Thực tế ở những trường THPT hiện nay hầu hết đã được trang bị máy vi tính, nhưng chủ yếu vẫn đang sử dụng để dạy môn Tin học vàtiếp cận các chương trình Tin học văn phòng, chưa khai thác
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HỒ THANH LỘC
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG WEBSITE DẠY HỌC
CHƯƠNG “ TỪ VI MÔ ĐẾN VĨ MÔ ”
VẬT LÝ 12 NÂNG CAO TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN, NĂM 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HỒ THANH LỘC
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG WEBSITE DẠY HỌC
CHƯƠNG “ TỪ VI MÔ ĐẾN VĨ MÔ ”
VẬT LÝ 12 NÂNG CAO TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lý luận và PPDH môn Vật lí
Mã số: 60 14 01 11LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS MAI VĂN TRINH
NGHỆ AN, NĂM 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡnhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo, các đồng nghiệp, bạn bè, ngườithân Với những tình cảm chân thành và trân trọng nhất, tôi xin trântrọng cảm ơn TS Mai Văn Trinh, người trực tiếp hướng dẫn tôi thựchiện luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy, cácthầy cô giáo khoa Vật lý, khoa Đào tạo Sau đại học trường Đại họcVinh, lãnh đạo trường THPT Nguyễn Đức Mậu và trường THPT QuỳnhLưu 2 tỉnh Nghệ An đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình làmluận văn
Cuối cùng, tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với gia đình, bạn bè,đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên, khuyến khích tôi an tâm học tập vàhoàn thành luận văn này
Nghệ An, tháng 08 năm
2013
Hồ Thanh Lộc
Trang 4THPT : Trung học phổ thôngTNSP
TBDH
:
:
Thực nghiệm sư phạmThiết bị dạy học
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ
1 Danh mục các bảng biểu
TT KÝ HIỆU TÊN BẢNG BIỂU TRANG
1 Bảng 3.1 Lớp và số học sinh TNSP 68
2 Bảng 3.2 Bảng thống kê các điểm số (Xi) của
3 Bảng 3.3 Bảng phân loại theo điểm kiểm tra HS 68
4 Bảng 3.4 Bảng phân phối tần suất 69
5 Bảng 3.5 Bảng phân phối tần suất lũy tích 70
6 Bảng 3.6 Bảng tổng hợp các tham số 71
2 Danh mục các hình vẽ
TT KÝ HIỆU TÊN HÌNH VẼ TRANG
1 Hình 1.1 Biểu tượng của WordPrss 25
2 Hình 1.2 Biểu tượng của NukeViet 26
3 Hình 2.1 Màn hình trang chủ 44
4 Hình 2.2 Màn hình Bài giảng điện tử 44
5 Hình 2.3 Video mô phỏng Hệ Mặt Trời 47
6 Hình 2.4 Màn hình của bài giảng điện tử ở thời điểm bắt đầu giờ học 48
7 Hình 2.5 Màn hình của bài giảng điện tử khi bắt đầu nháy chuột lần thứ nhất vào
không gian làm việc của bài giảng
Trang 6TT KÝ HIỆU TÊN BIỂU ĐỒ TRANG
1 Biểu đồ 3.1 Phân loại theo điểm kiểm tra 68
2 Biểu đồ 3.2 Phân phối tần suất 69
3 Biểu đồ 3.3 Phân phối tần suất lũy tích 70
4 Danh mục các đồ thị
TT KÝ HIỆU TÊN BIỂU ĐỒ TRANG
1 Đồ thị 3.1 Phân phối tần suất 69
2 Đồ thị 3.2 Phân phối tần suất lũy tích 70
Trang 74 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỤNG
VÀ SỬ DỤNG WEBSITE DẠY HỌC 8
1.2 Đặc trưng của Website dạy học 101.3 Chức năng hỗ trợ dạy học của Website 111.3.1 Website với hoạt động dạy và học 111.3.2 Chức năng hỗ trợ dạy học của các tài liệu điện tử 151.4 Cấu trúc của Website dạy học 201.5 Các bước xây dựng Website dạy học 22
1.5.2 Xây dựng và phát triển Website 221.6 Nguyên tắc xây dựng Website dạy học 231.7 Một số công cụ chủ yếu cho việc xây dựng Website 26
1.7.2 Công cụ xây dựng Video clip 291.8 Hình thức sử dụng Website trong dạy học vật lý 301.9 Quy trình sử dụng Website DH 311.10 Một số điểm cần lưu ý khi sử dụng Website dạy học 331.11 Những hạn chế cần khắc phục khi sử dụng Website DH làm PTDH 35
CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG WEBSITE HỖ TRỢ DẠY 38
Trang 8HỌC VẬT LÝ CHƯƠNG TỪ VI MÔ ĐẾN VĨ MÔ
BẰNG MÃ NGUỒN MỞ WORDPRESS
2.1 Cấu trúc và nội dung chương Từ vi mô đến vĩ mô trong chương trình vật lý lớp 12 THPT. 392.2 Tìm hiểu thực trạng DH chương “ Từ vi mô đến vĩ mô ” vật lý lớp 12 nâng cao THPT 392.3 Website hỗ trợ dạy học chương “Từ vi mô đến vĩ mô” 442.3.1 Bài giảng điện tử 452.3.2 Sách giáo viên, sách bài tập định tính và câu hỏi thực tế 502.3.3 Video – tranh ảnh – thí nghiệm 51
2.3.5 Lịch sử vật lý học và các nhà bác học 532.4 Các kỹ năng cơ bản sử dụng Website hỗ trợ dạy họcchương Từ vi mô đến vĩ mô 532.5 Tiến trình dạy học các bài cụ thể với website 55
3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 663.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm 663.3 Đối tượng và phương pháp thực nghiệm sư phạm 673.3.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 673.3.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 683.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm 683.4.1 Nhận xét về tiến trình dạy học 683.4.2 Đánh giá kết quả học tập của HS 683.4.3 Hiệu quả của tiến trình dạy học với sự hỗ trợ của Website 73
Phụ lục 2 Các thuộc tính của hành tinh P4
Trang 9Phụ lục 3 Hướng dẫn cài đặt Wordfress P5Phụ lục 4 Tiến trình dạy học bài 60: Sao Thiên hà P19
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Hiện nay chúng ta đang sống trong sự phát triển mạnh mẽ củakhoa học công nghệ và sự hội nhập hợp tác quốc tế của nước ta với cộngđồng quốc tế Việc nước ta đã gia nhập vào tổ chức thương mại quốc tế(WTO) đã tác động vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội trong
đó có lĩnh vực giáo dục Để theo kịp sự phát triển của khoa học và hòanhập vào nền kinh tế thế giới, toàn ngành giáo dục phải có sự đổi mớitoàn diện và đồng bộ nhằm đào tạo ra những con người mới có trình độvăn hóa cao, ham học hỏi, tự tin, năng động, sáng tạo, có kỹ năng thựchành giỏi, biết sử dụng những phương tiện mới và hiện đại, chủ độngđưa ra những cách thức tốt nhất để chiếm lĩnh tri thức, có ý thức vươnlên làm chủ khoa học công nghệ Thực tế đòi hỏi phải có những thay đổi
có tính chiến lược và toàn cục về phương pháp dạy học ở trường phổthông Kết luận Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI) về đổi mới căn bản,toàn diện giáo dục và đào tạo (26/12/2012) đã chỉ rõ “Đổi mới căn bản,toàn diện giáo dục và đào tạo là một yêu cầu khách quan và cấp bách của
sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Đổi mới căn bản, toàn diệngiáo dục và đào tạo bao gồm: đổi mới tư duy; đổi mới mục tiêu đào tạo;
hệ thống tổ chức, loại hình giáo dục và đào tạo; nội dung, phương phápdạy và học; cơ chế quản lý; xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý;
cơ sở vật chất, nguồn lực, điều kiện bảo đảm , trong toàn hệ thống”
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X xác định: " đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức, đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 "
Trang 11Trong các nguồn lực để phát triển đất nước nhanh, hiệu quả, bềnvững, đúng định hướng thì nguồn lực con người là yếu tố cơ bản Muốnxây dựng nguồn lực con người, phải đẩy mạnh đồng bộ giáo dục đào tạo,khoa học công nghệ và xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắcdân tộc Quyết định số 698/QĐ-TTg ngày 1/6/2009 của Thủ tướngChính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhânlực công nghệ thông tin đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020.
Trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đổi mới
và phát triển giáo dục Việt Nam là vấn đề tất yếu nhằm đáp ứng nhu cầuđào tạo nguồn nhân lực cho một nền kinh tế tri thức hiện nay như Quyết
định số 698/QĐ-TTg ngày 1/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 [ 25 ]
Tại điều 28 của Luật quy định:“Phương pháp giáo dục phổ thông
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh"
Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 đã nêu: "Đổi mới và
hiện đại hóa phương pháp giáo dục Chuyển từ việc truyền thụ tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trinh tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp, phát triển năng lực của mỗi cá nhân; tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh, sinh viên trong quá trình học tập ".[ 2 ]
Nhận thức được tầm quan trọng của mã nguồn mở đối với đổi mớigiáo dục, thông tư số 08/2010/TT-BGDĐT ngày 01/03/2010 của Bộ
Trang 12trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về sử dụng phần mềm tự do mãnguồn mở trong các cơ sở giáo dục.
Hiện nay, sự phát triển của CNTT đã mở ra triển vọng to lớn trongviệc đổi mới phương pháp dạy học Hầu hết các trường đều được trang
bị máy vi tính, phòng học CNTT, kết nối Internet… Máy vi tính được sửdụng trong dạy học để hỗ trợ được các nhiệm vụ cơ bản của quá trìnhdạy học (QTDH) và nhất là hỗ trợ đắc lực cho việc dạy và học chươngtrình mới theo hướng tích cực hóa người học Với sự trợ giúp của máy vitính và phần mềm dạy học, giáo viên (GV) có thể tổ chức quá trình họctập của học sinh (HS) theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sángtạo trong hoạt động nhận thức của học sinh MVT là công cụ có thểđược sử dụng vào những giai đoạn khác nhau của quá trình DH đặc biệtvới DH Vật lí, MVT có thể thay thế nhiều phương tiện DH như: tranhảnh, sơ đồ, biểu bảng, đồ thị, âm thanh, hình ảnh, các thí nghiệm…đểminh họa và trình bày kiến thức một cách sinh động, mô phỏng diễn tiếncác quá trình theo mục đích, yêu cầu đã định trước, mà các quá trìnhtrong thực tế khó thực hiện, khó tiếp cận được
1.2 Thực tế ở những trường THPT hiện nay hầu hết đã được trang
bị máy vi tính, nhưng chủ yếu vẫn đang sử dụng để dạy môn Tin học vàtiếp cận các chương trình Tin học văn phòng, chưa khai thác được triệt
để các khả năng của máy vi tính trong các môn học khác
1.3 Kết quả nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn dạy học chothấy máy vi tính dưới tác động của CNTT được xem là một phương tiệndạy học hiện đại, có tác động rất tích cực đến việc đổi mới phương phápdạy học hiện nay, nhưng chưa được sử dụng phổ biến và phát huy đượcvai trò quan trọng đó của nó trong dạy học đặc biệt là bộ môn Vật lý
1.4 Máy vi tính với ứng dụng mã nguồn mở để xây dựng Websitedạy học đang là một hướng đi mới mang tính thời sự, thu hút sự quan
Trang 13tâm của nhiều nhà khoa học, nhưng các phần mềm dạy học đã được biênsoạn trong nước đang ở dạng đơn lẻ, chưa có hệ thống và còn mang tínhthử nghiệm
1.5 Chương Từ vi mô đến vĩ mô ở vật lý lớp 12 nâng cao THPT là
