1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TỰ DO HOÁ LÃI SUẤT VỚI ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY Ở VIỆT NAM

24 300 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tự Do Hoá Lãi Suất Với Điều Kiện Hiện Nay Ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Quang Hoà
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài Chính Doanh Nghiệp
Thể loại Đề án môn học
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 173,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lãi suất ngân hàng là một phạm trù kinh tế có tính hai mặt.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Lãi suất ngân hàng là một phạm trù kinh tế có tính hai mặt Nếu xác định lãisuất hợp lí sẽ là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy sản xuất -lưu thông hàng hoá pháttriển và ngược lại Bởi vậy, lãi suất ngân hàng vừa là công cụ quản lí vĩ mô củaNhà nước, vừa là công cụ điều hành vi mô của các ngân hàng thương mại

Một chính sách lãi suất có hiệu quả là chính sách được áp dụng nhất quán trongmột lãnh thổ và được NHNN điều chỉnh chặt chẽ, mềm dẻo theo từng thời kì chophù hợp với nhu cầu huy động vốn và cung ứng vốn nhằm thu hút được nguồn vốnnhàn rỗi trong dân chúng, phục vụ phát triển kinh tế đất nước, đồng thời đảm bảođược cho hoạt động của các ngân hàng thương mại thực sự có hiệu quả

ở Việt Nam, trong hơn 10 năm đổi mới, chính sách lãi suất đã góp phần bình ổngiá cả, đẩy lùi và kiềm chế lạm phát, kích cầu, tăng trưởng thu nhập quốc dân Cơchế điều hành lãi suất được thay đổi theo từng thời kỳ phát triển kinh tế, ngày càngtrở nên linh hoạt Để thúc đẩy phát triển kinh tế và tăng cường mức độ hội nhậpvào thị trường tài chính khu vực cũng như quốc tế, ngân hàng nhà nước phải tiếptục đổi mới cơ chế điều hành lãi suất theo hướng tự do hoá Tuy nhiên, hiện nayviệc xây dựng và thực thi một chính sách lãi suất tiến tới tự do hoá trên cơ sở vừađảm bảo được sự kiểm soát của nhà nước đối với thị trường, vừa phù hợp với mụctiêu và diễn biến vĩ mô, phù hợp với tiến trình cải cách doanh nghiệp nhà nước

Vì vậy, việc nghiên cứu chính sách lãi suất và những điều kiện, giải pháp đểxây dựng một chính sách lãi suất đúng đắn ở nước ta có ý nghĩa lý luận và thựctiễn cao

Trang 2

PHẦN I:LÝ LUẬN CHUNG VỀ LÃI SUẤT VÀ TỰ DO HOÁ LÃI SUẤT

I.1 Lãi suất:

I.1.1 Khái niệm:

Tiền lãi là phần tiền dôi ra bên ngoài số vốn mà người đi vay trả cho ngườicho vay

Lãi suất là tỉ lệ phần trăm tính theo năm (hoặc tháng, ngày) giữa lãi vay và

số tiền cho vay

Chúng ta cần phân biệt lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế:

Lãi suất danh nghĩa là mức lãi suất được ấn định trên thị trường, không đượcđiều chỉnh theo sự thay đổi của mức giá

Lãi suất thực là lãi suất được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi dựtính về mức giá, do đó nó phản ánh chính xác hơn chi phí của việc vay tiền

Lãi suất danh nghĩa (i) bằng lãi suất thực (r) cộng với mức lạm phát dự tính

I.1.2 Các loại lãi suất:

Một số loại lãi suất của ngân hàng nhà nước Việt Nam

 Lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của Ngânhàng Nhà nước Việt Nam trong ngắn hạn Theo Luật Ngân hàng Nhà nước, lãi suất

cơ bản chỉ áp dụng cho Đồng Việt Nam, do Ngân hàng Nhà nước công bố, làm cơ

sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh Lãi suất cơ bản được xácđịnh dựa trên cơ sở lãi suất thị trường liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trường

mở của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động đầu vào của tổ chức tín dụng và xuhướng biến động cung-cầu vốn

