1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng và sử dụng lược đồ trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 1975) ở lớp 12 trường THPT (chương trình chuẩn)

144 481 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 5,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các phòng học bộ môn được nâng cấp, tu bổ, xây dựng ngày càngkhang trang; đồ dùng trực quan được trang bị ngày càng nhiều, việc ứng dụngcông nghệ thông tin trong xây dựng và sử dụng lược

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

PHAN TRUNG KIấN

xây dựng và sử dụng lợc đồ trong dạy học lịch

sử việt nam (1954 - 1975) ở lớp 12 trờng thpt

(chơng trình chuẩn)

CHUYÊN NGàNH: Lý LUậN Và PPDH Bộ MÔN LịCH

Sử Mã Số: 60.14.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS TRẦN VIẾT THỤ

Trang 2

NGHỆ AN - 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác.

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến lãnh đạo trường Đại Học Vinh, phòng đào tạo Sau Đại học Vinh, các thầy cô giáo Khoa Lịch sử Trường Đại Học Vinh đã tận tình dạy dỗ và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cao học tại Trường Đại Học Vinh.

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và kính trọng đối với

PGS.TS Trần Viết Thụ đã tận tình hướng dẫn cho tôi một cách tỉ mĩ và chu

đáo trong quá trình thực hiện đề tài này.

Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Trường THPT Lê Hữu Trác 2 và Ban Giám hiệu Trường THPT Lê Hữu Trác 1, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh đã giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, khảo sát và thực nghiệm sư phạm

về tính khả thi của đề tài.

Xin trân trọng cảm ơn gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã giúp đỡ động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài.

Dù rất cố gắng, song luận văn không tránh khỏi những hạn chế thiếu sót, kính mong quý thầy cô và đồng nghiệp vui lòng góp ý, chỉ dẫn để đề tài được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Vinh, tháng 9 năm 2012

Tác giả

Phan Trung Kiên

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 7

4 Mục đích nghiên cứu 7

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 8

6 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 8

7 Giả thuyết khoa học của đề tài nghiên cứu 9

8 Đóng góp của luận văn 9

9 Cấu tạo của luận văn 10

NỘI DUNG 11

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG LƯỢC ĐỒ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (1954 - 1975) Ở LỚP TRƯỜNG THPT (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) 11

1.1 Cơ sở lý luận 11

1.1.1 Đồ dùng trực quan và cách phân loại 11

1.1.2 Đồ dùng trực quan quy ước và cách phân loại 13

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng lược đồ trong dạy học lịch sử 24

1.2.1 Mục đích điều tra khảo sát 24

1.2.2 Nội dung điều tra 25

1.2.3 Kết quả điều tra 25

Chương 2 XÂY DỰNG LƯỢC ĐỒ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN (1954 - 1975) Ở LỚP 12 - TRƯỜNG THPT (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) 27

2.1 Cơ sở để xây dựng lược đồ trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn (1954 - 1975) ở trường THPT (Chương trình chuẩn) 27

Trang 7

2.1.1 Dựa vào vị trí và mục tiêu của khóa trình lịch sử Việt Nam giai

đoạn (1954 - 1975) ở trường THPT (Chương trình chuẩn) 272.1.2 Dựa vào nội dung kiến thức cơ bản của khóa trình lịch sử Việt

Nam giai đoạn 1954 - 1975 ở trường THPT (Chương trìnhchuẩn) 292.1.3 Dựa vào trình độ nhận thức và đặc điểm tâm lí của học sinh trung

học phổ thông 342.1.4 Dựa vào điều kiện cơ sở vật chất của trường trung học phổ thông 35 2.2 Những yêu cầu đối với xây dựng lược đồ trong dạy học lịch sử

Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 ở lớp 12 trường THPT(chươngtrình chuẩn) 372.2.1 Xây dựng lược đồ phải căn cứ vào mục tiêu đào tạo, chương

trình cấp học và nội dung sách giáo khoa 382.2.2 Xây dựng lược đồ trong dạy học lịch sử phải đảm bảo tính Đảng 392.2.3 Xây dựng lược đồ trong dạy học lịch sử phải đảm bảo tính khoa học 412.2.4 Xây dựng lược đồ trong dạy học lịch sử phải đảm bảo tính thẩm

mĩ và hiện đại 432.2.5 Xây dựng lược đồ trong dạy học lịch sử phải đảm bảo yêu cầu giáo

dục tư tưởng, tình cảm đạo đức và phát triển nhân cách học sinh 442.2.6 Xây dựng lược đồ trong dạy học lịch sử phải phát huy tính tích

cực của học sinh 452.3 Hệ thống các lược đồ cần xây dựng trong khóa trình lịch sử Việt

Nam (1954 - 1945) ở lớp 12 - Trường THPT (Chương trình chuẩn) 462.4 Quy trình xây dựng lược đồ trong dạy học lịch sử ở trường trung

học phổ thông 562.4.1 Những nguyên tắc cơ bản khi xây dựng lược đồ giáo khoa lịch sử 562.4.2 Các bước xây dựng lược đồ giáo khoa lịch sử 64

Trang 8

Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG LƯỢC ĐỒ TRONG DẠY

HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN (1954 - 1975) Ở

LỚP 12 - TRƯỜNG THPT (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) 70

3.1 Những yêu cầu khi sử dụng lược đồ trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông 70

3.1.1 Phải nắm vững nội dung, ý nghĩa của lược đồ khi sử dụng 70

3.1.2 Phải xác định đúng thời điểm, địa điểm để sử dụng lược đồ 71

3.1.3 Phải sử dụng lược đồ theo hướng mở nhằm phát huy tính tích cực của học sinh 73

3.2 Các biện pháp sư phạm sử dụng lược đồ trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954- 1975) lớp 12 ở trường THPT (Chương trình chuẩn) 74

3.2.1 Sử dụng lược đồ phải kết hợp với câu hỏi nhận thức và hệ thống câu hỏi gợi mở 74

3.2.2 Sử dụng lược đồ phải kết hợp với bài tường thuật, miêu tả 75

3.2.3 Sử dụng lược đồ phải kết hợp với việc sử dụng đồ dùng hiện vật lịch sử 78

3.2.4 Sử dụng lược đồ phải kết hợp với tranh ảnh lịch sử 81

3.2.5 Sử dụng lược đồ phải kết hợp với việc ứng dụng công nghệ thông tin 84

3.3 Thực nghiệm sư phạm 88

3.3.1 Mục đích thực nghiệm 88

3.3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 88

3.3.3 Nội dung tiến hành thực nghiệm 88

3.3.4 Phương pháp thực nghiệm 98

3.3.5 Kết quả thực nghiệm 98

KẾT LUẬN 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102 PHỤ LỤC

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong dạy học lịch sử nguyên tắc trực quan là một nguyên tắc quan

trọng, nhằm tạo cho học sinh những biểu tượng và hình thành các khái niệmtrên cơ sở trực tiếp quan sát hiện vật hay đồ dùng trực quan minh họa cho sựvật

V.I.Lê-nin có một mệnh đề rất nổi tiếng “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng tới thực tiễn - đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan” Việc

nhận thức lịch sử cũng diễn ra theo con đường biện chứng như V.I.Lê-nin đã

nêu, tuy nhiên “trực quan sinh động” trong nhận thức lịch sử không thể bắt

đầu từ cảm giác trực tiếp về hiện thực lịch sử đã qua, mà từ những biểu tượngđược tạo nên trên cơ sở tiếp thu, tìm hiểu kiến thức qua tài liệu và bản đồ giáokhoa Từ biểu tượng mới xây dựng, tạo nên khái niệm lịch sử, có nội dung

khoa học phong phú Trong cuốn "Phương pháp dạy học lịch sử" của GS Phan Ngọc Liên, PGS Trần Văn Trị (chủ biên), các tác giả khẳng định "Do đặc điểm của dạy học lịch sử, không trực tiếp quan sát các sự kiện Trong dạy học lịch sử, phương pháp trực quan, góp phần quan trọng tạo biểu tượng cho học sinh, cụ thể hóa các sự kiện và khắc phục tình trạng“hiện đại hóa” lịch

sử của học sinh” [48, 43] Đồ dùng trực quan nói chung và lược đồ nói riêng

là chổ dựa để giúp học sinh hiểu biết sâu sắc bản chất của sự kiện, hình thànhcác khái niệm lịch sử, nắm vững các quy luật của sự phát triển xã hội, nhớ kĩ,hiểu sâu những hình ảnh, những kiến thức lịch sử Hình ảnh được giữ lại đặcbiệt vững chắc trong trí nhớ của chúng ta là hình ảnh mà chúng ta thu nhậnđược bằng trực quan Cùng với việc góp phần tạo biểu tượng và hình thànhkhái niệm lịch sử, đồ dùng trực quan còn phát triển khả năng quan sát, trítưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ cho học sinh, giáo dục cho học sinh lòng

Trang 10

yêu mến lãnh tụ, những anh hùng chiến sĩ cách mạng, lòng quý trọng laođộng, sự căm thù bọn xâm lược và chiến tranh.