chương có nhiều nội dung vật lý được rút ra từ các kết quả quan sát vàthí nghiệm phức tạp mà các thiết bị ở trường phổ thông chưa thực hiệnđược.[9]
Vì những lý do mà thực tiễn mang lại nên trong quá trình dạy họcchương Từ vi mô đến vĩ mô không tiến hành được thí nghiệm mà GVchủ yếu chỉ sử dụng phương tiện dạy học là phấn và bảng sẽ làm giảmtính trực quan của hiện tượng, kiến thức đưa ra mang tính công nhận,không thuyết phục, làm giảm lòng tin đối với khoa học của HS Nhữngnhược điểm này có thể khắc phục được nếu khi dạy học chương này có
sử dụng máy vi tính với ứng dụng công nghệ thông tin nhờ các phầnmềm mô phỏng hay các ảnh quét hoặc các Video clip thí nghiệm
Từ nhận thức vấn đề như trên, chúng tôi hướng tới và tiến hành nghiên
cứu đề tài “ Xây dựng và sử dụng website dạy học chương từ vi mô
đến vĩ mô vật lý 12 nâng cao trung học phổ thông ”, nhằm mục đích
đề xuất thêm một hướng sử dụng phương tiện hiện đại trong hệ thốngcác phương tiện dạy học vật lý, hướng đến hoạt động dạy học phần vi
mô và vĩ mô nói riêng, dạy học vật lý nói chung đạt hiệu quả cao hơn
2 Mục đích nghiên cứu.
Xây dựng và sử dụng website dạy học chương từ vi mô đến vĩ môvật lý 12 nâng cao trung học phổ thông nhờ mã nguồn mở Wordfress.Qua đó, tạo điều kiện cho GV, HS tiếp cận với công nghệ thông tin vànhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học vật lý trong trường THPT
3 Nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1 Nghiên cứu lý luận về xây dựng và sử dụng website trong DHvật lý ở THPT
Trang 143.2 Tìm hiểu thực trạng sử dụng máy vi tính và ứng dụng côngnghệ thông tin trong dạy học ở một số trường THPT.
3.3 Nghiên cứu khái niệm, cấu trúc, chức năng, đặc trưng vànguyên tắc xây dựng Website dạy học nhằm mục đích hoàn thiện và ứngdụng Website trong dạy học Vật lý
3.4 Nghiên cứu ứng dụng mã nguồn mở Word Fress
3.5 Xây dựng Website hỗ trợ dạy học chương Từ vi mô đến vĩ mô
ở vật lý lớp 12 nâng cao THPT, kiểm chứng tính hiệu quả của chươngtrình đến hoạt động dạy học, thông qua đó đề xuất yêu cầu sử dụng máy vitính và ứng dụng công nghệ thông tin làm phương tiện dạy học vật lý ởtrường THPT
3.6 xây dựng tiến trình dạy học bốn bài học của chương từ vi môđến vĩ mô theo SGK vật lý 12 nâng cao THPT
3.7 Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính đúng đắn của đề tàinghiên cứu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Nội dung, phương pháp giảng dạy vật lý THPT; máy vi tính vàứng dụng Công nghệ thông tin theo hướng hiện đại hoá phương tiện dạyhọc Vật lý
- Sử dụng máy vi tính và ứng dụng mã nguồn mở Word Fress
trong dạy học vật lý chương Từ vi mô đến vĩ mô theo hướng hiện đại
hoá phương tiện dạy học
- Học sinh lớp 12 của trường THPT Nguyễn Đức Mậu – Nghệ An
và trường Quỳnh Lưu 2 – Nghệ An có trang bị máy vi tính
5 Giả thuyết khoa học
Có thể kích thích hứng thú học tập, góp phần đổi mới phươngpháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Vật lý ở lớp 12THPT nếu xây dựng được Website hỗ trợ dạy học chương Từ vi mô
đến vĩ mô và khai thác nó một cách thích hợp.
