thoái của các yếu tố này tạo nên sựhưng thịnh và suy vong không chỉ của các cường quốc mà cả các quốc gia khác trongmột thế giới phức tạp đan xen và phụ thuộc nhau.
2.1.2 Các nước lớn điều chỉnh quan hệ với nhau theo chiều hướng xây dựng quan
hệ bạn bè chiến lược ổn định và cân bằng hướng về lâu dài.
Đây là đặc điểm chủ yếu và nổi bật của quan hệ giữa các nước lớn trong thời kỳsau chiến tranh lạnh Sự điều chỉnh ấy là to lớn và sâu sắc Xuất phát từ lợi ích chiếnlược căn bản của mình, các cường quốc tiến hành điều chỉnh lại chính sách đối ngoại
để tìm chỗ đứng tốt nhất, xây dựng khuôn khổ quan hệ mới ổn định lâu dài, xác lậpcác điều kiện quốc tế có lợi hơn, mở rộng hệ thống an ninh quốc gia, tạo ra khôngkhí quốc tế để xây dựng kinh tế nước mình như mục tiêu chủ yếu trong quá trìnhđiều chỉnh
Tháng 7/1997, Thủ tướng Nhật Bản Hashimoto đề ra ba nguyên tắc đối với Nga
là "Tin cậy lẫn nhau, cùng có lợi, hướng về lâu dài" Với quan hệ Nhật - Trung, ông đưa ra bốn nguyên tắc : "Hiểu biết lẫn nhau, tăng cường đối thoại, mở rộng hợp
tác, hình thành trật tự chung" (9/1997) Về phía Trung Quốc, đầu tháng 11/1997,
khi sang thăm Nhật Bản, Thủ tướng Lý Bằng lại đưa ra năm nguyên tắc trong quan hệ
với nước này là :"Tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của
nhau; tìm kiếm điểm chung, gác lại bất đồng, giải quyết thỏa đáng những vấn đề bất đồng; tăng cường đối thoại, tăng thêm hiểu biết lẫn nhau; tạo thuận lợi và cùng có lợi, phát triển sự hợp tác kinh tế; hướng tới tương lai, đời đời hữu nghị".
Cuối tháng 10/1997, khi sang thăm Mỹ, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Giang Trạch
Dân đã đổi bốn câu trong cuộc gặp cấp cao đầu tiên vào năm 1993 "Tăng thêm tín
nhiệm, giảm bớt phiền phức, phát triển hợp tác, không đối đầu" thành "Tăng cường hiểu biết, mở rộng nhận thức chung, phát triển hợp tác, cùng tạo ra tương lai" Giữa hai nước Liên bang Nga và Trung Quốc đã có nhiều cuộc gặp gỡ cao cấp.
Trang 21Trong bản tuyên bố thứ 5, hai nước chủ trương xây dựng quan hệ đối tác chiến lược,thực hiện chính sách láng giềng hữu nghị Tổng thống Pháp Jacques Chirac chủ
trương xây dựng "Quan hệ đối tác toàn diện" giữa Pháp và Trung Quốc Ông cũng kiến nghị với châu Âu thiết lập "Quan hệ đối tác đặc biệt với Nga ".
2.1.3 Sự phát triển nhanh chóng của nền thương mại thế giới
Thương mại thế giới đã tăng 5 lần trong 23 năm (1948-1971), trong khi chỉ tăng
10 lần trong 100 năm trước đó (1850-1948) Thương mại thế giới tăng nhanh hơn sựtăng trưởng của kinh tế thế giới Từ những năm 50 đến những năm 70, tốc độ pháttriển kinh tế của thế giới là 5,9%, nhưng tốc độ phát triển của thương mại thế giới từ
1948 đến 1971 là 7,3% Thương mại quốc tế tăng có nghĩa là nền kinh tế của cácnước trên thế giới quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau, tính quốc tế hóa của nềnkinh tế thế giới tăng lên
Ngoại thương đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế của cácnước trên thế giới Những nước xuất khẩu nhiều nhất thì cũng là những nước có nềnkinh tế phát triển nhất 24 nước công nghiệp phát triển của Tổ chức hợp tác và pháttriển kinh tế (OECD) chỉ chiếm 14,5% dân số thế giới, nhưng sản xuất ra 71,4% tổngsản phẩm thế giới và nắm 60% xuất khẩu thế giới Ngoại thương chiếm từ 40-60%tổng sản phẩm của các nước Tây Âu
Cuộc cách mạng về liên lạc viễn thông với những máy tính, vệ tinh viễn thông,sợi quang học và việc vận chuyển cực nhanh của điện tử đã thúc đẩy mạnh mẽ quátrình toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới Đã hình thành một hệ thống liên lạc toàncầu Tốc độ thông tin toàn cầu được tăng lên hàng triệu lần Không có hệ thống nàythì không thể ra đời những công ty xuyên quốc gia và không thể có cuộc cách mạng
về tài chính trên thế giới
2.1.4 Tính quốc tế hóa của nền kinh tế thế giới được tăng cường mạnh mẽ do quá
trình quốc tế hóa rất nhanh của nền tài chính thế giới.