Với tất cả ý nghĩa giáo dưỡng, giáo dục và phát triển nêu trên, đồ dùngtrực quan nói chung và lược đồ nói riêng góp phần to lớn nâng cao chất lượng

dạy học lịch sử, gây hứng thú học tập cho học sinh Nó là chiếc“cầu nối”giữa

quá khứ với hiện tại

1.2 Trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay, do nhu cầu đổi

mới về phương pháp dạy học, sự thay đổi về chương trình, sách giáo khoa chophù hợp với mục tiêu đào tạo đã có tác động rất lớn đến đội ngũ giáo viên Đa

số các thầy cô giáo đã có ý thức xây dựng và sử dụng lược đồ trong bài giảngcủa mình Các phòng học bộ môn được nâng cấp, tu bổ, xây dựng ngày càngkhang trang; đồ dùng trực quan được trang bị ngày càng nhiều, việc ứng dụngcông nghệ thông tin trong xây dựng và sử dụng lược đồ ngày càng phổ biến.Tuy nhiên bên cạnh đó trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông vấn đề xâydựng và sử dụng lược đồ vẫn còn có những bất cập sau:

- Việc xây dựng và sử dụng lược đồ ít được chú trọng, một số giáo viên

sử dụng còn mang tính hình thức, đối phó, chỉ thỉnh thoảng sử dụng trong cáctiết thao giảng, thanh tra, kiểm tra

- Nhiều giáo viên còn ngại khó trong việc xây dựng và sử dụng lược đồ

vì nó đòi hỏi sự công phu và mất nhiều thời gian, việc sử dụng mang tínhkhuyến khích chứ chưa trở thành nội dung bắt buộc thật sự

- Không ít giáo viên khi sử dụng chưa nắm vững nội dung, xuất xứ và ýnghĩa của lược đồ Giáo viên ở một số trường chưa được tổ chức bồi dưỡng,tập huấn mang tính chuyên đề về xây dựng và sử dụng lược đồ nên họ chưanắm chắc nghiệp vụ trong xây dựng và sử dụng

Những hạn chế trên dẫn đến tình trạng chất lượng dạy học bộ môn lịch

sử ở trường phổ thông chưa cao, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động,sáng tạo của học sinh trong học tập

Trang 11

1.3 Khóa trình lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 là một thời

kì quan trọng của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta, đây làgiai đoạn diễn ra cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước với nhiều sự kiện vềkinh tế, chính trị, quân sự và ngoại giao Đồng thời đây cũng là giai đoạn thểhiện cao độ truyền thống yêu nước, ý chí anh hùng bất khuất của nhân dân tatrong công cuộc xây dựng XHCN ở miền Bắc, đấu trang giải phóng miềnNam, thống nhất nước nhà Từ những nội dung của khoá trình lịch sử ViệtNam giai đoạn 1954 - 1975, rất cần thiết phải xây dựng và sử dụng lược đồ đểphát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử, góp phần nâng caochất lượng dạy học bộ môn

Tuy nhiên, vì nhiều lí do khách quan, chủ quan mà vấn đề xây dựng và

sử dụng lược đồ trong dạy học lịch sử ở giai đoạn này chưa được chú trọng vàquan tâm đúng mức nên đã làm ảnh hưởng lớn đến việc nâng cao chất lượngdạy học bộ môn

Vì những lý do cụ thể như vậy, tôi đã chọn đề tài "Xây dựng và sử dựng lược đồ trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 - 1975) ở lớp 12 trường THPT (chương trình Chuẩn)" làm luận văn cao học, vừa có ý nghĩa về mặt

khoa học, bổ sung cho lí luận dạy học lịch sử, nhất là việc xây dựng và sử

dụng lược đồ trong dạy học lịch, vừa có ý nghĩa thực tiễn, góp phần nâng caochất lượng dạy học bộ môn hiện nay

2 Lịch sử vấn đề

Việc xây dựng và sử dụng lược đồ trong dạy học lịch sử đã thu hút được

sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nghiên cứu lí luận dạy học, giáo dục,giáo dục địa lí và giáo dục lịch sử Cho đến nay đã có nhiều bài viết, côngtrình nghiên cứu của các nhà khoa học, nghiên cứu giáo dục, quản lý giáo dục

và các nhà sử học đề cập đến vấn đề này ở các khía cạnh và mức độ khácnhau

2.1 Ở nước ngoài

Trang 12

Xtrabôn (63TCN - 21 SCN) trong 17 cuốn sách viết về địa lí học, ông đãdành nhiều phần nói về bản đồ Ông đã xây dựng phép chiếu hình trụ giữ đềukhoảng cách và đưa ra cách thể hiện đối tượng địa lí (Ngôn ngữ bản đồ).Nhà bác học người Trung Quốc Bùi Tú (234 - 271) đã thành lập bản đồlãnh thổ Trung Quốc và đề ra 6 nguyên tắc đo vẽ bản đồ là Phân xuất (tỉ lệ );Chuẩn vọng (phương hướng); Đạo lí (khoảng cách ); Cao hạ (cao thấp);Phương tà (góc độ); và Vu trực (cong thẳng) Những nguyên tắc này có ýnghĩa thực tiễn rất lớn, đặc biệt đối với việc đo vẽ bình đồ.

Nhà bản đồ học người Hà Lan G.Mercator (thế kỉ XVI), ông đã cải tiếnchữ viết, đưa kiểu chữ in nghiêng vào bản đồ thay thế kiểu chữ gôtích Đặcbiệt ông đã đưa toán học vào Bản đồ học, chuyển mạng lưới kinh, vĩ tuyến từmặt hình cầu qủa đất sang mặt phẳng bản đồ và thành lập tập bản đồ Tiêubiểu cho những công trình này là: Bản đồ hàng hải thế giới (1569), vẽ theophép chiếu hình trụ thẳng đồng góc, đảm bảo vẽ các đường tà hành là đườngthẳng Ông được coi như người sáng lập ra ngành Bản đồ học hiện đại

John Loocke (1632 - 1704) - nhà giáo dục học người Anh - được xem làngười đi đầu trong việc nhận thấy tầm quan trọng của trực quan trong dạyhọc Trong các tác phẩm của mình, ông đã đề xuất quan niệm giảng dạy bằng

sự vật và bằng sự quan sát trực tiếp

J.J.Roueau (1712 - 1775) đã phát triển hơn nữa quan điểm của JohnLoocke; ông cho rằng cần phải nêu cao việc cho học sinh trực tiếp nhìn,ngắm, sờ, mó để rút ra hiểu biết cho bản thân

Nhà giáo dục người Tiệp Khắc (cũ) Cômenxki trong tác phẩm “Lý luận dạy học vĩ đại”(xuất bản năm 1863) Trong tác phẩm này ông cho rằng “tính trực quan” sẽ có khả năng làm cho lớp học sinh động, dạy học sinh hiểu biết

và nghiên cứu thực tế hiệu quả.

Viện sĩ N.G Đairi trong cuốn "Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?"

đã đề cập đến phương pháp trực quan Theo ông, “hơn tất cả các cách thức,

Trang 13

đó mà đánh giá các biến cố, các quá trình, các hình thái phát triển kinh tế xã hội” hoặc“việc hỏi và cách cho lập sơ đồ tổ chức bộ máy nhà nước… cho phép tái hiện sự hiểu biết vấn đề tốt hơn là hỏi cách khác” [ 19; 16].

Nhìn chung, các tác phẩm mà chúng tôi đã điểm qua ở trên đã đề cập đếnnhững nội dung, kĩ năng, hình thức xây dựng bản đồ; nhấn mạnh tầm quantrọng của nguyên tắc trực quan trong dạy học

2.2.Ở trong nước

Có nhiều tác phẩm, công trình nghiên cứu khoa học, sách, báo, luận văn,luận án đề cập đến lý luận và phương pháp sử dụng đồ dùng trực nhằm pháthuy tính tích cực của học sinh Tiêu biểu như các công trình sau:

- Giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử tập tập 2” của Phan Ngọc Liên

(chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi (xuất bản năm 2002) đã trìnhbày một số vấn đề lý luận về phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trongdạy học lịch sử ở trường phổ thông, vị trí, ý nghĩa của sử dụng đồ dùng trực

quan trong dạy học và cho rằng: “nguyên tắc trực quan là một trong những nguyên tắc cơ bản của lí luận dạy học, nhằm tạo biểu tượng cho học sinh và hình thành các khái niệm trên cơ sở trực tiếp quan sát hiện vật đang học hay

đồ dùng trực quan minh họa cho sự vật Trong dạy học lịch sử, phương pháp trực quan góp phần quan trọng tạo biểu tượng cho học sinh, cụ thể hóa các

sự kiện và khắc phục tình trạng“hiện đại hóa” lịch sử của học sinh” [48; 43] - Trong cuốn "Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THCS" của Phan Ngọc Liên và Trịnh Đình Tùng, các tác giả đã nhấn

mạnh việc đổi mới phương pháp dạy học lịch sử lấy học sinh làm trung tâmtrong dạy học, đề xuất nhiều biện pháp sư phạm, trong đó đề cập đến vấn đề

sử dụng đồ dùng trực quan, sử dụng đồ dùng trực quan quy ước

- Cuốn "Kênh hình trong dạy học lịch sử ở trường THPT" và cuốn

"Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa THCS" (phần lịch sử Việt Nam) của Nguyễn Thị Côi; cuốn "Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử THCS" (phần lịch sử Thế giới) của Trịnh Đình Tùng,

Trang 14

các tác giả đã hướng dẫn sử dụng các loại tranh, ảnh, lược đồ… kết hợp vớicâu hỏi nhận thức nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịchsử.