Trang 3

 Lãi suất tái cấp vốn

Lãi suất tái cấp vốn là loại lãi suất mà ở đó NHTW (Ngân hàng trung ương NHTW) áp dụng cho các nghiệp vụ tái cấp vốn cho hệ thống ngân hàng trunggian (bao gồm ngân hàng thương mại, sau đây gọi là ngân hàng thương mại -NHTM) Ở Việt Nam, NHTW tái cấp vốn cho các NHTM qua các hình thức:cho vay lại theo hồ sơ tín dụng; chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và cácgiấy tờ có giá ngắn hạn khác; cho vay lại dưới hình thức cầm cố các giấy tờ cógiá ngắn hạn

Đều dễ nhận thấy là lãi suất chiết khấu phải thấp hơn lãi suất tái cấp vốnthông thường nhưng lãi suất hiệu dụng (effective rate) thì phải cao hơn mức lãisuất chiết khấu công bố

Lãi suất chiết khấu ở đây cũng chính là một hình thức của lãi suất tái cấp vốn

 Lãi suất chiết khấu

Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất mà NHTW đánh vào các khoản tiền cho cácNHTM vay để đáp ứng nhu cầu tiền mặt ngắn hạn hoặc bất thường của các ngânhàng này Quy định lãi suất chiết khấu là một trong những công cụ của chính sáchtiền tệ nhằm điều tiết lượng cung tiền

 Lãi suất bảo chứng

Là lãi suất để duy trì tài khoản đầu tư bằng tín dụng Lãi suất này là mức mà cácnhà môi giới chứng khoán phải trả cho ngân hàng khi thực hiện nghiệp vụ "bảochứng" cho khách hàng Khách hàng đầu tư sau đó sẽ trả lại cho nhà môi giới vớilãi suất mà nhà môi giới đã vay hộ cộng thêm thường là 1%, hoặc ít hơn tuỳ khoản

Trang 4

vay lớn hay nhỏ Tại các thị trường phát triển, lãi suất bảo chứng sở dĩ được quantâm vì nó cho biết mức độ thịnh suy của thị trường chứng khoán

 Lãi suất kỳ phiếu công ty

Như ta đã biết trong thị trường tiền tệ, các công ty tài chính hoặc công ty lớnthường tận dụng lợi thế về uy tín của mình để huy động các khoản vay thương mạingắn hạn, thay vì phải đi vay ngân hàng với lãi suất cao hơn Đặc biệt các kỳ phiếuxếp hạng cao, chẳng hạn được các tổ chức và đặc biệt là các quỹ đầu tư hỗ tươngchứng khoán ngắn hạn money market funds mua vào theo hình thức lãi suất chiếtkhấu Đây cũng là tham số quan trọng để đánh giá tình trạng làm ăn chung của mộtnền kinh tế

 Lãi suất chứng chỉ tiền gửi:

Là lãi suất bình quân được tính toán dựa trên một số các lãi suất tiêu biểu, có độtin cậy cao nhất, do một số ngân hàng hàng đầu trong nền kinh tế áp dụng khi họphát hành các chứng thư ký thác để thu hút vốn với lượng tiền lớn

Những phân tích trên đây có thể cũng khá đủ để giúp cho chúng ta biết lãi suấtđược điều hành và có những nội dung như thế nào trong quá trình chúng giữ vai trò

đo lường, tính toán chi phí đầu tư giao dịch, giải quyết những tình huống cung cầucủa thị trường, làm căn cứ tham khảo, xem xét hiệu quả, Như vậy nếu có mộtthông tin về quyết định tăng hay giảm lãi suất của một nước, để làm nguội bớt haykhuyến khích tăng trưởng một không gian kinh tế ta có thể xác định được ngay đó

là loại lãi suất nào ?

