Đó là một phương pháp dạyhọc bám sát quan điểm lấy học sinh làm trung tâm trong suốt quá trình dạy học,học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức theo mục tiêu đề ra và mỗi cá nhân học sinh còn có
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-ĐINH VĂN TUẤN
VẬN DỤNG DẠY HỌC DỰ ÁN MỘT SỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG “DAO ĐỘNG VÀ SÓNG ĐIỆN TỪ” VẬT LÝ 12
CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN – 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐINH VĂN TUẤN
-VẬN DỤNG DẠY HỌC DỰ ÁN MỘT SỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG “DAO ĐỘNG VÀ SÓNG ĐIỆN TỪ” VẬT LÝ 12
CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học Vật lý
Mã số: 60 14 01 11
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS-TS PHẠM THỊ PHÚ
NGHỆ AN – 2013
Trang 3Lời cảm ơn!
Trong quá trình tiến hành thực hiện luận văn này tác giả đã nhận đợc sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo, các bạn bè, đồng nghiệp và ngời thân Hôm nay, khi luận văn đã hoàn thành tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến những ngời đã giúp đỡ tác giả trong thời gian vừa qua.
Trớc hết tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Phạm Thị Phỳ ngời trực tiếp hớng dẫn tác giả thực hiện luận văn này.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Vật lý, Khoa Sau đại học đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình làm luận văn.
Tác giả bày tỏ lòng biết ơn Ban giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp Trờng THPT Nghi lộc 5, đã giúp đỡ tác giả trong quá trình tác giả học tập và nghiên cứu.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến những ngời thân đã động viên, chia sẻ những khó khăn trong quá trình làm luận văn.
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn tới tất cả mọi ngời!
Vinh, ngày 05 tháng 08 năm 2013 Tác giả
Đinh Văn Tuấn
DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Trang 61.6 So sánh PBL với các phương pháp dạy học truyền thống 28
Chương 2: Xây dựng kế hoạch dạy học chương “Dao động và sóng điện
từ” vật lý 12 chương trình nâng cao theo tinh thần dạy học dự án (PBL)
trình nâng cao
36
động và sóng điện từ” vật lý 12 chương trình nâng cao
39
hiện dự án
53
Trang 73.3 Nội dung thực nghiệm sư phạm 63
Trang 8MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
“Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhânlực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nềnvăn hóa và con người Việt Nam Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triểnkhoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo làđầu tư phát triển Ðổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầuphát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xãhội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc Ðẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện chomọi công dân được học tập suốt đời.” [3;6]
Trong giáo dục, quy trình đào tạo được xem như là một hệ thống bao gồmcác yếu tố: mục tiêu, chương trình đào tạo, nội dung, hình thức tổ chức dạy học,phương pháp dạy học, phương tiện, kiểm tra đánh giá, quản lý qua trình dạy học vàgiáo dục Phương pháp dạy học là khâu rất quan trọng bởi lẽ phương pháp dạy học
có hợp lý thì hiệu quả của việc dạy học mới cao, phương pháp có phù hợp thì mới
có thể phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo của người học và phương pháp dạyhọc là khâu hiện thực hoá quá trình đổi mới giáo dục Phương pháp dạy học phảiđổi mới từ dạy số đông sang dạy cá thể, dạy cách học; đổi mới từ dạy áp đặt mộtchiều của người dạy sang tương tác đa chiều của người học với thầy cô, bạn bè,sách vở, trong gia đình và ngoài xã hội; không dừng lại ở lý thuyết, minh họa màvươn tới hoạt động thực hành, trải nghiệm, làm sinh động và hiệu quả hơn nộidung giáo dục để đạt yêu cầu mục tiêu giáo dục tốt nhất; làm cho học sinh thíchthú, chủ động và tích cực tự tìm tòi học tập, nâng cao năng lực tự học, học suốtđời, học ở mọi lúc mọi nơi
Thực chất của đổi mới phương pháp dạy học theo quan điểm "lấy học sinhlàm trung tâm" là người dạy phải hiểu được yêu cầu của người học để cung cấp
Trang 9thông tin, định hướng mục tiêu học tập, tổ chức, hướng dẫn người học chủ động tưduy, nhận thức, thực hành, sáng tạo trong quá trình lĩnh hội kiến thức, kỹ năng Do
đó, để đổi mới phương pháp dạy học mỗi giáo viên phải tìm kiếm, lựa chọn cácphương thức hoạt động chung cho phù hợp với học sinh nhằm thực hiện 3 chứcnăng của phương pháp dạy học, gồm nắm vững, giáo dục, phát triển Các phươngpháp dạy học theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học được gọi chung làphương pháp dạy học tích cực
Một trong những phương pháp dạy học tích cực có thể đáp ứng tốt yêu cầuđổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay đó là Phương pháp dạy học dự án (thuậtngữ tiếng Anh: Project Based Learning, viết tắt PBL) Đó là một phương pháp dạyhọc bám sát quan điểm lấy học sinh làm trung tâm trong suốt quá trình dạy học,học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức theo mục tiêu đề ra và mỗi cá nhân học sinh còn
có được kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làmviệc theo nhóm, kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin, kỹ năng tư duy bậc cao làmviệc nhóm, giải quyết được các vấn đề trong cuộc sống, …nhưng người giáo viênvẫn đóng vai trò chủ đạo quan trọng
Kĩ thuật điện tử là ngành kĩ thuật mũi nhọn, hiện đại, là đòn bẩy giúp cácngành khoa học kĩ thuật khác phát triển Kĩ thuật điện tử đã được ứng dụng rộngrãi trong mọi lĩnh vực của sản xuất và đời sống Kỹ thuật điện tử được ứng dụngrộng rãi trong rất nhiều các ngành nghề như: chế tạo máy; luyện kim; lĩnh vựcnông, lâm, ngư nghiệp; giao thông vận tải;… Đối với đời sống, kĩ thuật điện tửlàm nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người Trong tương lai, kỹ thuật điện
tử đóng vai trò là "bộ não" cho thiết bị và các quá trình sản xuất, đảm nhiệm cácvai trò mà con người không làm được
Chương “Dao động và song điện từ” vật lý 12 chương trình nâng cao đề cậpđến các kiến thức cơ bản của kĩ thuật điện tử, đến nguyên lí phát và thu sóng điện
từ, đến đặc điểm của sóng điện từ - sóng vô tuyến Do đó khi áp dụng phương
Trang 10pháp dạy học dự án cho chương này sẽ mang lại hiệu quả cao và có thể tạo ra sảnphẩm theo định hướng của người dạy.
Vì vậy trong khuôn khổ luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ khoa học giáo dục, tôichọn đề tài: “Vận dụng dạy học dự án một số kiến chương “Dao động và sóng điện từ”vật lý 12 chương trình nâng cao”
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Vận dụng dạy học dự án một số kiến thức Chương “Dao động và sóng điện từ” vật
lý 12 chương trình Nâng cao đảm bảo yêu cầu khoa học, sư phạm và khả thi, từ đó gópphần nâng cao chất lượng dạy học môn vật lý
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
- Lý thuyết PBL.
- Quá trình dạy học Vật lý THPT.
Phạm vi nghiên cứu
Chương “Dao động và sóng điện từ” vật lý 12 chương trình Nâng cao
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu tổ chức dạy học một số kiến thức chương “Dao động và sóng điện từ” vật lý
12 chương trình nâng cao theo theo định hướng dạy học dự án (PBL) thì sẽ góp phần thựchiện tốt các mục tiêu dạy học một số kiến thức chương “Dao động và sóng điện từ” vật lý
12 chương trình nâng cao, đồng thời bồi dưỡng cho học sinh được kỹ năng làm việcnhóm, kỹ năng thực hành
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1 Tìm hiểu lý thuyết về dạy học dựa trên dự án (PBL)
5.2 Tìm hiểu thực trạng nhận thức PBL và sử dụng PBL, vấn đề quan tâm bồi dưỡng
kỹ năng tư duy bậc cao trong dạy học Vật lý ở một số trường THPT thuộc địa bàn HuyệnNghi Lộc – Tỉnh Nghệ An
Trang 115.3 Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa, sách giáo viên, chuẩn kiến thức kĩ năngmột số kiến thức chương “Dao động và sóng điện từ” vật lý 12 chương trình nâng caonhằm tạo cơ sở để xây dựng kế hoạch dạy học theo tinh thần dạy học dự án (PBL).