- Cuốn "Rèn kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn Lịch sử" của Nguyễn Thị

Côi (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Trần Viết Thụ, Nguyễn Mạnh Hưởng, ĐoànVăn Hưng, Nguyễn Thị Thế Bình (xuất bản năm 2009), trong chương IV, cáctác giả đã đề cập đến việc rèn luyện kĩ năng xây dựng và sử dụng các loại đồdùng trực quan trong dạy - học Lịch sử ở trường phổ thông

Cuốn“Đồ dùng trực quan trong việc dạy, học lịch sử ở trường phổ thông cấp II” của Phan Ngọc Liên - Phạm Kì Tá; cuốn "Bản đồ giáo khoa" của Lâm

Quang Dốc, các công trình nghiên cứu này đã trình bày một cách có hệ thống

về sử dụng đồ dùng trực quan và vấn đề kỹ thuật để thiết kế đồ dùng trựcquan, thiết kế lược đồ trong dạy học lịch sử

Ngoài ra còn có nhiều luận văn Thạc sĩ liên quan đến đề tài đã được bảo

vệ như "Rèn luyện kĩ năng xây dựng và sử dụng đồ dùng trực quan quy ước cho học sinh trong dạy học lịch sử thế giới hiện đại ở trường THPT" của Nguyễn Thị Hoa Khôi; "Xây dựng và sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử thế giới cổ trung đại ở trường THPT" của Nguyễn Kim Anh; "Xây dựng và sử dụng đồ dùng trực quan quy ước để phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử thế giới cận đại ở trường THPT" của Nguyễn Ngọc Hương; "Xây dựng và sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử thế hiện đại (1917 - 1945) ở lớp 11 trường THPT (chương trình Chuẩn) của Trương Thị Thu Hằng…

Hầu hết các công trình nghiên cứu trên đã có những đóng góp thiết thực

về lí luận, kỹ thuật và phương pháp để xây dựng, sử dụng đồ dùng trực quannói chung và lược đồ nói riêng trong dạy học lịch sử Tuy nhiên chưa có công

trình nghiên cứu khoa học nào đề cập cụ thể đến vấn đề "Xây dựng và sử dụng lược đồ trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 - 1975) ở lớp12 trường

Trang 15

THPT (chương trình Chuẩn)" Đó là nhiệm vụ mà luận văn của tôi cần phải

giải quyết

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Là quá trình xây dựng và sử dụng lược đồ trong dạy học lịch sử phầnLịch sử Việt Nam (1954 - 1975) ở lớp 12 trường THPT (chương trình Chuẩn)

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Từ xác định đối tượng nghiên cứu như đã nêu ở trên, luận văn không đisâu nghiên cứu lý luận về đồ dùng trực quan mà chủ yếu vận dụng nhữngthành tựu lý luận dạy học để xây dựng và sử dụng lược đồ trong dạy học Lịch

sử Việt Nam (1954 - 1975) ở lớp 12 trường THPT (chương trình Chuẩn) Các biện pháp sư phạm sử dụng lược đồ trong dạy học ở trường phổ thôngđược tiến hành trong nhiều hình thức khác nhau của quá trình dạy học; đó làtrong hình thành kiến thức mới cho học sinh, trong củng cố hệ thống hóa kiếnthức, trong công tác ngoại khóa, trong tự học ở nhà của học sinh và trongkiểm tra đánh giá

Tuy nhiên trong khôn khổ của luận văn này chúng tôi chỉ đi sâu nghiêncứu vấn đề xây dựng và sử dụng lược đồ trong dạy học bài hình thành kiếnthức mới cho học sinh

Để xác định tính khả thi của các biện pháp nêu ra, chúng tôi tiến hànhthực nghiệm sư phạm ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh HàTĩnh Trên cơ sở đó, chúng tôi rút ra kết luận của đề tài theo phương pháp từ

“điểm” suy ra “diện”.

4 Mục đích nghiên cứu

Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng của việc xây dựng

và sử dụng lược đồ trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông Qua

đó đề xuất quy trình xây dựng và sử dụng lược đồ trong dạy học lịch sử lịch

sử Việt Nam (1954 - 1975) ở lớp 12 trường THPT (chương trình Chuẩn) theo

Trang 16

hướng phát huy tính tích cực của học sinh, góp phần vào việc nâng cao hiệuquả dạy học lịch sử ở trường THPT.

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận về việc xây dựng và sử dụng lược đồ trong dạy họclịch sử ở trường THPT

- Nghiên cứu chương trình nội dung sách giáo khoa, sách giáo viên, tàiliệu chuẩn kiến thức kĩ năng lịch sử Việt Nam (1954 - 1975) ở lớp 12 trườngTHPT (chương trình Chuẩn) và xác định nội dung cần xây dựng và sử dụnglược đồ trong dạy học

- Khảo sát tình hình dạy học lịch sử Việt Nam (1954 - 1975) ở lớp 12trường THPT (chương trình Chuẩn) ở tỉnh Hà Tĩnh; đặc biệt là thực trạng củaviệc xây dựng và sử dụng lược đồ trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 -1975) Từ đó rút ra những khó khăn tồn tại cần khắc phục và những ưu điểmcần phát huy

- Đề xuất các biện pháp sư phạm để sử dụng lược đồ trong quá trình hìnhthành kiến thức mới cho học sinh thông qua các bài học lịch sử Việt Nam(1954 - 1975) ở lớp 12 trường THPT (chương trình Chuẩn) có hiệu quả

- Thực nghiệm sư phạm về các hình thức, biện pháp sử dụng trên tại một

số trường trung học phổ thông ở Hà Tĩnh, để làm cơ sở cho việc rút ra nhữngkết luận khoa học, những đề xuất kiến nghị nhằm xây dựng và sử dụng cóhiệu quả lược đồ trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 - 1975) ở lớp 12trường THPT (chương trình Chuẩn)

6 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

6.1 Cơ sở phương pháp luận

Quán triệt lý luận chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quanđiểm đường lối của Đảng và Nhà nước về lịch sử, văn hóa, giáo dục và lýluận dạy học bộ môn Lịch sử

6.2 Phương pháp nghiên cứu

Trang 17

- Nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu các tài liệu, văn kiện của Đảng, lýluận dạy học bộ môn, tâm lí học, giáo dục học, chương trình sách giáo khoaLịch sử lớp 12 ở trường THPT và các tài liệu liên quan khác.

- Điều tra thực tế việc xây dựng và sử dụng lược đồ trong dạy học lịch sử

ở các trường THPT nói chung, lịch sử Việt Nam giai đoạn (1954 - 1975) nóiriêng bằng phỏng vấn, quan sát, phiếu điều tra, dự giờ, thăm lớp, kiểm trađánh giá học sinh để có kết luận chính xác về thực trạng việc xây dựng và sửdụng lược đồ trong dạy học lịch sử

- Thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm từng phần các hình thức và biệnpháp sử dụng sử dụng lược đồ trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn(1954 - 1975), đối với lớp thực nghiệm và đối chứng đối ở các trường THPTtỉnh Hà Tĩnh để minh chứng cho tính đúng đắn, khả thi của biện pháp sưphạm đề ra, khẳng định vị trí, ý nghĩa của việc xây dựng và sử dụng lược đồtrong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 - 1975) ở lớp 12 trường THPT (chươngtrình Chuẩn)

- Phương pháp toán học thống kê: Sử dụng các công cụ toán học để xử líkết quả điều tra và thực nghiệm sư phạm

7 Giả thuyết khoa học của đề tài nghiên cứu

Dựa trên cơ sở nội dung sách giáo khoa lịch sử Việt Nam (1954 - 1975)

ở lớp 12 trường THPT (chương trình Chuẩn) Nếu tổ chức dạy học theohướng xây dựng và sử dụng lược đồ một cách hợp lý, thực hiện đúng quytrình và biện pháp theo đề xuất của luận văn sẽ góp phần nâng cao chất lượngdạy học lịch sử ở trường THPT, phát huy tốt năng lực và trí tuệ của học sinh

8 Đóng góp của luận văn

- Làm rõ thực trạng của việc xây dựng và sử dụng lược đồ trong trongdạy học lịch sử Việt Nam (1954 - 1975) ở lớp 12 trường THPT (chương trìnhChuẩn)

Trang 18

- Xác định nội dung kiến thức lịch sử cơ bản chi phối việc xây dựng và

sử dụng lược đồ trong trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 - 1975) ở lớp 12trường THPT (chương trình Chuẩn)

- Xây dựng các lược đồ cần thiết để giảng dạy phần lịch sử Việt Nam(1954 - 1975) ở lớp 12 trường THPT (chương trình Chuẩn)

- Đề xuất những nguyên tắc chung và biện pháp sư phạm về xây dựng và

sử dụng lược đồ trong dạy phần lịch sử Việt Nam (1954 - 1975) ở lớp 12trường THPT (chương trình Chuẩn) nhằm nâng cao hiệu quả bài học lịch sử

9 Cấu tạo của luận văn

Ngoài phẩn Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dungchính của luận văn được trình bày trong ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng lược

đồ trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 - 1975) ở lớp 12 trường THPT(chương trình Chuẩn)

Chương 2: Xây dựng lược đồ trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954

-1975) ở lớp 12 trường THPT (chương trình Chuẩn)

Chương 3: Một số biện pháp sử dụng lược đồ trong dạy học lịch sử Việt

Nam (1954 - 1975) ở lớp 12 trường THPT (chương trình Chuẩn)

Trang 19

NỘI DUNG Chương 1:

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG LƯỢC ĐỒ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (1954 - 1975) Ở LỚP 12 TRƯỜNG THPT (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Đồ dùng trực quan và cách phân loại

Mỗi môn học có những đặc trưng riêng vì vậy phương pháp dạy họccũng có những đặc trưng riêng phù hợp với từng môn học Trong lý luận dạy

học nguyên tắc trực quan là một nguyên tắc quan trọng: "Ý nghĩa cơ bản và hợp lý của nguyên tắc đó là ở chỗ nó đối lập với việc truyền thụ bằng lời một cách giáo điều Nguyên tắc này giúp học sinh, bằng kinh nghiệm của bản thân, nhìn thấy được tri thức cụ thể làm nền tảng cho tư duy" [44; 30].

Trong dạy học lịch sử nguyên tắc trực quan là một nguyên tắc cơ bản của

lí luận dạy học, nhằm tạo cho học sinh những biểu tượng và hình thành kháiniệm trên cơ sở quan sát hiện vật đang học hay đồ dùng trực quan minh họa

về sự vật K.Đ.U-sin-xki cho rằng "nguyên tắc trực quan là cách học không chỉ dựa vào lời nói, mà còn dựa vào những hình ảnh cụ thể mà học sinh trực tiếp thu nhận được" [34; 5].