Trang 5

I.1.3 Phương pháp đo lường

Việc tìm ra một cơ sở có thể hoàn toàn tin cậy là không thể có ngay được.Các nước có nền kinh tế thị trường cạnh tranh hoàn hảo cũng đã và đang xây dựnglãi suất theo phương pháp phân tích thông tin của thị trường, với kinh nghiệm và

sự uyên thâm trong nghề nghiệp để định lượng một lãi suất phù hợp Trong phầnnày, chúng ta xem xét các cơ sở mà hầu hết các nước đang sử dụng cho việc hìnhthành lãi suất

Tỉ lệ lợi nhuận bình quân và tỉ lệ trượt giá là hai yếu tố quan trọng cấu thànhnên lãi suất đồng thời cũng là 2 cơ sở hình thành nên mức lãi suất

Muốn xác định được lãi suất phải nắm chắc được các yếu tố cấu thành nó

Sự biến động của các yếu tố này rất phức tạp, do đó cần phải xem xét, phân tích kĩlưỡng, đòi hỏi phải do các chuyên gia hoạt động lâu năm trong nghề thực hiện

* Phương pháp tính lãi suất đi vay của ngân hàng

Lãi suất tiền gửi = < a% tỉ suất lợi nhuận + tỉ lệ lạm phát bình quân

Trong đó: 0 = < a < 100

Với a = 0 % => Lãi suất tiền gửi không kì hạn = Tỉ lệ trượt giá

Với tiền gửi có kì hạn thì kì hạn càng dài, a% càng lớn

* Phương pháp tính lãi suất cho vay của ngân hàng.

Lãi suất cho vay = Lãi suất + b%Tỉ suất lợi nhuận + Phụ phí +hệ số

nói chung tiền gửi bình quân tín dụng rủi ro

b% phụ thuộc vào thời hạn vốn được sử dụng, thời hạn càng dài b % càng lớn

Hệ số rủi ro phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời hạn sử dụng vốn, chủ thể vayvốn, mục đích vay vốn, tính khả thi của dự án đầu tư

Trang 6

I.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới lãi suất.

I.1.4.1 Mức cung cầu tiền tệ:

Cung tiền là tổng thể tiền tệ được sử dụng để giao dịch thanh toán trên thịtrường Quyền kiểm soát mức cung tiền tệ được giành cho Chính Phủ, bởi vì hạnchế mức cung tiền tệ là điều cần thiết để tiền có giá trị

Cầu tiền tệ là nhu cầu về tiền của cá nhân, đơn vị, tổ chức để làm phươngtiện giao dịch, trao đổi, mua bán hàng hoá, dịch vụ…

Giao điểm giữa cung cầu tiền tệ trên đồ thị xác định lãi suất cân bằng Đây

là mức lãi suất ở điểm số lượng tiền do NHTW đề ra phù hợp với số tiền mà côngchúng muốn nắm giữ

Sự thay đổi cung cầu tiền tệ sẽ ảnh hưởng đến lãi suất

- Chính phủ thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ khi NHTW muốn kiềmchế lạm phát thông qua các công cụ như: tăng mức dự trữ bắt buộc, giảm lãi suấtchiết khấu, giảm hạn mức tín dụng khi đó lãi suất tăng nên mức đầu tư sẽ giảm,mức cầu tiền tệ giảm, các doanh nghiệp và gia đình cắt giảm lượng tiền mặt và tàikhoản séc của họ

- Chính phủ thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ khi NHTW lo sợ sắp cósuy thái sẽ tăng mức cung tiền tệ bằng cách bơm tiền vào lưu thông qua các công

cụ của chính sách tiền tệ, lãi suất có xu hướng giảm xuống Tín dụng trở nên dồidào hơn, tiến hành các dự án đầu tư mới trở nên có lợi hơn….Vốn đầu tư tăng,tổng mức cầu tăng lên tạo ra sự cân bằng mới cho thị trường

Ngoài những thay đổi dự tính trong cầu tiền tệ (không phải do sự thay đổitrong mức giá cả, tổng sản phẩm hoặc lãi suất gây ra) cũng ảnh hưởng đến lãi suấtcân bằng Nghiên cứu nhân tố cung cầu tiền tệ tác động qua lại đến lãi suất có một

Trang 7

ý nghĩa quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách tiền tệ trên cơ sở ổn địnhthị trường, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm lạm phát.

