1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam chi nhánh Cầu Giấy

100 338 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 767,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại bao gồm hoạt động huy động vốn, hoạt động sử dụng vốn, và các hoạt động khác. Trong hoạt động sử dụng vốn, cho vay được coi là hoạt động đem lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng, trong đó cho vay doanh nghiệp thường được chú trọng nhất. Vì vậy muốn gia tăng lợi nhuân cho ngân hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh với các ngân hàng khác điều quan trọng là nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng. Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam chi nhánh Cầu Giấy ra đời ngày 28022002, hàng năm chi nhánh vẫn tăng trưởng trong doanh số cho vay doanh nghiệp nhưng tốc độ tăng có xu hướng giảm dần, tỷ lệ nợ quá hạn cho vay doanh nghiệp trên dư nợ cho vay doanh nghiệp > 1,3%, dư nợ cho vay doanh nghiệp hàng năm vẫn tăng trưởng song tiềm ẩn nhiểu rủi ro, trong chi nhánh tồn tại nhiều khoản cho vay có khả năng mất vốn, do vậy chất lượng cho vay doanh nghiệp tại chi nhánh nhìn chung không cao.Vì vậy trong thời gian tới chi nhánh cần nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, do vậy tôi chọn: “GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUỐC TẾ VIỆT NAM CHI NHÁNH CẦU GIẤY” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình. Ngoài lời mở đầu và kết luận khóa luận tốt nghiệp được chia làm ba chương: Chương 1: Những vấn đề cơ bản về chất lượng cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế chi nhánh Cầu Giấy. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế chi nhánh Cầu Giấy.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại bao gồm hoạt động huy độngvốn, hoạt động sử dụng vốn, và các hoạt động khác Trong hoạt động sử dụngvốn, cho vay được coi là hoạt động đem lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng,trong đó cho vay doanh nghiệp thường được chú trọng nhất Vì vậy muốn giatăng lợi nhuân cho ngân hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh với các ngân hàngkhác điều quan trọng là nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp tại ngânhàng

Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam chi nhánh Cầu Giấy rađời ngày 28/02/2002, hàng năm chi nhánh vẫn tăng trưởng trong doanh số chovay doanh nghiệp nhưng tốc độ tăng có xu hướng giảm dần, tỷ lệ nợ quá hạncho vay doanh nghiệp trên dư nợ cho vay doanh nghiệp > 1,3%, dư nợ cho vaydoanh nghiệp hàng năm vẫn tăng trưởng song tiềm ẩn nhiểu rủi ro, trong chinhánh tồn tại nhiều khoản cho vay có khả năng mất vốn, do vậy chất lượng chovay doanh nghiệp tại chi nhánh nhìn chung không cao.Vì vậy trong thời gian tớichi nhánh cần nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp Nhận thức được tầmquan trọng của vấn đề, do vậy tôi chọn:

“GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUỐC TẾ VIỆT NAM CHI NHÁNH CẦU GIẤY” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình.

Ngoài lời mở đầu và kết luận khóa luận tốt nghiệp được chia làm bachương:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về chất lượng cho vay doanh nghiệp tại ngân

hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần

Quốc Tế chi nhánh Cầu Giấy

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng

thương mại cổ phần Quốc Tế chi nhánh Cầu Giấy

Trang 3

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO

VAY DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại

Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nềnkinh tế, trên thế giới hiện nay, ngân hàng có vai trò vô cùng quan trọng, là một

tổ chức trung gian tài chính cung cấp các khoản tín dụng trả góp cho người tiêudùng với quy mô lớn nhất Trong mọi thời kỳ, ngân hàng là một trong nhữngthành viên quan trọng nhất trên thị trường tín phiếu và trái phiếu Trong vàinăm gần đây ngân hàng không chỉ là một trong những tổ chức tài chính cungcấp vốn lưu động quan trọng nhất cho các doanh nghiệp, mà còn tăng cường

mở rộng cho vay dài hạn đối với các doanh nghiệp để hỗ trợ việc xây dựng nhàmáy mới hay mua sắm trang thiết bị máy móc Như vậy có thể thấy được ngânhàng là một loại hình quan trọng của nền kinh tế, hiện có rất nhiều cách tiếp cận

về định nghĩa ngân hàng một trong những cách tiếp cận qua các chức năng, cácdịch vụ hoặc vai trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế Tuy nhiên trong xuthế cạnh tranh ngày càng quyết liệt hiện nay không chỉ ngân hàng thực hiện cácchức năng, cung cấp các dịch vụ đó, mà các đối thủ cạnh tranh với ngân hàngcũng không ngừng phát triển chúng Hiện nay có rất nhiều các tổ chức tài chínhđang thực hiện các chức năng và cung cấp các dịch vụ đó như: các công ty môigiới chứng khoán, công ty kinh doanh chứng khoán, quĩ tương hỗ và công tybảo hiểm hàng đầu Vì vậy để cạnh tranh được với các đối thủ cạnh tranh tạo ra

Trang 4

sự khác biệt giữa ngân hàng và các tổ chức tài chính khác trong nền kinh tế, thìbuộc các ngân hàng phải không ngừng mở rộng cung cấp các dịch vụ, tham giahoạt động dịch vụ về bất động sản và môi giới chứng khoán, hoạt động bảohiểm Như vậy có thể tiếp cận định nghĩa về ngân hàng dựa trên phương diện

những loại hình dịch vụ mà chúng cung câp: “Ngân hàng là các tổ chức tài

chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” theo giáo trình ngân

hàng thương mại – trường đại học kinh tế quốc dân

Dựa trên cách tiếp cận về ngân hàng như trên, tùy theo các tiêu thức khácnhau người ta có thể chia ngân hàng thành các loại hình sau:

Theo hình thức sở hữu: Ngân hàng được chia thành ngân hàng (NHTM) sởhữu tư nhân, ngân hàng cổ phần, ngân hàng sở hữu nhà nước

Theo tính chất hoạt động bao gồm: ngân hàng chuyên doanh và đa năng,ngân hàng hoạt động bán buôn và ngân hàng bán lẻ

Theo cơ cấu tổ chức bao gồm: ngân hàng sở hữu công ty và công ty sở hữungân hàng, ngân hàng thuộc sở hữu công ty, ngân hàng đơn nhất và ngân hàngchi nhánh

Tuy nhiên trong bài viết này tôi sẽ đi sâu làm rõ về NHTM cổ phần: Đây

là hình thức ngân hàng được thành lập thông qua phát hành cổ phiếu, ngườinắm giữ cổ phiếu là cổ đông của ngân hàng có quyền tham gia quyết định cáchoạt động của ngân hàng, tham gia chia cổ tức từ thu nhập của ngân hàng đồngthời gánh chịu mọi tổn thất có thể xảy ra với ngân hàng Các NHTM cổ phần cóthể tăng vốn nhanh thông qua phát hành cổ phiếu thêm, vì vậy thường là cácNHTM lớn trong nền kinh tế Các NHTM cổ phần có phạm vi hoạt động rộng,hoạt động đa năng, có nhiều chi nhánh hoặc công ty con, chính vì vậy mà hầuhết các NHTM cổ phần có khả năng giảm rủi ro do chuyên môn hóa, songchúng thường gặp rủi ro từ cơ chế quản lý phân quyền (nhiều chi nhánh hoạt

Trang 5

động độc lập với trụ sở ngân hàng mẹ, giám đốc các chi nhánh này có thể cóhành vi lạm dụng hoặc bất cẩn gây tổn thất cho ngân hàng).

Ngân hàng có vai trò rất lớn trong nền kinh tế thị trường thông qua quátrình tích tụ và tập trung vốn đã tạo ra sự mở rộng mạnh mẽ hoạt động sản xuấthàng hóa trong nền kinh tế thị trường, theo các nhà kinh tế học tín dụng chính làđòn bẩy của quá trình tích tụ vốn cho sản xuất hàng hóa Quan hệ tín dụng đượchình thành từ khi nền sản xuất hàng hóa còn sơ khai, chỉ khi ngân hàng ra đờiđóng vai trò chủ thể độc lập trong việc huy động vốn cho nền kinh tế chuyểnvốn tới nơi cần vốn, đáp ứng nhu cầu sản xuất của xã hội thì tín dụng mới thực

sự phát huy tối đa vai trò đòn bẩy của mình Ngày nay trong nền kinh tế thịtrường các định chế ngân hàng tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng về

cơ bản ngân hàng vẫn thể hiện vai trò là một trung gian tài chính tức là trunggian giữa chủ thể cần vốn và chủ thể có vốn nhàn rỗi Với vai trò vô cùng quantrọng của ngân hàng trong nền kinh tế, ngày nay ngân hàng ngày càng thể hiệnmình thông qua các chức năng cơ bản sau:

 Trung gian tài chính: Ngân hàng là một trung gian tài chính thể hiệnthông qua hoạt động chủ yếu chuyển tiền tiết kiệm thành đầu tư Sở dĩ ngânhàng có thể thực hiện được chức năng này đòi hỏi phải có sự tiếp xúc với cả cánhân và tổ chức trong nền kinh tế Các cá nhần và tổ chức tạm thời dư thừa tiềnmặt có thể gửi tiết kiệm trong ngân hàng nhờ đó mà các cá nhân tổ chức khácthiếu vốn có thể vay vốn thông qua ngân hàng để phục vụ hoạt động của mình

 Tạo phương tiện thanh toán: Tạo tiền là một chức năng quan trọng thểhiện rõ bản chất của ngân hàng, với mục tiêu kiếm lời cho mình NHTM môhình chung với nghiệp vụ kinh doanh đặc thù này đã thực hiện chức năng tạotiền cho nền kinh tế Các nghiệp vụ kinh doanh đặc thù ấy chính là nghiệp vụtín dụng và đầu tư trong mối liên hệ với ngân hàng trung ương Nền kinh tế cần

có cung ứng tiền tệ vừa đủ phù hợp với các chỉ tiêu lạm phát, tăng trưởng bềnvững và tạo được việc làm Các NHTM đóng vai trò vô cùng quan trọng trong

Trang 6

việc thực hiện các chính sách này, chúng được sử dụng như một kênh mà qua

đó lượng tiền cung ứng được tăng lên hoặc giảm đi nhằm thực hiện những mụctiêu trên

 Trung gian thanh toán: Với mục đích phục vụ khách hàng, ngân hàng đãđưa ra nhiều hình thức thanh toán hộ khách hàng giá trị của hàng hóa và dịch vụthông qua thanh toán bằng séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ… Cung cấpmạng lưới thanh toán điện tử và cung cấp tiền khi khách hàng cần

Để hiểu rõ hơn về cơ chế hoạt động của các NHTM, về khả năng tạo lợinhuận lớn trong quá trình hoạt động của mình chúng ta cùng tìm hiểu về cáchoạt động cơ bản của NHTM, để từ đó làm cơ sở cho việc xem xét cơ chế vậnhành quản lý tài sản có, tài sản nợ của ngân hàng

1.1.2 Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại

Ngân hàng được coi là tổ chức huy động tiền gửi từ các tổ chức, cá nhântrong nền kinh tế để tiến hành cho vay kiếm lời Vì vậy hoạt động chính củangân hàng thương mại chủ yếu là hoạt động huy động vốn và hoạt động sửdụng vốn:

 Hoạt động huy động vốn: Hoạt động tín dụng được coi là hoạtđộng đem lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng, vì vậy các ngân hàng luôn tìmmọi cách huy động vốn để cấp tín dụng cho khách hàng Vốn được huy động từmọi tổ chức kinh tế trong xã hội, từ cá nhân tổ chức, hộ gia đình Như vậy cóthể nói ngân hàng là trung gian tài chính, là cầu nối giữa người đang tạm dưthừa tiền mặt và người tạm thời thiếu hụt tiền mặt

 Hoạt động sử dụng vốn: Khi ngân hàng huy động vốn, một phầnvốn đó dùng để cho vay, phần khác ngân hàng tiến hành dự trữ bắt buộc theoquy định của nhà nước, tiến hành đầu tư Một trong hoạt động sử dụng vốn lớnnhất trong ngân hàng và đồng thời mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng làhoạt động tín dụng trong đó bao gồm hoạt động cho vay, bảo lãnh, chiết khấu,cho thuê Tiếp đó đến khoản mục đầu tư, thường thì các ngân hàng thường đầu

Trang 7

tư dưới dạng chứng khoán quỹ, để vừa đảm bảo khả năng thanh khoản, vừa sinhlời cho ngân hàng, đồng thời còn tiến hành kinh doanh ngoại tệ mạnh.