Lý luận dạy học lịch sử quan niệm đồ dùng trực quan gồm 3 dạng:

- Đồ dùng trực quan hiện vật: Là những hiện vật do lịch sử để lại chứkhông do bàn tay con người tái tạo, xây dựng lại Ví như: cọc gỗ Bach Đằng,công cụ đá cũ núi Đọ, trống đồng Đông Sơn…

- Đồ dùng trực quan tạo hình: Bao gồm những gì thuộc về quá khứ lịch sử,

có khả năng khôi phục lại và được bàn tay con người tái tạo, xây dựng lại gầngiống với lịch sử một cách cụ thể, sinh động Ví như: hình vẽ, phim ảnh lịch

sử, sa bàn…

- Trực quan bằng lời nói: là phương pháp dùng lời nói sinh động mang tínhhình ảnh để miêu tả lại các sự kiện, hiện tượng, quy luật lịch sử…

Trang 20

Một số nhà nghiên cứu giáo dục học và các nhà nghiên cứu phương phápdạy học lịch sử chia đồ dùng trực quan thành 3 nhóm:

- Đồ dùng hiện vật (các di vật của nền văn hóa còn lưu lại)

- Đồ dùng tạo hình (tranh ảnh, phim nhựa, phim đèn chiếu, video, đồ phụcchế….)

- Đồ dùng quy ước (bản đồ, sơ đồ, đồ thị, niên biểu…)

Có người lại chia làm 6 loại:

- Hiện vật quá khứ

- Đồ dùng tạo hình và minh họa có tính chất tư liệu (ảnh, phim tài liệu )

- Đồ dùng tạo hình nghệ thuật (tranh lịch sử, phim truyện, chân dungnghệ thuật…)

- Loại hình khối (mô hình, sa bàn )

- Loại đồ dùng trực quan quy ước

cũ núi Đọ, trống đồng Đông Sơn, cọc gỗ Bạch Đằng, trống và cờ trong thời

kỳ Xô viết Nghệ - Tĩnh, truyền đơn cách mạng…)

- Nhóm thứ hai: Đồ dùng trực quan tạo hình, bao gồm các loại phục chế,

Trang 21

của con người, đồ vật, biến cố, sự kiện lịch sử một cách cụ thể, sinh động vàkhá xác thực bằng các phương tiện của nghệ thuật tạo hình

- Nhóm thứ ba: Đồ dùng trực quan quy ước là các loại bản đồ lịch sử, đồthị, sơ đồ, niên biểu… Loại đồ dùng trực quan này tạo cho học sinh nhữnghình ảnh tượng trưng, khi phản ánh những mặt chất lượng và số lượng củaquá trình lịch sử, đặc trưng khuynh hướng phát triển của hiện tượng kinh tế,chính trị - xã hội của đời sống Nó không chỉ là phương tiện để cụ thể hóa sựkiện lich sử mà còn là cơ sở để hình thành khái niệm cho học sinh

1.1.2 Đồ dùng trực quan quy ước và cách phân loại

1.1.2.1 Đồ dùng trực quan quy ước

"Đồ dùng trực quan quy ước là những bản đồ, ký hiệu hình học đơn giản được sử dụng trong dạy học lịch sử, loại đồ dùng này là đồ dùng mà giữa người thiết kế đồ dùng, người sử dụng và người học có một quy ước ngầm nào đó (về màu sắc, kí hiệu hình học và tỉ lệ xích)" [27;13].

Đồ dùng trực quan quy ước tạo cho học sinh những hình ảnh tượngtrưng, khi phản ánh những mặt chất lượng và số lượng của quá trình lịch sử,đặc trưng khuynh hướng phát triển của hiện tượng kinh tế, chính trị - xã hộicủa đời sống con người

Đồ dùng trực quan quy ước luôn thể hiện trong không gian, thời gian, địađiểm, cùng một yếu tố địa lí nhất định Thông qua quan sát đồ dùng trực quanquy ước, đọc kí hiệu, nội dung lịch sử được biểu hiện Việc sử dụng đồ dùngtrực quan quy ước trong dạy học lịch sử còn góp phát triển khả năng quan sát,trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ, đặc biệt là kĩ năng đọc bản đồ Trongdạy học lịch sử ở trường phổ thông, đồ dùng trực quan quy ước không chỉ làphương tiện để cụ thể hóa sự kiện, hiện tượng lịch sử mà còn là cơ sở để hìnhthành khái niệm cho học sinh Phát triển năng lực tư duy, khả năng thực hànhcho học sinh

1.1.2.2 Các loại đồ dùng trực quan quy ước

Trang 22

Trong dạy học lịch sử ở trường THPT, giáo viên thường sử dụng các loại

đồ dùng trực quan quy ước sau:

a Niên biểu: Là hệ thống hoá các sự kiện quan trọng được sắp xếp theo

thứ tự thời gian, đồng thời nêu lên mối liên hệ giữa các sự kiện cơ bản củamột nước hay nhiều nước trong một thời kỳ

Tuỳ vào từng nội dung của bài học lịch sử, có thể chia niên biểu ra mấyloại sau:

- Niên biểu tổng hợp: Là bảng liệt kê những sự kiện lớn xảy ra trong mộtthời gian dài Loại niên biểu này giúp học sinh không những ghi nhớ những

sự kiện lớn mà còn nắm chắc các mốc thời gian, đánh dấu mối quan hệ các sựkiện quan trọng

- Niên biểu chuyên đề: Là loại niên biểu nhằm đi sâu trình bày nội dungvấn đề quan trọng nổi bật nào đó của một thời kỳ nhất định, nhằm giúp họcsinh hiểu được bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử một cách đầy đủ vàtoàn diện Niên biểu chuyên đề chỉ ghi những sự kiện kiện cơ bản, nêu đượcnội dung chủ yếu của mỗi giai đoạn song lại vừa khôi phục đúng bức tranhlịch sử quá khứ, vừa thấy rõ sự phát triển lôgíc của lịch sử

- Niên biểu so sánh: Dùng để đối chiếu các sự kiện, so sánh các sự kiệnxảy ra cùng một lúc trong lịch sử, nhằm làm nổi bật bản chất đặc trưng củacác sự kiện ấy, hoặc để rút ra một kết luận khái quát có tính chất nguyên lý

b Sơ đồ, biểu đồ

- Sơ đồ là đồ dùng trực quan quy ước nhằm cụ thể hóa nội dung sự kiệnbằng những hình học đơn giản, diễn tả một tổ chức cơ cấu xã hội, một chế độchính trị, mối quan hệ giữa các sự kiện lịch sử

- Biểu đồ là sự biểu hiện tổng giá trị của hiện tượng trên một đơn vị lãnhthổ được lấy theo ranh giới hành chính bằng cách dùng các biểu đồ với kíchthước tương ứng, với tổng giá trị sản lượng của chúng bố trí trên phạm vi lãnhthổ Việc sử dụng biểu đồ giúp học sinh dễ xác định được giá trị của các hiện

Trang 23

c Đồ thị

Dùng để diễn tả quá trình phát triển, sự vận động của một sự kiện lịch sử,trên cơ sở nội dung số liệu, tài liệu thống kê trong bài học Đồ thị có thể biểudiễn bằng một mũi tên để minh hoạ sự vận động đi lên, sự phát triển của một

sự kiện, hiện tượng lịch sử và được biểu diễn trên các trục hoành (ghi thờigian) và trục tung (ghi sự kiện) Đồ thị có thể chia làm 2 loại:

- Đồ thị đơn giản: Phản ánh sự kiện, hiện tượng lịch sử đơn giản nhất

- Đồ thị phức tạp: Phản ánh nội dung của nhiều sự kiện, hiện tượng lịch sử

d Hình vẽ bằng phấn trên bảng đen

Là các hình vẽ nhằm minh hoạ những sự kiện đang được trình bày miệng

và không cần sử dụng một loại đồ dùng trực quan nào khác Sử dụng loạiphương tiện trực quan này đòi hỏi người giáo viên không chỉ có trình độchuyên môn sâu mà còn cả nghệ thuật sư phạm trong việc xử lý viên phấntrên bảng đen để đem lại kết quả tốt nhất

e Các phương tiện kỹ thuật trong dạy học lịch sử

Nhờ sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật mà việc áp dụng cácphương tiện kĩ thuật vào dạy học lịch sử ngày càng tăng Nói đến phương tiện

kĩ thuật giáo dục là trước hết nói đến các phương tiện dùng trong việc giảngdạy như phim ảnh, máy ghi âm, máy phóng hình… Trong dạy học lịch sử, cácphương tiện kĩ thuật thường được sử dụng là màn ảnh nhỏ, rađiô, máy ghiâm Những phương tiện này cần có trong dạy học lịch sử, song không thểnào thay thế cho các đồ dùng tực quan đã có, càng không thể thay thế giáoviên ở trên lớp Vì vậy vấn đề đặt ra là phối hợp thế nào các đồ dùng trựcquan vốn có và các phương tiện kỹ thuật hiện đại trong dạy học lịch sử và vaitrò của giáo viên sẽ như thế nào trong việc tổ chức dạy học có hiệu quả

h Bản đồ lịch sử

* Khái niệm: Do đặc điểm của việc học tập lịch sử (học sinh không trực

tiếp quan sát các sự kiện lịch sử), nên tính trực quan đóng vai trò rất quantrọng Bản đồ lịch sử là một loại đồ dùng trực quan quy ước mà trên đó phản

Trang 24

ánh các sự kiện lịch sử tồn tại độc lập tương ứng và có liên quan mật thiết vớinhau trong một giai đoạn lịch sử nhất định, phản ánh quá trình đấu tranh giaicấp và phát triển xã hội loài người Bản đồ góp phần tạo biểu tượng, cụ thểhóa thời gian, không gian lịch sử và hình thành các khái niệm cho học sinh.Đồng thời bản đồ lịch sử còn giúp học sinh suy nghĩ và giải thích các hiệntượng lịch sử về mối liên hệ nhân quả, về tính quy luật và trình tự phát triểncủa quá trình lịch sử, giúp các em củng cố, ghi nhớ những kiến thức đã học.Những bản đồ địa lí biểu hiện các yếu tố tự nhiên, xã hội, biểu hiện các

sự kiện, các hiện tượng lịch sử của một quốc gia hay một khu vực có nội dung

và phương pháp thành lập đáp ứng yêu cầu chương trình địa lí và lịch sử phổthông và sách giáo khoa được dùng trong trường học Nhờ chúng, học sinh cóthể hình dung vị trí địa lí cũng như phân bố không gian, sự phát triển theothời gian của đối tượng và hiện tượng tự nhiên và kinh tế - xã hội trên lãnhthổ khác nhau trên bề mặt trái đất Tất cả các loại bản đồ địa lí, bản đồ lịch sử

- quân sự, chính trị hay bản đồ về kinh tế - xã hội dùng trong nhà trường,trong hệ thống giáo dục quốc dân thì đều được gọi chung là bản đồ giáo khoa Dựa vào mục tiêu sử dụng trong việc dạy học địa lí và lịch sử,

U.C.Bilích và A.C.Vasmuc đã định nghĩa bản đồ giáo khoa như sau: "Bản đồ giáo khoa là những bản đồ được sử dụng trong mục đích giáo dục, chúng cần thiết cho việc giảng dạy lịch sử của giáo viên và học tập của học sinh ở tất cả các cơ sở giáo dục dưới mọi hình thức, tạo nên một hệ thống giáo dục cho tất

cả các từng lớp dân cư từ học sinh đến việc đào tạo các chuyên gia Những bản đồ đó cũng được sử dụng trong nhiều ngành khoa học, trước hết là địa lí

và lịch sử" [18;18].

