Thiết kế một số tiến trình dạy học có sử dụng hệ thống bài tập đã được xây dựng theo hướng phát huy tính tích cực tự lực của học sinh...69 3.4.3... Trước những lý do trên, tôi đã chọn đề
Trang 1ĐỖ THỊ VÂN
X¢Y DùNG Vµ Sö DôNG HÖ THèNG BµI TËP THEO H¦íNG PH¸T HUY TÝNH TÝCH CùC Tù LùC CñA HäC SINH TRONG D¹Y HäC CH¦¥NG “CHÊT
KHÝ” LíP 10 THPT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN – 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐỖ THỊ VÂN
X¢Y DùNG Vµ Sö DôNG HÖ THèNG BµI TËP THEO H¦íNG PH¸T HUY TÝNH TÝCH CùC Tù LùC CñA HäC SINH TRONG D¹Y HäC CH¦¥NG
Trang 3Trong suốt quá trình thực hiện Luận văn, tôi đã nhận được sự động
viên và giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn PGS TS Hà Văn Hùng,
người đã hướng dẫn tôi trong suốt thời gian qua Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ quý báu này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Sau Đại học và khoa Vật lý trường Đại học Vinh đã nhiệt tình giảng dạy và chỉ bảo cho tôi trong suốt khóa học
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và các giáo viên trong Trường THPT Quảng Xương II đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi tiến hành thực nghiệm đề tài của mình.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng luận văn vẫn không tránh khỏi thiếu sót Tác giả mong nhận được ý kiến góp ý của các Thầy, Cô, đồng nghiệp, bạn bè để kịp thời sửa chữa, hoàn thiện luận văn của mình.
Xin chân thành cảm ơn.
Vinh, tháng 10 năm 2012
Tác giả
Đỗ Thị Vân
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Đóng góp mới của luận văn 4
8 Cấu trúc của luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG BÀI TẬP VẬT LÝ TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 5
1.1 Quan niệm về phương pháp dạy học và phương pháp dạy học tích cực trong dạy học Vật lý 5
1.1.1 Quan niệm về phương pháp dạy học 5
1.1.2 Phương pháp dạy học tích cực trong dạy học Vật lý 5
1.2 Cơ sở lý luận về tính tích cực trong dạy học 8
1.2.1 Bản chất của học và chức năng của dạy trong hệ tương tác dạy học .8
1.2.2 Tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh 10
1.3 Bài tập Vật lý và việc bồi dưỡng năng lực tư duy cho học sinh trong quá trình dạy học 15
1.3.1 Vai trò của BTVL trong việc bồi dưỡng năng lực tư duy của học sinh 15
Trang 51.4 Định hướng tư duy cho học sinh trong quá trình giải bài tập Vật lý
161.5 Bài tập Vật lý 17
Trang 61.5.3 Vai trò của bài tập Vật lý 19
1.5.4 Phân loại bài tập Vật lý 21
1.6 Bảo đảm các yêu cầu cơ bản trong việc dạy học bằng bài tập 22
1.7 Quan hệ giữa hoạt động giải bài tập Vật lý với việc nâng cao tính tích cực tự lực cho học sinh 23
1.8 Tình hình sử dụng bài tập Vật lý để phát huy tính tích cực tự lực cho học sinh hiện nay 24
Kết luận chương 1 25
Chương 2 XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍCH CỰC TỰ LỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “CHẤT KHÍ” - LỚP 10 THPT 26
2.1 Mục tiêu dạy học chương “Chất khí” 26
2.1.1 Phân tích nội dung chương “Chất khí” trong chương trình Vật lý 10 THPT 26
2.1.2 Sơ đồ cấu trúc nội dung chương “chất khí” 28
2.2 Một số kiến thức cơ bản chương “Chất khí” 29
2.3 Xây dựng hệ thống bài tập theo hướng phát huy tính tích cực tự lực của học sinh trong dạy học chương “Chất khí”- Lớp 10, nâng cao 32
2.3.1 Nguyên tắc xây dựng, tuyển chọn và phân loại bài tập theo lôgic nhận thức trong hệ thống bài tập chọn lọc 32
2.3.2 Một số nét chung khi giải bài tập chương “Chất khí” 33
2.4 Các bài toán được đề cập trong chương “Chất khí” 34
2.4.1 Bài toán 1: “Thuyết động học phân tử chất khí, cấu tạo chất” 34
Trang 72.4.4 Bài toán 4: Bài toán về phương trình trạng thái của khí lý tưởng .55
2.4.5 Bài toán 5: Phương trình trạng thái Men-đê-lê-ep - Cla-pê-rông áp dụng cho hỗn hợp khí Định luật Đanton 60
2.4.6 Bài toán 6: Bài toán đồ thị 64
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 67
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 67
3.2 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 67
3.3 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 67
3.4 Nội dung thực nghiệm sư phạm 67
3.4.1 Công tác chuẩn bị 67
3.4.2. Thiết kế một số tiến trình dạy học có sử dụng hệ thống bài tập đã
được xây dựng theo hướng phát huy tính tích cực tự lực của học sinh 69
3.4.3 Tiến hành thực nghiệm 72
3.4.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm 73
3.5 Đánh giá kết quả học tập của học sinh 74
Kết luận chương 3 78
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Điều 28 Luật giáo dục (2005) quy định: “Phương pháp giáo dục phổthông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phùhợp với đặc điểm của từng môn học, lớp học, bồi dưỡng phương pháp tự học,khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thựctiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS ”
Trong những năm gần đây định hướng đổi mới này đã và đang đượcthực hiện ở tất cả các cấp học, các môn học, được thể hiện bằng việc đổi mớinội dung, chương trình sách giáo khoa và vận dụng các phương pháp dạy họctích cực trong dạy học Việc làm này đã góp phần nâng cao chất lượng vàhiệu quả trong dạy học và giáo dục
Trong dạy học, bài tập Vật lý giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trongviệc hoàn thành nhiệm vụ dạy học vật lý ở trường phổ thông Bài tập vật lýgiúp học sinh hiểu sâu sắc hơn những quy luật vật lý, những hiện tượng vật
lý, biết phân tích chúng và ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống
Khi giải các bài tập vật lý sẽ giúp hình thành các phẩm chất cá nhâncủa học sinh như tình yêu lao động, hăng say tim tòi, sáng tạo, khả năng độclập suy nghĩ, tự lực trước một vấn đề mới bài tập, phát triển tư duy học vàđam mê vật lý của học sinh Vì vậy, phương pháp giải bài tập vật lý làphương tiện quan trọng để giải toán vật lý đạt hiệu quả cao và có chất lượng
Qua tìm hiểu và nghiên cứu, tôi thấy một số thực trạng sau:
Về phía giáo viên:
Trình độ năng lực, tổ chức hoạt động dạy học của nhiều giáo viên cònnhiều hạn chế, phương pháp dạy học chủ yếu vẫn là truyền thụ một chiều
Thiếu kỹ năng sử dụng các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại nênkhó trực quan kiến thức làm cho học sinh giảm niềm tin vào khoa học
Trang 10Về phía học sinh:
Chưa xác định được động cơ học tập đúng đắn
Lối tư duy thụ động, ít quan tâm đến hiện tượng nên không hiểu bảnchất, nên khi đọc bài tập học sinh rất khó định hướng cách giải mà trông chờvào sự hướng dẫn của giáo viên
Nhiều học sinh ngại lao động trí óc, do dành nhiều thời gian vui chơigiải trí nên lười học, từ đó có lối học thụ động
Một yếu tố khách quan là nhiều học sinh có hoàn cảnh khó khăn nêncác em có ít thời gian dành cho học tập, có ít tài liệu tham khảo, ít giao lưu,rụt rè, nhút nhát nên trình độ tư duy lý luận thấp
Xuất phát từ đặc điểm của phần Vật lý phân tử và nhiệt học mà họcsinh đã được làm quen một phần ở lớp 8, nay lại được tiếp tục hoàn thiện ởmức cao hơn ở lớp 10, 11 trung học phổ thông Đây là phần rất trọng tâmnhưng lại rất trừu tượng, có liên quan đến phần cơ học, điện học, có nhiềuhiện tượng bị chi phối bởi các định luật Vật lý, thuyết Vật lý, liên quan đếncác máy móc, thiết bị, động cơ nhiệt, máy lạnh…
Trước những lý do trên, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập theo hướng phát huy tính tích cực tự lực của học sinh trong dạy học chương “Chất khí” - lớp 10 THPT.
