Nếu đề xuất được các biện pháp phù hợp với các điều kiện thực tiễn ở các trường tiểu học và đúng chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà, thì việc thực hiện quy chế dân chủ sẽ có hiệu quả ca
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Đức Sơn
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Vũ Thị Phƣợng
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Đến nay khi bản Luận văn này đã hoàn thành, trước hết em xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới toàn thể các thầy giáo, cô giáo trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên cùng toàn thể các thầy cô đã trực tiếp tham gia giảng dạy, cung cấp những tri thức cơ bản và khoa học, tạo điều kiện thuận lợi cho chúng em trong thời gian học tập và nghiên cứu
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Đức Sơn
- thầy giáo đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo giúp đỡ em trong quá trình hình thành, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Em xin chân thành cảm ơn khoa Tâm lý giáo dục trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên
Tác giả xin chân thành cảm ơn Thị ủy, HĐND, UBND thị xã Quảng Yên; Phòng Giáo dục - Đào tạo Quảng Yên; các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Quảng Yên đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi có những tư liệu quý báu để hoàn thành luận văn; Cảm ơn gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi tham gia khóa học, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn
Dù đã có rất nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài Song, những thiếu sót trong luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi
Tác giả rất mong được đón nhận sự chỉ dẫn, góp ý của các nhà khoa học, của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Quảng Yên, tháng 8 năm 2014
Tác giả
Vũ Thị Phƣợng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học của đề tài 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giới hạn và phạm vi đề tài 3
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc của Luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC 6
1.1.Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.2 Quan điểm và đường lối của Đảng và nhà nước về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở 7
1.2.1 Các khái niệm 7
1.2.2 Quan điểm và đường lối của Đảng và nhà nước về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở 12
1.3 Một số vấn đề về thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong trường học 13
1.3.1 Khái niệm về quy chế dân chủ cơ sở trong trường học 13
1.3.2 Mục đích của việc đưa thực hiện quy chế dân chủ vào trường học 14
1.3.3 Vai trò và tầm quan trọng của việc đưa QCDCCS vào trường học 15
Trang 61.3.4 Các nội dung triển khai thực hiện QCDCCS trường học 17
1.3.5 Các hình thức triển khai thực hiện QCDCCS trường học 22
1.3.6 Những yêu cầu của việc đưa Quy chế dân chủ ở cơ sở vào trường học 24 1.4 Quản lý thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trường học 26
1.4.1 Quản lý thực hiện quy chế dân chủ trong trường học là một nội dung quản lý nhà trường tiểu học hiện nay 27
1.4.2 Các nội dung quản lý việc thực hiện quy chế dân chủ trong trường tiểu học 32
1.4.3 Biện pháp quản lý việc thực hiện quy chế dân chủ trong các trường tiểu học 36
Tiểu kết Chương 1 37
Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH 38
2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 38
2.1.1 Giới thiệu tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội thị xã Quảng Yên 38
2.1.2 Tình hình Giáo dục và Đào tạo cấp tiểu học trên địa bàn thị xã Quảng Yên 38
2.2 Thực trạng việc thực hiện quy chế dân chủ trong các trường tiểu học 40
2.2.1 Thực trạng thực hiện quy chế về nội dung, hình thức 40
2.2.2 Thực trạng hiệu quả thực hiện quy chế 48
2.3 Thực trạng về quản lý việc thực hiện Quy chế dân chủ trong các trường Tiểu học trên địa bàn thị xã Quảng Yên hiện nay 53
2.3.1 Thực trạng quản lý việc tuyên truyền, phổ biến dân chủ trong trường tiểu học trên địa bàn thị xã Quảng Yên 53
2.3.2 Kết quả trong việc xây dựng các quy định, quy chế, quy ước của trường tiểu học 54
Trang 72.3.3 Quản lý việc tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong trường tiểu học
trên địa bàn thị xã Quảng Yên 56
2.3.4 Giám sát, kiểm tra, đánh giá thực hiện quy chế dân chủ trong trường tiểu học trên địa bàn thị xã Quảng Yên hiện nay 57
2.3.4 Đánh giá chung về thực trạng quản lý thực hiện quy chế dân chủ ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Quảng Yên hiện nay 60
2.3.5 Nguyên nhân và bài học kinh nghiệm 63
2.3.6 Bài học kinh nghiệm 66
Tiểu kết Chương 2 69
Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ TRONG CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ QUẢNG YÊN 70
3.1 Các nguyên tắc đề xuất các biện pháp 70
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ của các biện pháp 70
3.1.2 Nguyên tắc bảo đảm tính hiệu quả 70
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi của các biện pháp 71
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm trong quản lý 71
3.2 Các biện pháp quản lý việc thực hiện Quy chế dân chủ trong các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Quảng Yên hiện nay 72
3.2.1 Đổi mới quản lý công tác tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức của CBGV-CNV và học sinh trong các trường tiểu học về thực hiện Quy chế dân chủ trong trường học 72
3.2.2 Đảm bảo sự lãnh đạo của Chi bộ Đảng, phát huy vai trò của cán bộ quản lý nhà trường trong việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở 74
3.2.3 Chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện các quy định, quy chế, quy ước của trường tiểu học đảm bảo đúng quy trình, có tính khả thi cao 77
Trang 83.2.4 Thiết lập các kênh thu thập thông tin phản hồi (thông tin ngược) phục
vụ cho công tác quản lý thực hiện QCDCCS trường tiểu học 79
3.2.5 Thống nhất, xác định cơ chế phối hợp xây dựng và thực hiện QCDCCS trường học giữa các tổ chức đoàn thể, tổ chức xã hội trong và ngoài nhà trường 80
3.2.6 Tăng cường và đổi mới các biện pháp kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế dân chủ trong nhà trường 83
3.3 Mối quan hệ giữa các biện phápvà lộ trình triển khai 85
3.3.1 Mối quan hệ giữa các biện pháp 85
3.3.2 Lộ trình triển khai các biện pháp 86
3.4 Khảo sát về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 86
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 86
3.4.2 Nội dung khảo nghiệm 87
3.4.3.Phương pháp khảo nghiệm 87
3.4.4 Kết quả khảo nghiệm 87
Tiểu kết chương 3 91
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 92
1 Kết luận 92
2 Một số khuyến nghị 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBGV-CNV Cán bộ giáo viên - công nhân viên
GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
GD-ĐT Giáo dục - Đào tạo
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Quy mô trường, lớp, học sinh tiểu học trong 5 năm 39 Bảng 2.2 Chất lượng của học sinh tiểu học thị xã Quảng Yên 39 Bảng 2.3 Trình độ chuyên môn của cán bộ giáo viên tiểu học thị xã Quảng
Yên (tính đến ngày 31/3/2014) 40 Bảng 2.4 Kết quả việc triển khai thực hiện các trách nhiệm của các trường
tiểu học thị xã Quảng Yên 41 Bảng 2.5 Kết quả thực hiện trách nhiệm tham gia giám sát các nội dung
trong thực hiện QCDC ở cơ sở nhà trường tiểu học 42 Bảng 2.6 Kết quả thực hiện những việc học sinh được biết và tham gia ý
kiến trong trường tiểu học thị xã Quảng Yên 43 Bảng 2.7 Kết quả thực hiện các hình thức thông báo đối với những việc
CBGV-CNV phải được biết trong 20 trường tiểu học thị xã Quảng Yên 44 Bảng 2.8.Kết quả thực hiện các hình thức CBGV-CNV tham gia ý kiến
trong trường tiểu học thị xã Quảng Yên 45 Bảng 2.9 Kết quả các hình thức thực hiện giám sát kiểm tra đối với