Tuy nhiên về hình thức, bản đồ lịch sử không cần có nhiều chi tiết vềđiều kiện thiên nhiên (khoáng sản, sông núi…) mà cần có những kí hiệu vềbiên giới các quốc gia, sự phân bố dân cư, thành phố, các vùng kinh tế, địađiểm xảy ra những biến cố quan trọng (các cuộc khởi nghĩa, cách mạng, chiến

Trang 25

dịch…).Vì vậy, thường dùng là "lược đồ" để chỉ các loại bản đồ Các minh

họa trên lược đồ phải đẹp, chính xác, rõ ràng

Lược đồ giáo khoa lịch sử là loại đồ dùng trực quan phục vụ việc dạy học lịch sử, phục vụ cho ngành giáo dục phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp,cao đẳng và đại học Trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông có thể sử dụngcác loại lược đồ giáo khoa, như lược đồ treo tường, lược đồ trong sách giáokhoa lịch sử, át lát lịch sử, bản đồ câm, bản đồ nổi…Lược đồ lịch sử là mộtloại đồ dùng trực quan quy ước quan trọng, cần thiết nhằm giúp học sinh xácđịnh địa điểm của sự kiện trong thời gian và không gian nhất định Đồng thờilược đồ lịch sử còn giúp học sinh suy nghĩ và giải thích các hiện tượng lịch sử

-về mối quan hệ nhân quả, -về tính quy luật và trình tự phát triển của quá trìnhlịch sử, giúp các em củng cố, ghi nhớ những kiến thức đã học

* Phân loại

Hiện nay có nhiều tác giả trong và ngoài nước tiến hành phân loại lược

đồ lịch sử với nhiều tiêu chí khác nhau Dựa trên những tài liệu đã công bố cóthể phân loại lược đồ giáo khoa lịch sử như sau:

+ Phân loại lược đồ lịch sử theo tỉ lệ

Nếu dựa theo chỉ tiêu phân loại là tỉ lệ, thì lược đồ lịch sử có thể chia làm

3 loại:

- Lược đồ tỉ lệ lớn: Trên 1: 200.000 (lược đồ một trận đánh)

- Lược đồ tỉ lệ trung bình: Trên 1: 200.000 - 1: 100.000 (lược đồ một chiếndịch)

- Lược đồ tỉ lệ nhỏ: Dưới 1: 100.000 (lược đồ trình bày một giai đoạn lịchsử)

+ Phân loại lược đồ lịch sử theo phạm vi biểu hiện

Nếu dựa theo sự bao trùm lãnh thổ, thì lược đồ lịch sử có thể chia ra:

- Lược đồ biểu hiện toàn thế giới

- Lược đồ biểu hiện châu lục

- Lược đồ biểu hiện khu vực

Trang 26

- Lược đồ biểu hiện quốc gia.

- Lược đồ biểu hiện một vùng của quốc gia

- Lược đồ lịch sử một tỉnh

+ Phân loại lược đồ lịch sử theo đặc điểm sử dụng

Dựa vào đặc điểm sử dụng, lược đồ lịch sử có thể phân ra:

- Lược đồ giáo khoa treo tường

- Lược đồ giáo khoa để bàn

+ Phân loại lược đồ lịch sử theo mầu sắc

- Lược đồ giáo khoa nhiều mầu sắc

- Lược đồ giáo khoa một mầu

+ Phân loại lược đồ lịch sử theo nội dung

Nếu dựa vào nội dung lịch sử để phân loại, thì có thể phân lược đồ lịch sử ralàm ba loại:

- Loại lược đồ lịch sử chung: Phản ánh lịch sử của một nước hay một sốnước ở một thời điểm nhất định của quá trình phát triển lịch sử

Nội dung của lược đồ thể hiện biên giới quốc gia, sự phân bố các bộ lạc,

bộ tộc, các con đường buôn bán, các trung tâm công nghiệp, các điểm dân

cư, những nơi xảy ra các sự kiện lịch sử… Ngoài ra, có thể có một số đốitượng địa lí có liên quan trực tiếp đến sự kiện lịch sử

Lược đồ lịch sử cơ bản phản ánh những hiện tượng lịch sử ở trạng tháitĩnh và trạng thái động, sự hưng thịnh hay suy tàn của một đất nước, sự thayđổi ranh giới của một trận đánh, một cuộc khởi nghĩa Ví dụ, các lược đồ:

“Sự phân chia thuộc địa của các nước đế quốc cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX; Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918); Việt Nam giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 - 1939)”.

- Lược đồ tổng hợp: Nội dung của lược đồ phản ánh những biến cố lịch sử,thường là sự thay đổi về lãnh thổ trong một thời kì nào đấy Nó phản ánhnhững thời điểm, những yếu tố nối tiếp nhau trong sự phát triển của hiện

Trang 27

thuộc địa của Pháp vào những thế kỉ XVIII - XIX; Cuộc kháng chiến chống Pháp và can thiệp Mĩ của nhân dân Việt Nam (1945 - 1954)”.

- Loại lược đồ phân tích: Nội dung của lược đồ trình bày một sự kiện, mộtvấn đề, hay một mặt của quá trình lịch sử, như diễn biến một trận đánh, sựphát triển kinh tế của một nước trong một giai đoạn lịch sử Ví như lược đồ

“Chiến dịch Biên giới thu đông năm 1950; Nội chiến ở Pháp 1871”.

Nội dung lược đồ nêu chi tiết hiện tượng đang học, giúp học sinh nghiêncứu một cách sâu sắc các mặt khác nhau của đời sống xã hội trong quá khứnhư kinh tế, chính trị, đấu tranh giai cấp, quan hệ quốc tế và chiến tranh

* Vị trí, ý nghĩa của việc sử dụng lược đồ trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông

Qúa trình tiếp thu kiến thức của học sinh bao giờ cũng gắn liền với việchình thành những biểu tượng (hình ảnh) cụ thể trong óc các em Hình ảnhcàng đậm nét, được khắc sâu, thì việc nhận thức khái niệm càng chắc chắn,bền vững

Nhận thức luận Mác xít - Lê nin nít đã chứng minh rằng không có giớihạn tuyệt đối giữa hiện tượng và bản chất, bản chất được nhận thức thông quaviệc nhận thức hiện tượng Do đó lược đồ giáo khoa lịch sử khi đem lại chohọc sinh biểu tượng về quá khứ đã làm chổ dựa vững chắc cho học sinh dầndần nắm được những nét khái quát, điển hình tạo nên đặc trưng của nội hàmkhái niệm Nó là phương tiện dạy học có hiệu quả để hình thành khái niệmlịch sử, làm cho học sinh nắm được những quy luật của sự phát triển xã hội,

khắc phục tình trạng "hiện đại hoá" lịch sử Đặc biệt với dạy học lịch sử

không trực tiếp chứng kiến được những sự kiện biến cố đã qua trong quá khứnên lược đồ càng có vai trò quan trọng trong việc tạo biểu tượng cho học sinh,

cụ thể hóa các sự kiện lịch sử Vị trí, ý nghĩa của việc sử dụng lược đồ trongdạy học lịch sử thể hiện trên các mặt sau:

+ Đối với việc hình thành kiến thức cho học sinh

Trang 28

Trước hết lược đồ là công cụ giúp học sinh nắm vững sự kiện, tái hiệnđúng sự kiện đó và không những thế còn tìm ra bản chất của sự kiện, hiệntượng lịch sử, vì sự kiện lịch sử là cơ sở để khôi phục lại hình ảnh quá khứlịch sử Việc sử dụng lược đồ góp phần cụ thể thời gian, không gian xảy ra sựkiện, con người trong sự kiện đó, đặc biệt là hiểu sâu sắc được bản chất của

sự kiện lịch sử Lược đồ giúp cho học sinh hình dung lại quá khứ một cách cụthể, nhanh chóng, từ đó, biểu tượng được tạo nên trong óc học sinh và giúpcác em hình thành khái niệm lịch sử và rút ra quy luật và bài học lịch sử.Việc tạo biểu tượng cho học sinh là một vấn đề khó khăn vì phải tái hiệnhình ảnh lịch sử đúng như nó tồn tại mà học sinh không được trực tiếp quansát Lược đồ thể hiện đầy đủ nội dung thời gian, không gian xảy ra sự kiện, nógiúp học sinh hiểu bản chất sự kiện lịch sử với những tiến trình, diễn biếnthông qua việc trình bày bằng miệng của giáo viên