5.4 Xây dựng kế hoạch dạy học một số kiến thức chương “Dao động và sóng điện từ”vật lý 12 chương trình nâng cao theo tinh thần dạy học dự án
5.5 Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi, hiệu quả của phương án đã thiết kế
từ đó điều chỉnh, bổ sung để hoàn thiện
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu lý luận
Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu thực tiễn
+ Điều tra, quan sát, phỏng vấn
+ Thực nghiệm vật lý
+ Thực nghiệm sư
7 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
Bộ hồ sơ dạy học dự án một số kiến thức chương “Dao động và sóng điện
từ” vật lý 12 chương trình nâng cao
Tên Dự án: “Thiết kế chế tạo Radio đơn giản”
8 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Mở đầu (04 trang)
Chương 1: Cơ sở lý luận về dạy học dự án (PBL) (28 trang)
Chương 2: Xây dựng kế hoạch dạy học một số kiến thức chương “Dao động và sóng điện
từ” vật lý 12 chương trình nâng cao theo PBL (29 trang)
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm (18 trang)
Kết luận (03 trang)
Phụ lục (11 trang)
Trang 12Từ Châu Âu, tư tưởng PBL lan truyền sang Mỹ và các nhà sư phạm Mỹ xâydựng cơ sở lý luận cho phương pháp dự án (The project Method) và coi đó làPPDH quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm, nhằmkhắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống coi GV là trung tâm Ban đầu,phương pháp dự án được sử dụng trong dạy học thực hành các môn kỹ thuật, về
Trang 13sau được dùng trong hầu hết các môn học khác, kể cả các môn khoa học xã hội.Sau một thời gian phần nào bị lãng quên, ngày nay phương pháp dự án lại đượcvận dụng nhiều ở các nước có nền giáo dục phát triển như Singapor, Mỹ, Đức… Ởnước ta, phương pháp này đang được nghiên cứu vận dụng trong dạy học khôngchỉ ở các bậc đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp mà còn ở cả bậc trunghọc.
Có nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về dạy học dự án của nhiềutác giả:
+ Cách học dựa trên dự án (PBL) là một hoạt động học tập nhằm tạo cơ hộicho HS tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tập và áp dụng một cách sáng tạovào thực tế cuộc sống Qua đó hình thành kỹ năng hợp tác, giao tiếp, phát triển tưduy và học tập độc lập, chuẩn bị hành trang cho các em trong sự nghiệp học tậpsuốt đời và đối mặt với các thử thách trong cuộc sống [16]
+ PBL là một mô hình dạy học lấy HS làm trung tâm, giúp HS phát triểnkiến thức và các kỹ năng liên quan thông qua những nhiệm vụ mang tính mở,khuyến khích HS tìm tòi, hiện thực hóa những kiến thức đã học trong quá trìnhthực hiện và tạo ra sản phẩm của chính mình [23]
+ PBL là một kiểu dạy học lấy hoạt động của người học làm trung tâm Quátrình giảng dạy luôn định hướng vào các khái niệm cơ bản của môn học nhưng gắnliền với thực tế Theo phương pháp này, người học phải tự mình giải quyết các vấn
đề và các nhiệm vụ có liên quan khác để có được kiến thức, khả năng giải quyếtvấn đề và cho ra những kết quả thực tế [13]
Từ những quan điểm và định nghĩa khác nhau về PBL như nêu trên, ta nhậnthấy có tác giả cho rằng PBL là mô hình, tác giả khác lại cho rằng nó là một hìnhthức hay một phương pháp dạy học vì khi thực hiện một dự án, có nhiều PPDH cụthể được sử dụng Tuy nhiên khi không phân biệt giữa hình thức và phương phápdạy học, người ta cũng gọi là phương pháp dự án, khi đó cần hiểu đó là phươngpháp dạy học theo nghĩa rộng, một phương pháp dạy học phức hợp
Trang 14Vậy, PBL một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm
vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện Làm việc nhóm là hình thức cơ bản của PBL, có ứng dụng CNTT, dưới sự hướng dẫn, hỗ trợ, cộng tác của GV.
1.2 Nội dung của PBL
Từ mục tiêu hoạt động của dự án, GV lựa chọn nội dung thích hợp sao chophù hợp với trình độ HS, đặc điểm từng lớp, cơ sở vật chất của nhà trường, môitrường thực hiện dự án cũng như các yếu tố về tài chính và thời gian thực hiện dự
án để đảm bảo dự án có tính khả thi
1.2.1.2 Thiết kế ý tưởng dự án [20]
Một dự án có tính khả thi thường bắt nguồn từ một ý tưởng tốt Các hoạt động họctập trong PBL được thiết kế mang tính thiết thực, liên quan đến nhiều lĩnh vực kiến thức,
Trang 15lấy người học làm trung tâm và gắn kiến thức nhà trường với những vấn đề thực tiễn củathế giới thực tại Vì vậy GV cần nhìn thấy những vấn đề trong cuộc sống xung quanh,nhất là các vấn đề có tính thời đại.
Xuất phát từ nội dung bài học, GV đưa ra một chủ đề với những gợi ý hấpdẫn, thực sự có thể lôi cuốn HS, kích thích HS hứng thú tham gia thực hiện thôngqua các hoạt động học tập như:
- Học thông qua việc phục vụ cộng đồng: Những dự án này thường gắn liền với cộng
đồng địa phương và HS có thể áp dụng bài học trong lớp học vào tình huống thực tế Ví
dụ, tạo những vật dụng hay đồ chơi từ các vật liệu phế thải cho các em nhỏ trong “Mái ấmtình thương”
- Mô phỏng và đóng vai: Những dự án này được thiết kế nhằm cung cấp cho HS một kinh
nghiệm thực tế đầu tay HS sẽ vào vai một người khác, sống trong một tình huống môphỏng tái tạo lại thời gian và không gian nhất định Mô phỏng và đóng vai là cách rất hữuhiệu để phản ánh lịch sử, mang lại nhiều hiệu quả hay tạo được sự thấu cảm tốt Ví dụ, đểnâng cao ý thức về “An toàn giao thông”, HS hóa thân vào một vở kịch hay xây dựng mộtvideo clip với nội dung nói về hậu quả của một tai nạn giao thông
- Xây dựng và thiết kế: Những dự án này dựa trên nhu cầu thực tế hay có thể được tạo nên
bởi chuỗi sự kiện đáng tin cậy Các dự án này đòi hỏi HS phải xây dựng được mô hìnhthực sự hay lập kế hoạch đề xuất giải pháp cho các vấn đề thực tế Ví dụ, chế tạo tên lửanước
- Hợp tác trực tuyến: Những dự án này là các nhiệm vụ giáo dục thực hiện trực tuyến.
Các dự án cung cấp kinh nghiệm học tập thực tế khi hợp tác trực tuyến với các lớp khác,các chuyên gia hay cả cộng đồng
- Tra cứu web: Đây là các hoạt động yêu cầu định hướng trong đó một số hay tất cả các
thông tin mà người học sử dụng được lấy từ nguồn Internet Các dự án này được thiết kếnhắm đến việc lĩnh hội và tích hợp kiến thức
Trang 16Dự án là một bài tập tình huống mà HS phải giải quyết bằng các kiến thứctheo nội dung bài học, đặt HS vào tình huống có vấn đề nhưng việc giải quyết vấn
đề đòi hỏi tính tự lực cao ở HS
Trong trường hợp thích hợp, sáng kiến về việc xác định chủ đề có thể xuấtphát từ phía HS Khi HS được tự lựa chọn chủ đề và tự đặt ra vấn đề cần tìm hiểunghiên cứu, HS sẽ hoàn toàn chủ động tích cực trong việc thực hiện dự án Giaiđoạn này được K.Frey mô tả thành hai giai đoạn là đề xuất sáng kiến và thảo luậnsáng kiến
1.2.1.3 Xây dựng bộ câu hỏi định hướng (Bộ câu hỏi khung) [27]
a Thế nào là bộ câu hỏi định hướng?