 Hoạt động khác: Ngoài hai hoạt động chủ yếu trên ngân hàng cònthực hiện các hoạt động khác như: quản lý ngân quỹ, bảo quản vật có giá, cungcấp dịch vụ bảo hiểm, ủy thác, môi giới đầu tư chứng khoán…

Như vậy sau khi tìm hiểu khái quát về các hoạt động cơ bản của NHTM, tanhận thấy hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng nhất trong ngân hàng,đồng thời cũng là hoạt động mang lại nhiều thu nhập cho ngân hàng, các ngânhàng luôn muốn mở rộng hoạt động này Trong hoạt động tín dụng thì hoạtđộng cho vay doanh nghiệp là hoạt động chính yếu, nó chiếm tỷ lệ cao tronghoạt động cho vay của ngân hàng Để hiểu rõ hơn về hoạt động cho vay doanhnghiệp sau đây chúng ta cùng tìm hiểu khái quát về hoạt động này

1.2 Hoạt động cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại

1.2.1 Khái niệm cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại

Có thể nói cho vay doanh nghiệp là hoạt động quan trọng nhất trong hoạtđộng của NHTM, vì vậy chúng ta cần tìm hiểu rõ về hoạt động này tại ngânhàng thương mại

Có thể hiểu cho vay doanh nghiệp là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho doanh nghiệp một khoản tiền để sử dụng vào mục đích

và thời hạn nhất định theo thỏa thuận và nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi Thời hạn nhất định ở đây chính là thời hạn cho vay, thời hạn này là khoảng thời gian được tính từ khi doanh nghiệp bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và doanh nghiệp Dựa vào thời hạn, cho vay doanh

nghiệp có thể chia thành cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn

 Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12tháng

Trang 8

 Cho vay trung hạn là các khoản cho vay có thời hạn cho vay từ 12tháng đến 60 tháng.

 Cho vay dài hạn là các khoản cho vay có thời hạn cho vay từ trên

60 tháng trở lên

Ngân hàng chỉ cho vay với khách hàng khi đảm bảo thực hiện hai nguyên tắcsau:

 Sử dụng vốn đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng

 Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tíndụng

Mặc dù cho vay ngân hàng đòi hỏi khách hàng phải đảm bảo thực hiện hainguyên tắc trên, tuy nhiên trong thực tế ít khách hàng có thể tuân thủ hainguyên tắc trên Do vậy để giúp cho việc đảm bảo các nguyên tắc trên, ngânhàng chỉ xem xét cho vay khi khách hàng thỏa mãn một số điều kiện vay nhấtđịnh Các điều kiện vay vốn:

 Có năng lực pháp lý dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sựtheo quy định của pháp luật

 Có mục đích vay vốn hợp pháp

 Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết

 Có phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả

 Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của chính phủ vàhướng dẫn của ngân hàng nhà nước Việt Nam

 Các điều kiện khác

Theo cuốn giáo trình “Quản trị ngân hàng thương mại” của Peter S Rose hiện nay có thể phân loại cho vay theo doanh nghiệp thành các hình thức cho vay sau đây:

Các khoản cho vay doanh nghiệp ngắn hạn bao gồm:

 Cho vay vốn lưu động

 Cho vay mua hàng dự trữ

Trang 9

 Cho vay ngắn hạn xây dựng các công trình.

 Cho vay kinh doanh bán lẻ

 Cho vay trên tài sản

Dựa vào mục đích vay vốn có các khoản cho vay doanh nghiệp trung vàdài hạn bao gồm:

 Cho vay kì hạn mua thiết bị và các tài sản cố định khác

 Cho vay theo dự án dài hạn

* Cho vay mua hàng dự trữ

Khoản cho vay này chủ yếu là tài trợ ngắn hạn cho doanh nghiệp, khidoanh nghiệp xác định được nhu cầu thị trường trong tương lai gần, mà thờiđiểm hiện tại hàng hóa mà họ dự trữ không đáp ứng được cho nhu cầu thịtrường, thì họ sẽ tiến hành vay ngắn hạn ngân hàng để tài trợ cho nhu cầu của

họ Các khoản cho vay này chủ yếu được tài trợ cho việc mua nguyên vật liệu

dự trữ hoặc hàng hóa thành phẩm Các khoản cho vay trên tận dụng chu kì tiềnmặt trong một doanh nghiệp như sau:

 Tiền mặt bao gồm cả tiền vay ngân hàng chỉ được dùng để mua dự trữ nguyênnhiên vật liệu, bán thành phẩm hoặc thành phẩm

 Hàng hóa được sản xuất để bán hoặc dự trữ

* Cho vay vốn lưu động

Thông thường các khoản vay này chủ yếu dùng tài trợ ngắn hạn cho nhucầu về vốn lưu động của doanh nghiệp, nó có thời hạn từ vài ngày cho tới mộtnăm Nó thường được đảm bảo bằng các khoản phải thu hoặc thế chấp bằng

Trang 10

hàng tồn kho và khách hàng phải chịu lãi suất thả nổi trên số tiền thực tế họ đã

sử dụng, lệ phí được tính trên phần tín dụng thuộc hạn mức không sử dụng đôikhi nó được tính trên toàn bộ phần hạn mức Ngân hàng dựa trên hạn mức tíndụng của doanh nghiệp mà yêu cầu doanh nghiệp phải có số dư tài khoản tiềngửi phù hợp tại ngân hàng để đảm bảo an toàn cho ngân hàng

* Cho vay ngắn hạn xây dựng các công trình xây dựng

Mặc dù xây dựng một công trình là một dự án mang tính chất dài hạn cầnđược đầu tư dài hạn, nhưng ngân hàng lại chấp nhận cho vay ngắn hạn Khoảncho vay ngắn hạn này chỉ được thực hiện khi bên thi công chắc chắn có đượcmột cam kết cho vay thế chấp để tài trợ dài hạn cho dự án sau khi kết thúc giaiđoạn xây dựng khi đó ngân hàng mới chấp nhận giải ngân vốn cho vay ngắnhạn Các khoản cho vay ngắn hạn này nhằm mục đích cung cấp cho bên thicông để thuê nhân công, mua nguyên vật liệu xây dựng, thuê thiết bị xây dựng

và thiết kế mặt bằng Khi giai đoạn thi công kết thúc bên thi công tiến hành vaythế chấp dài hạn các tổ chức tín dụng khác để thanh toán tiền vay ngắn hạn chongân hàng

* Cho vay kinh doanh bán lẻ

Để hỗ trợ cho việc tiêu dùng các sản phẩm lâu bền, xe máy, đồ dùng giađình, nội thất, ngân hàng thường chấp nhận cho vay trả góp bằng cách tài trợcho các khoản phải thu mà người bán những sản phẩm này sẽ nhận được saukhi kí hợp đồng bán hàng trả góp, hợp đồng trả góp sẽ được ngân hàng củangười bán lẻ xem xét, nếu đáp ứng được các yêu cầu tín dụng ngân hàng sẽ muanhững hợp đồng này với một mức lãi suất tùy theo chất lượng tín dụng củakhoản vay, tùy theo chất lượng của tài sản thế chấp, thời hạn của các khoản vay

Đối với các khách hàng vay để mua ô tô, xe máy, các hàng hóa lâu bềnkhác thì ngân hàng sẽ cấp tín dụng cho người bán lẻ để họ có thể yêu cầu hãngsản xuất chuyển hàng Thời hạn của khoản vay này có thể là một tháng hoặc vàitháng Để được cấp khoản tín dụng này người bán lẻ phải kí hợp đồng đảm bảo

Trang 11

an toàn cho phép ngân hàng sở hữu sản phẩm này khi họ không có khả năng trả

nợ Sau đó nhà sản xuất có thể chuyển hàng cho người bán lẻ và chuyển hóađơn thanh toán cho ngân hàng, định kì ngân hàng sẽ tiến hành xem xét tình hìnhbán hàng của người bán lẻ và kiểm tra số hàng đã bán và số hàng lưu kho, vàngười bán lẻ phải có trách nhiệm thanh toán dần nợ cho ngân hàng dựa trên sốhàng đã bán được

* Cho vay trên tài sản

Đây là khoản cho vay ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong khoản cho vayngắn hạn của ngân hàng, các khoản cho vay chủ yếu có thể dựa vào các tài sản

có khả năng chuyển đổi trong nay mai như: Hàng tồn kho, khoản phải thu,nguyên vật liệu hoặc thành phẩm Các tài sản này được dùng làm vật đảm bảotuy nhiên quyền sở hữu vẫn thuộc khách hàng để đảm bảo quá trình sản xuấtkinh doanh của khách hàng không bị gián đoạn, tuy nhiên khi khách hàngkhông trả được nợ đúng hạn thì ngay lập tức khoản đảm bảo này lại thuộc vềngân hàng

* Cho vay theo hạn mức tín dụng

Với những doanh nghiệp có nhu cầu vay mượn thường xuyên thì đây làmột loại hình lý tưởng Theo đó ngân hàng đồng ý cấp tín dụng cho doanhnghiệp theo hạn mức cho sẵn, hạn mức có thể tính cho cả kì hoặc cuối kì, đượccấp dựa trên cơ sở sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn, nhu cầu vay vốn củadoanh nghiệp Trong nghiệp vụ này ngân hàng không ấn định trước ngày trả nợcho doanh nghiệp, khi doanh nghiệp có thu nhập ngân hàng sẽ tiến hành thu nợ,

do đó tạo chủ động trong quản lý ngân quỹ cho ngân hàng Tuy nhiên loại hìnhcho vay này cũng có hạn chế đó là ngân hàng không kiểm soát được việc sửdụng vốn của doanh nghiệp

* Cho vay kì hạn mua thiết bị và các tài sản cố định khác

Các khoản cho vay này thường dùng tài trợ trung và dài hạn để mua thiết

bị, hoặc xây dựng các công trình Thông thường doanh nghiệp yêu cầu được

Trang 12

vay chọn gói dựa trên khoản chi phí dự tính của dự án đề xuất và cam kết thanhtoán nhiều lần dựa trên dự tính về dòng thu nhập tương lai của doanh nghiệp, kếhoạch thanh toán được xây dựng phù hợp với chu trình chu chuyển tiền tệ củadoanh nghiệp Tuy nhiên vẫn tồn tại những thời điểm mà doanh nghiệp thiếuhụt tiền mặt, không có khả năng thanh toán đúng hạn cho doanh nghiêp Cáckhoản vay này yêu cầu phải có đảm bảo bằng tài sản cố định, nên lãi suất khoảncho vay này thường lớn, và kéo theo đó rủi ro với ngân hàng cũng lớn.