2 Mục đích nghiên cứu
- Xây dựng và phát triển hệ thống bài tập chương “Chất khí”- Vật lý 10
- Thiết kế phương án dạy học với hệ thống bài tập đã soạn nhằm pháthuy tính tích cực tự lực của học sinh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng
- Bài tập trong dạy học Vật lý
Trang 11- Phương pháp giải các loại bài tập chương “Chất khí”.
- Học sinh lớp 10- THPT Quảng Xương II
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu bài tập phần “Chất khí”
- Tổ chức hoạt động dạy học phần “Chất khí” ở trường THPT QXII
4 Giả thuyết khoa học
Nếu áp dụng các phương pháp dạy học tích cực và hệ thống bài tập đãđược xây dựng trong dạy học chương chất khí – lớp 10 THPT thì sẽ nâng caohiệu quả học tập của học sinh và nâng cao tính tích cực tự lực học tập của họcsinh và khơi dậy niềm đam mê Vật lý
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Tìm hiểu cơ sở lý luận của vấn đề phát huy tính tích cực tự lực củahọc sinh
5.2 Hệ thống bài tập chương “Chất khí” nhằm phát huy tính tích cực tựlực của học sinh
5.3 Nghiên cứu cơ sở lý luận về BT trong dạy học Vật lý, mối liên hệgiữa nắm vững kiến thức và giải BTVL
5.4 Phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong việc BTVL của học sinh.5.5 Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa, chuẩn kiến thức kỹ năngVật lý lớp 10 chương “Chất khí” nhằm tạo cơ sở xây dựng hệ thống bài tập.5.6 Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng bài tập ở trường THPT QuảngXương II - huyện Quảng Xương - tỉnh Thanh Hóa
5.7 Thiết kế các phương án dạy học với hệ thống bài tập đã soạn nhằmphát huy tính tích cực tự lực của học sinh
5.8 Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi, hiệu quả của cácphương án đã thiết kế, điều chỉnh, hoàn thiện
Trang 126 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu lý luận: Đọc sách, tài liệu liên quan đến những vấn đềcủa đề tài
6.2 Nghiên cứu thực tiễn: Điều tra sơ bộ về việc giảng dạy BTVL ởtrường THPT Quảng Xương II, áp dụng cụ thể cho chương “Chất khí”
6.3 Thực nghiệm sư phạm ở trường THPT Quảng Xương II để đánhgiá các biện pháp đã đề xuất trong luận văn
7 Đóng góp mới của luận văn
Với hệ thống bài tập đã biên soạn khoa học, đa dạng, thực tế luận văn
sẽ là đóng góp tích cực vào công tác giảng dạy cho giáo viên; kích thích đượcniềm đam mê học Vật lý, tinh thần tự lực học tập của học sinh lớp 10 THPT
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung luận vănđược chia làm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng bài tập Vật lýtrong dạy học Vật lý ở trường phổ thông
Chương II: Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập theo hướng phát huytính tích cực tự lực của học sinh trong dạy học chương “chất khí” – lớp 10THPT
Chương III: Thực nghiệm sư phạm
Trang 131.1.1 Quan niệm về phương pháp dạy học
Theo lí luận dạy học, quá trình dạy học được xem như một quá trìnhkết hợp biện chứng giữa hoạt động dạy của GV với hoạt động học của HS Vìvậy bất cứ một phương pháp dạy học nào cũng là một hệ thống các hoạt động
có định hướng của GV nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt động thựchành của HS, đảm bảo cho HS nắm vững nội dung trí dục và đạt được cácmục tiêu đã đề ra Nói cách khác, phương pháp dạy học là cách thức hoạtđộng có tổ chức và tác động lẫn nhau của người giáo viên và của học sinhnhằm đạt được các mục tiêu dạy học đã đặt ra
Như vậy, phương pháp dạy học có những dấu hiệu đặc trưng sau:
- Phản ánh sự vận động của quá trình nhận thức của học sinh nhằm đạtđược mục đích đặt ra
- Phản ánh sự vận động của nội dung đã được nhà trường quy định
- Phản ánh cách thức trao đổi thông tin giữa thầy và trò
- Phản ánh cách thức điều khiển hoạt động nhận thức, kích thích vàxây dựng động cơ, tổ chức hoạt động nhận thức và kiểm tra, đánh giá kếtquả hoạt động
1.1.2 Phương pháp dạy học tích cực trong dạy học Vật lý
a) Các đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp tích cực dùng để chỉ một nhóm phương pháp giáo dục,dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học
Trang 14Các phương pháp dạy học tích cực có những đặc trưng sau:
- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
- Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Tùy theo mức độ tham gia của học sinh vào quá trình nghiên cứu vàgiải quyết vấn đề, người ta phân chia dạy học giải quyết vấn đề thành bốnmức độ [11.95]
Mức độ Học sinh chứng kiến Học sinh tham gia trực tiếp
Mức độ 2:
Tìm tòi một
phần
Quá trình tìm tòi vấn đề thínghiệm kiểm tra
- Suy đoán giả thuyết
- Suy luận lôgic từ giả thuyếttiên đoán hiện tượng mới
- Xây dựng phương án thínghiệm kiểm tra giả thuyết/
hệ quả giả thuyết
Trang 15- Quan sát ghi nhận kết quả
- Xử lý số liệu thí nghiệm
- Khái quát hóa rút ra kết luận
- Ghi nhận tri thức mới
- Vận dụng tri thức mớiMức độ 3:
Cách hiểu thứ hai: PPTN theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các khâu củaquá trình nhận thức từ việc đặt vấn đề trên cơ sở các sự kiện thực nghiệmhoặc quan sát, đến khâu đề ra giả thuyết, tiến hành thí nghiệm kiểm tra giảthuyết, xử lý kết quả và rút ra kết luận về vấn đề nghiên cứu
Các yếu tố của PPTN gồm:
1 Đặt vấn đề trên cơ sở quan sát hoặc sự kiện thực nghiệm
2 Đề xuất giả thuyết
3 Suy ra hệ quả lôgic
4 Xác lập phương án thí nghiệm để kiểm tra giả thuyết hoặc hệ quảcủa giả thuyết
5 Tiến hành thí nghiệm, xử lí kết quả
Trang 166 Rút ra kết luận xác nhận hay bác bỏ giả thuyết.