Bộ câu hỏi định hướng là một hệ thống những câu hỏi do GV đưa ra nhằmmục đích định hướng cho dạy học một nhóm kiến thức thuộc một số bài học
b Vai trò của bộ câu hỏi định hướng
Trong PBL không thể thiếu bộ câu hỏi định hướng, nó có vai trò rất quantrọng, là một trong những yếu tố quyết định chất lượng lĩnh hội kiến thức của HS.Thay cho việc thuyết trình, đọc, chép, nhồi nhét kiến thức, GV chuẩn bị bộ câu hỏinày sao cho gây được sự hứng thú ở HS, buộc HS suy nghĩ phát hiện kiến thức,phát triển nội dung bài học, đồng thời khuyến khích HS động não tham gia thảoluận xoay quanh những ý tưởng, nội dung trọng tâm của bài học theo một trật tựlôgic
Bộ câu hỏi định hướng còn nhằm định hướng, dẫn dắt cho HS từng bướcphát hiện ra bản chất sự vật, quy luật của hiện tượng, kích thích tính tích cực tìmtòi, sự ham hiểu biết, qua đó HS có được niềm vui, hứng thú của người khám phá
và tự tin khi thấy trong phần nhận xét của thầy cô có phần đóng góp ý kiến củamình Kết quả, HS lĩnh hội được kiến thức mới, biết cách đi đến kiến thức mới,qua đó tư duy được phát triển hơn
Trang 17Việc thiết kế, xây dựng bộ câu hỏi định hướng theo các cấp độ tư duy nhưvậy rõ ràng mất nhiều thời gian hơn là thuyết trình giảng giải, tuy nhiên phải thừanhận rằng nó có tác dụng khắc sâu kiến thức và phát triển tư duy HS.
c Cấu trúc bộ câu hỏi định hướng
Bộ câu hỏi định hướng bao gồm câu hỏi khái quát, câu hỏi bài học và câuhỏi nội dung
* Câu hỏi khái quát
Câu hỏi khái quát là câu hỏi mở, bao quát được các nhiệm vụ học tập quantrọng, kéo dài suốt chương trình Câu hỏi khái quát có thể được sử dụng để liên kếtnhiều bài học, nhiều môn học hay nhiều chủ đề Với câu hỏi khái quát, có nhiềuhơn một câu trả lời đúng duy nhất, do đó đòi hỏi HS phải tư duy bậc cao Thôngthường câu hỏi khái quát phải gắn với nhu cầu có thực trong thực tế cuộc sống, sởthích của HS và gây được sự tò mò, sự hứng thú muốn khám phá ở HS
* Câu hỏi bài học
Câu hỏi bài học cũng là câu hỏi mở nhưng hướng HS đi vào trọng tâm một bàihọc, một chủ đề cụ thể Câu hỏi bài học đòi hỏi phải đủ rộng để bao quát hầu hết các chủ
đề của bài học, giúp HS tự khám phá và thể hiện những hiểu biết của mình quanh các vấn
đề cốt lõi của dự án một cách sáng tạo, độc đáo, duy trì sự hứng thú ở HS Với câu hỏi bàihọc có nhiều hơn một câu trả lời đúng duy nhất nên cũng đòi hỏi HS phải tư duy bậc cao.Câu hỏi bài học hỗ trợ việc nghiên cứu câu hỏi khái quát
* Câu hỏi nội dung
Câu hỏi nội dung là những câu hỏi cụ thể, trọng tâm, tập trung trực tiếp vàocác chuẩn kiến thức và mục tiêu học tập; là câu hỏi hỗ trợ cho các câu hỏi kháiquát và câu hỏi bài học Câu hỏi nội dung được xếp vào loại câu hỏi “đóng”, nóđòi hỏi phải có câu trả lời đúng, rõ ràng, cụ thể, không thể bác bỏ
d Yêu cầu của bộ câu hỏi định hướng
Đặt câu hỏi là kỹ năng quan trọng đối với mỗi GV với tác dụng khuyếnkhích, kích thích tư duy của HS, hướng HS tập trung vào nội dung bài học, đồng
Trang 18thời giúp HS ghi nhớ kiến thức và tự kiểm tra kiến thức của mình Do đó việc xâydựng bộ câu hỏi định hướng phải xuất phát từ nội dung cần học: Xác định ai, lĩnhvực nào ứng dụng kiến thức cần học, đối tượng nào cần được chọn ưu tiên; HS cóthể thực hiện vai trò gì trong dự án liên quan chặt chẽ với nội dung cần học.
Yêu cầu của việc đặt câu hỏi là phải thích hợp, có sức lôi cuốn sẽ khuyếnkhích HS suy nghĩ sâu hơn, tạo nên một ngữ cảnh hiệu quả đối với việc học Khi
HS thật sự bị lôi cuốn vào việc tìm kiếm câu trả lời cho các câu hỏi, đó là lúc các
em cảm thấy thích thú với việc học Khi câu hỏi giúp HS nhận ra được mối liên hệgiữa môn học với đời sống bản thân, đó cũng là lúc việc học sẽ trở nên có ý nghĩa.Những câu hỏi hay có thể giúp HS trở thành những người có động cơ học tập, cókhả năng tự định hướng hoạt động học tập và cao hơn nữa là khả năng tự học suốtđời
Câu hỏi khái quát và câu hỏi bài học phải đưa ra lí do căn bản của việc học,giúp HS nhận thức được “Vì sao…? và “Như thế nào…?”, khuyến khích HS tìmhiểu, thảo luận và nghiên cứu Chúng giúp HS trong việc cá thể hóa suy nghĩ vàphát triển khả năng nhận thức đối với chủ đề Câu hỏi khái quát và câu hỏi bài họcđược thiết kế tốt sẽ giúp HS tư duy phê phán, làm tăng trí tò mò, thúc đẩy cách họcthông qua đặt câu hỏi trong chương trình Để trả lời được những câu hỏi như thế,
HS phải xem xét kỹ các chủ đề, xác lập ý nghĩa nội dung rồi mới xây dựng câu trảlời cụ thể từ những thông tin thu thập được
Câu hỏi nội dung hỗ trợ cho câu hỏi khái quát và câu hỏi bài học bằng cáchnhấn mạnh vào việc tìm hiểu các chi tiết trong bài học Các câu hỏi này giúp HStập trung vào những thông tin xác thực cần phải tìm hiểu để đáp ứng các tiêu chí
về chuẩn kiến thức và mục tiêu học tập
e Kỹ thuật xây dựng bộ câu hỏi định hướng
Hãy bắt đầu xây dựng bộ câu hỏi định hướng xuất phát từ nội dung và mụctiêu cần đạt đến Đừng lo ngại về cách thức và ngôn ngữ, cần chú trọng vào tư duytập thể Suy nghĩ về các câu hỏi HS sẽ hỏi khi bạn triển khai dự án và chú trọng
Trang 19vào việc làm sao để lôi cuốn HS Hãy tìm xem điều gì có thể làm cho HS ghi nhớsâu và lâu nội dung bài học Bạn có thể viết câu hỏi như một mệnh đề trước, sau đóphát triển nó thành câu hỏi; nếu cần, trước hết hãy viết câu hỏi bằng ngôn ngữ
“người lớn” để diễn đạt được nội dung chính, sau đó viết lại bằng ngôn ngữ “họctrò” Đảm bảo rằng câu hỏi khái quát và câu hỏi bài học có nhiều hơn một câu trảlời hiển nhiên “đúng” nhằm phát triển kỹ năng tư duy mức cao
Bộ câu hỏi khung chương trình được thiết kế lồng ghép vào nhau, câu hỏinội dung hỗ trợ câu hỏi bài học và câu hỏi khái quát Xuất phát từ nội dung bài học
và mục tiêu cần đạt cũng như dựa trên ý tưởng hình thành dự án, đối tượng thựchiện và điều kiện cơ sở vật chất mà ta thực hiện quy trình xây dựng từng loại câuhỏi theo thứ tự tính khái quát của câu hỏi giảm dần:
Xây dựng câu hỏi khái quát: GV cần nhìn thấy những vấn đề trong cuộc sống, nhất là
những vấn đề mang tính thời sự có liên quan nhiều đến nội dung cần dạy, đặt ra các câuhỏi liên quan đến nội dung, đến thực tiễn và mục tiêu của PBL để kích thích HS suy nghĩ
và thực hiện các nhiệm vụ được giao, gợi suy nghĩ liên môn Luôn chú ý đến những kỹnăng tư duy bậc cao muốn phát triển ở HS để đặt ra câu hỏi có mức độ khái quát phù hợp
Xây dựng câu hỏi bài học: GV cần lưu ý đến khả năng tự chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng
sống và ứng dụng tri thức chiếm lĩnh để giải quyết các vấn đề cuộc sống
Xây dựng câu hỏi nội dung: GV cần chú trọng đến kiến thức khung sao cho các câu hỏi
này hỗ trợ HS giải quyết được câu hỏi bài học và câu hỏi khái quát
Muốn phát triển câu hỏi của mình, GV hãy thử dùng bảng danh mục dướiđây để xác định liệu mỗi câu hỏi đó có đáp án mở hay không? có kích thích HSsuy nghĩ thật sự hay không?