* Cho vay theo dự án dài hạn

Đây là hình thức tài trợ trung và dài hạn cho doanh nghiệp, khi doanhnghiệp có kế hoạch mua sắm, xây dựng tài sản cố định nhằm thực hiện dự ánnhất định, có thể xin vay ngân hàng Mặt khác ngân hàng cũng yêu cầu doanhnghiệp cung cấp cho mình dự án của họ, ngân hàng sẽ tiến hành phân tích dự

án, xem xét tính khả thi của dự án từ đó đưa ra quyết định phần vốn cho vay vàxác định khả năng hoàn trả của doanh nghiệp Dự án được xây dựng gồm nhiềumục như: Phân tích thị trường nguồn nhân lực, địa điểm, công nghệ, qui trìnhsản xuất, phân tích tài chính….trong đó đối với ngân hàng phân tích tài chínhđược coi là mục tiêu quan trọng hàng đầu của ngân hàng Một dư án có tìnhhình tài chính mạnh là cơ sở quan trọng để ngân hàng quyết định cho vay đểthực hiện dự án

Nhu cầu đầu Nhu cầu đầu tư + Nhu cầu đầu tư vào

tư theo dự án vào tài sản cố định tài sản lưu độngCác nhu cầu này được tính dựa trên tổng hợp các chi phí về xây dựng, giảiphóng mặt bằng, mua và lắp đặt các thiết bị…và các tài sản lưu động dự trữ cầnthiết để bắt đầu quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Khi tài trợ cho dự ánngân hàng thường dựa vào các yếu tố sau:

 Qui mô và thời hạn của mỗi nguồn

 Tính khả thi của mỗi nguồn và các điều kiện để dự án tiếp cận được nguồn

Trang 13

Các nguồn tài trợ đều gắn với những điều kiện nhất định, nếu ngân hàng làngười cấp tín dụng duy nhất cho dự án thì rủi ro với ngân hàng là rất cao, vì vậyviệc có nhiều bên tham gia sẽ san sẻ bớt rủi ro cho ngân hàng, song lại đòi hỏingân hàng phải phân tích kĩ các nguồn và chủ tài trợ.

Như vậy sau khi tìm hiểu tổng quan về NHTM cho chúng ta cái nhìnchung nhất về hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại, về vai trò củachúng trong nền kinh tế, cũng như cho chúng ta biết được một cách sơ lược vềquy trình, cách phân loại cho vay doanh nghiệp tại NHTM Mục đích cuối cùngcủa NHTM là an toàn và sinh lời vì vậy các NHTM phải tìm cách nâng cao chấtlượng tín dụng

Đặc điểm cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại

Từ cách phân loại cho vay doanh nghiệp trên ta có thể thấy được đặc điểm chovay doanh nghiệp, tùy vào loại hình cho vay doanh nghiệp mà có thể khái quátlên đặc điểm của cho vay doanh nghiệp

* Đối với cho vay ngắn hạn:

 Có thời hạn vay vốn ngắn, thường để tài trợ cho nhu cầu vốn ngắn hạn chodoanh nghiệp, tài trợ cho những nhu cầu kinh doanh mang tính thời vụ, khi nàothiếu hụt sẽ sử dụng nguồn tài trợ ngắn hạn của ngân hàng, sự thiếu hụt vốnngắn hạn của doanh nghiệp có thể do sự chênh lệch về thời gian và doanh sốgiữa tiền thu bán hàng và tiền đầu tư vào tài sản lưu động hoặc do nhu cầu giatăng đầu tư tài sản lưu động đột biến thời vụ

 Rui ro với ngân hàng là thấp, vì do tính chất của khoản vay là ngắn hạn

 Với khoản cho vay ngắn hạn này của ngân hàng có thể tài trợ cho doanhnghiệp, giúp họ vượt qua khó khăn trong kinh doanh

* Đối với cho vay trung và dài hạn

 Thời hạn cho vay dài, doanh nghiệp thường vay với mục đích mua sắm trangthiết bị máy móc, nhà xưởng, đầu tư cho dự án của doanh nghiệp

Trang 14

 Khoản cho vay này có rủi ro cao, khả năng mất vốn lớn, nếu ngân hàng thẩmđịnh tài sản thế chấp không tốt, cho vay vượt quá tài sản đảm bảo của doanhnghiệp.

 Đối với khoản cho vay mà số tiền vay lớn hơn nhiều so với quy mô vốn củangân hàng, thì ngân hàng thường cho vay theo hình thức hợp vốn với ngân hàngkhác, tuy nhiên yêu cầu kiểm soát vốn tốt, linh hoạt

 Khoản cho vay này thường lớn vì vậy công tác giám sát sau khi giải ngân củangân hàng phải tốt, linh hoạt

Trên đây là khái quát về cho vay doanh nghiệp, cũng như đặc điểm chovay doanh nghiệp, cách phân loại cho vay doanh nghiệp Tuy nhiên để giảmthiểu rủi ro tín dụng thì ngân hàng thương mại cần tuân thủ nghiêm ngặt quytrình cho vay cơ bản theo quy định của ngân hàng nhà nước

1.2.2 Quy trình cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại

Trong các quan hệ giao dịch trong kinh doanh luôn tồn tại rủi ro bất chắcxảy ra do các bên tham gia không hiểu rõ về nhau, trong quan hệ tín dụng cũngvậy khi thông tin ngân hàng thu thập được về khách hàng không đầy đủ vàchính xác sẽ là cơ sở dẫn tới hình thành rủi ro tín dụng Để giải quyết vần đềnày, các ngân hàng thường xây dựng một quy chế cho vay chung, mô tả chi tiếttoàn quy trình tín dụng Một quy trình tín dụng được xây dựng luôn hướng tới

ba mục tiêu đó là:

 Lợi nhuận của ngân hàng

 An toàn ít rủi ro (thanh khoản)

 Sự lành mạnh của các khoản tín dụng

Việc xây dựng một quy trình tín dụng hợp lý sẽ góp phần nâng cao hiệuquả hoạt động quản lý nhằm giảm thiểu rủi ro, nâng cao doanh lợi Về mặt thờigian, quy trình tín dụng được chia làm ba giai đoạn: trước khi cấp tìn dụng,trong khi cấp tín dụng, sau khi cấp tín dụng Tuy nhiên, về mặt tác nghiệp quytrình tín dụng được chia thành các bước cụ thể sau:

Trang 15

(1) Lập hồ sơ đề nghị cấp vốn vay: Về mặt kinh tế trong giai đoạn nàyquan hệ tín dụng chưa phát sinh, nhưng đây là giai đoạn quan trọng vì nhữngthông tin thu thập được trong giai đoạn này rất cần thiết cho việc phân tích,đánh giá khách hàng Điều quan trọng trong bước lập hồ sơ này là ngân hàngphải hướng dẫn khách hàng lập đúng và cung cấp đầy đủ thông tin cần thiếtcho ngân hàng như:

 Những tài liệu chứng minh năng lực pháp lý của khách hàng

 Tài liệu chứng minh năng lực sử dụng vốn, và khả năng hoàn trảcủa khách hàng

 Những tài liệu liên quan đến đảm bảo tín dụng hoặc những điềukiện cấp tín dụng đặc thù như cho vay tín chấp

 Đơn đề nghị cấp tín dụng của khách hàng

(2) Phân tích tín dụng: Phân tích tín dụng là phân tích khả năng hiện tại vàtiềm tàng của khách hàng về sử dụng vốn tín dụng, khả năng hoàn trả và khảnăng thu hồi vốn vay cả gốc và lãi Mục tiêu của phân tích tín dụng là xác địnhkhả năng và ý muốn của người vay trong việc hoàn trả cả gốc và lãi, phù hợpvới hợp đồng tín dụng Đồng thời tìm kiếm những tình huống có thể dẫn đến rủi

ro tín dụng cho ngân hàng, đồng thời tiên lượng khả năng kiểm soát những loạirủi ro đó và dự kiến các biện pháp kiểm soát những loại rủi ro đó

Về cơ bản quy trình phân tích tín dụng đều giống nhau giữa các ngân hàng

và thường xem xét tới các yếu tố sau

 Năng lực vay nợ: Năng lực vay nợ là điều tối quan trọng khi tiếnhành phân tích tín dụng khách hàng, sở dĩ ngân hàng phải xác định năng lựcvay nợ của khách hàng vì khi đó ngân hàng xác định quyền đòi nợ hợp phápcủa mình với người đứng ra vay nợ, tư cách của người đứng ra vay nợ (nếu nhưtrong một tổ chức) cũng được xem xét cụ thể Ngân hàng có thể không xét chovay trong trường hợp khách hàng không ưu tiên quyền đòi nợ của ngân hàngtrước, trong trường hợp khách hàng phá sản Ngân hàng chỉ cho công ty vay với

Trang 16

điều kiện là khách hàng và các cổ đông khác của công ty cho phép ngân hàngđược quyền đòi nợ trước khi công ty đó phá sản

 Uy tín: Uy tín thường là yếu tố quan trọng trong việc xác định sựsẵn lòng trả nợ của bên vay, uy tín được thể hiện rõ trong các hồ sơ quá khứ củangười xin vay

 Tài sản thế chấp: Trong bất kì một hợp đồng tín dụng nào tài sảnthế chấp được coi là khoản mục quan trọng, tín dụng được cấp khi người vayđáp ứng đủ các tài sản thế chấp theo quy định của ngân hàng Giá trị thực củacông ty (chủ yếu là vốn chủ sở hữu) được coi là thước đo sức mạnh tài chínhcủa khách hàng, quyết định tới khối lượng tín dụng mà ngân hàng cấp chokhách hàng Tài sản thế chấp sẽ đảm bảo cho ngân hàng trong trường hợpkhách hàng không có khả năng trả nợ, tuy nhiên ngân hàng luôn mong muốnkhách hàng có thể trả gốc và lãi cho mình bằng chính nguồn thu nhập của họ

 Khả năng sinh lời: Đây là yếu tố vô cùng quan trọng trong việcphân tích tín dụng khách hàng, vì chủ yếu nguồn trả lãi và nợ gốc được lấy từlợi nhuận, vì vậy khi phân tích tín dụng ngân hàng cần xem xét kĩ khả năng sinhlời của khách hàng Đối với cá nhân khả năng tạo ra lợi nhuận chủ yếu dựa vàosức khỏe, giáo dục, năng lực…Đối với hãng kinh doanh khả năng tạo ra lợinhuận chủ yếu dựa vào doanh thu, chi phí Vì vậy khi xem xét tới khả năngsinh lời ngân hàng cần xem xét đầy đủ các yếu tố liên quan

 Một số điều kiện khác: Đó là điều kiện khách quan của nền kinh

tế, nhưng chúng nằm ngoài sự kiểm soát của người vay và người đi vay Có thểkhách hàng có khả năng sinh lời cao, uy tín tốt, nhưng do điều kiện kinh tế bấtlợi gây thiệt hại cho khách hàng, dẫn tới ngân hàng cũng gặp rủi ro Vì vậytrong quá trình hoạt động, nhân viên tín dụng ngân hàng cần tìm hiểu đầy đủthông tin về sự biến động của kinh tế cũng như ngành kinh doanh của kháchhàng để từ đó có biện pháp trích lập dự phòng kịp thời, khắc phục tổn thất xẩyra

Trang 17

Trong quá trình phân tích tín dụng ngân hàng cần chú ý phân tích tình hìnhtài chính của khách hàng, thông qua các báo cáo tài chính của khách hàng ngânhàng tiến hành phân tích, tuy nhiên trước khi phân tích ngân hàng cần sàng lọc

kỹ những thông tin mà khách hàng cung cấp vì những thông tin trong quá khứkhông hoàn toàn tin cậy cho dự báo trong tương lai Giá trị của các báo cáo tàichính giúp đánh giá hợp lý các dự báo ngân quỹ và lợi nhuận của người vay.Một trong những phương pháp phân tích tài chình là xem xét từng khoản mụctrên báo cáo tài chính, hơn nữa ngân hàng có thể phân tích tài chính của kháchhàng thông qua các chỉ tiêu tài chính, vì dựa trên việc phân tích các chỉ tiêu tàichính ngân hàng có thể biết được:

 Doanh nghiệp có khả năng thanh toán các trái khoán khi đền hạnhay không

 Các khoản phải thu và hàng tồn kho của khách hàng có tính thanhkhoản cao hay không, có đủ đáp ứng yêu cầu của thị trường hay không

 Lợi nhuận của doanh nghiệp có thể đạt được bao nhiêu khi khôngđảm bảo thanh toán được các khoản chi phí cố định

 Nếu doanh nghiệp thua lỗ tài sản của doanh nghiệp có thể sụtgiảm bao nhiêu so với giá trị sổ sách

 Tình hình tài chính của công ty là vững vàng hay yếu kém

Thông thường có bốn chỉ tiêu thường được sử dụng trong phân tích tàichính bao gồm: nhóm chỉ tiêu thanh khoản, nhóm chỉ tiêu hoạt động, khả năngsinh lời, nhóm chỉ tiêu phản ánh cơ cấu vốn của doanh nghiệp Mỗi một chỉ tiêuphản ánh một khía cạnh tình hình tài chính doanh nghiệp, qua hệ thống các chỉtiêu đó tình hình tài chính doanh nghiệp được phản ánh một cách rõ nét

(3) Quyết định tín dụng: Đây là khâu cực kỳ quan trọng, nó sẽ quyết địnhhoặc từ chối cho khách hàng vay vốn Sau khi quá trình phân tích tín dụng kếtthúc bộ phận phân tích tín dụng chuyển tờ trình cho vay cùng biên bản thẩmđịnh, ngân hàng đứng trước quyết định có cho vay hay không Cơ sở để ra

Trang 18

quyết định tín dụng là dựa vào thông tin thu thập và xử lý từ hồ sơ tín dụngtrước chuyển sang, và những thông tin thu thập khách có liên quan Tùy thuộcvào quy mô vốn vay khách nhau mà quyền phán quyết tín dụng là khác nhau,thông thường quyền phán quyết được trao cho một hội đồng tín dụng hay một

cá nhân phụ trách Hội đồng tín dụng bao gồm những người có quyền hạn vàtrách nhiệm quan trọng trong ngân hàng, thường phán quyết những hồ sơ vayvốn có qui mô lớn, trong khi quyền phán quyết các hồ sơ vay có qui mô nhỏthường được trao cho cá nhân trụ trách Sau khi ra quyết định tín dụng, kết quả

có thể là chấp nhận hoặc từ chối cho vay

 Nếu chấp nhận cho vay thì ngân hàng tiến hàng kí kết hợp đồngtín dụng với khách hàng chính thức hình thành quan hệ tín dụng về mặt pháp lý

 Nếu từ chối cho vay thì phải có văn bản thông báo cho kháchhàng, và phải nêu rõ lý ro từ chối, đại diện cấp tín dụng phải ghi rõ ý kiến củamình lên giấy đề nghị cấp tín dụng của khách hàng

(4) Giải ngân: Giải ngân là khâu tiếp theo sau khi hợp đồng tín dụngđược ký kết, giải ngân là phát tiền vay cho khách trên trên cơ sở mức tín dụng

đã cam kết trong hợp đồng Khi thực hiện giải ngân, nhân viên ngân hàng cầnluôn chú ý tới nguyên tắc tiền chi ra phải có hàng hóa đối ứng đi vào và tiềnvay sử dụng hợp với mục đích vay trong hợp đồng, tùy vào hình thức và quy

mô của món vay mà ngân hàng áp dụng giải ngân theo hình thức

 Giải ngân một lần: Món vay thường được giải ngân một lần,phương thức này thương áp dụng cho những món vay nhỏ, thời hạn ngắn

 Giải ngân nhiều lần: Tiền vay theo hạn mức tín dụng được phátcho khách hàng làm nhiều lần, thường áp dụng cho những món vay lớn thời hạndài hoặc việc sử dụng vốn của khách hàng mang tính chất phức tạp, thông quagiải ngân mới có thể giám sát được việc thực hiện của khách hàng

(5) Giám sát tín dụng: Được thực hiện khi khách hàng bắt đầu giải ngân,nhằm đảm bảo cho khoản vay được khách hàng sử dụng đúng với mục đích như

Trang 19

trong hợp đồng tín dụng của khách hàng, đồng thời giúp ngân hàng kiểm soátrủi ro tín dụng, phát hiện và chấm dứt kịp thời những sai pham có thể ảnhhưởng đến khả năng thu hồi nợ sau này Ngân hàng có thể thực hiện nhiều cáchgiám sát khách hàng như:

 Giám sát trực tiếp: Tức ngân hàng trực tiếp tới địa điểm kinhdoanh của khách hàng thăm hoặc tới nơi cu ngụ của khách hàng đứng tên vayvốn để kiểm tra

 Giám sát gián tiếp: Ngân hàng có thể thực hiện theo dõi kháchhàng thông qua giám sát hoạt động tài khoản của khách hàng tại ngân hàng,phân tích các báo cáo tài chính của khách hàng theo định kì, giám sát kháchhàng thông qua việc trả lại của khách hàng, kiểm tra các hình thức đảm bảotiền vay, giám sát hoạt động thông qua mối quan hệ với khách hàng khác, thôngqua thông tin thu thập khác

(6) Thanh lý hợp đồng tín dụng: Đây là khâu kết thúc của qui trìnhtín dụng Khâu này bao gồm:

 Thu nợ cả gốc và lãi: Ngân hàng sẽ tiến hành thu nợ gốc và lãi của khách hàngtheo phương thức thu nợ gốc và lãi trong hợp đồng tín dụng Khi khách hàngthực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ với ngân hàng thì ngân hàng sẽ tiếnhành làm thủ tục hoàn trả lại tài sản đảm bảo tiền vay cho khách hàng Trongtrường hợp khách hàng không trả đủ nợ, ngân hàng tiến hành chuyển nợ quáhạn, còn trong trường hợp ngân hàng xét thấy vì lý do khách quan chính đángnào đó mà khách hàng không có khả năng trả nợ thì ngân hàng tiến hành giahạn nợ cho khách hàng

 Tái xét hợp đồng tín dụng: Là việc đánh giá phân loại lại khách hàng dựa trênkết quả của việc giám sát Việc tái xét khách hàng thường nhằm vào mục tiêuphát hiện, ngăn ngừa những rủi ro liên quan đến việc khách hàng suy yếu trongnăng lực trả nợ

Trang 20

 Xử lý nợ có vấn đề và thanh lý hợp đồng tín dụng: Những khoản nợ quá hạnngân hàng sẽ tiến hành đánh giá khả năng và mức độ thu hồi, tùy vào từngtrường hợp cụ thể ngân hàng có những cách xử lý khác nhau Những khoản nợquá hạn sau khi được xử lý sẽ được thanh lý để chấm dứt sự tồn tại của hợpđồng.

Trên đây là quy trình cho vay đối với doanh nghiệp, như chúng ta đã biếtcho vay là một trong hoạt động tín dụng quan trọng trong ngân hàng NHTM rấtquan tâm tới hình thức cho vay vì đây không phải chỉ là hình thức kinh doanhchủ yếu đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp mà giúp doanh nghiệp có thể bùđắp những khoản chi phí vốn huy động, mà còn thể hiện rõ nhất chức năng củamột định chế tài chính phân biệt với các tổ chức phi ngân hàng khác

1.3 Chất lượng cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại

1.3.1 Khái niệm về chất lượng cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại

Như chúng ta đã biết ngân hàng là tổ chức tài chính kinh doanh tronglĩnh vực tiền tệ, ngân hàng cũng như các doanh nghiệp khác trong nền kinh tếđều kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận, tuy nhiên trong lĩnh vực ngân hàng người

ta còn xem xét tới mục tiêu an toàn Vì vậy để tạo ra khả năng sinh lời cao, cácNHTM cũng như các doanh nghiệp phải không ngừng cải thiện, nâng cao chấtlượng sản phẩm của mình Trong ngân hàng sản phẩm mà họ cung cấp là cácloại hình dịch vụ như dịch vụ tín dụng, huy động tiền gửi, dịch vụ bảo hiểm,dịch vụ đại lý Tuy nhiên dịch vụ tín dụng vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất khoảng70% - 80% tổng lợi nhuận của ngân hàng, trong dịch vụ tín dụng ngân hàng chovay doanh nghiệp là một trong những hoạt động đem lại nhiều lợi nhuận chongân hàng, vì vậy yêu cầu nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp là đòi hỏitất yếu của quá trình phát triển, chất lượng cho vay doanh nghiệp không còn là

sự lựa chọn nữa mà là yếu tố quyết định sự sống còn của ngân hàng Đồngnghĩa với việc nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp là sự thỏa mãn ngày

Trang 21

càng gia tăng của khách hàng, khi đó tạo điều kiện cho ngân hàng nâng cao vịthế của mình trong hệ thống NHTM.

Chất lượng cho vay doanh nghiệp là một khái niệm khó có thể đạt được,

nó là tổng hợp của nhiều yếu tố cấu thành nên Nhưng trước tiên để hiểu thếnào là chất lượng cho vay doanh nghiệp thì trước hết chúng ta phải hiểu rõ thếnào là chất lượng Hiện nay quan niệm thế nào là một sản phẩm có chất lượng,cũng như một khoản cho vay có chất lượng có nhiều ý kiến khác nhau, tùy vàogóc độ của người quan sát mà đưa ra ý kiến khác nhau Cũng giống như khi bàn

về thế nào là một chiếc đồng hồ có chất lượng: Có người cho rằng miễm nóchính xác là đủ, nhưng có người cho rằng phải hiện đại nữa mới là chất lượng,người khác thì nói rằng nó phải thật bền, chịu va chạm, chịu nước, người lạithích đồng hồ sang trọng, đắt tiền… Nhìn chung ở các giác độ khác nhau người

ta có quan niệm khác nhau về chất lượng Cũng như chiếc đồng hồ đó, tronglĩnh vực ngân hàng, dịch vụ cho vay được coi là có chất lượng tốt nếu:

 Trên giác độ ngân hàng

Chất lượng khoản vay đáp ứng được yêu cầu của khách hàng đề ra, đemlại lợi nhuận cao, an toàn cho ngân hàng Khi cho vay điều mà ngân hàng quantâm tới là nó phải đảm bảo an toàn, khách hàng vay vốn sử dụng đúng mục đíchnhư trong hợp đồng tín dụng, hoàn trả đủ gốc và lãi đúng thời hạn, đem lại lợinhuận cho ngân hàng với chi phí nghiệp vụ thấp Và chất lượng được so sánhvới đối thủ cạnh tranh đi kèm với chi phí và giá cả

 Trên giác độ của khách hàng

Dịch vụ cho vay của ngân hàng đó là tốt nếu nó đảm bảo được vốn choquá trình sản xuất kinh doanh của mình, thủ tục đơn giản gọn nhẹ tiết kiệm thờigian và tiền bạc, lãi suất và thời hạn hợp lý, có kỳ hạn thu nợ hợp lý

Như vậy có thể đưa ra một số khái niệm về chất lượng như sau:

(1) Theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5814 – 1994 phù hợp với ISO/DIS

8402 quan niệm: “Chất lượng là tập hợp những đặc tính của một thực thể tạo

Trang 22

cho thực thể đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra và nhu cầu tiềm ẩn”.

(2) “Chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu” Philip Crosby.