I.1.4.2 Lạm phátKhi lạm phát tăng dù ở mức lãi suất riêng lẻ hay ở tất cả mức lãi suất, yếu tốkích thích làm tăng cung quỹ cho vay gần như triệt tiêu bởi mức giá trị thực tế củavốn gốc và tiền lời thu được đã bị hao mòn do tác động của lạm phát Trong tìnhhình ấy những người có khả năng cho vay không muốn giữ tiền mặt, đổ xô đi muahàng hoá dự trữ vàng, ngoại tệ Cung quỹ cho vay giảm, lạm phát tăng, chi phíthực của việc cho vay tiền giảm xuống, kích thích người ta đi vay nhiều hơn là chovay Khi lạm phát cao nhà nước cần phải nâng lãi suất danh nghĩa, đảm bảo cho lãisuất thực dương, hoặc nhà nước tung vàng, ngoại tệ bán ra để kiềm chế lạm phát.Nhiều nhà kinh tế đã khuyến nghị rằng cuộc chiến chống lạm phát nhất định sẽ thấtbại nếu chúng ta muốn hạ thấp lãi suất

I.1.4.3 Sự ổn định của nền kinh tế

- Ảnh hưởng đến cung tiền vay: khi nền kinh tế ổn định phát triển, của cải

tăng lên, công chúng chỉ muốn giữ một số tiền nhất định đủ cho nhu cầu sử dụng,

họ muốn đầu tư vào những tài sản thay thế có lợi tức dự tính cao Bởi vì khi nềnkinh tế ổn định, thị trường chứng khoán trở nên ổn định hơn, rủi ro trái khoángiảm, trái khoán trở thành một tài sản hấp đẫn hơn, vì vậy cung tiền cho vay tănglên lãi suất có xu hướng giảm

- Ảnh hưởng đến cầu tiền cho vay: khi nền kinh tế đang phát triển nhanhnhất là trong gian đoạn phát đạt của một chu kỳ kinh doanh, các công ty càng cónhiều ý định vay vốn và tăng số dư nợ nhằm tài trợ cho các cuộc đầu tư được trôngđợi là sinh lời Cầu tiền vay tăng lên, đường cầu dịch chuyển sang phải, sẽ đạtđược một điểm cân bằng mới Tuy nhiên nếu đường cung dịch chuyển nhiều hơnđường cầu thì lãi suất cân bằng mới có xu hướng giảm xuống và ngược lại

Trang 8

I.1.4.4 Các chính sách của Nhà nước

Để đạt các mục tiêu phát triển của nền kinh tế Nhà nước phải sử dụng cáccông cụ bằng các chính sách có thể điều chỉnh tốc độ và phương hướng của hoạtđộng kinh tế :

lệ tăng trưởng tiền tệ cao hơn nhằm hạ thấp tỷ giá

I.2 Tự do hoá lãi suất:

I.2.1 Khái niệm:

Tự do hoá lãi suất là một bộ phận cơ bản của tự do hoá tài chính, tức là lãisuất được tự do biến động để phản ứng theo các lực lượng cung -cầu vốn trên thịtrường, loại bỏ những áp đặt mang tính hành chính lên sự hình thành của lãi suất

Nó cho phép các ngân hàng tự chủ trong việc ấn định các mức lãi suất kinh doanhcủa mình

Trong cơ chế tự do hoá lãi suất, nếu nhà nước hoàn toàn không can thiệp đến

hệ thống lãi suất thị trường thì đó là cơ chế tự do hoá hoàn toàn (thả nổi hoàntoàn) Nếu nhà nước có tham gia can thiệp gián tiếp theo một định hướng xác địnhthì đó là cơ chế tự do hoá lãi suất có quản lý, và khi đó NHTW tác động tới lãi suất

Trang 9

chủ yếu dựa trên các công cụ kiểm soát tiền tệ gián tiếp như nghiệp vụ thị trường

mở, tái chiết khấu, hợp đồng mua lại, và một phần dựa vào áp đặt tỷ lệ dự trữ bắtbuộc Có thể khái quát sự tác động gián tiếp đó như sau:

Nghiệp vụ thị trường mở :

NHTW muốn đẩy mạnh tăng trưởng, mở rộng tín dụng bằng cách mua vàocác chứng khoán có giá sẽ làm cho cung về tiền tệ tăng lên, dẫn tới giảm lãi suất.Ngược lại, khi NHTW muốn thu hẹp tín dụng bằng cách bán ra các chứng khoán

có giá, cung tiền tệ giảm xuống dẫn tới tăng lãi suất trên thị trường tiền tệ

Lãi suất tái chiết khấu :