Như vậy, trong PPTN Vật lý bao hàm cả quan sát, đo đạc, các phép suyluận tương tự… song chúng không phải là những phương pháp độc lập màvới tư cách là những thủ thuật thực nghiệm
* Phương pháp dạy học kết hợp giữa tập thể và cá nhân - dạy học theo nhóm
Trong học tập không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hìnhthành bằng con đường hoạt động cá nhân đơn thuần Bởi vì, trong một lớphọc trình độ kiến thức, tư duy của HS không thể đồng đều tuyệt đối Để đảmbảo cường độ và tiến độ học tập diễn ra như mong muốn, đạt hiệu quả cao thìviệc phối hợp giữa các cá nhân trong hoạt động học tập là rất cần thiết Lớphọc là một môi trường giao tiếp giữa thầy - trò, trò - trò tạo nên mối quan hệhợp tác giữa các cá nhân trên con đường đi tìm chân lí Thông qua thảo luận,tranh luận trong tập thể, ý kiến cá nhân được điều chỉnh, khẳng định hay bác
bỏ Qua đó người học nâng lên một trình độ mới; bài học vận dụng đƣợc vốnhiểu biết, kinh nghiệm của mỗi cá nhân và cả lớp
Trong hoạt động học tập hợp tác, tính cách và năng lực của mỗi cánhân được bộc lộ, được uốn nắn; tình bạn, ý thức tổ chức kỉ luật, tinh thầntương trợ cộng đồng được phát triển
1.2 Cơ sở lý luận về tính tích cực trong dạy học
1.2.1 Bản chất của học và chức năng của dạy trong hệ tương tác dạy học
1.2.1.1 Bản chất hành động của sự học
Theo quan điểm tâm lý học tư duy, sự học là sự phát triển về chất củacấu trúc hành động Tùy thuộc vào sự phát triển cấu trúc hành động học củachủ thể mà chất lượng, hiệu quả của sự học có thể khác nhau ứng với cùngmột hành vi bề ngoài giống nhau Ở đây hành vi được xem như kết quả biểu
Trang 17hiện bên ngoài của hành động còn cách thức để đạt tới kết quả đó được xemnhư cấu trúc bên trong của hành động học
Theo Phạm Hữu Tòng: “Sự học phải là một quá trình hình thành và pháttriển của các dạng thức hành động xác định, thông qua thích ứng của chủ thể vớitình huống hoạt động của chủ thể tồn tại tương ứng với động cơ thúc đẩy hoạt động
đó Hoạt động có đối tượng cấu thành từ hành động, hành động gồm các thao tác.Hành động có mục đích, điều kiện, phương tiện cụ thể” [14]
Như vậy ta có thể hiểu: Sự học nói chung là sự thích ứng của người họcvới những tình huống thích đáng làm nảy sinh và phát triển ở người họcnhững dạng hoạt động xác định, phát triển ở người học những năng lực thểchất, tinh thần và nhân cách của cá nhân
1.2.1.2 Chức năng tổ chức, kiểm tra, định hướng hành động của sự dạy
Như đã nói ở trên, học là hành động của HS xây dựng kiến thức cho
bản thân và vận dụng kiến thức của mình Điều đó cũng có nghĩa dạy học là
dạy hành động (hành động chiếm lĩnh tri thức và hành động vận dụng trithức) Do đó, trong dạy học, GV cần tổ chức các tình huống học tập đòi hỏi
sự thích ứng của HS, đồng thời kiểm tra và định hướng hành động của HStheo một chiến lược hợp lí sao cho HS tự chủ chiếm lĩnh tri thức, đồng thờinăng lực trí tuệ và nhân cách toàn diện của họ từng bước phát triển
Trong hệ tương tác dạy học, tương tác trực tiếp giữa các học sinh vớinhau và giữa học sinh với giáo viên là sự trao đổi, tranh luận giữa các cá nhânvới nhau Nhờ đó từng cá nhân học sinh tranh thủ sự hỗ trợ xã hội từ phíagiáo viên và tập thể học sinh trong quá trình chiếm lĩnh xây dựng tri thức
1.2.2 Tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh
1.2.2.1 Khái niệm và phân loại tính tích cực hoạt động nhận thức
Trang 18a) Khái niệm
Tính tích cực là các hoạt động nhằm chuyển biến vị trí của người học
từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ động tìmkiếm tri thức để nâng cao hiệu quả “Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạtđộng nhận thức của học sinh đặc trưng ở khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ vànghị lực
Tính tích cực học tập là một hiện tượng sưphạm biểu hiện ở sự gắngsức cao về nhiều mặt trong hoạt động học tập Học tập là một trường hợpriêng của nhận thức, vì vậy nói tới tính tích cực học tập thực chất nói tới tínhtích cực nhận thức
Như vậy, tính tích cực học tập chính là phẩm chất, là sự cố gắng củamỗi HS Đối với HS trong quá trình học tập đòi hỏi phải có những nhân tố,tính lựa chọn thái độ đối với đối tượng nhận thức, đề ra cho mình mục đích,nhiệm vụ cần giải quyết sau khi đã lựa chọn đối tượng, cải tạo đối tượng tronghoạt động sau này nhằm giải quyết vấn đề Hoạt động mà thiếu những nhân tốtrên thì không thể nói là tính tích cực nhận thức
b) Phân loại tính tích cực hoạt động nhận thức
Tính tích cực trong hoạt động học tập của HS có thể đạt được ở nhiềucấp độ tùy thuộc vào phẩm chất và sự cố gắng của mỗi em Tùy theo việc huyđộng chủ yếu những chức năng tâm lí nào và mức độ huy động những chứcnăng tâm lí đó mà người ta phân ra ba loại tính tích cực:
- Tính tích cực tái hiện (bắt chước): Chủ yếu dựa vào trí nhớ và tư duy
tái hiện (học sinh tích cực bắt chước hoạt động của GV và các bạn trong lớp)
- Tính tích cực tìm tòi: Đặc trưng bởi bằng sự bình phẩm, phê phán,
tìm tòi tích cực về mặt nhận thức, óc sáng kiến, lòng khao khát hiểu biết,hứng thú học tập (học sinh tự giải quyết được các vấn đề đã nêu ra, lựa chọn
Trang 19được lời giải hợp lý nhất trong các cách giải quyết đã biết) Tính tích cực đókhông hạn chế trong khuôn khổ những yêu cầu của GV.
- Tính tích cực sáng tạo: Đây là cấp độ cao nhất của tính tích cực nhận
thức; nó đặc trưng bằng con đường khẳng định riêng của mình, không giốngvới con đường mà mọi người đã thừa nhận, đã trở thành chuẩn hóa (HS cókhả năng mang kiến thức đã biết vào tình huống mới, phát hiện những vấn đềmới trong tình huống đã biết…)
1.2.2.2 Nguyên nhân của tính tích cực nhận thức và các mặt của tính tích cực nhận thức
a) Nguyên nhân của tính tích cực nhận thức.
Tính tích cực nhận thức của HS nảy sinh trong quá trình học tập nhưng
nó là kết quả của nhiều nguyên nhân, có nguyên nhân hình thành từ quá khứ,thậm chí từ lịch sử lâu dài của nhân cách
Tính tích cực của nhận thức phụ thuộc vào các nhân tố như: hứng thú,nhu cầu, động cơ, năng lực, ý chí, sức khỏe, môi trường… Trong đó hứng thú
là nhân tố được GV quan tâm nhất, vì:
- Có thể hình thành hứng thú ở HS một cách nhanh chóng và bất kì lúcnào của quá trình dạy học
- Có thể gây hứng thú cho HS ở mọi lứa tuổi
- Quan trọng hơn cả là việc gây hứng thú cho HS nằm trong khả năngcủa người thầy “Người thầy có thể điều khiển hứng thú của học sinh qua cácyếu tố của quá trình dạy học: nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức
tổ chức qua các bước lên lớp như mở bài, bài giảng mới, củng cố, vận dụng,kiểm tra kiến thức, mối quan hệ thầy - trò”
b) Các mặt của tính tích cực:
Tính tích cực bao gồm hai mặt: mặt tự phát và mặt tự giác
Trang 20- Mặt tự phát: là yếu tố tiềm ẩn của từng cá nhân học sinh; nó biểu hiệnbằng tính tò mò, hiếu kì, hiếu động, linh hoạt và sôi nổi trong hành vi mà ở trẻđều có trong mức độ khác nhau.