+ Câu hỏi có thể dùng cho thảo luận ban đầu hoặc cho một vấn đề khó haykhông?
+ Câu hỏi có kích thích óc tò mò, khuyến khích khám phá ý tưởng haykhiến HS quan tâm hay không?
Trang 20+ Câu hỏi có đặt ra thách thức hợp lý, có đòi hỏi HS tự hình thành ý nghĩcùng với những thông tin mà các em đã thu thập được không?
+ Những đối tượng khác nhau có trả lời câu hỏi theo các cách khác nhauhay không?
+ Câu hỏi có cho phép các cách tiếp cận sáng tạo và đáp án duy nhấtkhông?
+ Câu hỏi có đòi hỏi HS trả lời “tại sao” và “như thế nào” không?
+ Câu hỏi có giúp mở điểm mấu chốt của môn học không?
+ Câu hỏi có liên quan đến một khía cạnh nào đó về cuộc sống của HSkhông?
+ Câu hỏi có đòi hỏi HS phân tích tư duy của chính các em không?
Khi GV đã tiến hành đánh giá các câu hỏi, hãy sửa chữa và sắp xếp lại nếuthấy cần thiết Nên nhớ, hãy diễn đạt bằng ngôn ngữ hấp dẫn đối với HS Hãy đểcâu hỏi của GV mở ra mọi lúc và khi thích hợp hãy cho HS tự phát triển câu hỏi.Như vậy, việc xây dựng thành công bộ câu hỏi định hướng sẽ góp phần không nhỏ đếnchất lượng dạy học theo PBL
1.2.1.4 Lập kế hoạch thực hiện dự án [20]
Để dạy tốt và đảm bảo HS tham gia tích cực vào quá trình học, GV cần lên
kế hoạch và chuẩn bị bài chu đáo Để thành công, GV cần phác họa các dự án cụthể, có thể thực hiện được dựa vào mục tiêu dạy học Nếu không bám sát vào mụctiêu dạy học, mục đích dự án sẽ trở nên mơ hồ và kết quả học tập mong đợi từ phía
HS có thể bị hiểu sai lệch Khi thiết kế dự án, điều quan trọng là phải chắc chắnrằng việc lập kế hoạch hành động sẽ giúp cho HS nhận diện được mục tiêu học tập
dự kiến Bằng việc điểm lại mục tiêu và chuẩn của chương trình, GV sẽ lựa chọncác bài học ưu tiên trong chương trình Về cơ bản, khâu lập kế hoạch dự án baogồm các bước sau:
Bước 1 Xác định mục tiêu học tập cụ thể bằng cách sử dụng các chuẩn nội dung và
những kỹ năng tư duy bậc cao mong muốn đạt được
Trang 21Bước 2 Xây dựng bộ câu hỏi định hướng
Bước 3 Lập kế hoạch đánh giá dự án
Bước 4 Thiết kế các hoạt động
Tiến trình 4 bước thực hiện đơn giản này có thể khiến cho GV nhầm lẫn,nhưng thiết kế dự án không phải là đường thẳng mà là một vòng xoáy trôn ốc đểđảm bảo đi đúng hướng Bộ câu hỏi định hướng, kế hoạch đánh giá dự án nênđược thực hiện cùng nhau nhằm hỗ trợ cho việc đạt mục đích dạy học và nhữngchuẩn trọng tâm của bài học Cũng nên lưu ý rằng, trong suốt quá trình thực hiện
dự án, cần tạo nhiều cơ hội để HS được đánh giá, tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau,cũng như kiểm tra sự tiến bộ của HS qua từng giai đoạn
1.2.1.5 Thực hiện dự án [22]
Đây là hoạt động đặc trưng của PBL Các HS được chia thành nhiều nhómhọc tập và thực hiện dự án theo kế hoạch chung
a Vai trò của làm việc theo nhóm trong PBL
Làm việc theo nhóm có tác dụng tích cực trong việc nâng cao chất lượnghọc tập và rèn luyện các kỷ năng “mềm” của Thế kỷ XXI cho HS Trong quá trìnhthực hiện dự án, hoạt động nhóm thể hiện được:
Thứ nhất, sự hợp tác làm việc, biết chia sẻ, giúp đỡ và tôn trọng lẫn nhau của tất cả cácthành viên trong nhóm Tuy nhiên trong quá trình làm việc cùng nhau, không tránh khỏi
sự tranh luận nhưng sự tranh luận lại là một hoạt động rất hữu ích, vì qua đó mỗi HS mớitìm được cái đúng, cái sai và nguyên nhân dẫn đến những quan niệm khác nhau đó Nhờvậy, HS sẽ nắm vững kiến thức, vừa có được kỹ năng xây dựng kiến thức Kết quả họctập của nhóm được tạo ra khi có sự thống nhất, sự kết hợp tất cả kết quả của các thànhviên trong nhóm
Thứ hai, mỗi thành viên đều được phân công thực hiện một phần của công việc và tíchcực làm việc để đóng góp vào kết quả chung Qua đó thể hiện tính trách nhiệm của mỗithành viên
Trang 22Thứ ba, tất cả các thành viên trong nhóm đều có cơ hội để rèn luyện các kỹ năng như:giao tiếp, hợp tác, lắng nghe tích cực, đặt câu hỏi, đưa thông tin phản hồi tích cực, thuyếtphục, ra quyết định…
Thứ tư, rèn luyện cho HS kỹ năng đánh giá: các nhóm HS thường xuyên rà soát công việcđang làm “Chúng ta cần làm gì?” và “Kết quả ra sao?” HS có thể đưa ra ý kiến nhận địnhđúng hoặc sai, tốt hoặc chưa tốt để góp phần hoàn thiện các nhiệm vụ được giao và kếtquả chung của nhóm
b Đặc điểm của làm việc theo nhóm trong PBL
Trong PBL, lớp học thường được chia thành nhiều nhóm, mỗi nhóm từ 4đến 8 HS Việc chia nhóm thường xuất phát từ mục tiêu, nội dung bài học nhưngphải đảm bảo tính đồng đều về trình độ nhận thức và tính năng động trong các hoạtđộng Tuy nhiên cũng có thể chia nhóm theo sở trường của HS
Sau khi phân nhóm, mỗi nhóm bầu nhóm trưởng, thư ký Nhóm trưởng có nhiệm
vụ giao cho mỗi thành viên một nhiệm vụ riêng biệt trong gói nhiệm vụ chung hoặc tất cảcác thành viên đều thực hiện cùng một nhiệm vụ và quản lý được tiến độ thực hiện dự án.Nhóm trưởng phải biết điều khiển hoạt động của nhóm, chia sẻ kinh nghiệm cho nhau;thảo luận, thống nhất kết quả chung của nhóm Còn thư ký có nhiệm vụ ghi nhận lại việcphân công của nhóm trưởng, các hoạt động của nhóm, kết quả của từng thành viên, củanhóm
Để trình bày kết quả trước lớp, mỗi nhóm cử một đại diện hoặc các thành viên cóthể phối hợp cùng nhau trình bày Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ góp phần vào kếtquả học tập chung của cả lớp
Trong quá trình làm việc theo nhóm, sẽ nảy sinh nhiều ý tưởng hay giúp cho sựthành công của dự án Đây chính là ưu điểm của làm việc nhóm
Ngoài ra, để các nhóm dễ dàng làm việc, trao đổi với nhau thì bàn ghế, chỗ ngồiphải được sắp xếp sao cho phù hợp: các HS trong cùng một nhóm được ngồi đối diệnnhau
c Định hướng của GV trong hoạt động nhóm của HS
Trang 23HS có thực hiện thành công dự án và tạo ra sản phẩm có chất lượng haykhông còn phụ thuộc vào vai trò của GV trong việc định hướng hoạt động nhómcủa HS Từng HS cần phải nắm rõ những việc cần và sẽ làm cho dự án Muốn thế,
GV cần hướng dẫn mạch lạc công việc của từng thành viên trong nhóm và các tiêuchí để đánh giá dự án Công việc của nhóm là giải nghĩa các hướng dẫn đó vàthống nhất cách giải quyết vấn đề
Trong quá trình các nhóm hoạt động, GV cần quan sát và theo dõi hoạtđộng của từng cá nhân, từng nhóm để kịp thời phát hiện những sai lầm, bế tắc,thấy được những vướng mắc của HS để từ đó, GV có thể góp ý, định hướng hoặcđưa ra những chỉ dẫn cụ thể giúp HS vượt qua những khó khăn, thử thách, dẫn dắt