Lược đồ còn góp phần quan trọng vào quá trình hình thành khái niệmlịch sử cho học sinh Khái niệm lịch sử bao giờ cũng mang tính trừu tượng vàkhái quát cao vì nó không phản ánh một sự kiện riêng lẻ mà phản ánh nhữnghiện tượng đa dạng, phức tạp Nếu biểu tượng là hình ảnh thì khái niệm lạiphản ánh những thuộc tính và những quan hệ mà chúng ta không hình dungđược dưới hình ảnh trực quan Qúa trình hình thành khái niệm không đơngiản trong một thời gian ngắn, mà là cả một quá trình, trải qua nhiều bài, haymột chương Khái niệm được hình thành trên cơ sở biểu tượng lịch sử, biểutượng càng phong phú bao nhiêu thì hệ thống khái niệm mà học sinh thu nhậnđược càng vững chắc bấy nhiêu Cho nên việc sử dụng lược đồ hợp lí, khoahọc có thể đạt được mục đích là truyền tải nội dung chính của bài học lịch sửbao gồm những sự kiện chủ yếu, thuật ngữ, tên người, địa danh, niên đại…Trên cơ sở đó giúp học sinh dễ dàng trong việc hình thành khái niệm lịch sử,đồng thời tìm ra mối liên hệ, bản chất của các sự kiện đó và chu kỳ phát triểncủa lịch sử xã hội loài người

Trang 29

Ví dụ: Khi sử dụng lược đồ "Nguồn lợi của tư bản Pháp ở Việt Nam

trong cuộc khai thác thuộc địa lần II" trong bài "Những chuyển biến về kinh

tế và xã hội ở Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất" - lớp 12 (chương

trình Chuẩn), học sinh không những có biểu tượng về kế hoạch đầu tư khaithác của Pháp ở Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất mà từ đó, qua các

ký hiệu trên lược đồ thấy được sự ưu tiên của Pháp vào các cơ sở khai thácđặc biệt là ở Bắc Kỳ, những đầu tư về giao thông, thương mại… qua đó thểhiện sự tăng cường về thủ đoạn bóc lột, vơ vét của Pháp đối với nhân dân ta

Từ đó học sinh có cơ sở để nắm được những điểm nổi bật trong chương trìnhkhai thác thuộc địa lần thứ hai và so sánh với cuộc khai thác thuộc địa lần thứnhất

Lược đồ còn góp phần vào việc nêu quy luật và rút ra bài học lịch sử.Muốn nắm được quy luật thì học sinh phải hiểu rõ những bản chất của các sựkiện, nắm chắc được khái niệm Đây là vấn đề quan trọng và khó trong dạyhọc lịch sử vì không chỉ dựa trên một sự kiện, hiện tượng lịch sử riêng lẻ màphải nghiên cứu nhiều sự kiện, hiện tượng lịch sử và mối liên hệ giữa các sựkiện, hiện tượng lịch sử đó Qua việc sử dụng lược đồ trong dạy học cùng vớicác sự kiện, hiện tượng lịch sử đã biết thì học sinh nắm quy luật phát triển củalịch sử một cách thuận lợi

+ Về rèn luyện kỹ năng

Sử dụng lược đồ ngoài ý nghĩa tạo biểu tượng, hình thành khái niệm lịch

sử chính xác, lôgíc, thì còn góp phần to lớn vào việc phát triển kĩ năng trongquá trình học tập như quan sát, phân tích, so sánh, tổng hợp, đánh giá, rút ranhận xét, phát triển tư duy, trí tưởng tượng, ngôn ngữ và các kỹ năng kháccủa học sinh Nhìn vào lược đồ bao giờ học sinh cũng thích nhận xét, phánđoán, hình dung quá khứ lịch sử được phản ánh, minh họa như thế nào Họcsinh suy nghĩ và tìm cách diễn đạt bằng lời nói chính xác, có hình ảnh rõ ràng,

cụ thể về bức tranh xã hội đã qua Trên cơ sở đó lĩnh hội kiến thức, các kỹnăng, cũng như được rèn luyện qua quá trình được tiếp cận với các loại lược

Trang 30

đồ khác nhau, ngoài ra học sinh còn biết cách xem xét các sự kiện lịch sửtrong mối quan hệ của không gian, thời gian và xã hội

Ví dụ: Khi sử dụng lược đồ "Hình thái chiến trường trong đông - xuân

1953 - 1954" trong bài "Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953 - 1954)” - lớp 12, giáo viên cần hướng dẫn các em quan sát kĩ

các kí hiệu về vùng tự do, vùng du kích, vùng mới giải phóng trong chiếndịch đông - xuân 1953 - 1954, vùng địch tạm chiếm, tập đoàn cứ điểm ĐiệnBiên Phủ Trên cơ sở học sinh đọc, phân biệt các kí hiệu trên bản đồ, các em

sẽ thấy được vùng tự do của ta rất rộng lớn, vùng mới giải phóng và vùng dukích cũng được mở rộng, còn vùng địch tạm chiếm chỉ tập trung vào một vàiđiểm nhỏ trên lược đồ, lại bị ta bao vây bốn phía Học sinh cũng sẽ xác địnhđược trên lược đồ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ mà địch xây dựng ở mộtnơi rừng núi xa xôi, tuy có vị trí chiến lược nhưng thật khó để chúng thực

hiện âm mưu chiến lược“biến nơi đây thành cỗ máy xay thịt quân Việt Minh”.

Ngoài ra, qua sử dụng lược đồ còn rèn luyện cho học sinh năng tự học, tựnghiên cứu đặc biệt là rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh Ở đây làviệc sưu tầm, vẽ lược đồ, xây dựng các bài trình bày (miêu tả, tường thuật,giải thích) các sự kiện lịch sử, trình bày lịch sử theo lược đồ Việc thực hànhnày được tiến hành trong giờ tiếp thu bài mới, tự học ở nhà, trong giờ ngoạikhóa, hoạt động xã hội, nhất là trong giờ kiểm tra, thi cử để đánh giá học sinh

+ Về tư tưởng

Lược đồ lịch sử có tác dụng truyền cảm mạnh mẽ và sâu sắc Nó hìnhthành những phẩm chất đạo đức cần thiết cho học sinh theo những tiêu chuẩnđặc trưng của con người Việt Nam mà nhà trường phổ thông phải đào tạo, yêulao động, căm thù sâu sắc đối với chính sách áp bức bóc lột, đồng tình và ủng

hộ với những cuộc đấu tranh chính nghĩa, có tình cảm yêu nước chân chính,

tinh thần quốc tế vô sản… Ví như, thông qua sử dụng lược đồ Phong trào

Trang 31

26 - 4 đến ngày 30 - 4 - 1975)”…, học sinh sẽ có tình cảm mạnh mẽ về lòng

yêu mến lãnh tụ, những anh hùng, chiến sĩ cách mạng, sự căm thù bọn xâmlược và ngoại xâm…Việc sử lược đồ với ngôn ngữ rõ ràng, giàu hình ảnh,sinh động, hấp dẫn sẽ có tác động rất lớn đến trí tuệ và trái tim của học sinh.Bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu nước, hiểu rõ độc lập dân tộc gắn liền vớiCNXH, tinh thần đoàn kết dân tộc, tinh thần hữu nghị và hợp tác giữa các dântộc, niềm tự hào dân tộc, ý thức bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc Qua đó các

em sẽ thấy phải sống thế nào để có ích cho xã hội, trách nhiệm đối với cộngđồng và các em sẽ thấy yêu thích bộ môn lịch sử

Với những ý nghĩa nêu trên việc sử dụng lược đồ trong dạy học lịch sử

sẽ giúp học sinh không những tiếp thu tri thức lịch sử một cách nhanh chóng

có hệ thống mà còn giúp các em có niềm say mê và hứng thú học tập bộ môngóp phần to lớn nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học lịch sử Từ đó các

em có cái nhìn và thái độ đúng đắn, chính xác về lịch sử, nó là chiếc "cầu nối"

giữa quá khứ với hiện tại

Có thể mô hình hóa ý nghĩa của sử dụng lược đồ trong dạy học lịch sửbằng sơ đồ sau đây:

Vận dụng kiến thức

Thu nhận thông tin

Tư duy về thông tin

Minh họa, khắc sâu bổ sung sự kiện

Rèn luyện kĩ năng thực hành Lược đồ trong dạy học lịch sử

Trang 32

Sơ đồ trên chỉ rõ tác dụng của lược đồ trong dạy học lịch sử ở trường phổthông trên các lĩnh vực: Giáo dưỡng (bổ sung, củng cố, kiểm tra kiến thứckhoa học), giáo dục (bồi dưỡng thái độ, tình cảm, tư tưởng) và phát triển (tưduy và năng lực thực hành) Do đó, việc sử dụng lược đồ trong dạy học lịch

sử ở trường phổ thông là một điều kiện không thể thiếu được Giáo viênkhông chỉ được chuẩn bị chu đáo về việc nắm vững nội dung của lược đồ vànhất là biết sử dụng lược đồ trong dạy học, bao gồm việc trình bày kiến thứcmới, ôn tập, tổng kết và kiểm tra đánh giá Học sinh cũng được hướng dẫn,xây dựng lược đồ phù hợp với trình độ, yêu cầu và điều kiện học tập của cácem

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng lược đồ trong dạy học lịch sử

Để có được những nhận xét khách quan và khoa học về thực trạng củaviệc xây dựng và sử dụng lược đồ trong dạy học lịch sử nói chung, dạy họclịch sử Việt Nam ( 1954 - 1975) ở lớp 12 trường THPT (chương trình Chuẩn)nói riêng, chúng tôi tiến hành điều, tra khảo sát đối với 8 giáo viên và 180học sinh của 2 trường THPT Lê Hữu Trác 1 và THPT Lê Hữu Trác 2 trên địabàn tỉnh Hà Tĩnh

1 2.1 Mục đích điều tra khảo sát

- Điều tra về việc xây dựng và sử dụng lược đồ trong dạy học lịch sửnhằm phát huy tích tích cực của học sinh trong học tập bộ môn

- Qua đó làm cơ sở đối chiếu với lý luận khoa học, tìm ra nguyên nhâncủa thực trạng và từ đó đề xuất các nguyên tắc và biện pháp sư phạm thựchiện nhằm khắc phục các vấn đề còn tồn tại

- Đối tượng điều tra: Là giáo viên dạy lịch sử lớp 12 và học sinh ở trườngTHPT

- Phương pháp điều tra: Để tiến hành điều tra, chúng tôi trực tiếp đến cáctrường THPT tìm hiểu, quan sát sư phạm, dự giờ, tiếp xúc tra đổi với giáo

Trang 33

nghiệm khách quan, sau đó phân tích, xử lý các số liệu để có những cơ sở điđến kết luận.