- Mặt tự giác: là trạng thái tâm lí có mục đích và đối tượng rõ rệt, thểhiện óc quan sát, tính phê phán, tính tò mò khoa học
Tính tích cực nhận thức có hạt nhân là hoạt động tư duy của cá nhânđược tạo nên do sự thúc đẩy của hệ thống nhu cầu đa dạng Tính tích cực nhậnthức và tính tích cực học tập có liên quan chặt chẽ với nhau nhưng không phảiđồng nhất Trong một số trường hợp, có thể tích cực ở bên ngoài mà khôngphải là tích cực ở trong tư duy Tính tích cực bên ngoài được biểu hiện ở sựthực hiện các nề nếp, các yêu cầu của GV, các thao tác, hành vi bên ngoài cóthể kiểm soát được Mặt khác, do bản thân HS có động cơ, mục đích học tập,khi tiếp thu các tác động bên ngoài đã biến thành những nhu cầu nhận thức,tích cực đào sâu suy nghĩ một cách tự giác, đó là tính tích cực bên trong đẫnđến sự độc lập phát triển của cá nhân Tính tích cực bên ngoài là cần thiếtnhưng tính tự giác bên trong là yếu tố quyết định sự phát triển của mỗi cá thể
1.2.2.3 Biểu hiện và vai trò của tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh
a) Biểu hiện của tính tích cực hoạt động nhận thức
Tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh biểu hiện ở chỗ:
- Sự chú ý học tập của học sinh, sự hăng hái tham gia vào giải quyếtcác vấn đề học tập,
- Thường xuyên có những thắc mắc, đòi hỏi giáo viên giải thích cặn kẽcác vấn đề chưa rõ
- Có hứng thú học tập
- Học sinh chủ động linh hoạt sử dụng các kiến thức, kĩ năng hoạt động
để nhận thức các vấn đề mới
Trang 21- Học sinh mong muốn được đóng góp những thông tin, kiến thức mớitìm hiểu được ở các nguồn tài liệu khác nhau.
- Biết vận dụng các kiến thức vào giải bài tập hoặc áp dụng vào trongthực tiễn
- Có quyết tâm, ý chí vươn lên trong học tập, có khả năng sáng tạotrong giải quyết các vấn đề học tập
b) Vai trò của tính tích cực hoạt động nhận thức trong quá trình học tập:
Trong quá trình dạy học, hoạt động chính của HS là tích cực, tự giáclĩnh hội kiến thức Trong quá trình này, hoạt động học tập của HS diễn radưới sự chỉ đạo trực tiếp của GV; sự giúp đỡ của GV nhiều hay ít tùy thuộcvào đối tượng, trình độ nhận thức của học sinh, tùy theo từng giai đoạn của sựhọc tập
Thực tế cho thấy: Nếu trong quá trình dạy học, GV chỉ giảng giải cho
HS, đem kiến thức đến cho các em dưới dạng “chuẩn bị sẵn” thì HS không cóhứng thú theo dõi bài giảng, không nắm vững kiến thức, càng không thể biến
nó thành giá trị riêng của bản thân; từ đó sinh ra ỉ lại, không cố gắng nỗ lực,kiên trì trong học tập
Ngược lại, quá trình dạy học mà hoạt động nhận thức của HS kết hợpchặt chẽ với sự điều khiển của GV thì không những HS chăm chú nghe giảng
mà còn hăng hái tham gia giải quyết vấn đề; kết quả là các em nắm vững cáctri thức, kĩ năng, kĩ xảo
Có thể nói, tính tích cực học tập là điều kiện cần thiết để HS tiếp thu tàiliệu một cách có ý thức, đồng thời phát triển tư duy; khi đó kiến thức vừa lĩnhhội được mới trở thành vốn riêng của bản thân
1.2.2.4 Các biện pháp phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức
Các biện pháp để phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của HS cóthể được tóm tắt như sau:
Trang 22- Nói lên ý nghĩa lí thuyết và thực tiễn, tầm quan trọng của vấn đềnghiên cứu.
- Nội dung dạy học phải mới, cái mới ở đây không phải là xa lạ quá đốivới học sinh, cái mới phải liên hệ với cái cũ; kiến thức phải có tính thực tiễn,gần gũi với sinh hoạt, với suy nghĩ hàng ngày, thỏa mãn nhu cầu nhận thứccủa các em
- Phương pháp dạy học phải đa dạng (phát hiện và giải quyết vấn
đề, thí nghiệm, thực hành, so sánh, làm việc độc lập…) và phối hợp chúngvới nhau
- Sử dụng các phương tiện dạy học, đặc biệt là các dụng cụ trực quan
có tác dụng tốt trong quá trình kích thích hứng thú của HS
- Sử dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau: Cá nhân, nhóm,tập thể, làm việc trong phòng thí nghiệm…
- Thầy giáo, bạn bè động viên, khen thưởng kịp thời khi có thành tíchhọc tập tốt
- Luyện tập dưới các hình thức khác, vận dụng kiến thức vào thực tiễn,các tình huống mới
- Kích thích tính tích cực qua thái độ, cách ứng xử giữa GV và HS
- Phát triển kinh nghiệm sống của HS trong học tập
Như vậy, để phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của HS THPTđối với bộ môn Vật lý trước hết phải xác định động cơ, tạo hứng thú và nhucầu học tập cho các em Mặt khác, Vật lý học là một bộ môn khoa học thựcnghiệm, GV có thể tạo ra những tình huống bất ngờ kích thích nhu cầu đi tìmnguyên nhân của các hiện tượng khoa học, sử dụng thí nghiệm một cách khoahọc… để HS phải chú ý, tạo hứng thú học tập và bắt buộc tư duy tìm cáchgiải quyết vấn đề, chính những điều đó sẽ phát huy tính tích cực hoạt độngnhận thức trong học tập Vật lý của HS
Trang 231.3 Bài tập Vật lý và việc bồi dưỡng năng lực tư duy cho học sinh trong quá trình dạy học
1.3.1 Vai trò của BTVL trong việc bồi dưỡng năng lực tư duy của học sinh
- BTVL có vai trò vô cùng quan trọng, chúng được sử dụng trongDHVL với những mục đích khác nhau
- BTVL được sử dụng như các phương tiện nghiên cứu tài liệu mới khitrang bị kiến thức mới cho học sinh nhằm đảm bảo cho học sinh lĩnh hội kiếnthức một cách sâu sắc và vững chắc BTVL có thể là điểm khởi đầu để dẫndắt kiến thức mới ở bậc trung học phổ thông với trình độ toán học đã khá pháttriển, nhiều khi các bài tập được sử dụng khéo léo có thể dẫn học sinh đếnnhững suy nghĩ về một hiện tượng mới hoặc xây dựng khái niệm mới để giảithích hiện tượng mới do bài tập đưa ra
- BTVL là phương tiện rèn luyện cho học sinh kĩ năng kĩ xảo vận dụngkiến thức, liên hệ lý thuyết với thức tiễn, đời sống Có thể xây dựng rất nhiềubài tập có nội dung thực tiễn, trong đó yêu cầu học sinh phải vận dụng kiếnthức lý thuyết để giải thích các hiện tượng có thể xảy ra trong thực tiễn ởnhững điều kiện cho trước
- BTVL là phương tiện có tầm quan trọng đặc biệt trong việc rèn luyện
tư duy, bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học cho học sinh bởi vì giảibài tập Vật lý là hình thức làm việc căn bản của học sinh Trong quá trình giảiBTVL học sinh phải phân tích điều kiện trong đề bài, tự xây dựng những lậpluận, thực hiện việc tính toán khi cần thiết phải tiến hành cả thí nghiệm, xácđịnh sự phụ thuộc hàm số giữa các đại lượng để kiểm tra kết luận của mình.Trong những việc làm cụ thể đó, tư duy lôgic, tư duy sáng tạo của học sinhđược nâng cao Có nhiều bài tập Vật lý không chỉ dừng lại trong phạm vi vậndụng những kiến thức đã học mà còn giúp học sinh bồi dưỡng tư duy sángtạo Đặc biệt là bài tập giải thích hiện tượng, bài tập thí nghiệm
Trang 24- BTVL là phương tiện ôn tập và củng cố kiến thức đã học một cáchsinh động và có hiệu quả.