HS đi đúng hướng mà dự án yêu cầu để hoàn thành tốt sản phẩm của mình Tuynhiên, trong quá trình quan sát các nhóm làm việc, GV có thể thay đổi cấu trúc củanhóm để tạo cơ hội cho các thành viên có dịp trao đổi kinh nghiệm với nhau Các
dự án cần được xây dựng sao cho không một thành viên nào trong nhóm bỏ qua sự
nỗ lực công việc của các thành viên khác
d Đánh giá hoạt động nhóm
Song song với việc đề ra nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên trong nhóm thì
việc GV đưa ra tiêu chí đánh giá ngay từ đầu dự án cũng giúp HS định hướng công việccủa mình Việc đánh giá cần cụ thể hóa cho từng mặt hoạt động, không chỉ đánh giá kếtquả hoạt động nhóm mà còn đánh giá thành quả của từng cá nhân HS Qua đó, từng cánhân HS thấy rõ vai trò của mình vào việc đóng góp vào thành quả hoạt động chung của
cả nhóm
e Sản phẩm của HS
HS hoàn tất dự án thông qua sản phẩm Những sản phẩm của dự án giúp HSthể hiện năng lực của bản thân mình, khả năng diễn đạt và làm chủ quá trình họctập, đồng thời giúp HS áp dụng những điều đã học vào thực tế cuộc sống
1.2.1.6 Đánh giá và tự đánh giá
Trang 24Đánh giá là một hoạt động thường xuyên trong quá trình dạy và học, nó giữmột vai trò quan trọng trong việc quyết định chất lượng đào tạo
a Mục đích của việc đánh giá
Mục đích chính của việc đánh giá là nâng cao chất lượng học tập và nănglực của HS Căn cứ vào kết quả đánh giá, HS biết được mức độ đạt được của mình
so với mục tiêu, nhiệm vụ được giao Trên cơ sở đó HS điều chỉnh cách học đểnâng cao kết quả học tập, đồng thời giúp GV điều chỉnh cách dạy cho phù hợp
Đánh giá không phải là hoạt động đơn lẻ, trái lại, nó là một quá trình diễn raliên tục trong suốt quá trình thực hiện dự án Đánh giá liên tục và định kỳ là khâucốt yếu của PBL, có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp học sinh thể hiện đượcnhững gì đã học bằng nhiều cách khác nhau
b Yêu cầu của việc đánh giá
Để triển khai thành công việc đánh giá trong PBL, cần tập trung vào nhữngcâu hỏi cụ thể như sau:
- HS hướng đến các mục tiêu học tập như thế nào?
- HS sử dụng những kỹ năng tư duy nào?
- Liệu HS có nâng cao được khả năng tự quản lý, tư duy sâu để học tốt hơn haykhông?
- HS tích hợp và sử dụng thông tin mới hiệu quả đến mức nào?
- Điều gì thúc đẩy động cơ học tập của HS?
- Hiệu quả của các hoạt động can thiệp đặc biệt là gì?
- Liệu các chiến lược dạy học có cần phải thay đổi không?
Trong PBL, HS sẽ được tham gia nhiều hơn vào các quá trình đánh giá; HS sẽ được khích
lệ, kiểm soát được việc học, tự khẳng định thành công của bản thân Vì thế GV cần tạonhiều cơ hội để HS học tập và thực hành hơn Để đạt được điều đó, GV cần gợi ý HS:
- Xác lập mục đích, nhiệm vụ, dự đoán về kết quả đạt được trong học tập
- Suy nghĩ và tự đánh giá việc học của chính mình
Trang 25- Chỉ ra những khó khăn có thể có trong quá trình học, đưa ra những gợi ý chiếnlược khắc phục.
- Trao đổi phản hồi từ học sinh
Muốn vậy, GV phải:
- Nêu rõ các tiêu chí đánh giá
- Tạo những cơ hội để HS theo dõi sự tiến bộ của chính mình
- Các phương pháp thu thập phản hồi chính tắc để chia sẻ với bạn học, kết hợpnhững phản hồi từ bạn học để tăng hiệu quả công việc
- Cho thời gian đủ để hoàn thành công việc và các sản phẩm
- Hỗ trợ xác lập mục đích học tập mới trong tương lai
Dự án tốt là dự án phải định ra được kết quả cuối cùng ngay trong ý tưởng Điều đó cónghĩa là dự án phải được khởi đầu từ mục đích, xác định được HS muốn biết gì, chỉ rađược cách đánh giá sự hiểu bài của HS Tất cả những điều trên cần phải được tính toántrước khi triển khai hoạt động Kế hoạch cho việc đánh giá bài học theo dự án, để:
- Sử dụng nhiều phương pháp đánh giá khác nhau
- Đánh giá định kỳ trong các chu trình dạy học
- Đánh giá những mục tiêu quan trọng của bài học
c Đánh giá và tự đánh giá trong PBL [25]
Trong PBL, có thể sử dụng ba hình thức đánh giá như sau: đánh giá liên tụcquá trình học tập, đánh giá thông qua việc nhìn lại quá trình (tự đánh giá) và đánhgiá đồng đẳng
* Đánh giá liên tục quá trình học tập
GV đánh giá qua các sản phẩm của hoạt động và quá trình học tập của HS,được thực hiện thông qua kết quả học tập - thành tích học tập của HS, khả năngthuyết trình, bài kiểm tra, các kết quả quan sát trong quá trình học
* Đánh giá thông qua quá trình nhìn lại (tự đánh giá)
HS tự liên hệ phần nhiệm vụ đã thực hiện bằng các tiêu chí đánh giá vàquyết định xem mức độ hoàn thành của mình đã đáp ứng yêu cầu của mục tiêu bài
Trang 26học chưa Qua đó, HS sẽ tự đánh giá các nỗ lực và sự tiến bộ của bản thân, nhìn lạiquá trình, phát hiện những điểm cần thay đổi để hoàn thiện bản thân và cao hơnnữa là HS có thể phản hồi lại quá trình học tập của mình
Tự đánh giá sẽ giúp HS ý thức hơn về quá trình học của bản thân Kết quả
là kiến thức sẽ được tổ chức có hệ thống hơn và dễ tiếp cận hơn, HS cũng có ýthức rõ hơn về điểm mạnh, điểm yếu và học cách tiến bộ cho các dự án tiếp theo
Tự đánh giá đòi hỏi mức độ trách nhiệm và sáng kiến cao hơn đối với HS,
nó sẽ làm tăng mức độ tham gia của HS Thông qua đó, GV sẽ học cách nhìn từquan điểm của HS Những định kiến về cá nhân HS sẽ được loại bỏ Mặt khác,thông qua tự đánh giá HS sẽ thấy được các tiêu chí có thể khác biệt tùy theo mụctiêu và bối cảnh
* Đánh giá đồng đẳng
Đánh giá đồng đẳng giúp HS làm việc hợp tác Các HS sẽ tự đánh giá lẫnnhau dựa theo các tiêu chí đã được định sẵn Các em sẽ học cách áp dụng các tiêuchí đánh giá một cách khách quan Đánh giá đồng đẳng đòi hỏi các kỹ năng giaotiếp tốt Các em cần đưa ra phản hồi cho các bạn khác bên cạnh những nhận địnhmang tính tích cực Tuy nhiên, GV không nên để HS quyết định tất cả việc đánhgiá mà cần phải hướng dẫn HS thực hiện đánh giá đồng đẳng và coi đó như mộtphần của quá trình học tập
Đánh giá đồng đẳng cho phép HS tham gia nhiều hơn vào quá trình học tập
và đánh giá, không chỉ cung cấp thông tin về kết quả học tập của HS sau khi đượcđánh giá , mà còn phản ánh được năng lực của người đánh giá về sự trung thực vàsáng tạo, linh hoạt, trí tưởng tượng, sự đồng cảm…, tạo động lực cho HS biết họccách học kiến thức mới chứ không chỉ tập trung vào vấn đề điểm số
Đánh giá đồng đẳng giúp việc học tập diễn ra ở mức sâu hơn Cả ngườiđánh giá và người được đánh giá đều được phát triển các kỹ năng quan hệ liênnhân, trách nhiệm, tính tự chủ và khả năng giải quyết vấn đề Áp dụng đánh giá
Trang 27đồng đẳng là một bước quan trọng để HS tiến dần đến kỹ năng tự đánh giá bảnthân.