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu lý luận
Trang 15+ Nghiên cứu các văn kiện của Đảng về đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy học.
+ Nghiên cứu tài liệu về giáo dục học và phương pháp giảng dạy vật lý.+ Nghiên cứu cơ sở lí luận của lập website dạy học
+ Nghiên cứu tài liệu hướng dẫn sử dụng một số phần mềm hỗ trợ dạyhọc
+ Nghiên cứu chương trình vật lý 12 THPT
+ Nghiên cứu, khai thác các tài liệu liên quan đến việc thiết kế các bài học
theo website.
+ Thiết kế tiến trình dạy học theo website chương Từ vi mô đến vĩ môlớp
12 THPT Ban Nâng cao
6.2 Nghiên cứu thực nghiệm
Thực hiện các bài dạy đã thiết kế, so sánh với lớp đối chứng để rút
ra những kết luận cần thiết, chỉnh lý thiết kế đề xuất hướng áp dụng vàothực tiễn, mở rộng kết quả nghiên cứu
- Điều tra thực tế
- Thực nghiệm sư phạm
- Thống kê toán học
7 Cấu trúc của luận văn.
Ngoài phụ lục và tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 phần chính:
Phần 1: Mở đầu
Gồm: 1 Lý do chọn đề tài
2 Mục đích nghiên cứu
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 165 Giả thuyết khoa học
7 Cấu trúc của luận văn
1.2 Đặc trưng của Website dạy học
1.3 Chức năng hỗ trợ dạy học của Website
1.4 Cấu trúc của Website dạy học
1.5 Các bước xây dựng Website dạy học
1.6 Nguyên tắc xây dựng Website dạy học
1.7 Một số công cụ chủ yếu cho việc xây dựng Website
1.8 Hình thức sử dụng Website trong dạy học vật lý
1.9 Quy trình sử dụng Website DH
1.10 Một số điểm cần lưu ý khi sử dụng Website dạy học
1.11 Những hạn chế cần khắc phục khi sử dụng Website dạy học làmphương tiện dạy học
CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG WEBSITE HỖ TRỢ DẠY HỌC VẬT LÝCHƯƠNG TỪ VI MÔ ĐẾN VĨ MÔ BẰNG MÃ NGUỒN MỞ
WORDFRESS2.1 Cấu trúc và nội dung chương Từ vi mô đến vĩ mô trong chươngtrình Vật lý 12 nâng cao THPT
Trang 172.2 Tìm hiểu thực trạng DH chương “ Từ vi mô đến vĩ mô ” vật lý lớp
12 nâng cao THPT
2.3 Website hỗ trợ dạy học chương Từ vi mô đến vĩ mô
2.5 Tiến trình dạy học các bài cụ thể với website
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm
3.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm
3.3 Đối tượng và phương pháp thực nghiệm sư phạm
3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm
Phần 3: Kết luận
8 Đóng góp của đề tài.