- Thông qua việc giải bài tập Vật lý có thể rèn luyện được những đứctính tốt như: Tính độc lập, tính cẩn thận, tính kiên trì, vượt khó Giải bài tập làmột trong những hình thức làm việc tự lực của học sinh Trong quá trình làmbài tập, do phải tự mình phân tích các điều kiện của đầu bài, tự xây dựngnhững lập luận, kiểm tra và phê phán những kết luận mà học sinh rút ra đượcnên tư duy của học sinh được phát triển, năng lực làm việc của họ nâng cao,tính kiên trì được phát triển
- BTVL là phương tiện để kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năng của mộthọc sinh một cách chính xác
1.4 Định hướng tư duy cho học sinh trong quá trình giải bài tập Vật lý
Việc giải bài tập Vật lý là sự định hướng tư duy một cách tích cực chohọc sinh, thể hiện qua các hoạt động:
Một số cách thức định hướng học sinh phát huy tính chủ động sáng tạotrong việc giải bài tập vật lý
- Định hướng Angorits: Đây là kiểu định hướng hành động theo một
mẫu cho trước Kiểu định hướng này không đòi hỏi học sinh phải tự mình tìmtòi xác định các hành động cần thực hiện, mà họ chỉ cần chấp hành các thao tác
đã được giáo viên chỉ ra hoặc làm theo trong những tình huống đã quen thuộc
Kiểu định hướng này có ưu điểm là nó đảm bảo cho học sinh giải đượcbài tập một cách chắc chắn, giúp việc rèn luyện kĩ năng giải bài tập của họcsinh có hiệu quả Tuy nhiên, nếu chỉ áp dụng kiểu định hướng Angorits trongviệc giải bài tập thì học sinh chỉ quen tái hiện lại các kiến thức, do đó ít có tácdụng rèn luyện cho học sinh khả năng tìm tòi sáng tạo, sự phát triển tư duysáng tạo của học sinh bị hạn chế Theo quan điểm của đề tài, để việc sử dụngkiểu định hướng Angorits vẫn phát huy được tác dụng phát triển tư duy sáng
Trang 25tạo của học sinh, cần cho học sinh giải các bài tập có những khía cạnh mới sovới các bài tập cùng loại.
- Định hướng Ơrixtic: Đây là kiểu định hướng tìm tòi từng phần mang
tính chất gợi ý cho học sinh tự tìm tòi, huy động những kiến thức xây dựngcách thức hành động thích hợp cho việc giải quyết bài tập Kiểu định hướngƠrixtic nhằm giúp đỡ học sinh trong việc hướng suy nghĩ vào phạm vi cầntìm tòi Học sinh sẽ phải tự tìm tòi chứ không ghi nhận tái tạo cái có sẵn Sựđịnh hướng như vậy tạo điều kiện cho học sinh tư duy tích cực, chủ động, đápứng được nhu cầu rèn luyện, bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo của học sinhtrong quá trình giải bài tập
- Định hướng khái quát chương trình hóa: Đây cũng là một kiểu định
hướng tư duy học sinh tự tìm tòi cách giải quyết chứ không vạch sẵn cho họcsinh các kiến thức cần dùng như cách thức hành động Nét đặc trưng của kiểuđịnh hướng này là giáo viên định hướng hoạt động tư duy của học sinh theođường lối khái quát của việc giải quyết vấn đề Sự định hướng ban đầu đòi hỏihọc sinh phải tự lực tìm tòi giải quyết Nếu học sinh không đáp ứng được thì
sự giúp đỡ tiếp theo của giáo viên là sự phát triển định hướng khái quát banđầu, cụ thể hóa thêm một bước bằng cách gợi ý thêm cho học sinh để thu hẹphơn phạm vi tìm tòi, giải quyết Nếu học sinh vẫn không đủ khả năng thì sựđịnh hướng của giáo viên chuyển dần thành định hướng Angorit Vấn đề cứtiếp tục như vậy cho đến khi học sinh giải quyết được bài tập
Kiểu định hướng khái quát chương trình hóa giúp cho việc hoàn thànhnhiệm vụ học tập của học sinh, đồng thời vẫn đảm bảo cho học sinh có cơ hộirèn luyện tư duy sáng tạo
1.5 Bài tập Vật lý
1.5.1 Khái niệm bài tập Vật lý
Trong thực tế dạy học, người ta thường gọi một vấn đề không lớn đượcgiải quyết nhờ những suy lí lôgic, những phép toán và thí nghiệm dựa trên cơ
Trang 26sở các định luật và các phương pháp Vật lí là một bài tập Vật lý Thật ra,trong các giờ học vật lý, mỗi một vấn đề xuất hiện khi nghiên cứu tài liệu giáokhoa (bài học xây dựng kiến thức mới) là một bài tập đối với học sinh Sự tưduy định hướng một cách tích cực “luôn luôn là việc giải bài tập” hiểu theonghĩa rộng của mệnh đề đó
Trong những tài liệu sách giáo khoa cũng như những tài liệu phươngpháp bộ môn, người ta thường hiểu những bài tập được lựa chọn một cáchphù hợp với mục đích chủ yếu là nghiên cứu các hiện tượng Vật lý, hìnhthành các khái niệm, phát triển tư duy Vật lý của học sinh và rèn luyện kĩnăng vận dụng kiến thức Vật lý vào thực tiến là những bài tập
1.5.2 Ý nghĩa tác dụng của bài tập Vật lý
Trong việc dạy học không thể thiếu bài tập, sử dụng bài tập là một biệnpháp hết sức quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học Bài tập Vật lý cónhững ý nghĩa tác dụng to lớn về nhiều mặt
a) Ý nghĩa trí dục:
- Làm chính xác hóa các khái niệm Vật lý, củng cố, đào sâu, và mởrộng kiến thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn Chỉ khi vận dụngđược kiến thức vào việc giải bài tập, học sinh mới nắm được kiến thức mộtcách sâu sắc
- Ôn tập, hệ thống hóa kiến thức một cách tích cực nhất Khi ôn tập,học sinh sẽ không tập trung nếu chỉ yêu cầu họ nhắc lại kiến thức Thực tếcho thấy học sinh chỉ thích giải bài tập trong giờ ôn tập
- Rèn luyện các kĩ năng Vật lý như giải bài tập, tính toán theo côngthức Vật lý… nếu là bài tập thực nghiệm sẽ rèn các kĩ năng thực hành, gópphần vào việc giáo dục kĩ thuật tổng hợp cho học sinh
- Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống, laođộng sản xuất và bảo vệ môi trường
Trang 27- Rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ Vật lý và các thao tác tư duy.