những việc CBGV - CNV được giám sát, kiểm tra ở trường tiểu học thị xã Quảng Yên 47 Bảng 2.10 Kết quả quản lý tuyên truyền, phổ biến, quán triệt về việc thực
hiện QCDC trong trường tiểu học trên địa bàn thị xã Quảng Yên 53 Bảng 2.11 Kết quả xây dựng, ban hành các quy chế trong trường tiểu học
trên địa bàn thị xã Quảng Yên 55 Bảng 2.12 Kết quả quản lý tổ chức thực hiện QCDC trong trường tiểu học
trên địa bàn thị xã Quảng Yên 56 Bảng 2.13 Kết quả giám sát, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện QCDC trong
trường tiểu học trên địa bàn thị xã Quảng Yên 59 Bảng 3.1 Kết quả đánh giá về mức độ cần thiết của những biện pháp quản lý
thực hiện QCDCCS trường tiểu học trên địa bàn thị xã Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh 87 Bảng 3.2 Kết quả đánh giá về tính khả thi của những biện pháp quản lý
thực hiện QCDCCS trong các trường tiểu học thị xã Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh 89
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Dân chủ không chỉ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa mà còn là động lực, là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng mà Đảng và nhân dân ta xây dựng
Từ lâu, Đảng ta luôn coi trọng phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào dân, nên đã đưa cách mạng nước ta vượt qua mọi gian nan thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng XHCN, dân chủ hóa đời sống xã hội đã được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là một trong những nội dung cốt lõi, trọng tâm Đặc biệt là dân chủ hóa đời sống xã hội từ cơ sở
Chính vì vậy mà ngày 18/2/1998, Bộ Chính trị đã ra chỉ thị 30 CT /TW
về việc xây dựng và thực hiện các quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở, để cụ thể hóa Chỉ thị này, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các Nghị định và Thông tư hướng dẫn thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở các loại hình, trong
đó có Nghị định 71/1998/NĐ-CP ngày 08/9/1998 về việc ban hành “Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan” và Thông tư số 10/1998/TTCP-TCCB ngày 5/12/1998 của Ban tổ chức - Cán bộ Chính phủ
“Hướng dẫn triển khai Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan” Thực hiện dân chủ trong cơ quan sẽ phát huy quyền làm chủ, tác phong,
lề lối làm việc của công chức, viên chức, kỷ cương, kỷ luật được tăng cường; nội bộ cơ quan đoàn kết; ý thức phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn, là chìa khoá để đảm bảo sức sống vững bền của mỗi cơ quan, tổ chức
Đối với ngành Giáo dục và Đào tạo, thực hiện dân chủ là một trong những điều kiện và động lực để nâng cao chất lượng dạy và học và nâng cao uy tín, vị thế của ngành giáo dục đối với cộng đồng và xã hội Ngày 1.3.2000 của Bộ Giáo dục - Đào tạo đã có Quyết định 04/2000/QĐ-BGD&ĐT về việc ban hành “Qui chế thực hiện dân chủ trong hoạt động
Trang 12của nhà trường” theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong các hoạt động của nhà trường
Căn cứ sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong những năm qua, nhiều trường tiểu học trên địa bàn thị xã Quảng Yên đã thực hiện cơ bản tốt những nội dung về thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong nhà trường, nhờ
đó đã tạo đà cho sự ổn định, đoàn kết, từng bước khắc phục khó khăn, chung sức góp phần vào thành tích chung của ngành Giáo dục thị xã Quảng Yên Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn có một số trường chưa thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ, còn mang tính hình thức, cán bộ, giáo viên trong trường không yên tâm công tác, nội bộ mất đoàn kết, phát sinh khiếu kiện ảnh hưởng không tốt tới các hoạt động của nhà trường, làm giảm uy tín của nhà trường cũng như uy tín của cán bộ, giáo viên nhà trường trước học sinh và xã hội Điều đó đã đặt ra một đòi hỏi cần phải tìm nguyên nhân và các biện pháp cho vấn đề triển khai xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ trong các trường tiểu học Trong đó, vai trò và chức trách quản lý nhà trường của Hiệu trưởng có
ý nghĩa quyết định
Là cán bộ Ban Dân vận Thị ủy Quảng Yên - cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở thị xã Quảng Yên, được phân công là thành viên giúp việc của Ban Chỉ đạo, đôn đốc, hướng dẫn, tham mưu triển khai, tổng hợp kết quả thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở ở các chi, đảng bộ cơ sở, các cơ quan, đơn vị trên địa bàn thị xã nói chung và ngành giáo dục nói riêng Xuất phát từ các lý do trên, tôi chọn đề tài:
“Quản lý thực hiện Quy chế dân chủ trong trường tiểu học trên địa bàn thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng việc thực hiện
Quy chế dân chủ trong các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Quảng Yên hiện nay, luận văn đề xuất một số biện pháp nhằm quản lý tốt hơn việc thực
Trang 13hiện Quy chế dân chủ trong các trường học đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đổi mới của ngành GD và ĐT nói chung và ngành GD và ĐT thị xã Quảng Yên nói riêng
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động quản lý trường tiểu học của người
Hiệu trưởng
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý việc thực hiện Quy chế dân
chủ trong các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Quảng Yên
4 Giả thuyết khoa học của đề tài
Công tác quản lý thực hiện Quy chế dân chủ trong các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Quảng Yên hiện nay còn một số hạn chế, hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra Nếu đề xuất được các biện pháp phù hợp với các điều kiện thực tiễn ở các trường tiểu học và đúng chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà, thì việc thực hiện quy chế dân chủ sẽ có hiệu quả cao hơn, góp phần đáp ứng yêu cầu đổi mới quản lý giáo dục, đổi mới giáo dục tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Quảng Yên
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý giáo dục và quản lý các hoạt động triển khai thực hiện Quy chế dân chủ trong các trường tiểu học hiện nay
5.2 Khảo sát thực trạng, nguyên nhân và những kinh nghiệm trong quản lý thực hiện Quy chế dân chủ trong các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Quảng Yên hiện nay
5.3 Đề xuất một số biện pháp để quản lý thực hiện Quy chế dân chủ trong các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Quảng Yên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay
6 Giới hạn và phạm vi đề tài
Trang 14- Nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao
hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ trong các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Quảng Yên
- Các số liệu điều tra được lấy từ nguồn số liệu của các trường tiểu học trên địa bàn thị xã, phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã Quảng Yên từ năm 2008 (sau 10 năm có Chỉ thị 30 - CT/TW, Nghị định 71/1998 của Chính phủ) đến năm 2013 và các số liệu từ sau khi có Quyết định số 04 /2000/QĐ-BGD&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường cho đến nay
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
Sử dụng các phương pháp: Phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa, khái quát hóa để nghiên cứu các tài liệu lý luận liên quan đến vấn về quản lý việc thực hiện quy chế dân chủ trong trường học, trên cơ sở đó xây dựng phần cơ sở lý luận cho đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát thực trạng việc thực
hiện quy chế dân chủ trong các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Quảng Yên những năm qua và hiện nay, gồm các phương pháp:
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm;
- Phương pháp điều tra xã hội học;
7.3 Phương pháp thống kê
8 Cấu trúc của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý thực hiện quy chế dân chủ trong trường tiểu học