Đánh giá đồng đẳng có thể khiến HS cảm thấy không thoải mái lắm khinhận xét bạn bè mình, đôi khi HS đưa ra những nhận xét không đáng tin cậy vàkhông tránh khỏi sự thiên vị Điều này GV cần đặc biệt chú ý khi HS thực hiệnđánh giá đồng đẳng
Khi so sánh đánh giá đồng đẳng và tự đánh giá, HS có xu hướng cho điểm bản thân cao hơn điểm do bạn cùng lớp đánh giá Do đó việc kết hợp giữa đánh giá đồng đẳng, tự đánh giá và đánh giá liên tục quá trình học tập là không thể tách rời trong PBL.
xử lý thông tin 2.2 Tổng hợp thông tin
2.3 Xây dựng sản phẩm
Bước 3: Nghiệm thu sản phẩm Hợp thức hóa kiến thức 3.1 Báo cáo trình bày sản phẩm 3.2 Đánh giá, rút kinh nghiệm
3.3 Hợp thức hóa kiến thức
3 bước dạy học theo PBL
Trang 28Bước 1 Lập kế hoạch
Đây là bước đầu tiên quan trọng, GV cần tổ chức cho HS cùng tham gia đề xuất, lựa chọnchủ đề, xác định mục tiêu cần hướng tới, dự kiến sản phẩm, cách triển khai thực hiệnhoàn thành dự án, thời gian thực hiện và hoàn thành dự án
1.1 Lựa chọn chủ đề
GV linh hoạt lựa chọn nội dung bài học/ chủ đề cần hấp dẫn khơi gợi sựhứng thú, tính tò mò ham hiểu biết của HS Chủ đề có thể khởi đầu bằng một ýtưởng liên quan đến nội dung học tập, gắn với thực tiễn mà HS quan tâm Đôi khiviệc xác định chủ đề lại xuất phát từ phía HS
1.3 Xây dựng kế hoạch thực hiện
Từ các tiểu chủ đề, các HS cùng một nhóm thảo luận lập kế hoạch thực hiện
dự án dưới sự hướng dẫn của GV Khi xây dựng kế hoạch cần xác định các nhiệm
vụ cần thực hiện để đạt được mục tiêu, đồng thời phân công các thành viên trongnhóm ai sẽ làm nhiệm vụ gì và thời gian hoàn thành, xác định phương tiện hỗ trợ,vật liệu, kinh phí, dự kiến sản phẩm và phương pháp tiến hành
Sau khi lập kế hoạch thực hiện, các nhóm cử đại diện trình bày, các nhómkhác và GV bổ sung ý kiến, HS chỉnh sửa và hoàn thiện kế hoạch
Trang 29Thu thập thông tin theo nhiệm vụ được phân công trong nhóm, có thể thuthập thông tin từ sách, báo, tranh ảnh, internet, hoặc làm thực nghiệm Các phươngtiện hỗ trợ cần sử dụng như máy ảnh, camera, máy vi tính…
Sau khi đã thu thập được các dữ liệu, cần tiến hành xử lý dữ liệu Các thànhviên trong nhóm thường xuyên trao đổi thảo luận để tập hợp dữ liệu, giải quyết vấn
đề, kiểm tra tiến độ Đồng thời xin ý kiến, trao đổi, sự giúp đỡ kịp thời từ phía với
GV để đảm bảo tiến độ và hướng đi của dự án
mô hình…), powerpoint…
Bước 3 Nghiệm thu sản phẩm Hợp thức hóa kiến thức
3.1 Báo cáo trình bày sản phẩm
Các nhóm phân công thành viên tham gia trình bày báo cáo, sản phẩm dự án
có thể trình bày trong lớp, có thể được giới thiệu trước toàn trường hay ngoài xãhội
3.2 Đánh giá, rút kinh nghiệm
Sau khi các nhóm trình bày báo cáo, các nhóm sẽ tự đánh giá, các nhómđánh giá lẫn nhau và GV đánh giá các nhóm về quá trình thực hiện dự án Từ đórút ra những kinh nghiệm cho việc phát triển dự án hoặc việc thực hiện các dự ántiếp theo
3.3 Hợp thức hóa kiến thức
GV đút kết lại những kiến thức trọng tâm thông qua thực hiện dự án.
Trang 30Việc phân chia các bước tiến hành dạy học theo PBL trên đây chỉ mang tínhtương đối Quá trình tự kiểm tra và điều chỉnh cần được thực hiện trong tất cả cácbước tiến hành của dự án.
1.3 Bản chất, mục tiêu và đặc điểm của PBL
1.3.1 Bản chất của PBL
HS lĩnh hội kiến thức và rèn luyện các kỹ năng tư duy bậc cao thông quaquá trình tự giải quyết một bài tập tình huống gắn liền với thực tiễn cuộc sống,dưới sự hướng dẫn của GV – dự án Kết thúc dự án sẽ cho ra một sản phẩm cụ thể
- Rèn luyện các kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng sống
- Nâng cao kỹ năng sử dụng CNTT vào quá trình học tập và tạo ra sản phẩm
c Về thái độ, tình cảm
- Giúp HS yêu thích môn học hơn
- Nhìn thấy được giá trị của lao động thông qua hoạt động nhóm
- Không ngừng nỗ lực học tập
- Tinh thần trách nhiệm, ý thức cộng đồng, ý thức dân tộc sẽ sâu sắc hơn khi HS tự mìnhtham gia giải quyết những vấn đề mà địa phương đang đối mặt, dù những giải pháp đưa racòn chưa thật sự hoàn chỉnh
1.3.3 Đặc điểm của PBL [19]
Trong các tài liệu viết về PBL, có rất nhiều đặc điểm được đưa ra Đầu thế kỷ XX,các nhà sư phạm Mỹ khi xác lập cơ sở lý thuyết cho PBL đã nêu ra ba đặc điểm cốt lõicủa PBL đó là định hướng HS, định hướng thực tiễn và định hướng sản phẩm Có thể cụthể hoá các đặc điểm của PBL như sau:
Trang 31a Định hướng thực tiễn
Chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống của thực tiễn xã hội, thựctiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống Nhiệm vụ dự án cần chứa đựngnhững vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của người học Các dự án học tậpgóp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội Trongnhững trường hợp lý tưởng, việc thực hiện các dự án có thể mang lại những tácđộng xã hội tích cực
b Định hướng hoạt động HS
Trong quá trình thực hiện dự án, có sự kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết vàvận dụng lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực hành Thông qua đó, kiểmtra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ năng hành động,kinh nghiệm thực tiễn của người học
c Định hướng sản phẩm
Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được tạo ra Sản phẩm của
dự án không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết, mà trong đa số trường hợp,các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thựchành Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu
d Định hướng ứng dụng CNTT
Trong thời đại bùng nổ CNTT, HS có nhiều cơ hội để mở rộng tầm hiểu biết từ thếgiới bên ngoài Thông qua CNTT, HS tìm thấy các nguồn tài nguyên để thực hiện dự án
và tạo sản phẩm Qua đó, kỹ năng sử dụng CNTT ở HS được hình thành và phát triển
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện dự án, HS được tham gia chọn đề tài, nộidung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân Hứng thú của người họccần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện dự án Nội dung dự án có sựkết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc môn học khác nhau nhằm giải quyết mộtvấn đề mang tính phức hợp Trong PBL, HS cần tham gia tích cực và tự lực vàocác giai đoạn của quá trình dạy học Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tínhtrách nhiệm, sự sáng tạo của HS GV chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn,
Trang 32giúp đỡ Tuy nhiên mức độ tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm, khả năng của HS
và mức độ khó khăn của nhiệm vụ Các dự án học tập thường được thực hiện theonhóm, trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thànhviên trong nhóm PBL đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kỹ năng cộng tác làmviệc giữa các thành viên tham gia, giữa HS và GV cũng như với các lực lượng xãhội khác tham gia trong dự án Đặc điểm này còn được gọi là học tập mang tính xãhội
1.4 Tác dụng, những hạn chế và khó khăn của dạy học theo PBL [13]
Rõ ràng PBL đã đáp ứng yêu cầu về đào tạo nhân lực trong thời kỳ hộinhập, là hình thức dạy học phù hợp với mục tiêu giáo dục theo quan điểm củaUNESCO: học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự hoàn thiện
* Đối với HS
PBL gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xãhội, giúp việc học tập trong nhà trường gần hơn với việc học tập trong thế giớithật
PBL giúp người học trở thành người giải quyết vấn đề, ra quyết định chứkhông phải là người nghe thụ động Họ hợp tác theo nhóm, tổ chức hoạt động, tiếnhành nghiên cứu, giải quyết vấn đề, tổng hợp thông tin, tổ chức thời gian và phảnánh về việc học của mình
Trang 33PBL tạo điều kiện cho nhiều phong cách học tập khác nhau, sử dụng thôngtin của những môn học khác nhau.