- Làm chính xác hóa các khái niệm, định luật đã học
- Giáo dục đạo đức, tác phong như: Rèn luyện tính kiên nhẫn, sáng tạo,chính xác và phong cách làm việc khoa học Giáo dục lòng yêu thích bộ môn
Nhưng bản thân một bài tập Vật lý chưa có tác dụng gì cả: Không phảimột bài tập Vật lý “hay” thì luôn có tác dụng tích cực Vấn đề phụ thuộc chủyếu là bản thân học sinh Làm thế nào phải biết trao đúng đối tượng, phải biếtcách khai thác triệt để mọi khía cạnh của bài toán, để học sinh tự mình tìm racách giải, lúc đó bài tập Vật lý mới thật sự có ý nghĩa
1.5.3 Vai trò của bài tập Vật lý
- Bài tập Vật lý có vai trò vô cùng quan trọng, chúng được sử dụngtrong dạy học Vật lý với những mục đích khác nhau:
- Bài tập Vật lý được sử dụng như các phương tiện ngiên cứu tài liệumới khi trang bị kiến thức mới cho học sinh nhằm đảm bảo cho học sinh lĩnhhội kiến thức một cách sâu sắc và vững chắc Bài tập có thể là điểm khởi đầu
để dẫn dắt đến kiến thức mới ở bậc trung học phổ thông Với trình độ toánhọc đã khá phát triển, nhiều khi các bài tập được sử dụng khéo léo có thể dẫnhọc sinh đến những suy nghĩ về một hiện tượng mới hoặc xây dựng khái niệmmới để giải thích hiện tượng mới do bài tập đưa ra
Trang 28- Bài tập Vật lý là phương tiện rèn luyện cho học sinh kĩ năng kĩ xảovận dụng kiến thức, liên hệ lý thuyết với thực tiễn, đời sống Có thể xây dựngrất nhiều bài tập có nội dung thực tiễn, trong đó yêu cầu học sinh phải vậndụng kiến thức lý thuyết để giải thích các hiện tượng có thể xảy ra trong thựctiễn ở những điều kiện cho trước.
- Bài tập Vật lý là phương tiện có tầm quan trọng đặc biệt trong việcrèn luyện tư duy, bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học cho học sinhbởi vì giải bài tập Vật lý là hình thức làm việc căn bản của học sinh Trongquá trình giải bài tập Vật lý học sinh phải phân tích điều kiện trong đề bài, tựxây dựng những lập luận, thực hiện việc tính toán khi cần thiết phải tiếnhành cả thí nghiệm, xác định sự phụ thuộc hàm số giữa các đại lượng đểkiểm tra kết luận của mình Trong những việc làm cụ thể đó tư duy lôgic,tưduy sáng tạo của học sinh dược nâng cao.Có nhiều bài tập Vật lý không chỉdừng lại trong phạm vi vận dụng những kiến thức đã học mà còn giúp họcsinh bồi dưỡng tư duy sáng tạo.Đặc biệt là bài tập giải thích các hiệntượng,bài tập thí nghiệm
- Bài tập Vật lý là phương tiện ôn tập và củng cố kiến thức đã học mộtcách sinh động và có hiệu quả
- Thông qua việc giải bài tập Vật lý có thể rèn luyện được các đức tínhtốt như:tính độc lập,tính sáng tạo,tinh cẩn thận,kiên trì,vượt khó.Giải bài tập
là một trong những hình thức làm việc tự lực của học sinh.Trong quá trìnhlàm bài tập,do phải tự mình phân tích các điều kiện của đầu bài,tự xây dựngnhững lập luận,kiểm tra và phê phán những kết luận mà học sinh rút ra đượcnên tư duy của học sinh được phát triển,năng lực làm việc của họ được nângcao,tính kiên trì được phát triển
- Bài tập Vật lý là phương tiện để kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năngcủa một học sinh một cách chính xác
Trang 291.5.4 Phân loại bài tập Vật lý
1.5.4.1 Nguyên tắc,yêu cầu của việc phân loại bài tập Vật lý
Bài tập có công dụng rộng rãi, có hiệu quả sâu sắc trong việc thực hiệnmục tiêu đào tạo, trong việc hình thành phương pháp chung của việc tự họchợp lý, trong việc rèn luyện kĩ năng tự lực sáng tạo
Muốn khai thác được tối đa tiềm năng trí - đức dục của bài tập, ngườigiáo viên bộ môn cần giải quyết một loạt những vấn đề cơ bản sau đây có liênquan đến hệ thống bài tập của bộ môn mình
1.5.4.2 Xây dựng hệ thống đa cấp những bài tập của bộ môn
Phân loại các bài tập: Trước hết phải tiến hành phân loại các bài tập của
bộ môn, sưu tầm, chọn lọc, sắp xếp chúng thành kiểu (cơ bản nhất, điển hìnhnhất), từ đó phân loại tiếp thành phân kiểu, phân dạng… cho đến những bàitập tổng hợp phức hợp
Phân hóa các bài tập: Ở mỗi kiểu tìm ra qui luật biến hóa từ cái sơđẳng, cơ bản, điển hình nhất (cái đơn giản coi như xuất phát) đến những bàitập ngày càng phức tạp hơn, tổng hợp hơn Đây là chuỗi bài tập theo lôgicdọc, đồng thời lại tìm ra qui luật liên kết các bài toán giữa các kiểu với nhau
Từ những bài toán điển hình, đơn giản nhất của hai hay nhiều kiểu khác nhau
“lắp ghép” thành một bài tổng hợp Đây chính là lôgic ngang của sự cấu tạocác bài tập từ nhiều kiểu khác nhau
Nắm được hai qui luật của sự hình thành bài tập, ta có thể sắp xếpchúng theo thứ tự từ bài tập dễ đến bài tập khó Từ đó mà ta có thể tùy từngtrình độ của học sinh mà chọn và đưa ra bài tập vừa sức cho học sinh giải.Đây là dạy học phân hóa bằng những bài tập phân hóa Dạy học theo tiếp cậnnày sẽ rất hiệu quả vì nó cho phép ta cá thể hóa cao độ việc dạy học cho mộtlớp có nhiều học sinh ở trình độ lĩnh hội khác nhau
Trang 301.6 Bảo đảm các yêu cầu cơ bản trong việc dạy học bằng bài tập
Khi sử dụng bài tập như một phương pháp dạy học, cần lưu ý nhữngyêu cầu sau đây:
* Đảm bảo tính cơ bản gắn liền với tính tổng hợp:
Hệ thống bài tập của bộ môn phải khái quát hết những thông tin cơ bảnnhất của chương trình bộ môn Nó buộc học sinh khi giải hệ thống bài tập đóphải huy động tổng hợp những kiến thức cơ bản của toàn bộ chương trình vànhững kiến thức hỗ trợ liên môn
* Đảm bảo tính hệ thống và tính kế thừa:
Giải bài tập Vật lý thực chất là vận dụng các qui luật của Vật lý và việcbiến đổi bài tập ban đầu thành những bài tập trung gian, sơ đẳng hơn, cơ bảnhơn Những bài tập cơ bản điển hình (đơn giản nhất của một kiểu nhất định)giữ vai trò rất quan trọng trong học vấn của học sinh vì chúng sẽ là kiến thứccông cụ để giúp học sinh giải được những bài tập tổng hợp Do đó, giáo viênphải qui hoạch toàn bộ hệ thống những bài tập ra cho học sinh trong toàn bộchương trình của môn học, sao cho chúng sẽ kế thừa nhau, bổ sung nhau, cáitrước chuẩn bị cho cái sau, cái sau phát triển cái trước, tất cả tạo nên (cùngvới nội dung các lí thuyết khác) một hệ thống toàn vẹn những kiến thức, kĩnăng và kĩ xảo
* Đảm bảo tính kĩ thuật tổng hợp:
Bài tập phải đóng vai trò cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn, giữa nhàtrường và đời sống sản xuất Nó phải là phương tiện rèn luyện cho học sinhnhững kĩ năng chung nhất của việc tự học, của việc giải quyết các vấn đềnhận thức Nó cũng góp phần vào việc hình thành ở học sinh những phẩmchất và những nét của văn hóa lao động (trí óc và chân tay)
* Bảo đảm tính phân hóa của hệ thống các bài tập.