(3) “Chất lượng là sự phù hợp của sản phẩm với yêu cầu của người tiêu dùng” European Organization for Quality Control

Xét trên phương diện trên ta thấy chất lượng được đo bằng sự thỏa mãnnhu cầu, nếu một sản phẩm nào đó không đáp ứng được nhu cầu, không đượcthị trường chất nhận thì bị coi là chất lượng kém Tuy nhiên nhu cầu luôn luônbiến động theo thời gian, nên chất lượng cũng luôn biến động theo thời gian,không gian, điều kiện sử dụng, chất lượng phải gắn với người tiêu dùng Trongnền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp sản xuất hoặc mua lại sản phẩm để bán

ra thị trường cho người tiêu dùng, chính vì vậy cần thiết phải nhìn nhận chấtlượng sản phẩm dưới quan điểm của người tiêu dùng, phải nắm bắt đầy đủ quanniệm của người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm Vì vậy dưới giác độ củangười tiêu dùng, chất lượng sản phẩm được xem xét dưới khía cạnh sau:

Chất lượng sản phẩm được thể hiện cùng chi phí, người tiêu dùng không chấp nhận mua một sản phẩm với bất kì giá nào.

Chất lượng sản phẩm tập hợp các tiêu chí các đặc trưng thể hiện tính năng kỹ thuật hay tính hữu ích của nó.

Chất lượng sản phẩm phải được gắn với điều kiện tiêu dùng cụ thể của nhu cầu, của thị trường về các mặt kinh tế, kỹ thuật, xã hội, phong tục tập quán.

Dựa trên những khía cạnh trên có thể hiểu chất lượng sản phẩm như sau:

“chất lượng sản phẩm là tập hợp những chỉ tiêu những đặc trưng của sản phẩm thể hiện mức thỏa mãn những nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng nhất định”.

Trên giác độ nhân viên tín dụng của ngân hàng có thể định nghĩa chất

lượng cho vay doanh nghiệp như sau: “chất lượng cho vay doanh nghiệp là tập

hợp các chỉ tiêu phản ánh sự thỏa mãn nhu cầu của doanh nghiệp khi sử dụng

Trang 23

dịch vụ của ngân hàng phù hợp với quy chế tín dụng và đảm bảo thu hồi đủ gốc

và lãi vay theo thời gian quy định”

Như vậy có thể nói chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa là một kháiniệm cụ thể, vừa trừu tượng và là một chỉ tiêu tổng hợp giúp cho ngân hàng làm

cơ sở để cải thiện hoạt động của mình Trong quá trình hoạt động để nâng caonăng lực cạnh tranh thì các NHTM phải luôn luôn bán sát nhu cầu của kháchhàng, tìm hiểu đánh giá ý kiến của khách hàng về dịch vụ mà mình cung cấp,đồng thời tìm hiểu những mặt tồn tại, cũng như những nguyên nhân của nhữngkhoản cho vay có chất lượng xấu để từ đó đưa ra biện pháp khắc phục kịp thời

Hiện nay để đánh giá tốt chất lượng tín dụng nói chung, hay chất lượngcho vay doanh nghiệp nói riêng thì các ngân hàng thường dùng các chỉ tiêu cảđịnh tính, định lượng để đánh giá chất lượng tín dụng của các khoản vay vốn.Hiện nay các ngân hàng thương mại thường dùng các chỉ tiêu sau để đánh giáchất lượng cho vay doanh nghiệp của ngân hàng

1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại

* Mức độ hài lòng của khách hàng

Chỉ tiêu này phản ánh mức độ thỏa mãn của khách hàng khi sử dụng dịch

vụ do ngân hàng cung cấp, cụ thể đây là dịch vụ cho vay Chỉ tiêu này phản ánhthông qua phong cách phục vụ khách hàng của ngân hàng, cách tiếp đón kháchhàng, quy trình tiến hành thẩm định khoản vay vốn của ngân hàng có nhanhchóng hay không, các điều kiện vay vốn ngân hàng đưa ra có khắt khe không,

có quyết định giải ngân đúng theo hợp đồng vay vốn của khách hàng haykhông Khách hàng có sử dụng thêm dịch vụ khác của ngân hàng hay không,sau khi hoàn tất khoản vay khách hàng có tiếp tục quan hệ với ngân hàng haykhông Tất cả điều này tạo lên sự tín nhiệm của khách hàng với ngân hàng, thểhiện mức độ hài lòng của mình về ngân hàng

Trang 24

* Chỉ tiêu doanh số cho vay doanh nghiệp

Doanh số cho vay doanh nghiệp là chỉ tiêu phản ánh số tiền ngân hàng

đã giải ngân cho doanh nghiệp trong một thời kì nhất định Mức tăng trưởngdoanh số cho vay doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định là một chỉ tiêu tốt

để đánh giá chất lượng cho vay Doanh số cho vay doanh nghiệp phản ánh quy

mô cho vay doanh nghiệp của ngân hàng đang được mở rộng hay thu hẹp trongmột thời kỳ nhất định Tùy vào chủ trương của NHTM, chính sách khuyếnkhích phát triển của nhà nước đối với các doanh nghiệp, cũng như giới hạn chovay của ngân hàng nhà nước (NHNN) mà các NHTM có thể tiến hành cho vayvới các mức khác nhau theo quy định, điều này ảnh hưởng lớn tới doanh số chovay doanh nghiệp của NHTM Để biết được mức giới hạn an toàn cho khoảncho vay doanh nghiệp của NHTM, thì phải dựa vào nhiều tiêu chí khác để đánhgiá chỉ tiêu này bao nhiêu là tốt như quy trình thẩm định tín dụng của ngânhàng, quy mô vốn của ngân hàng… Nhưng thông thường trong NHTM hoạtđộng cho vay là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận, nên các ngân hàng thườngmong muốn doanh số này càng cao càng tốt

Doanh số cho vay tăng hay giảm dựa vào nhiều yếu tố một trong các yếu

tố đó là:

 Số lượng doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn tại ngân hàng, nếu trong kì nhiềudoanh nghiệp có nhu cầu vay vốn tại ngân hàng và thỏa mãn các điều kiện củangân hàng thì sẽ được ngân hàng giải ngân cho vay

 Quy mô vốn tự có của ngân hàng: Theo quy định của NHNN tổng dư nợ chovay với một doanh nghiệp đối với ngân hàng không được vượt quá 15% vốn tự

có, vì vậy để doanh số cho vay tăng thì quy mô vốn của ngân hàng phải đủ lớn

 Ngoài ra còn phụ thuộc nhiều vào quy định của NHNN trong từng thời kì khácnhau, như trước tình hình hiện nay lạm phát đang leo thang cao NHNN có quy

Trang 25

định yêu cầu các NHTM phải giảm lượng vốn giải ngân cho nền kinh tế Điềunày ảnh hưởng không nhỏ tới doanh số cho vay của các NHTM.

Như vậy doanh số cho vay phụ thuộc vào nhiều yếu tố, để doanh số cho vaydoanh nghiệp thực sự phản ánh chất lượng cho vay doanh nghiệp đòi hỏi cầnphải xem xét tới các yếu tố tác động trên Tuy nhiên doanh số cho vay tăngđồng thời lợi nhuận thu được từ hoạt động cho vay doanh nghiệp tăng và tỷ lệ

nợ xấu cho vay doanh nghiệp giảm phản ánh chất lượng cho vay doanh nghiệptốt, doanh số cho vay doanh nghiệp giảm kéo theo lợi nhuận thu từ cho vaydoanh nghiệp giảm phản ánh chất lượng cho vay doanh nghiệp xấu

* Chỉ tiêu tổng dư nợ cho vay doanh nghiệp

Đây là chỉ tiêu phản ánh tổng số tiền mà doanh nghiệp hiện còn nợ ngânhàng trong một thời điểm xác định Đây là chỉ tiêu tốt nhất phản ánh quy môcho vay doanh nghiệp của ngân hàng, chỉ tiêu này tăng trưởng hàng năm là mộtdấu hiệu đáng mừng cho ngân hàng, vì quy mô, thị phần cho vay doanh nghiệpcủa ngân hàng đã được mở rộng Tuy nhiên nếu chỉ tiêu tổng dư nợ cho vaydoanh nghiệp cao, chưa hẳn phản ánh hiệu quả hoạt động cho vay doanh nghiệpcao vì khi đó có thể phản ánh tốc độ tăng trưởng nóng của hoạt động tín dụng,đôi khi vượt quá khả năng về vốn của ngân hàng và khả năng kiểm soát rủi rotín dụng của mình Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay doanh nghiệp cao có thể

là do ngân hàng cho vay với lãi suất thấp so với lãi suất trên thị trường, hi sinh

tỷ suất lợi nhuận để đạt dư nợ cho vay cao Đây là dấu hiệu không tốt cho ngânhàng, tiềm ẩn rủi ro tín dụng cho ngân hàng, ngân hàng cần tuân thủ giới hạncho vay để đảm bảo an toàn tín dụng, đồng thời thường tính chỉ tiêu dư nợ chovay trên tổng nguồn vốn huy động được để đánh giá chính xác chỉ tiêu này:

Hệ số sử dụng vốn vay =

Tổng dư nợ cho vay DN

x 100%

Tổng nguồn vốn huyđộng

Trang 26

Chỉ tiêu này phản ánh việc sử dụng vốn của ngân hàng, nếu chỉ tiêu nàycàng gần tới 1 thì phản ánh ngân hàng cho vay không phù hợp với nguồn, cóthể mất khả năng kiểm soát rủi ro, gây mất khả năng thanh tóan cho ngân hàng.

* Chỉ tiêu về nợ xấu cho vay doanh nghiệp

Ngân hàng là một trong những lĩnh vực nhạy cảm có tác động lớn tới nềnkinh tế, do vậy để hạn chế rủi ro ngân hàng nhà nước đã có quy định chung vềquy trình cho vay của các ngân hàng, các ngân hàng theo quy trình đó mà tiếnhành cho vay vốn với khách hàng Tuy nhiên khi một ngân hàng đã tuân thủ tốtquy trình đó không có nghĩa là rủi ro không xảy ra, mà chỉ nhằm mục đích hạnchế rủi ro Vì rủi ro do cả yếu tố khách quan và chủ quan gây nên, khi nền kinh

tế vĩ mô biến động là điều mà ít ai dự đoán trước được do vậy nó ảnh hưởng tấtyếu tới khách hàng vay vốn, và ngân hàng Do vậy khách hàng mất khả năngthanh toán, ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng dẫn tới khoản nợ xấu (hay nợquá hạn) trong ngân hàng Bất kỳ một ngân hàng nào có tỷ lệ nợ xấu cao đềukhông tốt, vì khi đó có quá nhiều khoản nợ không thu hồi được ngân hàng gặpkhó khăn trong kinh doanh, có nhiều trường hợp dẫn tới mất khả năng thanhtoán giảm lợi nhuận của ngân hàng Như vậy tỷ lệ nợ xấu cao phản ánh chấtlượng cho vay doanh nghiệp của ngân hàng đó thấp, khi đó ngân hàng phải tiếnhành trích lập dự phòng, phân loại nợ, tiến hành xử lý nợ để giảm thiểu rủi rocho ngân hàng Tỷ lệ nợ xấu được tính như sau:

Tỷ lệ nợ xấu cho vay

Tổng dư nợ xấu cho vay DN

x 100% Tổng dư nợ tín dụng

Theo quy định của NHNN về tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ này  7% thì ngân hàng đó làngân hàng yếu kém, còn nếu tỷ lệ này ≤ 5% thì ngân hàng đó được coi là ngânhàng hoạt động có hiệu quả Tuy nhiên tỷ lệ nợ xấu sẽ không phản ánh đúng vềtình trạng nợ xấu của ngân hàng, nếu ngân hàng tiến hành xử lý nợ xấu không

Trang 27

đúng theo quy định của NHNN, có nhiều ngân hàng vì chạy theo thành tích nêntiến hành giãn nợ, đảo nợ, không chuyển nợ quá hạn đúng theo quy định…thìlúc này chỉ tiêu này phản ánh không đúng về chất lượng cho vay doanh nghiệpcủa ngân hàng Tuy nhiên để chỉ tiêu nợ quá hạn phản ánh chính xác chất lượngcho vay doanh nghiệp của ngân hàng thì cần xem xét tới những điều kiệnchuyển khoản nợ trong hạn thành khoản nợ quá hạn.

Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ra ngày 25/4/2007 về việc bổ sung vàsửa đổi một số điều của quy định về phân loại nợ, trích lập, sử dụng dự phòng

để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng banhành theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của thống đốcngân hàng nhà nước quy định rõ việc phân loại nợ theo thời gian quá hạn vàthời hạn nợ đã được điều chỉnh

Việc phân loại nợ giúp cho ngân hàng nhìn nhận đánh giá được tốt hơntình trạng của các khoản tín dụng Nếu trong cùng một ngân hàng có kháchhàng có lớn hơn hai khoản tín dụng mà có bất kỳ khoản tín dụng nào được phânloại vào khoản nợ có rủi ro cao hơn, thì ngân hàng phải tiến hành xem xét đánhgiá lại khoản nợ thứ hai đưa nó vào khoản tín dụng có rủi ro cao Có trường hợpkhách hàng vay vốn đề nghị trả làm nhiều lần trong kỳ hạn vay vốn, nếu ngaysau kỳ hạn đầu tiên mà khách hàng không trả được nợ của kỳ hạn thứ hai, thìkhông chỉ có kỳ hạn thứ hai được xếp vào khoản nợ xấu, mà toàn bộ các kỳ trả

nợ sau đó đều được xếp loại vào khoản nợ xấu

Để đánh giá tốt chất lượng cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thì cần xem xét tới chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn có khả năng thu hồi và tỷ lệ nợ quá hạn có khả năng mất vốn:

Tỷ lệ nợ quá hạn

có khả năng thu hồi =

Nợ quá hạn có khả năng thu

Tổng nợ quá hạn

Tỷ lệ nợ quá hạn = Nợ quá hạn khó đòi x 100%

Trang 28

* Mức độ đa dạng các lĩnh vực trong cho vay doanh nghiệp

Mức độ đa dạng các lĩnh vực trong cho vay doanh nghiệp có thể hiểu làcác khoản cho vay doanh nghiệp được ngân hàng phân bổ cho những loại hìnhdoanh nghiệp thuộc lĩnh vực nào, quy mô doanh nghiệp lớn hay nhỏ Nếu ngânhàng tiến hành giải ngân khoản cho vay với một số doanh nghiệp thuộc mộtlĩnh vực trong nền kinh tế thì rất dễ gây tổn thất cho ngân hàng Vì khi nền kinh

tế biến động ảnh hưởng mạnh mẽ tới lĩnh vực mà doanh nghiệp đó hoạt động,hàng loạt các doanh nghiệp mà ngân hàng cho vay đều gặp khó khăn trong quátrình thanh toán tiền cho ngân hàng, khi đó tỷ lệ nợ xấu với ngân hàng tăng cao.Còn khi ngân hàng giải ngân đều cho các doanh nghiệp thuộc các ngành lĩnhvực khác nhau trong nền kinh tế, giảm thiểu được rủi ro do một lĩnh vực nào đóbiến động

* Chỉ tiêu về khả năng sinh lãi từ hoạt động cho vay doanh nghiệp

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn ngân hàng cho doanh nghiệp vay thuđược bao nhiêu đồng lợi nhuận sau khi đã trừ đi các khoản chi phí như: chi phíhuy động vốn, chi phí dịch vụ, chi phí quản lý…Thông thường để đánh giá tầm

Trang 29

quan trọng của hoạt động cho vay doanh nghiệp, các ngân hàng thường xem xétcác chỉ tiêu sau:

(1) Tỷ lệ thu lãi từ cho vay doanh nghiệp

Dư nợ cho vay doanh nghiệpChỉ tiêu này phản ánh một đồng dư nợ trong hoạt động cho vay doanhnghiệp tạo ra được bao nhiêu đồng thu lãi từ hoạt động cho vay doanh nghiệp.Chỉ tiêu này càng cao càng phản ánh các khoản cho vay doanh nghiệp có chấtlượng tốt, với dư nợ cho vay tăng hàng năm, cùng với nó là thu lãi từ cho vaydoanh nghiệp tăng điều này phản ánh chất lượng hoạt động cho vay doanhnghiệp là tốt

Thu lãi từ cho vay

Chỉ tiêu này càng cao càng chứng tỏ hoạt động cho vay doanh nghiệp ngàycàng chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động tín dụng của ngân hàng nói chung,hoạt động cho vay nói riêng, Thu lãi từ hoạt động cho vay doanh nghiệp tỷ lệthuận với tỷ lệ này, mà thu lãi từ hoạt động cho vay doanh nghiệp ngày càngcao, phản ánh các khoản cho vay có chất lượng tốt Từ đó tỷ lệ này càng caophản ánh chấ lượng cho vay doanh nghiệp ngày càng được cải thiện, vì vậy đây

là chỉ tiêu tốt để đánh giá tình hình cho vay của ngân hàng

Trên đây là khái quát các chỉ tiêu để đánh giá chất lượng cho vay doanhnghiệp của ngân hàng, tuy nhiên để biết được các chỉ tiêu trên ảnh hưởng nhưthế nào tới chất lượng cho vay doanh nghiệp thì chúng ta phải tìm hiểu các nhân

tố ảnh hưởng tới chất lượng cho vay doanh nghiệp thông qua việc làm tăng,giảm các chỉ tiêu định tính và định lượng trên

Trang 30

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại

1.4.1 Nhân tố thuộc về ngân hàng

* Chính sách tín dụng

Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản của ngân hàng, với tầm quantrọng và quy mô của chúng, vì vậy hoạt động này được thực hiện theo chínhsách tín dụng riêng Chính sách tín dụng là tập hợp các chủ trương, chính sách,định hướng, quy định được phản ánh trong cương lĩnh tài trợ của ngân hàng, nóbao gồm toàn bộ các vấn đề liên quan tới chính sách tín dụng như: Qui mô, lãisuất, kì hạn, đảm bảo, phạm vi, các khoản tín dụng có vấn đề và nội dung khác.Theo đó các nhân viên tín dụng và nhân viên của ngân hàng tăng cường chuyênmôn hóa trong hoạt động tín dụng, tạo sự thống nhất trong hoạt động tín dụngnhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời cho ngân hàng Chính sáchtín dụng bao gồm: Chính sách khách hàng, chính sách qui mô và giới hạn tíndụng, lãi suất và phí suất tín dụng, thời hạn tín dụng và kì hạn nợ, các khoảnđảm bảo, chính sách đối với các tài sản có vấn đề Chính sách tín dụng có tácđộng rất lớn tới chất lượng tín dụng thông qua các chỉ tiêu trên Chính sách tíndụng bao gồm chính sách khách hàng, khách hàng của ngân hàng rất đa dạng,nên trong chính sách khách hàng ngân hàng phải tiến hành phân loại kháchhàng để từ đó xây dựng cho mình một chính sách ưu đãi phù hợp với từng loạikhách hàng, có chính sách marketing hợp lý để thu hút, mở rộng khách hàng

Do vậy, có ảnh hưởng trực tiếp tới chỉ tiêu doanh số cho vay của ngân hàng,mức độ hài lòng của khách hàng

Trang 31

Các chính sách qui mô và giới hạn tín dụng, các khoản đảm bảo của ngânhàng phải đảm bảo được tính sinh lời và mức rủi ro có thể chấp nhận được củamỗi khoản vay Do vậy giảm thiểu chỉ tiêu nợ xấu trong ngân hàng, nâng caochỉ tiêu khả năng sinh lời trên đồng vốn bỏ ra Do vậy có thể nói chính sách tíndụng càng quy định rõ, chi tiết, dễ hiểu, thì các cán bộ tín dụng ngân hàng càng

dễ áp dụng và đem lại hiệu quả cao cho hoạt động của ngân hàng

* Quy trình cho vay doanh nghiệp

Các ngân hàng thường xây dựng cho mình một quy trình cho vay doanhnghiệp riêng tuy nhiên nó phải dựa vào quy trình tín dụng cơ bản nhằm mụcđích hạn chế rủi ro cho ngân hàng Quy trình cho vay là bảng tổng hợp mô tảcác bước đi cụ thể từ khi tiếp nhận nhu cầu vay vốn của khách hàng cho đến khingân hàng ra quyết định cho vay, giải ngân và thanh lý hợp đồng cho vay Quytrình cho vay làm cơ sở cho việc phân định trách nhiệm và quyền hạn của từng

bộ phận liên quan trong hoạt động cho vay, đồng thời làm cơ sở cho việc thiếtlập các hồ sơ và thủ tục vay vốn về mặt hành chính, chỉ rõ mối quan hệ giữa các

bộ phận liên quan trong hoạt động cho vay Việc tuân thủ quy trình cho vay củacác cán bộ tín dụng có ý nghĩa rất lớn đối với ngân hàng, nó là cơ sở giúp ngânhàng giảm thiểu được tỷ lệ nợ xấu, đối với khách hàng cũng vậy cần thực hiệnđúng và đầy đủ các yêu cầu của cán bộ tín dụng khi tới vay vốn tại ngân hàng,

để đảm bảo cho ngân hàng có những quyết định đứng đắn

Trong cho vay doanh nghiệp được chia ra làm hai: Cho vay ngắn hạn vàcho vay dài hạn Với mỗi hình thức cho vay thì ngân hàng cần có các quy trìnhriêng Đối với khoản vay ngắn hạn trong quy trình cho vay cán bộ tín dụng cầnchú ý đánh giá chính xác khả năng tài chính của khách hàng, mục đích sử dụngvốn, và các tài sản đảm bảo Còn với khoản vay dài hạn, cán bộ tín dụng cầnđánh giá chính xác phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì đó lànguồn để doanh nghiệp trả nợ cho ngân hàng, các tài sản đảm bảo cho khoản

Trang 32

vay, tình hình tài chính của doanh nghiệp Như vậy với mỗi loại hình cho vaydoanh nghiệp thì đòi hỏi quy trình cho vay nên chú trọng tới vấn đề nào, quytrình như thế nào cho hợp lý Thực hiện tốt được điều này là cơ sở để nâng caochất lượng cho vay doanh nghiệp.

Vì vậy yêu cầu thực hiện đúng và đủ các bước trong quy trình cho vaytrên là một yêu cầu tất yếu đối với các nhân viên tín dụng, nếu nhân viên tíndụng không chấp hành đúng quy trình cho vay trên rất dễ gây ra tổn thất cho

ngân hàng Khi đó ảnh hưởng tới lợi nhuận, gây ra nợ xấu cho ngân hàng

* Cơ sở vật chất, trang thiết bị của ngân hàng

Cơ sở vật chất trang thiết bị của ngân hàng có thể hiểu là những điều kiện

để giúp cho nhân viên trong ngân hàng hoạt động được tốt hơn, phục vụ kháchhàng được tốt hơn như: hệ thống máy tính, cơ sở hạ tầng, hệ thống máy ATM,các chi nhánh ngân hàng… Một ngân hàng có cơ sở vật chất tốt, trang thiết bịhiện đại, có trụ sở ở nhiều nơi sẽ gây được niềm tin cho khách hàng và ngàycàng mở rộng thị phần, quy mô của mình, chiếm lĩnh được nhiều khách hàng

Từ đó nâng cao doanh thu của mình

* Thông tin cho vay

Đây là những thông tin cần thiết phục vụ cho việc ra quyết định của ngânhàng, thông tin tín dụng có thể giúp cho ngân hàng hiểu được rõ hơn về môitrường kinh doanh mà khách hàng đang hoạt động, hiểu được khả năng thanhtoán của khách hàng, tình hình tài chính của khách hàng, từ đó có thể trợ giúpkhách hàng khi họ gặp khó khăn, giảm thiểu rủi ro tín dụng cho hoạt động củangân hàng Thông tin tín dụng được thu thập thông qua hệ thống liên ngânhàng, do khách hàng tự cung cấp, do nhân viên tín dụng thu thập được, từ bạnhàng của khách hàng Từ những luồng thông tin đó, ngân hàng tiến hành sànglọc, loại bỏ những thông tin thiếu trung thực, để từ đó có cái nhìn chính xác vềkhách hàng, đánh giá đúng năng lực thực sự của họ Giúp giảm thiểu tỷ lệ nợ

Trang 33

xấu trong ngân hàng, tăng lợi nhuận cho ngân hàng Như vậy có thể nói thôngtin tín dụng là yếu tố quan trọng trong việc giúp ngân hàng ra quyết định, cũngnhư kiểm soát khách hàng của mình, nhằm tăng doanh thu, giảm thiểu rủi rocho ngân hàng.