- Chương 2: Thực trạng về quản lý thực hiện quy chế dân chủ trong trường tiểu học trên địa bàn thị xã Quảng Yên
Trang 15- Chương 3: Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường thực hiện quy chế dân chủ trong trường tiểu học trên địa bàn thị xã Quảng Yên, tỉnh
Quảng Ninh
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.1.Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Dân chủ, dân chủ ở cơ sở và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở (QCDCCS)
là vấn đề hiện đang được nhiều nhà khoa học, những người làm công tác lý luận quan tâm, dù ở những góc độ, khía cạnh khác nhau
Hướng nghiên cứu về vai trò của dân chủ trong đời sống xã hội: VI
Lênin: Bàn về dân chủ trong quản lý xã hội; Nguyễn Đăng Quang: Một cách tiếp cận khái niệm dân chủ, PGS.TS Vũ Minh Giang: Thiết chế làng xã cổ truyền và quá trình dân chủ hóa hiện nayở nước ta; Lê Văn Tuấn: Tư tưởng Hồ Chí Minh vềthực hành dân chủ
Hướng nghiên cứu về cách thức, phương pháp thực hiện dân chủ trong đời
sống: Đề tài "Thực hiện QCDC và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay" do TS Nguyễn Văn Sáu - GS Hồ Văn Thông đồng chủ trì; Đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước về "Củng cố và tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở trong
sự nghiệp đổi mới và phát triển của nước ta hiện nay" do PGS.TS Hoàng Chí Bảo
- Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh làm chủ nhiệm, nghiệm thu 2002 Đề
tài "Hệ thống chính trị cấp cơ sở và dân chủ hóa đời sống xã hội nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta" - TS Nguyễn Quốc
Phẩm chủ biên
Hướng nghiên cứu về dân chủ cơ sở: Đề tài "Hệ thống chính trị cơ sở - Đặc điểm, xu hướng và giải pháp" của TS Vũ Hoàng Công - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002 "Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã - Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn" của PGS TS Dương Xuân Ngọc; PGS.TS Vũ Văn Hiền (chủ biên): Phát huy dân chủ ở xã, phường và cuốn Dân chủ ở cơ sở qua kinh nghiệm của Thuỵ Điển và Trung Quốc; Quá trình thực hiện quy chế dân
Trang 17chủ ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng hiện nay (Đề tài cấp bộ năm 2002 -
2003) do Viện chủ nghĩa xã hội khoa học Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh chủ trì)
Các công trình nghiên cứu kể trên đã đi sâu nghiên cứu về việc thực hiện QCDCCS gắn với tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở nói chung, ở cấp xã nói riêng Các tác giả đãlý giải về tính tất yếu phải xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, qua thực tiễn khảo sát việc thực hiện quy chế ở các địa phương,vùng miền trong cả nước để đưa ra những thành tựu đã đạt được của việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở cũng như rút ra những bất cập, hạn chế, vướng mắc của Quy chế Ở đấy, các tác giả cũng chỉ ra phương hướng và biện pháp nhằm đảm bảo thực hiện QCDCCS ở cơ sở chủ yếu là ở xã, phường, thị trấn Tuy nhiên, ít có công trình nào nghiên cứu về thực hiện QCDCCS trong các cơ quan và nhất là chưa có công trình, bài viết nào đi sâu nghiên cứu QCDCCS trong các trường tiểu học
Đề tài nghiên cứu này hy vọng sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm cả về lý luận
và thực tiễn vấn đề thực hiện QCDCCS ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Quảng Yên - tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn hiện nay
1.2 Quan điểm và đường lối của Đảng và nhà nước về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
1.2.1 Các khái niệm
- Khái niệm Dân chủ
Dân chủ từ bao đời nay luôn là đề tài hấp dẫn đối với các học giả trong
và ngoàinước bởi dân chủ liên quan mật thiết tới cuộc sống của con người và
sự phát triển củaxã hội Vấn đề dân chủ đã, đang và sẽ còn là một vấn đề thời
sự được quan tâm tìm tòi,nghiên cứu về lý luận và thực tiễn của mọi quốc gia, trong đó có đất nước Việt Nam
Dân chủ là khái niệm xuất hiện từ thời cổ đại Theo tiếng Hy Lạp cổ, dân chủ là do hai từ hợp thành: Demos là nhân dân và Kuatos là quyền lực hay
Trang 18chính quyền Dân chủ có nghĩa là quyền lực của nhân dân, là một trong những hình thức tổ chức chính trị nhà nước của xã hội mà đặc trưng là việc tuyên bố chính thức nguyên tắc thiểu số phải phục tùng đa số, thừa nhận quyền tự do bình đẳng của công dân, thừa nhận nhân dân là cội nguồn của quyền lực Khi bàn về khái niệm dân chủ là gì, các nhà khoa học đề xuất khá nhiều ý kiến:
- Ý kiến thứ nhất cho rằng, dân chủ là sản phẩm của quan hệ giai cấp, là
tổ chức quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền đối với xã hội
- Ý kiến thứ hai hiểu khái niệm dân chủ bao hàm ba nội dung cơ bản là nội
dung chính trị (dân chủ chính trị), nội dung văn minh nhân đạo (dân chủ xã hội là thành quả quan trọng nhất của văn minh và nhân đạo của loài người) và nội dung
xã hội của dân chủ (dân chủ xã hội là hình thức tồn tại của xã hội hiện đại)
- Ý kiến thứ ba cho rằng, dân chủ cần được xem xét theo nhiều khía
cạnh, nhưng với nghĩa chung nhất, phổ biến nhất, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân
- Ý kiến thứ tư của một số nhà khoa học, tôn vinh dân chủ là một công
trình bi tráng trong hàng chục vạn năm của loài người Đó là khát vọng, lý tưởng chung mà hàng triệu con tim và khối óc cùng hướng tới, đấu tranh không mệt mỏi để giành lấy dù phải hy sinh xương máu Dân chủ là khát vọng mà chính chúng ta đang vươn tới
- Ý kiến thứ năm cho rằng, dân chủ không chỉ là một vấn đề chính trị hay
xã hội, mà xét theo bề sâu chính là một vấn đề văn hóa Bởi thế, xử lý vấn đề dân chủ không thể tách rời khỏi mối quan hệ truyền thống - hiện đại trong văn hóa Dân chủ còn là một yếu tố của văn hóa, một thành tựu của văn hóa đã có
từ lâu đời trong truyền thống văn hóa của dân tộc Theo các nhà kinh điển: Dân chủ là sản phẩm tự quyết của nhân dân, phản ánh sự tồn tại của con người với tất
cả ý trí, tài năng và lợi ích của họ; dân chủ là sản phẩm của đấu tranh giai cấp; quyền dân chủ bị chế định bởi tương quan giai cấp, trạng thái phát triển của sản xuất và trình độ văn hóa chung, trước hết là văn hóa chính trị của nhân dân; dân
Trang 19chủ là một hình thức Nhà nước mà ở đó thừa nhận quyền ngang nhau của dân cư
trong việc xác định cơ cấu nhà nước và quản lý xã hội [39, tr.129-130-131]
Như vậy, dân chủ là vấn đề phức tạp, nhạy cảm, có nội dung rộng lớn và luôn luôn mới, gắn với những tiến bộ về lịch sử và văn hóa của loài người Để hiểu rõ bản chất, nội dung và tính chất của dân chủ, phải xem xét nó dưới nhiều góc độ, khía cạnh: Là phương thức của phong trào chính trị xã hội của quần chúng; là hình thức nhà nước, hình thức tổ chức và thực hiện quyền lực xã hội; là một hệ thống quyền hành, tự do và trách nhiệm của công dân được quy định bởi hiến pháp và pháp luật; là nguyên tắc tổ chức toàn thể xã hội và với tư cách là một chế độ chính trị
Tuy tiếp cận vấn đề dân chủ dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng chung
quy lại các ý kiến đều thống nhất ở luận điểm: Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân Như vậy, dù xem xét dân chủ dưới góc độ nào thì thực chất bản chất,
nội dung, tính chất và khuynh hướng phát triển của dân chủ là hoàn toàn phụ thuộc vào chỗ quyền lực chính trị thuộc về tầng lớp nào, giai cấp nào và phục