Trước hết bài tập ra cho học sinh phải vừa sức Muốn cho bài tập cókhả năng vừa sức với ba loại trình độ học sinh trong lớp, người giáo viên phải
Trang 31phân hóa bài tập từ những bài tập trung bình vừa sức với đại đa số học sinh,giáo viên phức tạp nó lên để dùng cho những học sinh khá, giỏi và đơn giản
nó đi để dùng cho học sinh yếu kém Có như vậy bài tập mới trở thành độnglực thường xuyên của sự học tập tích cực
* Thường xuyên coi trọng việc dạy học sinh phương pháp giải bài tập:
Dựa vào đặc trưng của bộ môn, giáo viên phát hiện ra đặc trưng củaphương pháp giải bài tập bộ môn Trên cơ sở đó giáo viên có kế hoạch rènluyện cho học sinh hệ thống kĩ năng và kĩ xảo giải bài tập Phương phápgiải bài tập bộ môn sẽ là cơ sở và điểm xuất phát để hình thành và pháttriển những phương pháp hợp lý chung nhất định của việc tự học và tựhành động
1.7 Quan hệ giữa hoạt động giải bài tập Vật lý với việc nâng cao tính tích cực tự lực cho học sinh
Trong học tập Vật lý, một trong những hoạt động chủ yếu để phát triển
tư duy cho học sinh là hoạt động giải bài tập Vì vậy, giáo viên cần phải tạođiều kiện để thông qua hoạt động này thì năng lực tư duy được phát triển, họcsinh sẽ có những phẩm chất tư duy và tính tích cực mới như sau:
- Năng lực phát hiện vấn đề mới
- Tìm ra hướng mới
- Tạo ra kết quả học tập mới
Để có được những kết quả trên, người giáo viên cần ý thức được mụcđích của việc giải bài tập Vật lý, không phải chỉ tìm ra đáp số đúng mà còn làphương tiện khá hiệu quả để rèn luyện tư duy Vật lý cho học sinh Bài tập Vật
lý phong phú đa dạng, để giải được bài tập Vật lý cần phải vận dụng nhiềukiến thức cơ bản, sử dụng các thao tác tư duy so sánh, phân tích, tổng hợp,
Trang 32khái quát hóa, trừu tượng hóa… Qua đó học sinh thường xuyên được rènluyện ý thức tự giác trong học tập, nâng cao khả năng hiểu biết của bản thân.
Thông qua hoạt động giải bài tập sẽ giúp cho tư duy được rèn luyện vàphát triển thường xuyên, đúng hướng thấy được giá trị lao động, nâng cao khảnăng hiểu biết thế giới của học sinh lên một tầm cao mới, góp phần cho quátrình hình thành nhân cách toàn diện của học sinh
1.8 Tình hình sử dụng bài tập Vật lý để phát huy tính tích cực tự lực cho học sinh hiện nay
Thực tiễn cho thấy bài tập Vật lý không chỉ có tác dụng ôn tập, củng
cố kiến thức đã học mà còn có tác dụng để phát triển kiến thức, phát triểnnăng lực tư duy và rèn trí thông minh cho học sinh Tuy nhiên, việc sử dụngbài tập Vật lý như là một phương pháp dạy học hiệu quả thì chưa được chú ýđúng mức
- Bài tập Vật lý theo nghĩa rộng để vận dụng khi giải bài mới chưađược nghiên cứu vận dụng
- Giáo viên và học sinh hầu hết đều quan tâm đến kết quả của bài toánnhiều hơn quá trình giải toán Trong quá trình giải các thao tác tư duy đượcvận dụng, các kĩ năng suy luận, kĩ năng tính toán được rèn luyện Thế nhưng,nếu chú ý rèn tư duy cho học sinh trong quá trình giải thì việc giải để đi đếnđáp số của các bài toán sẽ đơn giản hơn rất nhiều
- Từ việc năm kiến thức trong khi nghiên cứu bài mới không vữngchắc, thời gian dành cho luyện tập ít, không có điều kiện phân tích bài toánthật chi tiết, để hiểu cặn kẽ từng chữ, từng câu, từng điều kiện, từng kháiniệm, những kiến thức nào được vận dụng, những cách giải nào có liên quan
- Đối với cách dạy thông thường thì chỉ cần tổ chức cho học sinh hoạtđộng tìm ra đáp số của bài toán Để phát triển tư duy và rèn luyện trí thôngminh cho học sinh thì làm như thế là chưa đủ, mà phải cho học sinh trả lời các
Trang 33câu hỏi sau: Thông qua bài này lĩnh hội được những kiến thức gì cho mình?Các “bẫy” đặt ra trong bài toán nhằm phát triển các thao tác tư duy gì ? Nếuthay đổi hoặc bớt một số dữ kiện thì bài toán có giải được không ? Ngoài cáchgiải trên còn có cách giải nào khác ngắn gọn hơn và hay hơn nữa không?
- Khi giải bài toán, cần tổ chức cho mọi đối tượng học sinh cần thamgia tranh luận Khi nói lên được một ý hay, giải bài toán đúng, với phươngpháp hay sẽ tạo ra cho học sinh niềm vui, một sự hưng phấn cao độ, kíchthích tư duy, nỗ lực suy nghĩ tìm ra cách giải hay hơn thế nữa
Kết luận chương 1
Trên đây chúng tôi đã trình bày cơ sở lí luận của đề tài
Các biện pháp để bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh bao gồm: Ápdụng rộng rãi phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề ở các mức độkhác nhau, lôi cuốn học sinh tham gia vào giải quyết các vấn đề học tập; tăngcường sử dụng các phương tiện dạy học; rèn óc tưởng tượng tư duy khônggian, tư duy lôgic cho học sinh; cho học sinh luyện tập thao tác tư duy với cácbài tập sáng tạo; bồi dưỡng phương pháp tự học; nêu gương sáng tạo của cácnhà khoa học bộ môn
Bài tập Vật lý là một phương tiện có hiệu quả nhằm bồi dưỡng nănglực tư duy và phát huy tính tích cực tự lực cho học sinh
Từ những cơ sở lí luận ở chương I, tôi sẽ đánh giá thực trạng hoạt độngdạy và học bài tập Vật lý trong thực tiễn lớp 10 nâng cao ở trường trung họcphổ thông Trên cơ sở lí luận và thực tiễn, tôi sẽ xây dựng một hệ thống bàitập chọn lọc thích hợp, phục vụ có hiệu quả hơn trong dạy học phần “Chấtkhí” lớp 10, THPT
Trang 34Chương 2 XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍCH CỰC TỰ LỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC
CHƯƠNG CHẤT KHÍ” - LỚP 10 THPT
2.1 Mục tiêu dạy học chương “Chất khí”
2.1.1 Phân tích nội dung chương “Chất khí” trong chương trình Vật lý
10 THPT
Mục tiêu.