* Bộ phận kiểm tra, kiểm soát nội bộ

Đây là công tác hết sức quan trọng, cần được quan tâm thực hiện nghiêmngặt Bộ phận này có nhiệm vụ tiến hành thực hiện kiểm tra xem việc thực hiệnnghiệp vụ cho vay có tuân thủ đúng quy trình hay không, đồng thời kiểm tragiám sát các phòng ban khác trong ngân hàng xem họ có thực hiện đúng nhiệm

vụ của mình hay không Đặc biệt là kiểm tra bộ phận kế toán xem họ có tuânthủ các quy tắc chuẩn mực kế toán hay không Bộ phận này độc lập với cácphòng ban khác, họ có trách nhiệm báo cáo lại việc làm của mình cho ban giámđốc được biết để từ đó có biện pháp khắc phục, giảm thiểu rủi ro trong hoạtđộng Đồng thời họ phải có trách nhiệm phát hiện, ngăn chặn rủi ro đạo đức củacán bộ tín dụng đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng được an toàn, thôngsuốt, đảm bảo lợi ích chung của ngân hàng, từ đó nâng cao chất lượng tín dụngnói chung hay chất lượng cho vay nói riêng

* Trình độ đội ngũ nhân viên trong ngân hàng

Đây là yếu tố thuộc về con người nó vô cùng quan trọng, mang tính cấpthiết với các ngân hàng hiện nay Để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngânhàng mình, gia tăng thu nhập cho ngân hàng thì điều cấp thiết là phải xây dựngđược đội ngũ nhân viên có năng lực chuyên môn giỏi, am hiểu kiến thức xã hội

và có hiểu biết về các lĩnh vực Nhân viên có năng lực chuyên môn giỏi thì mới

có khả năng phân tích tốt khách hàng, đánh giá đúng năng lực của khách hàng,tiềm năng tài chính của họ mới giúp cho ngân hàng tránh những rủi ro khôngđáng có trong quá trình hoạt động của ngân hàng, khi đó giúp ngân hàng giảmthiểu tỷ lệ nợ xấu, gia tăng thu nhập

* Chính sách quản trị nhân lực

Trang 34

Nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng trong mọi loại hình tổ chức, đốivới ngân hàng cũng vậy Vì vậy ngân hàng phải có chính sách quản trị nguồnnhân lực tốt Chính sách tuyển dụng, sử dụng, đào tạo nhân lực, chính sách đãingộ nhân lực không tốt thì có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của ngân hàng.

Vì vậy để nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp thì một trong các yếu tố

mà các ngân hàng phải thực hiện đó là nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhânlực, khi đó đáp ứng được kịp thời và đầy đủ mọi yêu cầu của cán bộ nhân viêngiúp họ chuyên tâm công việc, nâng cao hiệu quả hoạt động

* Công tác tổ chức hoạt động trong ngân hàng

Đòi hỏi ngân hàng phải biết phối hợp nhịp nhàng giữa các phòng ban, giữacác nhân viên trong ngân hàng, và giữa lãnh đạo với nhân viên để đảm bảophục vụ khách hàng được tốt, đáp ứng yêu cầu của khách hàng, giúp ngân hàngquản lý sát sao các khoản vay của khách hàng, đồng thời giúp giảm thiểu rủi rotrong hoạt động của ngân hàng Thông qua đó các nhân viên trong ngân hàng cóthể hiểu rõ nhau hơn, phối hợp giúp đỡ nhau tốt hơn cùng hoàn thành tốt côngviệc của mình, đồng thời ban lãnh đạo thông qua đó có thể nắm bắt được yêucầu của nhân viên, hỗ trợ nhân viên hoàn thành kế hoạch Giúp giảm thiểu tỷ lệ

nợ xấu, gia tăng doanh số cho vay của ngân hàng, và gia tăng lợi nhuận chongân hàng

Trên đây là những nhân tố thuộc về ngân hàng mà có ảnh hưởng tới chấtlượng cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng, ngoài những nhân tố thuộc về ngânhàng trên còn có những nhân tố thuộc về bản thân khách hàng, sau đây chúng ta

sẽ làm rõ sự tác động của nhóm nhân tố này

1.4.2 Nhân tố thuộc về khách hàng

* yếu tố tài chính của doanh nghiệp

Ngân hàng chỉ tiến hành cho vay nếu sau khi thẩm định hồ sơ vay vốn củadoanh nghiệp, doanh nghiệp chứng minh được khả năng tài chính của mình làtốt, lành mạnh Nhưng trong quá trình hoạt động của mình không ai có thể chắc

Trang 35

chắn được yếu tố rủi ro không xẩy ra, khi rủi ro xẩy ra làm doanh nghiệp mấtkhả năng thanh toán, tình hình tài chính trở lên xấu đi, khi đó doanh nghiệpkhông có khả năng thanh toán khoản tín dụng đã vay của ngân hàng Kéo theo

là ngân hàng cũng gặp rủi ro đối với khoản cho vay doanh nghiệp này, tỷ lệ nợxấu của ngân hàng gia tăng, lợi nhuận của ngân hàng giảm Vì vậy khi giảingân vốn vay cho doanh nghiệp, ngân hàng phải tiến hành kiểm tra giám sátdoanh nghiệp thường xuyên để kịp thời phát hiện khả năng suy yếu tài chínhcủa doanh nghiệp để có biện pháp ứng phó kịp thời có thể tiến hành giải ngântiếp trợ giúp doanh nghiệp, hoặc tiến hành thu hồi khoản cho vay doanh nghiệp

để đảm bảo an toàn tín dụng cho ngân hàng

* Yếu tố phi tài chính

 Phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: Đây là yếu tố

vô cùng quan trọng trong việc quyết định ngân hàng có tiến hành giải ngân vốnvay cho doanh nghiệp hay không, doanh nghiệp có phương án sản xuất kinhdoanh tốt, phù hợp với đòi hỏi của thực tế, mang tính khả thi, dễ thực hiện, đemlại hiệu quả kinh tế cao Khi đó sẽ giúp cho doanh nghiệp đảm bảo thanh toán

đủ gốc và lãi vay cho ngân hàng đúng kì hạn, giúp tăng lợi nhuận cho ngânhàng

 Đạo đức, uy tín của doanh nghiệp: Đây là nhân tố quan trọngquyết định tới ý muốn trả nợ đúng kì hạn của doanh nghiệp Thông qua bạnhàng của doanh nghiệp, hay thông qua thị trường liên ngân hàng mà ngân hàngxem xét đánh giá uy tín của doanh nghiệp Việc đánh giá đúng uy tín của doanhnghiệp sẽ giúp cho ngân hàng giảm thiểu tỷ lệ nợ xấu của doanh nghiệp, giatăng lợi nhuận cho ngân hàng

 Lĩnh vực mà doanh nghiệp đang hoạt động: Điều này có tác độngtới khả năng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai, cũng như khả năngtạo ra doanh thu cao cho doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp hoạt động trong lĩnhvực có tiềm năng phát triển cao, họ cần nhiều vốn để mở rộng sản xuất kinh

Trang 36

doanh, lúc này ngân hàng sẽ cân nhắc tới doanh nghiệp này, và đánh giá khảnăng trả nợ của họ là cao, an toàn cho ngân hàng, khi đó chất lượng cho vaydoanh nghiệp này là cao.

 Năng lực quản trị và khả năng kinh doanh của bộ máy lãnh đạotrong doanh nghiệp: Bộ máy lãnh đạo trong doanh nghiệp là người trực tiếpquyết định phương hướng hoạt động cho doanh nghiệp của mình, nếu trình độnăng lực của bộ máy lãnh đạo không cao thì khả năng doanh nghiệp đó làm ănthua lỗ là rất dễ xảy ra, khi đó ảnh hưởng tới sự sống còn của doanh nghiệp Dovậy trong một doanh nghiệp hay trong bất kì một loại hình tổ chức nào khác,vấn đề có một bộ máy lãnh đạo giỏi là điều tối quan trọng Giúp doanh nghiệp

đi đúng hướng phát triển của mình, sử dụng các nguồn lực sẵn có một cách hợp

lý, tạo khả năng thanh toán các khoản nợ vay

 Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp: Sản phẩm có chất lượngcao, giá thành, chi phí thấp, mẫu mã sản phẩm đẹp…Sẽ là yếu tố giúp doanhnghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh của mình Từ đó gia tăng doanh thu chodoanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh,ngân hàng cho vay doanh nghiệp này có khả năng thu hồi gốc và lãi cho ngânhàng

1.4.3 Yếu tố khác

* Môi trường pháp lý

Một ngân hàng hoạt động có hiệu quả khi chủ thể vay vốn của ngân hàng

đó cũng hoạt động có hiệu quả, và môi trường pháp lý có ảnh hưởng rất lớn tớivấn đề này Một xã hội có môi trường pháp lý hoàn thiện, đồng bộ sẽ ảnhhưởng rất lớn tới hành vi của chủ thể trong nền kinh tế đó Nếu hệ thống pháp

lý chồng chéo, không nhất quán, thủ tục phức tạp sẽ kìm hãm hoạt động kinhdoanh của khách hàng, đồng thời cũng ảnh hưởng tới hoạt động của ngân hàng

* Điều kiện tự nhiên xã hội

Trang 37

Điều kiện tự nhiên là những thuận lợi khó khăn về mặt thời tiết, đất đai,khí khậu…Những điều kiện này có ảnh hưởng rất lớn tới tình hình sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp Khi điều kiện tự nhiên thuận lợi, ít bị thiên tai, lũlụt sẽ tác động mạnh tới các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp hoạt độngsản xuất kinh doanh, giúp họ tăng năng suất, gia tăng lợi nhuận cho doanhnghiệp mình, khi đó họ sẽ có khả năng thanh toán khoản nợ ngân hàng, hoặc cóphương án sản xuất kinh doanh mới, mở rộng quy mô, giúp ngân hàng gia tăngđược doanh số cho vay đối với các doanh nghiệp này Còn trong điều kiện kinh

tế bất ổn thiên tai thường xuyên xẩy ra, các doanh nghiệp phải đối mặt vớinhiều vấn đề gặp khó khăn trong sản xuất, tình hình tiêu thụ cũng giảm sútmạnh…Khi đó doanh số tiêu thụ của họ giảm, làm các doanh nghiệp rơi vàotình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ ngân hàng, giá tăng tỷ lệ nợxấu cho ngân hàng, giảm lợi nhuận của ngân hàng Như vậy có thể nói điềukiện tự nhiên bất ổn ảnh hưởng tới cả hệ thống kinh tế, không loại trừ một tổchức hay cá nhân nào cả