vụ cho tầng lớp nào, giai cấp nào trong xã hội đó Và điều đó lại lần nữa chứng minh thêm cho tính đúng đắn của luận điểm: Sự khác nhau về chất giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ tư sản.Trên thực tế thì chưa có một xã hội nào đạt được tình trạng dân chủ tuyệt đối do nhiều lý do khách quan và chủ quan như: Trình độ phát triển kinh tế - xã hội, năng lực nhận thức của công dân và của chính quyền, truyền thống lịch sử, văn hóa pháp quyền Vì thế, đối với đất nước Việt Nam ta thì dân chủ còn được hiểu như một mục tiêu phấn đấu của dân tộc như đã ghi rõ trong Hiến pháp là: Thực hiện mục tiêu dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Những mục tiêu đó đều có mối liên hệ, gắn bó lôgic với nhau Dân có giàu thì nước mới mạnh Có dân chủ thì mới có công bằng xã hội Có dân chủ thực sự thì dân mới giàu và quốc gia mới mạnh, đúng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói lúc sinh thời: Dân chủ là tài sản quý báu nhất của nhân dân, vừa là mục tiêu, vừa là động lực cách mạng, là
Trang 20chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn Thực hiện dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong hoạt động của đời sống xã hội là nhiệm vụ trọng tâm, nhằm động viên sức mạnh đoàn kết, sáng tạo của cả dân tộc vượt lên khó khăn, thử thách “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” Đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng và dân chủ là những yếu tố không thể thiếu được của một nền văn minh và một đất nước phồn thịnh Với mục tiêu phấn đấu như vậy, việc phát huy dânchủ ở cơ sở được coi là chủ trương, biện pháp và là hành động tất yếu của nhân dân vàchính quyền trong quá trình phát triển của đất nước Việt Nam Dân chủ được bảo đảm và phát huy bằng nhiều biện pháp Tuy nhiên, việc thực thi dân chủ phải luôn gắn liền với mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân Ở nước ta hiệnnay, hệ thống chính trị dựa trên thiết chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dânlàm chủ” Việc phát huy, thực hiện dân chủ được tiến hành không tách rời khỏi thiết chế này
Dân chủ và khát vọng được làm chủ, là quyền tự nhiên của con người trong đó cóquyền sử dụng tất cả sức mạnh để thực hiện vai trò của người chủ
và quyền làm chủ đãlần lượt được nhiều giai cấp thống trị trong lịch sử nhận thức và thể chế hóa thànhnguyên tắc tổ chức và vận hành của Nhà nước cùng các thiết chế chính trị khác nhau
Tuy nhiên, trong các chế độ dân chủ đã từng tồn tại cho đến nay thì chỉ có chế độ dânchủ vô sản - dân chủ xã hội chủ nghĩa mới thực sự là chế
độ dân chủ của đa số nhân dântrong xã hội, là chế độ dân chủ của dân, do dân và vì dân
- Khái niệm về dân chủ ở cơ sở
Chủ nghĩa xã hội xác định mục tiêu xây dựng một nền dân chủ XHCN
"cao gấp triệu lần dân chủ tư sản" (V.I Lênin) Đó là một nền dân chủ toàn diện và triệt để trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội; tạo điều kiện cho mọi thành viên trong xã hội làm chủ bản thân, làm chủ xã hội và
Trang 21làm chủ tự nhiên Đó là nhiệm vụ mà CNXH phải phấn đấu lâu dài mới thực hiện được
Trong chế độ dân chủ XHCN, nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng 2 hình thức: Hình thức gián tiếp và hình thức trực tiếp
Hình thức gián tiếp thông qua bầu cử các cơ quan, tổ chức đại diện thực
hiện quyền tổ chức và quản lý xã hội
Hình thức trực tiếp,bảo đảm cho nhân dân có quyền tham gia quản lý xã hội một cách thiết thực và hiệu quả, trước hết là ở cơ sở theo phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra
Nền dân chủ XHCN ở nước ta được khẳng định trong đường lối của Đảng, Hiến pháp, Pháp luật của Nhà nước Hệ thống chính quyền ở nước ta gồm 4 cấp: Trung ương, tỉnh (thành phố trực thuộc), huyện (thị, quận) và xã (phường) đều vận hành theo nguyên tắc tập trung dân chủ - nguyên tắc cơ bản của nền dân chủ XHCN Hiệu quả của dân chủ thể hiện trực tiếp đến nhân dân
là ở cấp cơ sở Đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước có đi vào cuộc sống hay không tùy thuộc chủ yếu vào sự quán triệt và thực hiện như thế nào ở cấp cơ sở Cơ sở xã, phường, cơ quan, doanh nghiệp v.v là nơi trực tiếp thực hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước; là địa bàn nhân dân sinh sống, lao động, sản xuất, học tập và công tác; là nơi diễn ra các mối quan hệ nhiều mặt giữa các tầng lớp nhân dân với các cấp ủy Đảng và chính quyền, cán
bộ, đảng viên, công chức điều hành và xử lý công việc hàng ngày Nhân dân đòi hỏi được biết, được bàn và được tham gia giải quyết những vấn đề đặt ra ở
cơ sở, đồng thời có yêu cầu kiểm tra, giám sát hoạt động hàng ngày của cấpủy, chính quyền và cán bộ lãnh đạo Điều đó có nghĩa là nhân dân có quyền làm chủ từ cơ sở và ở cơ sở
Dân chủ ở cơ sở là quyền dân chủ trực tiếp của người dân, được tiến hành từ cấp xã, phường trở xuống (đến cấp thôn xóm, đơn vị, cơ quan, nhà máy, xí nghiệp) theo phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra
Trang 22Dân chủ ở cơ sở - trước hết là dân chủ trực tiếp - là hình thức nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng cách trực tiếp thể hiện ý chí (qua ý kiến) nguyện vọng của mình đối với tổ chức và hoạt động của cơ quan chính quyền ở
cơ sở
Có nhiều cách thức để thực hiện dân chủ trực tiếp ở cơ sở như: Trưng cầu dân ý; bầu và bãi miễn đại biểu cơ quan dân cử; bàn bạc - thảo luận – tham gia quyết định - giám sát - kiểm tra việc thực hiện các vấn đề phát triển kinh tế -
xã hội, trật tự an ninh ở cơ sở; tố cáo - khiếu nại; xây dựng quy định, quy ước
tự quản và cơ sở ở đây là xã, phường; là cơ quan, đơn vị, trong đó có trường học, trường tiểu học
1.2.2 Quan điểm và đường lối của Đảng và nhà nước về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
Hiến pháp 1992 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định công dân thực hiện quyền làm chủ ở cơ sở của mình bằng cách tham gia công việc của Nhà nước và xã hội, có trách nhiệm bảo vệ của công, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giữ gìn an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội,
tổ chức đời sống công cộng
Dưới ánh sáng của đường lối đổi mới nói chung, đổi mới hệ thống chính trị nói riêng đã được các Đại hội VII, VIII, IX, X, XI của Đảng xác định, công cuộc đổi mới xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, dân chủ ở nước ta đã có bước tiến rõ rệt, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân và được dư luận quốc tế thừa nhận
Tuy nhiên, trong những năm gần đây quyền làm chủ của nhân dân trong thực tế còn bị vi phạm ở nhiều nơi, ở nhiều lĩnh vực, tệ quan liêu sách nhiễu, cửa quyền, tham nhũng gây phiền hà cho nhân dân vẫn đang diễn ra, gây nhiều bức xúc trong nhân dân
Đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn, ngày 18/2/1998, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW về xây dựng và thực hiện QCDCCS Tới nay, chúng ta đã
Trang 23triển khai Chỉ thị này rộng rãi trong cả nước bằng thực hiện QCDC ở cả 3 loại hình cơ sở: Xã, phường, thị trấn; cơ quan; các doanh nghiệp
Thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị và Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về xây dựng và thực hiện QCDCCS Chính phủ đã ban hành Nghị định 71/1998/NĐ-CP ngày 08/9/1998 về Quy chếthực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan, cùng với đó ngày 5/12/1998 Ban tổ chức - Cán bộ Chính phủ ra Thông tư số 10/1998/TTCP-TCCB về hướng dẫn triển khai Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan
Ngày 01/3/2000 Bộ Giáo dục và Đào tạo ra Quyết định
04/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày về việc ban hành “Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường” Đây là cơ sở pháp lý cho việc triển khai và thực hiện QCDCCS của ngành giáo dục
1.3 Một số vấn đề về thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong trường học
1.3.1 Khái niệm về quy chế dân chủ cơ sở trong trường học
Trường học là nơi thực hiện nhiệm vụ giáo dục và đào tạo, bồi dưỡng
và phát triển các phẩm chất và năng lực cho người học về tư tưởng và đạo đức, tri thức khoa học và kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, rèn luyện thể chất v.v