* Hiểu được sơ bộ cấu trúc phân tử của chất khí và của vật chất
* Nắm được ba định luật Bôi-lơ - Ma-ri-ốt, Sác-lơ, Gay Luy-xác vềchất khí và phương trình trạng thái là tổng hợp nội dung của ba định luật ấy
* Biết cách suy ra phương trình Cla-pê-rôn - Men-đê-lê-ep từ phươngtrình trạng thái và biết vận dụng các phương trình này
* Có khái niệm về khí lí tưởng, về nhiệt độ tuyệt đối
Chương này có thể xem như phần mở đầu của nhiệt học Nội dung củachương đề cập đến cấu trúc phân tử cũng như tính chất nhiệt của chất ở trạngthái khí, đó là cấu trúc và tính chất tương đối đơn giản so với cấu trúc và tínhchất của chất ở hai trạng thái kia
Tương tác giữa các phân tử trong chất khí khác rất xa so với trong chấtlỏng và rắn, khác ở chỗ phân tử khí hầu như không tương tác ngoài lúc vachạm, còn các phân tử ở trạng thái ngưng kết (rắn hoặc lỏng) có mối liên kếtkhá mạnh với nhau, giữa chúng có lực tương tác làm cho phân tử khôngchuyển động tự do mà được sắp xếp có trật tự (xa hoặc gần) trong một cấutrúc Khó có thể bỏ qua sự khác nhau trong tương tác phân tử mà trình bàychung một thuyết động học cho mọi trạng thái Chương này trình bày thuyếtđộng học phân tử của chất khí trước, sau đó bổ sung một phần đối với chất
Trang 35lỏng và chất rắn, học tiếp chương sau thì học sinh mới có khái niệm đầy đủ, ởmức độ phổ thông, về thuyết động học phân tử của vật chất.
Đối với chất khí, có thể thiết lập được mối quan hệ định lượng giữa cấutrúc phân tử và tính chất nhiệt Tuy nhiên, việc này vượt ra ngoài qui định củachương trình
Những tính chất của chất khí được khảo sát bằng thực nghiệm Ba địnhluật về chất khí: Bôi-lơ - Ma-ri-ốt, Sác-lơ, Gay Luy-xác đều đã được pháthiện bằng thực nghiệm Tuy vậy, ở giai đoạn hiện nay chỉ cần biết hai trong
ba định luật là có thể suy ra định luật còn lại Chúng ta không cần phải mấtcông sức làm thí nghiệm để tìm ra cả ba, mà chỉ cần tìm ra hai định luật: Bôi-
lơ -Ma-ri-ốt và Sác-lơ
Cần cho học sinh thấy rõ cơ sở thực nghiệm của phương trình trạng tháicủa chất khí cũng như của phương trình Cla-pê-rôn - Men-đê-lê-ep, có kĩnăng tính toán định lượng và vẽ đồ thị khi vận dụng hai phương trình này
Trang 362.1.2 Sơ đồ cấu trúc nội dung chương “chất khí”
CÁC ĐỊNH LUẬT CỦA CHẤT KHÍ
Điều kiện chuẩn
PT Clapêrông- Menđêleep
Tương tác pt
Khí lí tưởng
Đún
g
Trang 372.2 Một số kiến thức cơ bản chương “Chất khí”
1 Thuyết động học phân tử về chất khí Cấu tạo vật chất.
* Chất khí có những tính chất đặc biệt: Bành trướng, dễ nén, có khốilượng riêng nhỏ so với chất rắn và chất lỏng
1mol là lượng chất trong đó có chứa 6,02.1023 phân tử hay nguyên tử
NA = 6,02.1023mol-1 Là số Avôgađrô
Khối lượng mol của một chất được kí hiệu bằng chữ µ và được đo bằngkhối lượng của 1mol chất ấy Ở điều kiện tiêu chuẩn (00C,1atm) thể tích molcủa mọi chất khí đều bằng 22,4 lít/mol
* Nội dung thuyết động học phân tử chất khí:
- Chất khí bao gồm một số khổng lồ các phân tử, kích thước của mỗiphân tử rất nhỏ (đa số trường hợp có thể coi mỗi phân tử như một chất điểm)
- Các phân tử chuyển động hỗn loạn không ngừng (gọi là chuyển độngnhiệt) Nhiệt độ càng cao thì vận tốc chuyển động hỗn loạn càng lớn
- Khi chuyển động các phân tử va chạm với nhau và với thành bình.Khi va chạm với thành bình các phân tử tác dụng lực vào thành bình tạo ra ápsuất của chất khí lên thành bình
* Cấu tạo chất: Vật chất được cấu tạo từ các phân tử hoặc nguyên tửchuyển động nhiệt không ngừng, giữa các phân tử có lực tương tác gọi là lựctương tác phân tử Ở thể rắn và thể lỏng, lực tương tác giữa một phân tử vàcác phân tử lân cận luôn luôn là mạnh, giữ cho phân tử đó không đi ra xa màchỉ dao động quanh một vị trí xác định Do có sự dời chỗ của các vị trí cânbằng nên chất lỏng không có hình dạng xác định mà có thể chảy và có hìnhdạng của phần bình chứa nó
Chất khí trong đó các phân tử được coi là các chất điểm và chỉ tươngtác khi va chạm gọi là khí lí tưởng Khí lí tưởng tuân theo hai định luật Bôi-lơ- Ma-ri-ốt và Sác-lơ
Trang 382 Trạng thái của một lượng khí được xác định bằng các đại lượng
(gọi là các thông số trạng thái): Áp suất p, thể tích V, và nhiệt độ tuyệt đối T.Nhiệt độ tuyệt đối T là nhiệt độ đo trong nhiệt giai Kenvin
3 Định luật Bôi-lơ- Ma-ri-ốt.
- Quá trình đẳng nhiệt là quá trình biến đổi trạng thái khi nhiệt độ
O
Trang 39Ta có: p = p0 (1 + t), với p0 là áp suất ở 00C, = gọi là hệ số tăng
6 Phương trình Clapêrôn - Menđêleep
Phương trình = R trong đó là khối lượng mol (kg/m3)
T (K)
V 2 >V 1
V 1
V 2 p
O
Trang 40Bài tập Vật lý nói chung có tác dụng rất lớn về các mặt: Giáo dục, giáodưỡng phát triển tư duy và giáo dục kỹ thuật tổng hợp Tác dụng ấy càng tíchcực nếu trong quá trình dạy học có sự lựa chọn thật cẩn thận hệ thống bài tập:Chặt chẽ về nội dung, thích hợp về phương pháp và bám sát mục đích, nhiệm
vụ dạy học ở trường trung học phổ thông
Hệ thống các bài tập được lựa chọn thỏa mãn các tiêu chí sau:
2.3.1.1 Lựa chọn các bài tập Vật lý
Trong thực tế dạy học Vật lý người giáo viên thường xuyên phải thựchiện công việc lựa chọn và tìm cách vận dụng các bài tập Vật lý sao cho phù