Xây dựng được website dạy học chương từ vi mô đến vĩ mô lớp 12 nângcao THPT nhằm nâng cao chất lượng dạy học
Trang 18ta, các khái niệm ấy được dùng hoặc là như một tên gọi mặc nhiên, hoặc
là đưa ra khái niệm chỉ dựa vào một vài đặc điểm, thuộc tính của nó màchưa lột tả hết ngoại diên và nội hàm của khái niệm Đó cũng là điều dễhiểu, vì rằng sự phát triển của khoa học Tin học có tính bùng nổ và chưaphải đã đạt đến đỉnh điểm Do đó, cùng với sự phát triển của Tin học,các khái niệm cũng sẽ dần dần được hoàn thiện và chính xác hoá Hơnnữa, sẽ tồn tại những cách định nghĩa khác nhau nếu như dựa trên nhữngcăn cứ khác nhau.[4],[12]
Về phần mình, chúng tôi đưa ra định nghĩa khái niệm '' Websitedạy học'' chủ yếu dựa vào chức năng dạy học mà không quan tâm đếncác yếu tố kỹ thuật hàm chứa trong nó Hay nói cách khác, khái niệmđược nhìn nhận dưới nhãn quan của người nghiên cứu khoa học giáodục
WWW (World Wide Web) là một dịch vụ thông tin mới nhất vàhấp dẫn nhất trên Internet, nó dựa trên một kỹ thuật biểu diễn thông tinđầy đủ hơn về chính thuật ngữ đó Sự mở rộng ở đây thực chất là chúngđược liên kết tới các tài liệu khác (có thể là văn bản, hình ảnh, âm thanhhay hỗn hợp của chúng) chứa các thông tin bổ sung[7] Khái niệm siêuvăn bản do Ted Nelson đưa ra đầu tiên (1965), nhưng mãi đến 1980, kháiniệm này mới được tin học hoá nhờ công sức của kỹ sư trẻ người Anh là
Trang 19Tim Berners-Lee ( ở Viện nghiên cứu hạt nhân Châu Âu CERN củaThuỵ Sĩ ) Đến năm l990, cùng với đồng nghiệp của mình là RobertCailliau, Tim Berners-Lee đã bắt tay vào dự án thiết kế mạng thông tintoàn cầu dựa trên khái niệm siêu văn bản Thuật ngữ WWW được dùng
để mô tả dự án và được công bố lần đầu tiên vào 8/1991 trên nhóm tin
alt.hypertext Từ đó, nhiều nhà phát triển khai thác đã tham gia vào việc
phát triển Web trên các hệ điều hành khác nhau Nói một cách chính xácthì WWW không phải là một hệ thống cụ thể mà là một tập hợp các công
cụ tiện ích và các siêu giao diện (Meta Interrface) giúp người sử dụng cóthể tạo ra các siêu văn bản và cung cấp cho những người sử dụng kháctrên Internet, ta gọi tắt là công nghệ Web Công nghệ Web cho phép truycập và xử lý các trang dữ liệu đa phương tiện (Hypermedia) trênInternet Để xây dựng các trang thông tin đa phương tiện như vậy, Web
sử dụng một ngôn ngữ có tên là HTML (Hyper Text Markup Language).HTML cho phép đọc và liên kết các kiểu dữ liệu khác nhau trên cùngmột trang thông tin.[26]
Như vậy, trang Web (Web page) là trang thông tin trên mạngInternet Nội dung thông tin được diễn tả một cách sinh động bằng vănbản, đồ hoạ, ảnh tĩnh, ảnh động, phim, âm thanh, tiếng nói Mỗi trangWeb được đánh dấu bằng một địa chỉ để phân biệt với các trang khác vàgiúp mọi người truy cập đến Bảng Web (Website) là tập hợp các trangWeb được liên kết lại với nhau xuất phát từ một trang gốc (Home page),hay còn được gọi là trang xuất phát, trang đầu tiên Mỗi bảng Website cómột địa chỉ riêng và đó cũng chính là địa chỉ của trang gốc hay trangxuất phát.[7]