Khi NHTW nâng lãi suất tái chiết khấu, các NHTM buộc phải tăng dự trữ đểtránh phải vay với lãi suất cao khi thiếu hụt khả năng thanh toán.Đồng thời, NHTMcũng phải tăng lãi suất cho vay để bù đắp chi phí cho những khoản tăng thêm dựtrữ, do vậy mà lãi suất thị trường tăng lên Ngược lại, việc giảm lãi suất tái chiếtkhấu của NHTW cho phép các NHTM giảm dự trữ và hạ lãi suất cho vay, do đó

mà hạ lãi suất thị trường

Hợp đồng mua lại :

Hợp đồng mua lại là hợp đồng bán những chứng khoán, trong đó người bán cam kết sẽ mua lại chứng khoán này vào một thời điểm trong tương lai với mức giáđược xác định trước trong hợp đồng Như vậy, thực chất hợp đồng mua lại là cho vay có thế chấp, trong đó chứng khoán đóng vai trò thế chấp Khi mua thế chấp (tức cho vay), NHTW bơm tiền vào thị trường tài chính và do vậy làm giảm lãi suất ngắn hạn Khi bán thế chấp từ tài khoản của mình, NHTW hút tiền ra khỏi thị trường tiền tệ và do đó tạo ra sức ép làm tăng lãi suất ngắn hạn

Trang 10

I.2.2 Sự cần thiết tự do hoá lãi suất:

Thứ nhất, lãi suất được tự do hoá, biến động theo cung cầu về vốn, có thể phân

bổ nguồn vốn tín dụng khan hiếm cho những người vay một cách có hiệu quả nhất;đồng thời đảm bảo thu hút tiền gửi với chi phí hợp lý nhất được cả ngân hàng vàngười gửi chấp nhận Điều này không thể thực hiện được trong điều kiện lãi suất bịkiểm soát hành chính, làm cho các hoạt động đầu tư bị biến dạng

Lãi suất được tự do hoá sẽ linh hoạt hơn so với khi bị kiểm soátL, có khả năngđiều tiết để thích nghi với điều kiện thay đổi, tự động tạo ra sự kích thích cho tăngtrưởng tài chính, cải tiến và thay đổi cơ cấu mà chính phủ hoặc là không thể quản

lý hoặc là chậm thu được kết quả

Thứ hai, việc thực hiện tự do hoá lãi suất cũng xuất phát từ một thực tế là khôngmột chính phủ hay một ngân hàng trung ương nào có đủ khả năng để phân bổ vàkiểm soát nguồn vốn một cách có hiệu quả cho hàng ngàn nhu cầu sử dụng vốnkhác nhau, cho dù bộ máy hành chính và thanh tra ngân hàng có lớn đến đâu đichăng nữa

Chúng ta có thể thấy được mâu thuẫn đã nảy sinh giữa người đi vay và ngườicho vay Mỗi người đứng trên các quan điểm riêng của mình và có những cách đối

xử khác nhau Nhiều lúc vấn đề này được đưa ra bàn thảo một cách gay gắt tuynhiên không có lời giải cuối cùng, và người ta cũng không thể có bằng chứng cósức thuyết phục nhằm đưa ra được một mức lãi suất hợp lý Để giảm thiểu nhữngtranh luận này, cách tốt nhất là để lãi suất do thị trường quyết định, tức là tự dohoá

Thứ ba, chúng ta đang sống trong một môi trường đang diễn ra toàn cầu hoánhanh chóng, mà toàn cầu hoá tài chính là điển hình nhất của quá trình này

Trang 11

Trong lĩnh vực tài chính, toàn cầu hoá đặt ra những cơ hội và thách thức mới,trong đó một thách thức lớn là giảm kiểm soát tiền tệ bằng các công cụ trực tiếpnhư qui định trần lãi suất; thay vào đó, để đảm bảo kiểm soát tiền tệ được hiệu quả,các nước dần chuyển sang thực hiện các công cụ kiểm soát tiền tệ gián tiếp nhưnghiệp vụ thị trường mở, tái chiết khấu, hợp đồng mua lại , tức là các công cụđịnh hướng thị trường Để đảm bảo hội nhập thành công trong lĩnh vực tài chínhtrước hết lãi suất phải được tự do hoá.