1 2 2 Nội dung điều tra

- Đối với giáo viên: Tiến hành điều tra về nhận thức của họ về xây dựng

và sử dụng lược đồ trong dạy học bộ môn lịch sử ở trường THPT Nhữngthuận lợi và khó khăn của giáo viên khi xây dựng và sử dụng lược đồ trongdạy học bộ môn lịch sử (Phiếu điều tra xem ở Phụ lục 1)

- Đối với học sinh: Chúng tôi sẽ tiến hành điều tra về thái độ hứng thúcủa học sinh với việc thầy (cô) giáo có sử dụng lược đồ trong dạy học lịch sử.Nhận thức của học sinh về sự khác nhau giữa hai bài học lịch sử có sử dụnglược đồ và không sử dụng lược đồ Hiệu quả của bài học trong việc thườngxuyên sử dụng lược đồ trong dạy học bộ môn (Phiếu điều tra xem ở Phụ lục2)

1 2 3 Kết quả điều tra

Sau quá trình điều tra, xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê toán học

và các phương pháp khác, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

1.2.3.1 Phương tiện dạy học.

- Hiện nay, ở các trường THPT đồ dùng trực quan phục vụ cho việc dạyhọc lịch sử còn thiếu đặc biệt là lược đồ Lược đồ lịch sử do Bộ Giáo dục vàĐào tạo cung cấp vẫn chưa đáp ứng đủ

- Các phương tiện dạy học còn hạn chế về nội dung và số lượng Phònghọc bộ môn lịch sử hầu như chưa có

- Tài liệu phục vụ cho giảng dạy môn lịch sử chủ yếu là tài liệu thành văn,còn tài liệu về trực quan như hệ thống lược đồ, sơ đồ, biểu đồ, niên biểu, đồthị…,còn ít và chưa phong phú về nội dung

1.2.3.2 Việc dạy của giáo viên.

Hầu hết giáo viên đều nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của việcxây dựng và sử dụng lược đồ để phát huy tính tích cực của học sinh góp phần

nâng cao hiệu quả bài học lịch sử Tuy nhiên, nhiều giáo viên vẫn còn "ngại"

Trang 34

sử dụng lược đồ hay sử dụng mang tính đối phó do công tác chuẩn bị mấtnhiều thời gian, nội dung phải thực hiện trong một tiết dạy quá nhiều dẫn đến

Bên cạnh đó, do tác động của một số điều kiện và hoàn cảnh khác như:đời sống khó khăn, việc đầu tư về thời gian cũng như kinh phí để xây dựnglược đồ chưa được chú trọng…Vì thế dẫn đến những hạn chế của việc xâydựng và sử dụng lược đồ trong dạy học lịch sử

1.2.3.3 Việc học của học sinh.

Xuất phát từ một số quan niệm cho rằng môn lịch sử là "môn học phụ",

nên rất nhiều học sinh học lịch sử một cách đối phó và thụ động Thời gian

học trên lớp chủ yếu "lắng nghe, ghi chép" dẫn đến sự nhàm chán Chính vì

vậy mà các em chưa thật sự tham gia tích cực vào các quá trình hoạt độngnhận thức của của một giờ học lịch sử

Kết quả điều tra của học sinh cho chúng ta thấy rằng: Đa số lượng họcsinh cho rằng bài giảng lịch sử không sử dụng lược đồ sẽ làm cho các em mấthứng thú, nhàm chán, thụ động trong giờ học Tuy vậy, các em tỏ ra thích thúđối với những bài giảng có sử dụng lược đồ kết hợp phương tiện dạy học hiệnđại, từ đó kích thích được tính tích cực tư duy đối với học sinh

Qua đây chúng ta thấy rằng việc đổi mới phương pháp dạy học lịch sử làrất cần thiết và phải được thực hiện ngay ở các trường THPT

Tuy nhiên, do hạn chế về lý luận dạy học, thiếu thốn phương tiện, tài liệudạy học, một số giáo viên ngại đổi mới phương pháp dạy, học sinh xem lịch

sử là "môn phụ"… nên việc nâng cao hiệu quả bài giảng thông qua việc xây

dựng và sử dụng lược đồ nhìn chung còn hạn chế, việc dạy học nặng vềthuyết giảng, giáo viên làm việc nhiều, chưa phát huy được tính tích cực củahọc sinh, chưa thực sự hấp dẫn học sinh

Trang 35

Chương 2:

XÂY DỰNG LƯỢC ĐỒ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN (1954 - 1975) Ở LỚP 12 – TRƯỜNG THPT (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)

2.1 Cơ sở để xây dựng lược đồ trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn (1954 – 1975) ở trường THPT (chương trình Chuẩn)

2.1.1 Dựa vào vị trí và mục tiêu của khóa trình lịch sử Việt Nam giai đoạn (1954 – 1975) ở trường THPT (chương trình Chuẩn)

* Mục tiêu về kiến thức

Cần hình thành cho học sinh hệ thống kiến thức cơ bản sau:

- Tình hình nước ta sau Hiệp định Giơnevơ (những thuận lợi, khó khăn),trên cơ sở đó nhận thức được nhiệm vụ quan trọng của cách mạng hai miềnNam - Bắc Nêu được những thành tựu chủ yếu của miền Bắc trong cải cáchruộng đất, khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh (1954 - 1957) vàcải tạo quan hệ sản xuất (1958 - 1960) Trình bày khái quát được những thắnglợi quan trọng của cách mạng miền Nam trong giai đoạn 1954 - 1960 (đấu

tranh giữ gìn lực lượng hòa bình và "Đồng khởi" ) và giai đoạn 1961 - 1965 (chiến đấu chống chiến lược“Chiến tranh đặc biệt" của Mĩ).

- Biết và hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn cũng như hành động của đế quốc Mĩ ở

Việt Nam và trên toàn cõi Đông Dương thông qua các chiến lược "Chiến tranh cục bộ",“Việt Nam hóa chiến tranh" và mở rộng thành "Đông Dương hóa chiến tranh" Trình bày và phân tích được những thắng lợi quyết định của

quân dân ta trên cả hai miền đất nước trong chiến đấu chống chiến

lược“Chiến tranh cục bộ" và “Việt Nam hóa chiến tranh", buộc Mĩ phải ngồi

vào bàn đàm phán tại Pari để bàn về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở

Việt Nam Nêu và phân tích được nội dung, ý nghĩa của Hiệp định Pari năm

1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam

- Nắm được tình hình và nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Bắc kể từ

sau Hiệp định Pari năm 1973 về Việt Nam; chỉ rõ những âm mưu, hành động

Trang 36

mới của Mĩ và chính quyền Sài Gòn sau khi Hiệp định Pari năm 1973 và cuộc

đấu tranh của nhân dân ta ở miền Nam Phân tích được những điều kiện lịch

sử và thời cơ mới để Đảng ta đề ra kế hoạch giải phóng miền Nam Nội dung

của kế hoạch giải phóng miền Nam Trình bày tóm tắt những diễn biến chính

của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 Ý nghĩa của chiến chiến dịch

Hồ Chí Minh lịch sử Nêu và phân tích được nguyên nhân thắng lợi và ý

nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954 - 1975)

* Mục tiêu về giáo dục

- Hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn của Mĩ trong cuộc chiến tranh xâm lược ViệtNam thông qua từng chiến lược chiến tranh trong giai đoạn (1954 - 1975)

- Lên án những hành động, tội ác của Mĩ và chính quyền Sài Gòn trong

cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam; chia sẻ với đồng bào miền Nam vềnhững hy sinh mất mát trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt; bồi dưỡng tinhthần đoàn kết dân tộc, cảm thông với nhân dân miền Nam Nêu cao tinh thầnđoàn kết, liên minh chiến đấu của ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương trongcuộc chiến tranh chống đế quốc Mĩ xâm lược và tinh thần đoàn kết quốc tếtrong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc

- Bồi dưỡng cho thế hệ trẻ lòng yêu nước, tự hào về những chiến thắngoanh liệt của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống Mĩ; tin tưởng vào sựlãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới hiện nay

* Mục tiêu về kỹ nămg

- Nâng cao phương pháp học tập lịch sử theo hướng phát huy tính tích cực

để nắm vững kiến thức cơ bản, tìm hiểu mối quan hệ giữa các sự kiện, hiệntượng lịch sử Rèn luyện các kĩ năng phân tích, đánh giá, so sánh về nhiệm vụ

và những thắng lợi của cách mạng hai miền Nam - Bắc giai đoạn 1954 - 1960

và 1961 – 1965; so sánh được những điểm giống, khác nhau giữa hai chiến

lược“Chiến tranh cục bộ”(1965 1968) và“Chiến tranh đặc biệt”(1961

-1965) của Mĩ; đánh giá những âm mưu, thủ đoạn của Mĩ và chính quyền Sài

Trang 37

Gòn sau khi Hiệp định Pari năm 1973 về Việt Nam được kí kết; nhận địnhthời cơ để Đảng đề ra chủ trương giải phóng miền Nam

- Phát triển kỹ năng thực hành bộ môn phù hợp với đặc điểm và nội dungcủa chương trình

2.1.2 Dựa vào nội dung kiến thức cơ bản của khóa trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 ở trường THPT (chương trình Chuẩn)

Sau năm 1954, do âm mưu và hành động mới của Mĩ - Diệm nên nước ta

bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội khác nhau Nhân dânmiền Bắc vừa phải hàn gắn vết thương chiến tranh, cải cách ruộng đất, khôiphục kinh tế, cải tạo quan hệ sản xuất và bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội.Miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện hòabình thống nhất nước nhà Sau đây là nội dung cơ bản của khoá trình:

* Công cuộc cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế, cải tạo quan hệ sản xuất ở miền Bắc (1954 - 1960)

Thực hiện nhiệm vụ mới trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt, dưới sự lãnhđạo của Đảng và Chính phủ từ năm 1954 đến năm 1960, nhân dân miền Bắc

ra sức cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh

và cải tạo quan hệ sản xuất

Trong hơn 2 năm (1954 - 1956) miền Bắc tiến hành được 4 đợt cải cáchruộng đất, tịch thu ruộng đất và nông cụ của địa chủ chia cho hơn 2 triệu hộ

nông dân Khẩu hiệu“Người cày có ruộng” trở thành hiện thực.