Giáo dục trong nhà trường là con đường cơ bản nhất, vững bền nhất để hình thành người lao động có kỹ thuật, có kỷ luật cao đáp ứng những yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội Nhờ giáo dục và đào tạo mà trình độ học vấn của nhân dân mới được nâng cao, mở ra những khả năng to lớn trong việc nắm bắt và sử dụng những thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại trên thế giới, thúc đẩy nhanh tốc độ phát triển của đất nước
Chính vì trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ XHCN nên cần phải thực hiện dân chủ, bình đẳng trong giáo dục Hồ Chí Minh
đã dạy: "Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng Cần phải phát huy đầy đủ dân chủ XHCN, xây dựng quan hệ thật tốt, đoàn kết thật chặt chẽ giữa thầy và thầy,
Trang 24giữa thầy và trò, giữa học trò với nhau, giữa cán bộ các cấp, giữa nhà trường và nhân dân để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó" [34]
Quá trình dân chủ hóa giáo dục được thể hiện trong toàn bộ hệ thống giáo dục, cho đến từng cơ sở trường học Trong trường học, dân chủ được thể hiện ở quyền và nghĩa vụ của CBGV-CNV, học sinh đối với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của nhà trường CBGV-CNV, học sinh trong nhà trường phát huy quyền làm chủ của mình theo phương châm: Được biết, được bàn, được tham gia ý kiến, được giám sát kiểm tra mọi mặt hoạt động của nhà trường Dân chủ gắn với kỷ cương, việc thực hiện dân chủ nhưng vẫn đảm bảo các nguyên tắc, sự lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà nước đối với sự nghiệp phát triển giáo dục Trong trường học, việc thực hiện dân chủ của CBGV-CNV, của người học trên cơ sở sự lãnh đạo của chi bộ, sự quản lý của Ban Giám hiệu Các đoàn thể, tổ chức trong nhà trường có vai trò to lớn trong việc tham gia, việc thực hiện, giám sát việc thực hiện dân chủ ở trường học
Như vậy, dân chủ ở cơ sở trong trường học là việc thực hiện một cách
trực tiếp quyền làm chủ của CBGV-CNV, thực hiện quyền làm chủ trực tiếp của học sinh và phụ huynh học sinh trong việc thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục Dân chủ, thực hành dân chủ - cụ thể ở cơ sở trường học là yêu cầu khách quan và ngày càng bức thiết đối với các tổ chức đảng, chính quyền
và đoàn thể trong nhà trường nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ dạy và học, xây dựng nền giáo dục thực sự của dân, do dân và vì dân
1.3.2 Mục đích của việc đưa thực hiện quy chế dân chủ vào trường học
Một là, thực hiện dân chủ trong nhà trường nhằm thực hiện tốt nhất, có hiệu quả nhất những điều Luật Giáo dục quy định theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" trong các hoạt động của nhà trường thông qua
các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện; đảm bảo cho công dân, cơ quan, tổ chức được quyền giám sát, kiểm tra, đóng góp ý kiến tham gia xây
Trang 25dựng sự nghiệp giáo dục, làm cho sự nghiệp giáo dục thực sự là của dân, do dân và vì dân
Hai là, thực hiện dân chủ trong nhà trường nhằm phát huy quyền làm
chủ và huy động tiềm năng trí tuệ của hiệu trưởng, nhà giáo, người học, đội ngũ cán bộ, công chức trong nhà trường theo luật định, góp phần xây dựng nề nếp, trật tự, kỷ cương trong mọi hoạt động của nhà trường, ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực và tệ nạn xã hội, thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng và luật pháp của Nhà nước [7]
1.3.3 Vai trò và tầm quan trọng của việc đưa QCDCCS vào trường học
- Thực hiện QCDCCS ở trường học giúp nâng cao nhận thức về quyền
và nghĩa vụ của mỗi cán bộ giáo viên, công nhân viên trong nhà trường Không
phải dễ dàng ai cũng hiểu rõ mình có quyền và nghĩa vụ gì đối với tập thể Không xác định rõ quyền và nghĩa vụ của cá nhân đối với tập thể, cá nhân sẽ thụ động, lệ thuộc vào tập thể, nhiều khả năng, tiềm năng của cá nhân không được phát huy, mỗi con người thu về với những phạm vi cá nhân nhỏ hẹp Vì vậy, khi cán bộ giáo viên, công nhân viên trong nhà trường ý thức được quyền làm chủ của mình, tính tự nguyện, tự giác thực hiện nghĩa vụ được giao, ý thức
vì nhà trường, vì xã hội được nâng cao Cán bộ giáo viên, công nhân viên trong nhà trường sẽ thẳng thắn phê bình, góp ý cho Ban Giám hiệu, cho chi bộ, cho đảng viên; QCDCCS được thực hiện tốt thì không những hạn chế được tiêu cực
mà còn khơi dậy được tính đoàn kết của tập thể sư phạm, tạo ra không khí phấn khởi, giúp cán bộ giáo viên, công nhân viên trong nhà trường hoàn thành tốt
Trang 26của nhà trường, khắc phục lối suy nghĩ và làm việc phần nhiều chỉ biết đến lợi ích riêng, lợi ích cá nhân Thông qua việc thực hiện QCDCCS trong nhà trường, thầy cô giáo và học sinh được làm chủ trong thực tế, tìm thấy lợi ích thiết thân của mình trong lợi ích chung của nhà trường và xã hội; gắn lợi ích cá nhân với lợi ích của tập thể; biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo
- Thực hiện QCDCCS ở trường học sẽ khơi dậy được tiềm năng trí sáng tạo, sức mạnh vật chất và tinh thần của cán bộ giáo viên, công nhân viên nhà trường và toàn xã hội để phát triển giáo dục Bác Hồ nhấn mạnh, trong bầu trời
không gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân Bác luôn tìm mọi cách để làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm
Tư tưởng ấy là nền tảng cho chúng ta xây dựng và thực hiện quyền làm chủ của thầy cô giáo, học sinh, của những người làm giáo dục, của gia đình và toàn xã hội vào sự nghiệp trồng người
Cán bộ giáo viên, công nhân viên sinh hoạt và làm việc trong nhà trường, nếu họ tự làm chủ thì mọi công việc trong nhà trường được giải quyết đến nơi, đến chốn Ngược lại, cán bộ giáo viên, công nhân viên không thông, không thấy được đó là công việc của chính mình thì mọi công việc của nhà trường sẽ trì trệ, dễ nảy sinh tâm lý cha chung không ai khóc QCDCCS ở trường học đưa ra cách tổ chức và cơ chế thích hợp để phát huy mọi tiềm năng,
sự suy nghĩ, óc sáng tạo, sức mạnh vật chất, tinh thần của CBGV-CNV trong các nhà trường và các nguồn lực khác để phát triển giáo dục
- Thực hiện QCDCCS ở trường học sẽ tăng cường kỷ cương, nề nếp, khắc phục các hiện tượng tiêu cực, nâng cao hiệu lực quản lý trong lĩnh vực giáo dục Dân chủ và kỷ cương là hai mặt thống nhất biện chứng với nhau Có
dân chủ, ý thức pháp luật của người dạy, người học được nâng cao thì kỷ cương trong nhà trường mới vững chắc Đồng thời kỷ cương pháp luật được nghiêm minh mới bảo đảm cho quyền làm chủ của người dạy, người học được thực thi
Trang 27Các hiện tượng tiêu cực trong quá trình dạy học, trong sử dụng tài sản, tài chính, trong tuyển sinh, thi cử sẽ bị xử lý theo pháp luật
Mặt khác, QCDCCS là những văn bản có tính pháp lý lại trở thành công
cụ, phương tiện để thực hành dân chủ Khi có sự kết hợp hài hòa giữa dân chủ
và kỷ cương trong nhà trường thì các cấp chính quyền phát huy tốt vai trò quản
lý của mình Ban Giám hiệu trong các cơ sở trường học xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong quá trình điều hành mọi hoạt động của nhà trường, trên cơ sở đó đổi mới quản lý giáo dục, nâng cao hiệu lực quản lý giáo dục trong nhà trường
- Thực hiện QCDCCS ở trường học sẽ xây dựng niềm tin và mối quan hệ chặt chẽ giữa cán bộ giáo viên, công nhân viên với cấp ủy Đảng và Chính quyền, với học sinh và phụ huynh học sinh Trong nhà trường, Ban Giám hiệu,
chi bộ Đảng, công đoàn, đoàn thể, công nhân viên, lãnh đạo và tổ chức các hoạt động của nhà trường để thực hiện nhiệm vụ của năm học Trong đó, QCDCCS đòi hỏi Ban Giám hiệu, chi bộ Đảng biết được như thế nào là thực hiện dân chủ với cán bộ giáo viên, công nhân viên, với học sinh Người dạy và người học được biết những gì, được bàn những gì, được làm những gì và kiểm tra những gì? Điều đó buộc lãnh đạo nhà trường phải theo sát và lắng nghe ý kiến của
người dạy và người học Mặt khác, lãnh đạo phải biết gương mẫu và biết thu
hút người dạy, người học tham gia vào mọi hoạt động giáo dục của nhà trường
1.3.4 Các nội dung triển khai thực hiện QCDCCS trường học