Thứ tư, tự do hoá cho phép hệ thống ngân hàng tự chủ hơn, và điều đó sẽ dẫnđến lãi suất tiền gửi và tiền vay cao hơn

Những thay đổi như vậy trong lĩnh vực tài chính sẽ tác động đến các doanhnghiệp và các hộ gia đình khiến họ thay đổi hành vi tiết kiệm và đầu tư của mìnhtheo hướng có lợi cho tăng trưởng kinh tế

Tăng lãi suất tiền gửi sẽ làm tăng tỷ lệ tiết kiêm nội địa, và do đó sẽ thay thếcho nguồn đi vay nước ngoài để tài trợ cho đầu tư Nguồn tiết kiệm nội địa nàyđược truyền tải thông qua hệ thống tài chính ngân hàng chính thức mà không phảiqua thị trường tiền tệ không chính thức Tiết kiệm trong nước tăng lên và mức lãisuất thực cao hơn dẫn đến mở rộng đầu tư và làm tăng hiệu quả đầu tư Kết quả làlàm tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế

Hơn nữa việc tăng lãi suất có thể thu hẹp được khoảng chênh lệch giữa lãi suấtnội tệ và lãi suất ngoại tệ, từ đó có thể tránh được hiện tượng ngoại tệ hoá (tức làngười dân trong nước sẽ không găm giữ ngoai tệ như trước đây khi lãi suất chênhlệch quá lớn giữa hai đồng tiền) nền kinh tế

Những lý do trên đã cho chúng ta thấy việc tiến hành thực hiện tự do hóa lãisuất là cần thiết cho bất cứ một quốc gia nào mong muốn phát triển nền kinh tế củanước mình một cách lành mạnh, tuy nhiên trong quá trình tiến hành tự do hoá lãisuất cần phải có những bước đi những cách thức thận trọng, hợp lý, có cân nhắc,

Trang 12

tránh nóng vội để có thể loại bỏ được những tác động tiêu cực của nó có thể gây racho nền kinh tế -xã héi.

I.2.3 Nội dung của tự do hóa lãi suất.

I.2.3.1 Tốc độ tự do hoá lãi suất

Tự do hoá lãi suất với bước đi nhanh trong thời gian ngắn cách này đượcmột số nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ, Đức, Ba Lan thực hiện Theo đó

có thể tạo nên cú sốc, tỷ lệ thất nghiệp có thể tăng lên trong ngắn hạn nhưng lợi íchcủa nó đã giảm thiểu chi phí xã hội, thúc đẩy thị trường tài chính phát triển nhanhhơn

Tự do hoá lãi suất theo trật tự từng bước mà lộ trình đã vạch ra từ trước Cách này được áp dụng phổ biến ở nhiều nước, nhất là các nước trong khối công nghiệp mới và Trung Quốc Theo đó tránh cho nền kinh tế, thị trường tài chính những tổn thương có thể xảy ra, để cho các doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng trong nước có thời gian để thích nghi, điều chỉnh phù hợp với sự thay đổi của thị trường trong điều kiện môi trường hoạt động mới Tuy nhiên một phương pháp dần dần không nên kéo dài quá lâu vì có thể sẽ làm mất động lực của cuộc cải cách và tạo thêm các bóp méo mới trong hệ thống hoặc làm kéo dài thêm những bóp méo mới trong hiện tại của thị trường tài chính tiền tệ trong nước

I.2.3.2 Trình tự của quá trình tự do hoá lãi suất Một số nền kinh tế lớn là Mỹ, Nhật bản, Đức, Malaysia đã đi theo những con đường khác nhau trong việc tự do hoá lãi suất tiền gửi và tự do hoá lãi suất cho vay tùy thuộc điều kiện phát triển thị trường tài chính từng nước Nhưng cũng có thể thấy một số đặc điểm chung trong phương pháp của các nước này: lãi suất cho vay đã được thả nổi vào cùng thời gian, trong khi lãi suất tiền gửi được thả nổi dần dần từ lãi suất dài hạn đến lãi suất ngắn hạn, từ khối lượng lớn đến khối lượng nhỏ hơn và bằng việc đưa ra các sản phẩm tài chính mới Về

Ngày đăng: 20/04/2013, 15:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w