Trang 22Việc chấm dứt tình trạng chia cắt thế giới thành hai hệ thống xã hội đối lậpnhau càng thúc đẩy nền kinh tế thế giới trở thành toàn cầu hóa
Ngày nay hầu như ở khắp các lục địa, khu vực đều có các tổ chức liên minh kinh
tế với những quy mô lớn, nhỏ khác nhau ở châu Âu, lớn nhất là Thị trường chungchâu Âu hình thành từ 1975 Tháng 12/1992 Hiệp định Mastricht thành lập Liênminh châu Âu (EU), thành lập liên minh kinh tế và quyết định thống nhất về tiền tệ
và phát hành đồng tiền chung EURO vào tháng 1/1999 24 nước công nghiệp pháttriển thành lập Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD vào tháng 12/1960 và naybao gồm 29 nước ở châu Mỹ, năm 1994 thành lập Thị trường tự do thương mại Bắc
Mỹ (Mỹ, Canađa, Mêhicô) và đang mở rộng cả châu Mỹ thành một thị trường tự do.Trước đó, năm 1975 các nước Mỹ La tinh thành lập Tổ chức hệ thống kinh tế Mỹ Latinh (SELA) với 26 nước thành viên nhằm phối hợp các kế hoạch phát triển, tạo điềukiện cho những quá trình liên kết và trao đổi thông tin giữa các nước ở Đông Nam
Á, tổ chức ASEAN được thành lập năm 1967, đã trở thành ASEAN - 10 và hình thànhmột khu vực thương mại tự do (ASEAN-AFTA) trong vòng 15 năm Năm 1985, bảynước ở Nam Á và Ấn Độ, Pakixtan, Băngla Đét, Nêpan, Sri Lanca, Butan và Cộng hòaManđivơ thành lập Hội hợp tác khu vực Nam Á (SAARC) với mục tiêu là góp phầnphát triển kinh tế và văn hóa, tiến bộ xã hội ở Nam Á thông qua sự hợp tác nhiềubên
Tuy nhiên, trong quá trình hợp tác và hội nhập vào nền kinh tế thế giới cókhoảng cách giữa các nước giàu và nước nghèo là rất lớn dẫn đến sự phát triểnkhông đồng đều giữa các nước Những nước nghèo và kém phát triển sẽ bị cạnhtranh trong tình trạng bất bình đẳng bởi các nước giàu có vốn, khoa học kỹ thuật cao
sẽ luôn đặt ra những điều kiện khắt khe khi hợp tác kinh tế mà với khả năng củamình các nước nghèo chưa thể đáp ứng được Do vậy vấn đề đặt ra là các nước cónền kinh tế kém phát triển như nước ta phải làm thế nào để vượt qua những thách
Trang 23thức mà lại tận dụng được các mặt lợi của quá trình hội nhập và những thành tựumới của khoa học công nghệ để công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thành công.Đối với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh đãkhiến toàn thế giới coi trọng, đó là sự phát triển năng động của nền kinh tế khu vựcnày với tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới Điều đó không phải là vấn đề mới mà
nó đã có ngay từ những năm khi chiến tranh lạnh ở đỉnh cao nhất Bắt đầu là "sự
thần kỳ" của Nhật Bản vào cuối thập niên 60 và sự xuất hiện của 4 con rồng Châu Á
vào cuối thập niên 70, sau đó là Thái Lan, Malaysia,
Năm 1989, ở châu Á - Thái Bình Dương cũng đã hình thành khu vực hợp táckinh tế APEC gồm 21 nước (thuộc Đông Bắc Á, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Nam Thái BìnhDương và ASEAN) Tháng 3/1996 Hội nghị cấp cao châu Âu và châu Á (ASEM) gồm 25nước ở châu Âu và châu Á cộng thêm Uỷ viên Ban châu Âu (EU) lần đầu tiên nhómhọp nhằm liên kết kinh tế hai khu vực lớn trên thế giới