Quy chế dân chủ trong nhà trường được thể hiện qua các nội dung chủ
Trang 28+ Những việc phải trưng cầu ý kiến của CBGV-CNV trước khi Hiệu trưởng quyết định
+ Những việc mà CBGV-CNV có quyền giám sát kiểm tra
+ Những việc mà học sinh được biết, được tham gia ý kiến
Căn cứ vào tình hình thực tế của nhà trường Ban chỉ đạo thực hiện QCDCCS cụ thể hóa nội dung QCDCCS bằng các quy định, quy chế, quy ước Các quy định, quy chế, quy ước thể hiện quyền được biết, được bàn, được làm
và được kiểm tra của CBGV-CNV
Tuy nhiên, quyền này gắn liền với trách nhiệm của các chủ thể trong nhà trường là hiệu trưởng, giáo viên, học sinh, phụ huynh, các đoàn thể và tổ chức trong nhà trường
Những việc mà Hiệu trưởng nhà trường phải cho CBGV-CNV biết, phải trưng cầu ý kiến của CBGV-CNV trước khi quyết định:
Việc xây dựng một tập thể đoàn kết, phát huy được khả năng sáng tạo, ý thức tập thể của từng CBGV-CNV trong nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào năng lực lãnh đạo và tư cách đạo đức của Ban Giám hiệu đặc biệt là Hiệu trưởng - người quản lý điều hành mọi hoạt động của nhà trường, người chịu trách nhiệm trước pháp luật và cấp trên về toàn bộ hoạt động của nhà trường Với cương vị lãnh đạo quản lý cao nhất trong nhà trường, Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức thực hiện những quy định về trách nhiệm của nhà trường, của CBGV-CNV, của người học trong Quy chế dân chủ
Trong quá trình lãnh đạo, quản lý Hiệu trưởng vẫn phải thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, phải phối hợp chặt chẽ với các tổ chức, đoàn thể, CBGV-CNV trong nhà trường, phát huy dân chủ trong tổ chức các hoạt động của nhà trường Nguyên tắc tập trung dân chủ là sự kết hợp hữu
cơ giữa tập trung và dân chủ; tập trung phải trên cơ sở dân chủ và dân chủ phải dưới sự chỉ đạo của tập trung Thiếu sự chỉ đạo tập trung, dân chủ có thể trở
Trang 29thành vô chính phủ Coi nhẹ dân chủ là phá hoại tính tập thể lãnh đạo và sẽ dẫn đến tình trạng quan liêu, chuyên quyền, độc đoán Để thực hiện nguyên tắc này Hiệu trưởng phải lắng nghe và tiếp thu những ý kiến của cá nhân, tổ chức, đoàn thể trong nhà trường và có các biện pháp giải quyết đúng theo chế độ, chính sách hiện hành của Nhà nước, theo nội quy, quy chế, điều lệ của nhà trường và
phù hợp với thẩm quyền, trách nhiệm được giao
Để tạo điều kiện phát huy dân chủ trong nhà trường Hiệu trưởng phải thực hiện việc thông báo và trưng cầu ý kiến CBGV- CNV nhà trường trước khi quyết định những vấn đề có liên quan trong năm học, gồm:
- Những chủ trương, giải pháp thực hiện Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với nhà giáo, cán bộ, công chức
- Kế hoạch công tác năm học của nhà trường
- Các báo cáo sơ kết, tổng kết theo định kỳ trong năm học
- Kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ của nhà giáo, cán bộ, công chức
- Kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất của nhà trường, các hoạt động dịch
Căn cứ vào những quy định chung, điều kiện cụ thể của nhà trường, trên
cơ sở ý kiến tham gia đóng góp của CBGV – CNV nhà trường, Hiệu trưởng
Trang 30nhà trường với tư cách là người điều hành, quản lý mọi hoạt động của nhà trường có quyền đưa ra các quyết định cuối cùng nhằm thực hiện thành công nhiệm vụ năm học Sau khi thống nhất ra quyết định, Hiệu trưởng nhà trường cần phải thông báo công khai ngược trở lại cho CBGV- CNV biết những quyết định trên đồng thời thông báo công khai một số vấn đề về tài chính; tuyển dụng nâng lương, khen thưởng, kỷ luật giải quyết đơn thư khi khiếu nại tố cáo; sử dụng kinh phí và chấp hành chế độ thu, chi, quyết toán theo quy định hiện hành Hiệu trưởng phải thông báo công khai dự toán thu - chi ngân sách Nhà nước, công khai quyết toán thu chi ngân sách Nhà nước theo năm học; công khai dự toán quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản của năm học; công khai các khoản đóng góp và sử dụng các khoản đóng góp của tổ chức, cá nhân trong năm học… để CBGV-CNV được biết, qua đó giám sát, kiểm tra các hoạt động của nhà trường Đây là những công việc liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của CBGV-CNV, cần phải thực hiện theo quy định của pháp luật và cần phải công khai để CBGV-CNV tự bảo vệ quyền lợi của mình
Những việc CBGV- CNV được giám sát, kiểm tra: CBGV-CNV trong nhà trường là những người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ năm học của nhà trường, thực hiện quyền và nhiệm vụ của nhà giáo theo quy định của Luật giáo
dục, được biết, được bàn, được làm, được kiểm tra Những việc CBGV-CNV
trong nhà trường được giám sát, kiểm tra là:
- Việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, kế hoạch năm học của nhà trường
- Việc sử dụng kinh phí hoạt động, chấp hành chính sách, chế độ quản lý
và sử dụng tài sản của nhà trường
- Việc thực hiện nội quy, quy chế của nhà trường
- Việc thực hiện các chế độ, chính sách của Nhà nước về quyền lợi của CBGVCNV, học sinh trong nhà trường
Trang 31- Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong nội bộ nhà trường
Sau khi được biết, được tham gia ý kiến, CBGV-CNV được biết những ý kiến của họ có được đưa vào quyết định của Hiệu trưởng hay không, trong quá trình tổ chức thực hiện có tôn trọng ý kiến của CBGV-CNV, thực hiện đúng quy định, quy chế, quy ước đã được thống nhất hay không Việc giám sát, kiểm tra của CBGV-CNV được thực hiện từ khâu ra quyết định tới kết quả của việc thực hiện
Thực hiện tốt việc giám sát, kiểm tra chính là thể hiện ý thức xây dựng tập thể của mỗi CBGV-CNV Làm tốt công tác giám sát, kiểm tra là điều kiện
để cho Quy chế dân chủ được thực thi, đồng thời ngăn chặn kịp thời những vi phạm dân chủ, kỷ cương, nề nếp trong nhà trường, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của CBGV-CNV; của người học và uy tín của nhà trường
Những việc học sinh được biết và tham gia ý kiến:
- Theo quy định chung, để đảm bảo thực hiện quy chế dân chủ trường học thì người học trong các nhà trường phải được biết những nội dung sau đây:
+ Chủ trương, chế độ, chính sách của Nhà nước, của ngành và những quy định của nhà trường đối với người học
+ Kế hoạch tuyển sinh, kế hoạch đào tạo của nhà trường hàng năm
+ Những thông tin có liên quan đến học tập, rèn luyện, sinh hoạt và các khoản đóng góp theo quy định
+ Chủ trương, kế hoạch tổ chức cho người học phấn đấu trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, gia nhập các tổ chức, các đoàn thể trong nhà trường
Trên cơ sở những nội dung được biết, học sinh có thể chủ động lập kế hoạch học tập cho bản thân, định hướng cho quá trình phấn đấu rèn luyện của mình trong suốt thời gian học tập ở nhà trường Có ý thức thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Nhà nước, của ngành và của nhà trường
- Những việc người học được tham gia ý kiến:
+ Nội quy, quy định của nhà trường có liên quan đến người học
Trang 32+ Tổ chức phong trào thi đua và các hoạt động khác trong nhà trường có liên quan đến người học
+ Việc tổ chức giảng dạy, học tập trong nhà trường có liên quan đến quyền lợi học tập của học sinh
Đây là điều kiện để học sinh đóng góp ý kiến của mình vào việc nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường Quyền được góp ý vào việc tổ chức giảng dạy, học tập trong nhà trường có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi học tập của học sinh Qua ý kiến của học sinh đòi hỏi nhà giáo phải nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm, rèn luyện tư cách đạo đức, đổi mới phương pháp dạy học để phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo, tự học tự rèn luyện của học sinh
1.3.5 Các hình thức triển khai thực hiện QCDCCS trường học
Việc triển khai nội dung của Quy chế dân chủ trong trường học nói chung và trường tiểu học nói riêng được thực hiện thông qua hai hình thức cơ bản là dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện
Dân chủ trực tiếp được thực hiện bằng mối quan hệ trực tiếp giữa Hiệu
trưởng nhà trường và CBGV-CNV; giữa Hiệu trưởng và học sinh Hiệu trưởng nhà trường có thể phổ biến đến CBGV-CNV những vấn đề cần và phải được biết, được bàn, được làm, được kiểm tra một cách trực tiếp Ngược lại CBGV-CNV trực tiếp đề đạt nguyện vọng chính đáng liên quan tới quyền lợi của mình đến Hiệu trưởng, đóng góp ý kiến vào kế hoạch hoạt động của nhà trường, về lề lối làm việc, về nội quy, quy chế, về thi đua khen thưởng Đối với học sinh, trong trường hợp cần thiết, có thể gặp trực tiếp Hiệu trưởng nhà trường để đề xuất cách thức tổ chức các phong trào thi đua, các hoạt động của nhà trường đáp ứng được nguyện vọng của học sinh, có ý kiến về việc tổ chức dạy và học
ở lớp, ở trường mà mình đang tham gia học tập
Dân chủ gián tiếp được thực hiện thông qua các đơn vị, các đoàn thể, tổ
chức trong nhà trường Các đơn vị trong bộ máy quản lý của nhà trường đó là các tổ chuyên môn và các đoàn thể, tổ chức trong nhà trường như: Chi bộ
Trang 33Đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên; các phòng chức năng như: Hành chính, Tin học, Tài vụ, Bảo vệ, Thư viện, Thí nghiệm, …
Căn cứ vào từng nội dung của Quy chế dân chủ trong trường học để lựa chọn hình thức thực hiện dân chủ cho phù hợp, tuy nhiên trong thực tế hình thức dân chủ gián tiếp được sử dụng phổ biến và thường xuyên hơn vì CBGV - CNV không có nhiều điều kiện để gặp gỡ trao đổi trực tiếp với Hiệu trưởng, bên cạnh đó nhiều người có tâm lý e ngại khi gặp lãnh đạo nên thường thông qua tổ chức đại diện để phản ánh các ý kiến
Dân chủ đại diện được thực hiện bằng các hình thức sau :
- Hình thức thông báo đối với những việc CBGV-CNV phải được biết:
Hiệu trưởng nhà trường có thể lựa chọn các hình thức sau để thông báo cho CBGV-CNV trong nhà trường:
+ Phổ biến lồng ghép trong các buổi hội, họp của nhà trường (hội nghị cán bộ, công chức; các buổi họp chuyên đề…)
+ Thông qua các chương trình phát thanh nội bộ của nhà trường
+ Thông báo bằng văn bản gửi toàn thể CBGV-CNV
+ Niêm yết công khai những nội dung cần thông báo qua bảng tin, tại phòng Hội đồng nhà trường hoặc đăng tải trên website của trường
+ Thông báo cho người phụ trách các bộ phận, tổ trưởng chuyên môn và yêu cầu họ thông báo đến CBGV-CNV làm việc, sinh hoạt trong bộ phận đó
- Hình thức lấy ý kiến đối với những việc CBGV-CNV được tham gia ý kiến, Hiệu trưởng nhà trường quyết định:
CBGV-CNV tham gia ý kiến trực tiếp với người phụ trách công việc của
mình, tổ trưởng chuyên môn, trưởng phòng ban, với Hiệu trưởng nhà trường Việc tham gia ý kiến trực tiếp với tổ trưởng chuyên môn, trưởng phòng ban phụ
trách trực tiếp được thực hiện qua các buổi họp chuyên môn
Đối với các trường tiểu học theo quy định tổ chuyên môn họp 1 lần/1tuần, do đó hàng tuần CBGV – CNV có thể phản ánh những ý kiến của mình qua người đại diện của mình Ý kiến của CBGV-CNV được người
Trang 34phụ trách trực tiếp đề đạt với Hiệu trưởng vào cuộc họp của Ban Giám hiệu với các tổ trưởng chuyên môn 1 tháng một lần Trong trường hợp CBGV- CNV thấy cần thiết phải đề đạt ý kiến của mình ngay thì trực tiếp gặp Hiệu
trưởng để trình bày
- Hình thức để thực hiện những việc CBGV-CNV được giám sát, kiểm tra:
Để thực hiện việc giám sát, kiểm tra các hoạt động của nhà trường có liên quan đến quyền và lợi ích của mình, CBGV – CNV có thể thực hiện giám sát thông qua các hình thức:
+ Thông qua hoạt động của ban thanh tra nhân dân
+ Thông qua ý kiến chất vấn trực tiếp đối với BGH
+ Thông qua các đánh giá kết quả hoạt động các mặt công tác trong trường học
+ Thông qua theo dõi thực hiện các quy chế đã được xây dựng
- Hình thức để học sinh thực hiện những việc được biết và được tham gia
ý kiến:
Trong trường học phổ thông nói chung, nhất là trường tiểu học, giáo viên chủ nhiệm lớp là người đại diện cho nhà trường tổ chức các hoạt động thực hiện dân chủ của lớp mình Vì vậy, học sinh "được biết", được "tham gia ý kiến" thực hiện chủ yếu thông qua giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh học sinh Ngay từ đầu năm học giáo viên chủ nhiệm đã phổ biến những nội dung liên quan đến trách nhiệm của học sinh, thông báo công khai những quy định về nội quy, quy chế học tập, kết quả thi, tiêu chuẩn đánh giá xếp loại, khen thưởng kỷ luật; thông báo các khoản đóng góp theo quy định; các chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước đối với học sinh Giáo viên chủ nhiệm thường xuyên tiếp thu và tổng hợp ý kiến của học sinh, của cha mẹ học sinh để phản ánh cho Hiệu trưởng nhà trường
1.3.6 Những yêu cầu của việc đưa Quy chế dân chủ ở cơ sở vào trường học
Trang 35Việc đưa Quy chế dân chủ ở cơ sở vào trường học cần dựa trên những văn bản của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ GD&ĐT về việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở nói chung và thực hiện Quy chế dân chủ trường học nói riêng, với những bước đi cụ thể:
a, Thành lập Ban chỉ đạo thực hiện QCDC ở cơ sở từ phòng Giáo dục đến các trường học trên địa bàn thị xã Ban chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ gồm: Đại diện cấpủy, lãnh đạo nhà trường, đại diện của đoàn thể, thanh tra nhân dân, trưởng phòng, ban có liên quan do đồng chí Bí thư cấpủy hoặc lãnh đạo nhà trường làm trưởng ban Bám sát sự chỉ đạo của cấp trên về thực hiện QCDC ở cơ sở, Ban Chỉ đạo thực hiện QCDC ngành giáo dục xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện QCDCCS phù hợp với đặc thù địa phương và của ngành, đồng thời hướng dẫn thực hiện đến các cơ sở trực thuộc
b, Ban chỉ đạo thực hiện QCDCCS các cấp trong ngành giáo dục trong quá trình thực hiện cần đảm bảo yêu cầu sau:
Thứ nhất, tổ chức tuyên truyền, phổ biến, học tập quán triệt đến cán bộ
đảng viên và toàn thể cán bộ công nhân viên cơ quan Phòng giáo dục và CBGV-CNV trong các cơ sở trường học các Chỉ thị, Nghị quyết, Quy chế, Quy định của Đảng và Nhà nước, của ngành Giáo dục về dân chủ ở cơ sở Trên cơ
sở nắm chắc những văn bản về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở mỗi CNV trong các nhà trường phát huy quyền làm chủ của mình
CBGV-Thứ hai, Ban Giám hiệu các trường học cần bảo đảm cho CBGV-CNV
biết đầy đủ, chính xác những thông tin cần thiết để CBGV-CNV tham gia xây dựng, phát triển nhà trường
Thứ ba, CBGV-CNV và học sinh được công khai, dân chủ bàn bạc,
quyết định trực tiếp những việc cần làm để thúc đẩy nhà trường phát triển
Trên cơ sở hiểu biết các chủ trương, chính sách, pháp luật, CBGV-CNV
và học sinh nhà trường có quyền dân chủ bàn bạc quyết định những công việc thiết thực trong nhà trường như thực hiện chương trình đào tạo, cách quản lý của Ban Giám hiệu, sử dụng tài sản, tài chính; tuyển sinh, thi cử, đánh giá; cách
Trang 36đánh giá, thi đua, khen thưởng; việc dạy thêm học thêm, nếp sống vănhóa trong nhà trường v.v
c, Huy động CBGV-CNV, học sinh trong nhà trường tham gia ý kiến xây dựng quy chế, quy định,quy ước trong nhà trường như bản Quy chế đã xác định và theo nguyên tắc:
Nguyên tắc 1: Các nội dung không trái với các quy định tại các Nghị định của Chính phủ và chủ trương, chính sách có liên quan của Đảng, pháp luật của Nhà nước
Nguyên tắc 2: Chọn chủ đề, xác định nội dung xây dựng quy chế, quy ước, quy định (những vấn đề chung mà nhà trường nào cũng phải có và những vấn đề riêng trong hoạt động của nội bộ nhà trường và trong quan hệ với phụ huynh, với địa phương)
Nguyên tắc 3: Đảm bảo đúng quy trình dân chủ, công khai, được CBGV-CNV thảo luận, lãnh đạo nhà trường thông qua, ban hành Không cầu toàn chờ xong toàn bộ quy chế, quy định, quy ước để ban hành hàng loạt, chọn những nội dung bức xúc nhất, cần thiết nhất thì xây dựng trước và tổ chức thực hiện trước Trong quá trình thực hiện phải điều chỉnh, bổ sung những điều chưa phù hợp