Điều kiện xã hội được nói tới là: Trình độ dân trí, phong tục tập quán,trật tự an ninh xã hội, trình độ phát triển kinh tế xã hội, mật độ dân số…Nếungân hàng hoạt động trong một khu vực có trình độ dân trí phát triển, an ninhtrật tự xã hội tốt, có nhiều chính sách ưu tiên phát triển kinh tế thì ngân hàng đóhoạt động có hiệu quả cao, doanh số cho vay hàng năm lớn, đồng thời với nó làlợi nhuận thu được cao Ngược lại ngân hàng hoạt động trong môi trường xã hộikém phát triển, ý thức người dân không cao, trình độ dân trí thấp, thì khả năngngân hàng cho vay bị mất vốn sẽ lớn, đồng thời với nó là tỷ lệ nợ xấu cao, phảnánh chất lượng cho vay doanh nghiệp không cao

* Môi trường kinh tế

Môi trường kinh tế bao gồm các yếu tố vĩ mô, tác động trực tiếp hoặcgián tiếp tới ngân hàng Các nhân tố vĩ mô kể tới ở đây là quy luật cung cầu,quy luật giá trị, tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát, lãi suất…Các nhân tố

Trang 38

trên tác động mạnh mẽ tới ngân hàng Nếu hoạt động trong môi trường có tốc

độ phát triển cao, cạnh tranh lành mạnh, lạm phát vừa phải, lãi suất ít biến động

sẽ tác động tích cực đến hoạt động kinh doanh của khách hàng, đem lại nhiềulợi nhuận cho khách hàng, từ đó những khách hàng vay vốn tại ngân hàng cókhả năng trả nợ cao Ngược lại, nếu ngân hàng hoạt động trong môi trường nềnkinh tế có nhiều biến động, như tình hình lãi suất thường xuyên thay đổi, lạmphát cao Khi đó chi phí huy động vốn của ngân hàng sẽ tăng đồng thời lãi suấtcho vay vốn của ngân hàng sẽ tăng, gây khó khăn cho các doanh nghiệp vayvốn khi đó chi phí vốn của họ sẽ tăng lên, tác động xấu tới hoạt động kinhdoanh của khách hàng, kéo theo khả năng thanh toán của khách hàng sẽ giảm,chất lượng cho vay của ngân hàng cũng giảm theo Môi trường kinh tế tác độngrất mạnh tới chất lượng cho vay của ngân hàng, nó ảnh hưởng tới tỷ lệ nợ xấutrong ngân hàng, và làm giảm lợi nhuận

Trên đây khái quát về vấn đề lý thuyết chất lượng cho vay doanh nghiệptại NHTM, sau đây chúng ta sẽ được tìm hiểu kĩ hơn về thực trạng hoạt độngcho vay doanh nghiệp tại chi nhánh, cũng như thực trạng chất lượng cho vaydoanh nghiệp tại chi nhánh

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUỐC TẾ CHI NHÁNH CẦU GIẤY

2.1 Khái quát về ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế chi nhánh Cầu Giấy

2.1.1 Hoàn cảnh ra đời quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế chi nhánh Cầu Giấy

Với phương châm hoạt động “luôn gia tăng giá trị của bạn”, NHTM cổphần Quốc Tế không ngừng gia tăng giá trị của khách hàng, của đối tác, của cán

bộ nhân viên ngân hàng và của các cổ đông Là một ngân hàng bán lẻ, NHTM

Trang 39

cổ phần Quốc Tế đã dần khẳng định được vị trí và vai trò của mình trong hệthống NHTM Việt Nam NHTM cổ phần Quốc Tế Việt Nam (tên gọi tắt làNgân Hàng Quốc Tế - VIB Bank) được thành lập theo quyết định số22/QĐ/NH5 ngày 25/01/1996 của thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam,các cổ đông sáng lập NHTM cổ phần Quốc Tế bao gồm các cá nhân và doanhnghiệp hoạt động thành đạt tại Việt Nam và trên trường Quốc Tế, ngân hàngngoại thương, ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Cùng với sự rađời của ngân hàng ngoại thương, ngân hàng đầu tư và phát triển, ngân hàngnông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, thì từ ngày 1809/1996 NHTM

cổ phần Quốc Tế đã chính thức đi vào hoạt động với số vốn điều lệ ban đầu là

50 tỷ đồng Việt Nam, tính đến tháng 9/2007 tổng vốn điều lệ của NHTM cổphần Quốc Tế là 1.500 tỷ đồng và tổng tài sản trên 22.000 tỷ đồng

Cùng với quá trình hội nhập toàn cầu, NHTM cổ phần Quốc Tế cũngkhông nằm ngoài quá trình đó Để cạnh tranh được với hệ thống NHTM trongnước cũng như hệ thống ngân hàng nước ngoài, NHTM cổ phần Quốc Tế đangdần dần từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh, đa dạng hóa các loại hình dich

vụ, không ngừng mở rộng chi nhánh, đang cố gắng phát triển thành một trongnhững tổ chức tài chính trong nước dẫn đầu tại Việt Nam Trong nhiều năm liêntục NHTM cổ phần Quốc Tế luôn được nhà nước Việt Nam xếp hạng tốt theocác tiêu chí đánh giá của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong nhiều năm liêntiếp.Cho tới nay ngoài hội sở tại Hà Nội NHTM cổ phần Quốc Tế đã có gần 80chi nhánh, và mạng lưới 37 tổ công tác tại 35 tỉnh, thành phố trên toàn quốc.Hiện nay NHTM cổ phần Quốc Tế có quan hệ đại lý với 108 ngân hàng và tổchức tiền tệ thế giới của hơn 43 quốc gia trên khắp châu lục, khu vực kinh tếtrên thế giới

Với đội ngũ hơn 2000 nhân viên nhiệt tình, sáng tạo NHTM cổ phầnQuốc Tế phấn đấu trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu Việt Nam, tiếp tục cungcấp một loạt các sản phẩm dịch vụ tài chính chọn gói cho khách hàng với nòng

Trang 40

cốt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động lành mạnh và những cá nhân, giađình có thu nhập ổn định.

NHTM cổ phần Quốc Tế chi nhánh Cầu Giấy ra đời ngày 28/5/2002, hiệnnay có trụ sở đặt tại Cầu Giấy, ngay khi thành lập NHTM cổ phần Quốc Tế chinhánh Cầu Giấy đã đóng vai trò như một phòng giao dịch, nhưng do trong quátrình hoạt động đạt được nhiều thành tích, và ngày càng khẳng định vị trí và vaitrò của mình trong hệ thống NHTM cổ phần Quốc Tế, cũng như tầm quan trọngcủa NHTM cổ phần Quốc Tế chi nhánh Cầu Giấy so với hệ thống NHTM cổphần Quốc Tế Nên từ một phòng giao dịch NHTM cổ phần Quốc Tế chi nhánhCầu Giấy đã trở thành chi nhánh cấp hai Cho tới thời điểm này NHTM cổ phầnQuốc Tế chi nhánh Cầu Giấy đóng vai trò như một chi nhánh cấp một

Từ khi thành lập cho tới nay NHTM cổ phần Quốc Tế chi nhánh CầuGiấy đã đào tạo được nhiều đội ngũ cán bộ, công nhân viên giỏi, có trách nhiệmnghề nghiệp, cơ sở vật chất dần dần được cải thiện Cho tới nay số cán bộ côngnhân viên trong chi nhánh đã lên tới 80 người, chủ yếu là trình độ đại học vàtrên đại học chiếm 98% Là một Ngân hàng có thể nói là ra đời cũng chưa đượclâu, nhưng từ khi ra đời đã khẳng định được vai trò, vị trí của mình trong hệthống NHTM cổ phần Quốc Tế, luôn xác định được trước mục tiêu hoạt độngcho chi nhánh “chủ yếu tập trung vào doanh nghiệp vừa và nhỏ để đáp ứngcung cấp dịch vụ”, cố gắng phấn đấu phát triển lớn mạnh về quy mô chất lượng

và số lượng tín dụng

Đặc điểm môi trường hoạt động của NHTMCP Quốc Tế chi nhánh Cầu giấy

NHTM cổ phần Quốc Tế chi nhánh Cầu Giấy nằm trên địa bàn thành phố

Hà Nội, là trung tâm kinh tế của cả nước, có nhiều điều kiện thuận lợi cho việcphát triển kinh tế nói chung, ngành Ngân Hàng nói riêng Trong vài năm trở lạiđây Cầu Giấy trở thành tụ điểm phát triển kinh tế của cả nước, là nơi tập trungnhiều tổ chức tín dụng, do vậy đặt NHTM cổ phần Quốc Tế chi nhánh Cầu

Ngày đăng: 28/10/2015, 17:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình “Ngân hàng thương mại” trường đại học kinh tế Quốc Dân, khoa ngân hàng – tài chính, chủ biên: PGS. TS. Phan Thị Hà Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ngân hàng thương mại”
2. “Quản trị ngân hàng thương mại” Peter. Rose, NXB Tài Chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quản trị ngân hàng thương mại”
Nhà XB: NXB Tài Chính
4. Giáo trình “Quản trị chất lượng” trường đại học kinh tế Quốc Dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị chất lượng”
5. Giáo trình “Tài chính doanh nghiệp” trường đại học kinh tế Quốc Dân, chủ biên PGS. TS. Lưu Thị Hương Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tài chính doanh nghiệp”
6. “Chất lượng là thứ không cho không” tác giả B. Philip Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chất lượng là thứ không cho không”
7. “Tín dụng ngân hàng” tác giả Hồ Diệu (2001), NXB Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tín dụng ngân hàng”
Tác giả: “Tín dụng ngân hàng” tác giả Hồ Diệu
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2001
8. Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghiã Việt Nam Khác
9. Quy chế cho vay do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Khác
10. Báo cáo thường niên của Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam chi nhánh Cầu Giấy từ năm 2005- 2007 Khác
13. Tạp chí Kinh tế và phát triển các năm 2006, 2007 Khác
14. Luận văn các khóa 43, 44, 45 khoa ngân hàng – tài chính, trường đại học kinh tế Quốc Dân Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Hoạt động huy động vốn của NHTMCP Quốc Tế Việt Nam chi nhánh Cầu Giấy từ năm 2005-2007. - Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam chi nhánh Cầu Giấy
Bảng 2.1 Hoạt động huy động vốn của NHTMCP Quốc Tế Việt Nam chi nhánh Cầu Giấy từ năm 2005-2007 (Trang 50)
Bảng 2.2: Hoạt động cho vay của NHTM cổ phần Quốc Tế - Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam chi nhánh Cầu Giấy
Bảng 2.2 Hoạt động cho vay của NHTM cổ phần Quốc Tế (Trang 53)
Đồ thị 2.1: Lợi nhuận sau thuế của NHTM - Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam chi nhánh Cầu Giấy
th ị 2.1: Lợi nhuận sau thuế của NHTM (Trang 57)
Hình dư nợ cho vay doanh nghiệp tại chi nhánh trong những năm vừa qua như  sau: - Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam chi nhánh Cầu Giấy
Hình d ư nợ cho vay doanh nghiệp tại chi nhánh trong những năm vừa qua như sau: (Trang 66)
Bảng 2.7: Phân loại nợ xấu của doanh nghiệp tại  NHTM cổ phần Quốc Tế chi nhánh Cầu Giấy từ năm 2005- 2007. - Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam chi nhánh Cầu Giấy
Bảng 2.7 Phân loại nợ xấu của doanh nghiệp tại NHTM cổ phần Quốc Tế chi nhánh Cầu Giấy từ năm 2005- 2007 (Trang 70)
Bảng 2.10: Tình hình lợi nhuận cho vay doanh nghiệp trên thu lãi từ cho vay  doanh nghiệp tại NHTM cổ phần Quốc Tế chi nhánh Cầu Giấy từ 2005-2007 - Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam chi nhánh Cầu Giấy
Bảng 2.10 Tình hình lợi nhuận cho vay doanh nghiệp trên thu lãi từ cho vay doanh nghiệp tại NHTM cổ phần Quốc Tế chi nhánh Cầu Giấy từ 2005-2007 (Trang 73)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w