Điều mới cần nói ở đây là sau chiến tranh lạnh, kinh tế Châu Á - Thái BìnhDương vẫn giữ được đà phát triển ngoạn mục đó không chỉ với các nước đi theo nềnkinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa mà cả đối với những nước trước đây vốn có nềnkinh tế tập trung bao cấp và nay chuyển sang kinh tế thị trường nhưng vẫn theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đánh giá vaitrò của Châu Á - Thái Bình Dương và giúp cho các nước có cơ sở khách quan trongviệc hoạch định chiến lược phát triển của mình trong những thập kỷ tới
2.2 LỢI ÍCH CỦA HAI BÊN KHI THIẾT LẬP QUAN HỆ NGOẠI GIAO
Việc bình thường hoá quan hệ Việt - Mỹ đã có những bước tiến dài khác xa sovới trước nhờ một phần sự tác động của đặc điểm, xu thế của thế giới, một phầncũng là do lợi ích chiến lược của mỗi nước cùng với sự điều chỉnh chiến lược của Mỹ
Trang 24kết hợp với đường lối đổi mới, chính sách mở cửa của Việt Nam Đây là một trongnhững nhân tố quan trọng giúp cho việc bình thường hoá quan hệ ngoại giao giữahai nước được khai thông.
2.2.1 Lợi ích của Mỹ khi thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam.
Với một siêu cường như Mỹ muốn nắm giữ vai trò "Người lãnh đạo thế giới"
thì cần phải có sự điều chỉnh chiến lược và sách lược của mình cho phù hợp với tìnhhình thế giới
Tổng thống đầu tiên của nước Mỹ trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh, người cótham vọng để lại dấu ấn trong lịch sử nước Mỹ bằng một chiến lược mới thay cho
chiến lược "ngăn chặn" của thời kỳ chiến tranh lạnh, đó là chiến lược "mở rộng dân
chủ" của Bill Clintơn Ngày 27/19/1993 trong diễn đàn đầu tiên đọc trước Đại hội
đồng Liên hợp quốc nói rõ: "Trong chiến tranh lạnh chúng ta tìm cách ngăn mối đe
doạ đối với sự sống còn của các thể chế tự do, giờ đây chúng ta tìm cách mở rộng tập hợp các quốc gia sống dưới các thể chế tự do đó".
Đưa ra chiến lược này, nhưng mức độ áp dụng vào từng khu vực như thế nào làcòn tuỳ thuộc vào tầm quan trọng của khu vực đó đối với Mỹ Với khu vực Châu Á -Thái Bình Dương, Mỹ cho rằng đây là khu vực sẽ đem lại lợi ích cho nước Mỹ và Mỹ
đã đặt khu vực này vào vị trí ưu tiên ngang hàng với Châu Âu Bởi lẽ, Châu Á TháiBình Dương là một trong những khu vực có nền kinh tế phát triển năng động của thế
giới "Trong thập kỷ này, hơn 60% của sự phát triển kinh tế thế giới là từ Châu Á,
khu vực chiếm hơn 1/2 dân số thế giới" Với tổng số 13.400 tỷ USD, Châu Á - Thái
Bình Dương chiếm 54% GDP của thế giới, và do vậy, khu vực này có vị trí ngày càngquan trọng đối với các nước lớn trong đó có Mỹ Đặc biệt đây cũng là khu vực baogồm hầu hết các nước lớn mà Mỹ phải quan tâm và kiêng nể như Nga, Nhật Bản,Trung Quốc
Với Nga, trước đây là đối thủ của Mỹ trong chiến tranh lạnh, hai nước từngtranh giành vị trí, ảnh hưởng với nhau Giờ đây, khi Liên Xô mất đi thì vị thế của Nga