Có cơ hội phát triển các kỹ năng tư duy bậc cao, giúp người học hiểu biếtsâu sắc hơn nội dung học tập
Được rèn luyện khả năng vận dụng những gì đã học, đặc biệt các kiến thức
- PBL đòi hỏi có sự chuẩn bị và lên kế hoạch thật chu đáo thì mới lôi cuốn được ngườihọc tham gia một cách tích cực
- PBL đòi hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp
1.4.3 Những khó khăn của PBL
* HS thường gặp khó khăn khi:
Trang 34- Xác định một dự án, thiết kế các hoạt động và lựa chọn phương pháp thích hợp.
- Thiết lập mục tiêu rõ ràng cho các giai đoạn khác nhau của dự án
- Tiến hành điều tra, thu thập thông tin
- Quản lý thời gian, giữ đúng thời hạn cho từng công việc và khi kết thúc dự án
- Thuyết trình dự án
* GV thường gặp khó khăn khi:
- Muốn hiểu đúng và đầy đủ về PBL
- Thiết kế dự án vừa gắn với nội dung dạy học vừa gắn với thực tiễn đời sống
- Tổ chức thực hiện, theo dõi dự án, giám sát tiến độ, quản lý lớp học
- Đưa ra phản hồi và hỗ trợ khi cần thiết
- Sử dụng CNTT để hổ trợ dự án
- Thiết kế các tiêu chí đánh giá cho một dự án cụ thể
1.5 PBL với việc thực hiện các nhiệm vụ dạy học Vật lý
Môn học Vật lý là một môn khoa học thực nghiệm, do đó nó rất trực quan sinhđộng, gắn bó mật thiết với cuộc sống con người Nhận thức của con người bắt đầu từ sựphản ánh thế giới xung quanh bằng các giác quan Chính sự thụ cảm bằng giác quan đemlại tri thức trực tiếp về hiện thực và là nguồn gốc của mọi tri thức Trong thời đại ngàynay, nhiều thành tựu khoa học và công nghệ xuất hiện một cách hết sức bất ngờ và đổimới một cách cực kì nhanh chóng Để theo kịp thời đại, nhiệm vụ dạy học Vật lý ở trườngphổ thông không chỉ đơn thuần là trang bị cho HS những tri thức cơ bản và hệ thống vềVật lý học, mà còn rèn luyện cho HS các kỹ năng tư duy bậc cao, tự lực trong học tập vàPBL có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện các nhiệm vụ dạy học của môn Vật lý ởtrường phổ thông:
PBL với nhiệm vụ giáo dưỡng trong môn Vật lý: Được xây dựng dựa trên
bộ câu hỏi định hướng của GV, lồng ghép các nội dung kiến thức theo chuẩn, PBLkhông chỉ giúp HS đạt được các mục tiêu về kiến thức, kỹ năng Vật lý mà còn đạtđược các chuẩn kiến thức một cách sâu sắc và lâu dài vì HS tự tìm kiếm chiếm lĩnh
Trang 35kiến thức, chứ không đơn thuần là ghi nhớ kiến thức có sẵn được GV truyền chonhư dạy học theo phương pháp giảng giải – minh họa.
PBL với nhiệm vụ phát triển tư duy HS: Thông qua những nhiệm vụ mang
tính mở, PBL khuyến khích HS tìm tòi, tự lực chiếm lĩnh tri thức, vận dụng tri thức
để nhận biết bản chất của thế giới tự nhiên, thông qua đó phát triển tư duy cho HS
Có thể coi đây là chìa khóa để mở cánh cửa bí hiểm của tự nhiên và tìm cách đểhiểu nó và cải tạo nó Đặc biệt PBL chú ý đến các kỹ năng tư duy bậc cao: phântích, tổng hợp, đánh giá qua việc khuyến khích HS thu thập, phân tích thông tin, xử
lý thông tin, tổng hợp và chế biến thông tin, truyền đạt thông tin, đánh giá và tựđánh giá
PBL với nhiệm vụ giáo dục đạo đức, nhân cách và kỹ năng sống cho HS:
Trong quá trình thực hiện dự án và tạo ra những sản phẩm của chính mình, HSđược bồi dưỡng lòng say mê và yêu thích công việc mình làm; cần cù và dám vượtkhó khăn để đạt mục đích; có lòng trung thực và tính sáng tạo; có tinh thần hợp tác
và dám chịu trách nhiệm… qua đó giáo dục nhân cách người lao động kiểu mẫucho HS, đồng thời phát triển được năng lực làm việc có kế hoạch, kỹ năng làmviệc nhóm, kỹ năng thuyết trình – đây là những nội dung quan trọng của chươngtrình giáo dục kỹ năng sống cho HS trong thời đại CNTT
PBL với nhiệm vụ giáo dục kỹ thuật tổng hợp: PBL giúp GV phát hiện
những thiên hướng và sở trường của từng HS và giúp HS nhận ra điều đó vào việcchọn nghề Đồng thời, với sự hiểu biết nguyên lý chung của các ngành công nghệ
có liên quan trực tiếp đến Vật lý, HS lại có thiên hướng về một trong những ngành
đó thì HS sẽ thuận lợi cho sự hướng nghiệp trong tương lai
Bài học thiết kế theo PBL chứa đựng nhiều kỹ thuật dạy học khác nhau, cóthể lôi cuốn được mọi đối tượng HS mà không phụ thuộc vào cách học của HS.Thông thường HS sẽ làm việc với các chuyên gia và những thành viên trong cộngđồng để giải quyết vấn đề, hiểu sâu nội dung hơn Các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ
HS học tập
Trang 36Trong quá trình thực hiện dự án, có thể vận dụng nhiều cách đánh giá khácnhau để giúp HS tạo ra những sản phẩm có chất lượng Với các chuẩn về nội dung
và đánh giá, trong quá trình dạy học, GV có thể áp dụng cách tiếp cận dự án để lôicuốn HS làm việc thật sự, để phát triển các kỹ năng của thế kỷ XXI (hay còn gọi làcác kỹ năng mềm) như cộng tác, giải quyết vấn đề, tư duy phê phán và rèn luyện
kỹ năng sống Nếu được thiết kế tốt, PBL có thể đem lại chất lượng học tập caocho HS, đồng thời giúp GV tích lũy được nhiều kinh nghiệm bổ ích
Như vậy, quá trình thực hiện PBL giúp HS không còn tiếp thu kiến thức một cáchthụ động mà tìm tòi kiến thức thông qua nhiều hoạt động mang tính tự lực dưới sự hướngdẫn, tham vấn của GV
1.6 So sánh phương pháp dạy học dự án với các phương pháp dạy học truyền thống [14]
- PPDH truyền thống là phương pháp lấy
hoạt động của người thầy là trung tâm
- PPDH truyền thống, giáo viên là chủ
thể, là tâm điểm, học sinh là khách thể,
là quỹ đạo
- Học sinh thụ động tiếp thu kiến thức,
giờ dạy dễ đơn điệu, buồn tẻ, kiến thức
thiên về lý luận, ít chú ý đến kỹ năng
thực hành của người học; do đó kỹ năng
hành dụng vào đời sống thực tế bị hạn
chế
- Là vấn đề (nếu có) nẩy sinh từ chương
trình học, nhiều khi không hấp dẫn,
- PBL là phương pháp lấy người học làmtrung tâm
- PBL là người học thực hiện một nhiệm
vụ phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết
và thực tiễn, thực hành
- Học thực hiện với tính tự lực cao trongquá trình học tập, từ việc xác định mụcđích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự
án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quátrình và kết quả thực hiện
- Là vấn đề bắt nguồn từ cuộc sống thực vìthế hấp dẫn, thiết thân, thiết thực với họcsinh
- Tích hợp dễ dàng công nghệ thông tin
Trang 37không thiết thân, thiết thực với học sinh
- Bộ câu hỏi nẩy sinh từ chương trình học,
hướng tới các mục tiêu truyền thống
- Có giải pháp định sẵn cho một vấn đề
- Học sinh bị động ra quyết định trong
khuôn khổ chương trình, không biết thiết
kế quá trình tìm kiếm giải pháp
- Học sinh không có cơ hội thực hành TN
- Hoạt động: nhóm
- Tổng thể kiến thức mới có tính liên môn
- Kỹ năng tư duy bậc cao, kỹ năng sống