Công cuộc khôi phục kinh tế trong 3 năm (1955 - 1957) đạt được nhiềuthành tựu, sản lượng lúa tăng so với trước, các cơ sở sản xuất được khôi phục

và xây dựng mới Hệ thống giáo dục từ phổ thông đến đại học được tiêuchuẩn hóa một bước, vấn đề chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được chú trọng,xây dựng nếp sống vui tươi, lành mạnh Tuy nhiên trong buổi đầu xây dựngđất nước không thể tránh khỏi những khuyết điểm hạn chế, những sai lầm đóđược Đảng và Chính phủ nghiêm khắc sửa chữa Sau công cuộc khôi phụckinh tế Đảng ta thực hiện chủ trương cải tạo XHCN đối với thành phần kinh

Trang 38

tế tư bản tư doanh, tiểu thương tiểu chủ, thợ thủ công và nông dân cá thể.Công cuộc cải tạo XHCN đã làm thay đổi căn bản cơ cấu kinh tế - xã hộimiền Bắc.

* Đấu tranh chống Mỹ - Diệm ở miền Nam (1954 - 1960)

Sau Hiệp định Giơnevơ, Mĩ từng bước thay thế Pháp và ép Pháp traoquyền cai trị ở miền Nam cho Ngô Đình Diệm nhằm biến miền Nam thành

thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự, ngăn chặn "làn sóng đỏ" đang phát triển ở

khu vực Đông Nam Á

Trước tình hình đó Trung ương Đảng đã đề ra nhiệm vụ cho cách mạngmiền Nam là chuyển từ đấu tranh vũ trang chống Pháp sang đấu tranh chínhtrị chống chế độ Mĩ - Diệm, bảo vệ hòa bình, giữ gìn và phát triển lực lượngcách mạng Phong trào đấu tranh chống chế độ Mĩ - Diệm diễn ra dưới nhiềuhình thức khác nhau, như mít tinh, biểu tình, bãi công, bãi khóa, bãi thị,…

Tiêu biểu là phong trào "Đồng khởi" (1959 - 1960), nổ ra ở Nam Bộ, Tây Nguyên và một số tỉnh Nam Trung Bộ Phong trào "Đồng khởi" đã giáng đòn

nặng nề vào chính sách thực dân mới của Mĩ, làm lung lay tận gốc chínhquyền tay sai Ngô Đình Diệm

Để tránh thất bại hoàn toàn ở miền Nam Việt Nam sau cuộc "Đồng khởi" (1959 - 1960), Mĩ chuyển sang chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" (1961- 1965) với âm mưu cơ bản là "dùng người Việt đánh người Việt"

Thực hiện kế hoạch, Mĩ tăng nhanh viện trợ quân sự cho Diệm, đưa vào

miền Nam nhiều "cố vấn" quân sự và lực lượng hỗ trợ chiến đấu Mở các cuộc hành quân càn quét, dồn dân, lập "Ấp chiến lược", bằng các kế hoạch

Stalây Taylo và kế hoạch Giônxơn - Mác Namara

Dưới ngọn cờ đoàn kết cứu nước của Mặt trận do Đảng lãnh đạo, quân dânmiền Nam đẩy mạnh đấu tranh chống Mĩ và chính quyền Sài Gòn, kết hợpđấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, nổi dậy tiến công địch trên cả bavùng chiến lược Đông - xuân 1964 - 1965, quân dân ta đã giành thắng lợi ở

Trang 39

Bình Giã (Bà Rịa), An Lão (Bình Định), Ba Gia (Quảng Ngãi), Đồng Xoài

(Bình Phước) Chiến lược“Chiến tranh đặc biệt”của Mĩ hoàn toàn bị phá sản.

* Chiến đấu bảo vệ miền Bắc XHCN, đánh bại "Chiến tranh cục bộ" của

Mĩ (1965-1968)

Đầu năm 1965, trước nguy cơ phá sản hoàn toàn của chiến lược "Chiến tranh đặc biệt", Mĩ ồ ạt đưa quân viễn chinh và quân chư hầu cùng với vũ

khí, phương tiện chiến tranh vào miền Nam nhằm đẩy mạnh chiến tranh xâm

lược, chuyển sang chiến lược“Chiến tranh cục bộ" ở miền Nam và mở rộng

“Chiến tranh phá hoại" ở miền Bắc

Mĩ đã mở các cuộc hành quân "tìm diệt" vào căn cứ của quân giải phóng ở

Vạn Tường - Quảng Ngãi (8 - 1965) và mở liền hai cuộc phản công chiếnlược trong hai mùa khô 1965 - 1966 và 1966 - 1967 bằng hàng loạt cuộc hành

quân "tìm diệt" và "bình định" vào vùng "đất thánh Việt cộng".

Nhân dân ta chiến đấu chống chiến lược“Chiến tranh cục bộ” của Mĩ bằng sức mạnh của cả dân tộc, của tiền tuyến và hậu phương, với ý chí "quyết chiến, quyết thắng giặc Mĩ xâm lược", mở đầu là thắng lợi ở Vạn Tường -

Quảng Ngãi (18 8 1965) Tiếp đó là thắng lợi trong hai mùa khô 1965

-1966 và -1966 - 1967, đập tan các cuộc phản công, hành quân "tìm diệt" và

"bình định" lớn của Mĩ.

Ở hầu khắp các vùng nông thôn và các thành thị diễn ra phong trào đấu tranh

chống ách kìm kẹp của địch, phá "Ấp chiến lược", đòi Mĩ rút về nước, đòi tự

do dân chủ Trên đà thắng lợi đó Đảng ta chủ trương mở cuộc Tổng tiến công

và nổi dậy trên toàn miền Nam Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu

Thân đã làm lung lay ý chí xâm lược của Mĩ, buộc Mĩ phải tuyên bố "phi Mĩ hóa" chiến tranh tức thừa nhân thất bại của "Chiến tranh cục bộ".

Cuối năm 1964 đầu năm 1965, đồng thời với việc đẩy mạnh chiến tranhxâm lược miền Nam, Mĩ mở rộng chiến tranh bằng không quân và hải quânphá hoại miền Bắc Nhằm phá tiềm lực kinh tế, quốc phòng, phá công cuộcxây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; ngăn chặn nguồn chi viện từ bên

Trang 40

ngoài vào miền Bắc và từ miền Bắc vào miền Nam; uy hiếp tinh thần, làmlung lay quyết tâm chống Mĩ của nhân dân ta ở cả hai miền đất nước Trongchiến đấu và sản xuất, phong trào thi đua chống Mĩ, cứu nước dâng cao, thể

hiện sáng ngời chân lý "Không có gì quý hơn độc lập tự do" Đến ngày

1-11-1968, Mĩ buộc phải tuyên bố ngừng hẳn ném bom, phá hoại miền Bắc

* Chiến đấu chống chiến lược"Việt Nam hoá chiến tranh” và "Đông Dương hoá chiến tranh" của Mĩ (1969 - 1973)

Đầu năm 1969, Mĩ đã thực hiện thí điểm ở các nước Đông Dương chiến lược toàn cầu mới, đề ra chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh” và "Đông Dương hoá chiến tranh” Tiếp tục thực hiện âm mưu "dùng người Việt đánh người Việt", "dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương"

Nhân dân ta chiến đấu chống chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh” của

Mĩ là chiến đấu chống lại một cuộc chiến tranh xâm lược toàn diện được tăngcường và mở rộng trên toàn Đông Dương Ta vừa chiến đấu chống địch trênchiến trường, vừa đấu tranh với địch trên bàn đàm phán

Ngày 6 - 6 - 1969, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam ViệtNam được thành lập Đó là chính phủ hợp pháp của nhân dân miền Nam ViệtNam Vừa ra đời, Chính phủ cách mạng lâm thời đã được 23 nước công nhận,trong đó có 21 nước đặt quan hệ ngoại giao

Trong hai năm 1970 - 1971, quân dân ta ở miền Nam cùng với quân dân hainước Lào và Campuchia đã giành những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược trênmặt trận quân sự, chính trị:

- Trong hai ngày 24 và 25- 4 - 1970, Hội nghị cấp cao nước Việt Nam - Lào

- Campuchia họp để đối phó với âm mưu của Mĩ ở Campuchia Hội nghị đãbiểu thị quyết tâm của nhân dân ba nước đoàn kết chiến đấu chống Mĩ

- Từ ngày 30 - 4 đến ngày 30 - 6 - 1970, Quân giải phóng miền Nam, có sựphối hợp của quân dân Campuchia đã đập tan cuộc hành quân xâm lượcCampuchia của 10 vạn quân Mĩ và quân Sài Gòn, loại khỏi vòng chiến đấu

Ngày đăng: 28/10/2015, 13:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

PHỤ LỤC 4: BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ  ĐIỀU TRA GIÁO VIÊN VỀ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG LƯỢC ĐỒ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ   Ở   TRƯỜNG   TRUNG   HỌC   PHỔ   THÔNG  (CHƯƠNG   TRÌNH CHUẨN) - Xây dựng và sử dụng lược đồ trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954  1975) ở lớp 12 trường THPT (chương trình chuẩn)
4 BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ ĐIỀU TRA GIÁO VIÊN VỀ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG LƯỢC ĐỒ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) (Trang 131)
PHỤ LỤC 5: BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ  ĐIỀU TRA HỌC SINH - Xây dựng và sử dụng lược đồ trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954  1975) ở lớp 12 trường THPT (chương trình chuẩn)
5 BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ ĐIỀU TRA HỌC SINH (Trang 134)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w