Để thực hiện được việc truy nhập, liên kết các tài nguyên thôngtin khác nhau theo kỹ thuật siêu văn bản, WWW sử dụng khái niệmURL (Uniform Resource Locator), đây là một dạng tên để định danhduy nhất cho một tài liệu hoặc một dịch vụ trên Web Cấu trúc củaURL gồm các thành phần thông tin như: giao thức Internet được sửdụng, vị trí của server (domain name), tài liệu cụ thể trên server (pathname) và có thể có thêm các thông tin định dạng khác
Trang 20Hoạt động của Web cũng dựa trên mô hình Client/Server Tại trạmClient, người sử dụng sẽ dùng Web Browser để gửi yêu cầu tìm kiếm cáctệp tin HTML đến Web Browwser ở xa trên mạng Internet nhờ địa chỉURL Web Server nhận các yêu cầu đó và thực hiện rồi gửi kết quả vềWeb Client, Web Browser sẽ biên dịch các thẻ HTML và hiển thị nộidung các trang tài liệu được yêu cầu Để nối kết Internet, người ta dùnggiao thức SLIP (Serial Line Internet Protocol) hoặc PPP (Point-to-PointProtocol) Hai giao thức này đều cho phép người sử dụng nối vớiInternet qua các đường dây điện thoại quay số (Dial-up-Telephone).Nhưng vì đơn giản, dễ cài đặt và không yêu cầu cấp phát địa chỉ riêng(địa chỉ này sẽ được nhà cung cấp dịch vụ tạm thời khi sử dụng dịch vụ)nên PPP được ưa chuộng hơn so với SLIP.
Xuất phát từ khái niệm của Website ở trên, ta có thể hiểu Website
dạy học là một phương tiện dạy học (dưới dạng phần mềm máy tính), được tạo ra bởi các siêu văn bản (là các tài liệu điện tử như bài giảng,
SGK, SBT, SGV ) trên đó bao gồm một tập hợp các công cụ tiện ích
và các siêu giao diện (trình diễn các thông tin Multimedia: văn bản, âm
thanh, hình ảnh), để hỗ trợ việc dạy học và cung cấp cho những người
sử dụng khác trên các mạng máy tính [16], [17], [26]
1.2 Đặc trưng của Website dạy học
Website dạy học được cấu thành từ những Site riêng biệt khácnhau, mỗi một Site là một siêu văn bản sẽ thực hiện một chức năng hỗtrợ dạy học nào đó Với khả năng thực hiện hầu như vô hạn các liên kếtgiữa các Site với các dạng thông tin (multimedia) khác nhau, trên một hệthống vô số các máy tính liên kết thành mạng, đã tạo nên một đặc trưngriêng biệt của Website
Đặc trưng nổi bật của Website là có thể hỗ trợ nhiều mặt cho hoạtđộng dạy và học Khi truy cập vào Website, tuỳ thuộc vào đối tượng truycập, vào mức độ được phân quyền mà trình duyệt đưa ra quyết định,hoặc là có thể xem ( như đối với học sinh hay những người sử dụngkhác), hoặc là có thể xem đồng thời vừa có thể cập nhật ở một mức độnào đó (như đối với GV) hoặc có tất cả các quyền (đối với những người
Trang 21trong ban chuyên môn - quản trị Website) Đối với những người có quantâm đặc biệt đến các vấn đề dạy học bộ môn, thực hiện việc ''đăng nhập'',
hệ thống sẽ cấp quyền cập nhật nhưng ở một giới hạn nhất định thôngqua việc cấp Password và User name Như vậy, đặc trưng thứ hai củaWebsite là không hạn chế năng lực sáng tạo và phong cách riêng củatừng GV khi sử dụng Tập hợp được sức mạnh trí tuệ, kinh nghiệm nghềnghiệp, trình độ chuyên môn của nhiều tầng lớp xã hội để nâng caochất lượng dạy và học thông qua việc phân tích, tổng hợp và đánh giákhu vực dữ liệu dành riêng cho GV.[24]