- Bộ câu hỏi xây dựng trong khuôn khổnội dung học, hướng tới các mục tiêuhiện đại
- Không có giải pháp định sẵn cho một vấn đề
- Học sinh ra quyết định trong khuôn khổchương trình, biết thiết kế quá trình tìmkiếm giải pháp
- Học sinh có cơ hội thực hành TN
1.7 Các dạng của PBL [13]
PBL có thể được phân loại theo nhiều phương diện khác nhau Sau đây làmột số cách phân loại PBL:
a Phân loại theo chuyên môn
- Dự án trong một môn học: trọng tâm nội dung nằm trong một môn học
- Dự án liên môn: trọng tâm nội dung nằm ở nhiều môn khác nhau
- Dự án ngoài chuyên môn: là các dự án không phụ thuộc trực tiếp vào các môn học
b Phân loại theo sự tham gia của người học
Dự án cho nhóm HS, dự án cá nhân Dự án dành cho nhóm HS là hình thức
dự án dạy học chủ yếu Trong trường phổ thông còn có dự án toàn trường, dự ándành cho một khối lớp, dự án cho một lớp học
c Phân loại theo sự tham gia của GV
Dự án dưới sự hướng dẫn của một GV, dự án với sự cộng tác hướng dẫn của nhiều GV
Trang 38d Phân loại theo quỹ thời gian
K.Frey đề nghị cách phân chia như sau:
- Dự án nhỏ: thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2-6 giờ học;
- Dự án trung bình: dự án trong một hoặc một số ngày (“Ngày dự án”), nhưng giới hạn làmột tuần hoặc 40 giờ học;
- Dự án lớn: dự án thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần (hay 40 giờ học),
có thể kéo dài nhiều tuần (“Tuần dự án”)
Cách phân chia theo thời gian này thường áp dụng ở trường phổ thông Trong đào tạo đạihọc, có thể quy định quỹ thời gian lớn hơn
e Phân loại theo nhiệm vụ
Dựa theo nhiệm vụ trọng tâm của dự án, có thể phân loại các dự án theo các dạng sau:
- Dự án tìm hiểu: là dự án khảo sát thực trạng đối tượng;
- Dự án nghiên cứu: nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện tượng, quá trình;
- Dự án thực hành (dự án kiến tạo sản phẩm): trọng tâm là việc tạo ra các sản phẩm vậtchất hoặc thực hiện một kế hoạch hành động thực tiễn, nhằm thực hiện những nhiệm vụnhư trang trí, trưng bày, biểu diễn, sáng tác;
- Dự án hỗn hợp: là các dự án có nội dung kết hợp các dạng nêu trên
Các loại dự án trên không hoàn toàn tách biệt với nhau Trong từng lĩnh vực chuyên môn
có thể phân loại các dạng dự án theo đặc thù riêng
1.8 Hồ sơ bài dạy trong PBL
Để triển khai PBL cho một đề tài cụ thể và đạt được sự thành công, GVphải thiết lập được hồ sơ bài dạy một cách khoa học Có thể hiểu “hồ sơ bài dạy”chỉ sự chuẩn bị của GV về:
- Nội dung kiến thức cần đạt gắn liền với tên dự án thông qua bộ câu hỏi định hướng
- Giới thiệu về dự án và các nội dung cơ bản
- Giới thiệu kế hoạch thực hiện dự án (có thể thông qua giản đồ tư duy)
- Sổ theo dõi dự án giúp HS ghi lại quá trình thực hiện các nhiệm vụ đa dạng, qua đó GV
có thể rà soát, kiểm tra tiến độ thực hiện dự án của HS
Trang 39- Tài liệu tham khảo: sách, báo, SGK, internet, địa chỉ mail của GV … giúp HS biết cáchthu thập thông tin như thế nào?, ở đâu?, bằng cách nào?, phương tiện gì?, cách xử lýthông tin như thế nào?, tiện giải đáp các thắc mắc của HS trong quá trình thực hiện dự án.
- Phiếu đánh giá của GV, của HS và phiếu đánh giá nhóm nhằm ghi nhận thành quả laođộng của HS, từ đó giúp HS định hướng đúng hoạt động học tập trong suốt quá trình thựchiện dự án, tạo cho HS tâm lý được khuyến khích, được đánh giá thực chất cho một quátrình nỗ lực trong học tập của mình
Với mỗi nhóm kiến thức khác nhau, đòi hỏi GV phải thiết lập hồ sơ bài dạykhác nhau, sao cho phù hợp với nội dung của bài học, với trình độ tư duy của HS
Có như vậy mới đạt được sự thành công trong PBL
1.9 Tình hình sử dụng PBL trong dạy học
* Trên thế giới: Cùng với sự phát triển như vũ bão của CNTT, PBL được chú ý đặc biệt
trong nền giáo dục của nhiều nước trên thế giới trong thời gian gần đây Các quốc gia cónền giáo dục tiên tiến như Mỹ, Đức, Đan Mạch… đã sử dụng phương pháp này như mộtchiến lược dạy học trong tất cả các bậc học và đều có nhiều công trình có giá trị về lý luậncũng như thực tiễn
* Ở Việt Nam: Hòa nhập với xu hướng phát triển giáo dục của thời đại, việc dạy và học ở
Việt Nam đang trong thời kỳ tiếp cận có chọn lọc các phương pháp dạy học tích cực,trong đó có PBL PBL là một phương pháp dạy học khá mới mẻ ở Việt Nam Các chươngtrình dạy học dự án của Intel, Microsoft, Việt - Bỉ đã thực hiện thí điểm ở nhiều trườngtrong cả nước Mặc dù không phủ nhận phương pháp này mang lại nhiều lợi ích và hiệuquả trong việc dạy và học nhưng nó lại chưa thực sự phổ biến trong dạy học phổ thông ởnước ta hiện nay, còn mang tính tự phát và rời rạc
viên trên cả nước được tham gia chương trình này, nhưng cho đến nay năm 2012 giáoviên trong tỉnh Nghệ An số giáo viên vận dụng dạy học dự án vào trường THPT là rất hạnchế, mặc dù đã được bồi dưỡng theo chu kỳ bồi dưỡng giáo viên theo định kỳ hàng năm(năm 2009) Mặt khác cơ sở vật chất của nhà trường còn nhiều hạn chế và điều kiện kinh tế của
Trang 40các vùng dân cư học sinh còn khó khăn, nên còn cản trở giáo viên vận dụng hình thức dạy họctích cực này.
Tại huyện Nghi Lộc, số giáo viên vận dụng dạy học dự án vào dạy học nóichung và bộ môn vật lý nói riêng còn rất hạn chế, hầu như là chưa vận dụng Chỉ duy nhấtnăm 2009 có một dự án của thầy Nguyễn Văn Phương áp dụng đối với chương “Dòngđiện không đổi” vật lý 11 chương trình nâng cao, tại trường THPT Nghi Lộc 5 đã mang lạinhững kết quả khả quan
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trên cơ sở lý luận về PBL đã được trình bày, chúng ta có thể thấy PBL làmột trong những phương pháp dạy và học theo hướng tích cực, một yêu cầu củathực tiễn giáo dục nước ta hiện nay PBL thể hiện rõ quan điểm dạy học tích cực làlấy HS làm trung tâm, định hướng hoạt động và tích hợp Do đó góp phần gắn lýthuyết với thực hành, tư duy với hành động, nhà trường với xã hội, hình thành ở
HS thói quen tự học, tự khám phá kiến thức, phát triển tư duy sáng tạo, năng lựcgiải quyết các vấn đề phức hợp, tinh thần trách nhiệm, khả năng cộng tác làm việcnhóm… Đó cũng là chính là những phẩm chất cần có ở mỗi con người để đáp ứngyêu cầu phát triển kinh tế xã hội ngày nay
Không thể phủ nhận những mặt tích cực mà PBL mang lại trong quá trình dạy học,tuy nhiên để việc vận dụng thành công phương pháp dạy học tích cực này ở các trườngTHPT không chỉ đòi hỏi việc giảm tải nội dung chương trình mang tính hàn lâm, tăngthời lượng giảng dạy cho một đơn vị kiến thức, giảm sỉ số HS trong một lớp học, trang bị
cơ sở vật chất mà Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có một chương trình tập huấn đồng bộ