Nguyên tắc 4: CBGV-CNV trong nhà trường trực tiếp kiểm tra, giám sát thúc đẩy các hoạt động của nhà trường
Không có sự kiểm tra nào hiệu quả hơn sự tự kiểm tra, giám sát của chính người dân tại cơ sở Quy chế dân chủ ở cơ sở quy định CBGV-CNV trong nhà trường được giám sát, kiểm tra những việc liên quan đến thực hiện chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và kế hoạch công tác năm học, những việc liên quan đến quyền và lợi ích của CBGV-CNV Sự kiểm tra, giám sát của CBGV-CNV trong nhà trường sẽ góp phần khắc phục các hạn chế, yếu kém, mở rộng phát huy các kinh nghiệm tốt, các việc làm hay, tạo đà cho nhà trường phát triển
1.4 Quản lý thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trường học
Trang 371.4.1 Quản lý thực hiện quy chế dân chủ trong trường học là một nội dung quản lý nhà trường tiểu học hiện nay
1.4.1.1 Khái niệm về quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
a Quản lý giáo dục:
Quản lý là quá trình tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý
nhằm điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con người để đạt tới mục đích, đúng với ý chí của nhà quản lỳ và phù hợp với quy luật khách quan
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, là quá trình truyền đạt và
lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và những kinh nghiệm nhằm chuẩn bị cho con người bước vào cuộc sống lao động và sinh hoạt xã hội; là nhu cầu tất yếu của xã hội loài người, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của con người
và xã hội
Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, là điều kiện tiên quyết để phát triển nguồn nhân lực con người, yếu tố cơ bản để xã hội phát triển nhanh và bền vững Giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội Giáo dục
có quy mô và cấp độ đa dạng phức tạp, thứ bậc, lại nhiều yếu tố cấu trúc khác nhau và chịu sự tác động của yếu tố khách quan luôn vận hành và tương tác trong mối quan hệ đa dạng… nhưng tuân theo các quy luật khách quan
Quản lý giáo dục: Để hoạt động giáo dục đạt các mục tiêu phát triển và
đảm bảo chất lượng, hiệu quả, không thể không có các tác động quản lý giáo dục Đó là quá trình tác động của chủ thể quản lý và toàn bộ hoạt động của giáo
dục nhằm thúc đẩy giáo dục phát triển theo mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã xác định Quản lý giáo dục được biểu hiện thông qua quản lý mục tiêu đào tạo, chương trình đào tạo, quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học, quản lý đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên, quản lý người học, và chất lượng giáo dục - đào tạo
Thuật ngữ Quản lý giáo dục cũng được nhiều học giả định nghĩa:
Trang 38M.I.Kônđacôp cho rằng: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có
kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau trên tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm mục đích bảo đảm việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của chương trình cũng như những quy luật của quá trình giáo dục, của
sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em” [8, Tr.243]
Theo tác giải Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội” [3, Tr.38]
Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn: “Quản lý giáo dục là tập hợp các biện pháp tổ chức, phương pháp giáo dục, kế hoạch hóa, tài chính nhằm đảm bảo
sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng và chất lượng” [40,Tr.29]
Nguyễn Ngọc Quang đã nêu:“Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho
hệ thống vận hành theo đường lối nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [37, Tr.35]
Như vậy, Quản lý giáo dục theo định nghĩa của Nguyễn Ngọc Quang thể
hiện đầy đủ nhất bản chất và nội hàm của khái niệm này
Quản lý giáo dục là quản lý quá trình hoạt động dạy và học bao gồm
quản lý tất cả các thành tố của hoạt động dạy - học, do đó những tác động của
nó lên hệ thống là những tác động kép, nhằm tạo ra một sức mạnh tổng hợp, chủ thể quản lý phải chú ý đến mối quan hệ quản lý dạy và học trong hoạt động giáo dục, quan hệ giữa các cấp quản lý, quan hệ giữa nội bộ và bên ngoài; các vấn đề kỹ năng, phong cách, chiến lược, ưu tiên trong quản lý… [22]
b Khái niệm và nội dung cơ bản của quản lý nhà trường
Trang 39Nhà trường là một thiết chế chuyên biệt trong một hệ thống tổ chức xã hội
thực hiện chức năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát triển của xã hội loài người
Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có mục đích, kế
hoạchhợp quy luật của chủ thể quản lý (Hiệu trưởng, các bộ phận chức năng, các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục cấp trên) nhằm làm cho quá trình giáo dục nói chung và các hoạt động giáo dục - dạy học cụ thể được tiến hành trong nhà trường đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu giáo dục của cấp học, bậc học và các mục tiêu phát triển nhà trường [46]
Nội dung cơ bản của quản lý nhà trường: Nội dung của quản lý nhà
trường được quy định tại Điều 58 Luật Giáo dục Việt Nam (sửa đổi, 2009) Quản lý nhà trường theo nhiệm vụ và quyền hạn sau:
- Công bố công khai mục tiêu giáo dục của nhà trường; tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục; xác nhận hoặc cấp văn bằng, chứng chỉ theo thẩm quyền;
- Tuyển dụng, quản lý nhà giáo, cán bộ, nhân viên; tham gia vào quá trình điều động của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đối với nhà giáo, cán bộ, nhân viên;
- Tuyển sinh và quản lý người học;
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp luật;
- Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa;
- Phối hợp với gia đình người học, tổ chức, cá nhân trong hoạt động giáo dục;
- Tổ chức cho nhà giáo, cán bộ, nhân viên và người học tham gia các hoạt động xã hội;
- Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục của cơ quan có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục;
- Các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
Trang 401.4.1.2 Vai trò của hiệu trưởng trong quản lý thực hiện QCDCCS nhà trường
- Đối với công tác quản lý nhà trường: Hiệu trưởng quản lý mọi hoạt
động của nhà trường theo chế độ thủ trưởng Hiệu trưởng là người phụ
trách cao nhất của nhà trường và chịu trách nhiệm về các hoạt động trong
nhà trường Hiệu trưởng là người đại diện theo pháp luật của nhà trường;
chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý và điều hành các hoạt động của nhà trường theo các quy định của pháp luật, Điều lệ trường học, các quy chế, quy định của Bộ GD & ĐT, quy chế tổ chức và hoạt động của trường đã được cơ quan chủ quản phê duyệt
Quy định chuẩn hiệu trưởng trường tiểu học (Ban hành kèm theo Thông
tư số 14/2011/TT-BGDĐT ngày 08 tháng 4 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) có 4 tiểu chuẩn: Phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp;
Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm; Năng lực quản lý trường tiểu học; Năng lực tổ chức phối hợp với gia đình học sinh, cộng đồng và xã hội Trong
đó gồm 18 tiêu chí
Theo điều 20, tại Thông tư số 50/2012/TT-BGDĐT ngày 18 tháng 12 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo v/v ban hành “Điều lệ trường Tiểu học” Hiệu trưởng trường tiểu học có những quyền hạn và trách nhiệm sau:
+ Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học, giáo dục; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền;
+ Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà trường; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó;
+ Phân công, quản lý, đánh giá, xếp loại; tham gia quá trình tuyển dụng, thuyên chuyển; khen thưởng, thi hành kỷ luật đối với giáo viên, nhân viên theo quy định;
+ Quản lý hành chính; quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính, tài sản của nhà trường;