Website được thiết kế với giao diện hết sức thân thiện, không yêucầu nhiều đến kiến thức Tin học và kỹ năng thao tác, là một phần mềmthân thuộc với nhiều người, có thể cài đặt để triển khai ứng dụng dướinhiều cách khác nhau Đây cũng là đặc trưng, thể hiện tính hơn hẳn củaWebsite so với các chương trình ứng dụng khác đòi hỏi phải giao tiếptrên nhiều menu và các hộp thoại Về mặt kỹ thuật tin học, Website làmột phần mềm duy nhất được hỗ trợ nhiều công cụ để tạo điều kiện chocác nhà lập trình phát triển được nhiều ứng dụng trên nó
Cuối cùng, có thể nói rằng Website là một môi trường siêu giaodiện, siêu trình diễn các thông tin Multimedia Đặc trưng này đã làmtăng hiệu quả tác dụng hỗ trợ nhiều mặt của Website, đặc biệt là đối vớihoạt động dạy và học là một quá trình truyền thông đa phương tiện
1.3 Chức năng hỗ trợ dạy học của Website
1.3.1 Website với hoạt động dạy và học
Đối với hoạt động dạy của GV, thực nghiệm cho thấy Website làmột phương tiện đã hỗ trợ rất có hiệu quả trên nhiều mặt trong hoạt độnggiảng dạy Sử dụng nó trong dạy học GV đã được giải phóng khỏi hầuhết những công việc chân tay bình thường Từ việc ghi chép nội dung bàihọc lên bảng, trình bày các tranh ảnh, biểu bảng, biểu đồ; hướng dẫn cácthao tác thực hành; theo dõi và điều tiết tiến trình thực hiện bài giảng,đến việc ghi nhớ những nội dung cần phải thuyết trình và giảng giải,những công thức, những số liệu, những phép tính từ đơn giản đến phứctạp, tóm tắt nội dung bài học thậm chí cả việc trình bày bài giảng bằng
Trang 22lời đều đã được máy tính hỗ trợ Tập trung tất cả các khả năng hỗ trợ ấylàm cho máy vi tính trở thành một ''trợ giảng đắc lực, có hiệu quả'' Điều
đáng nói ở đây, người trợ giảng này là hình ảnh của chính GV đang tiến
hành tiết dạy, vì rằng nội dung, tính chất và cách thức hoạt động củangười trợ giảng đều do chính GV đứng lớp quyết định Sự thống nhất,
đồng cảm, phối hợp nhịp nhàng trong hoạt động của người trợ giảng với
GV đã không thể có được trong cách tổ chức dạy học truyền thống
Về chức năng hỗ trợ công tác quản lý quá trình dạy học, Website
sẽ giúp GV hỗ trợ giám sát và quản lý kết quả học tập của HS (điểmmiệng, kiểm tra 15 phút, một tiết và học kỳ) thông qua việc cho điểmđánh giá hàng ngày vào hồ sơ HS của từng lớp Nhờ đó, GV sẽ kịp thờiđiều chỉnh hoạt động dạy học của mình sao cho phù hợp với từng đốitượng HS, đánh giá chính xác năng lực và sự tiến bộ của mỗi HS theotiến trình Việc đánh giá năng lực học tập của HS theo tiến trình luôn làmột công việc gặp rất nhiều khó khăn trong cách tổ chức dạy học truyềnthống
Một chức năng có tính nổi bật và đặc thù riêng của Website làchức năng trình diễn thông tin Multimedia, có tương tác và gây được ấn
tượng mạnh Chính nhờ chức năng này mà chúng ta đã phát huy được
sức mạnh của máy vi tính và nâng cao một cách đáng kể hiệu quả củaviệc sử dụng nó Hầu hết các tài liệu liên quan đến môn vật lý đều được
số hoá và đưa vào Website như: SGK, SGV, SBT Nhờ đó đã tạo nênđược những thư viện như: thư viện các tranh ảnh, thư viện các VideoClip về thí nghiệm, hướng dẫn thực hành, thư viện các bài tập, đề thi,kiểm tra Nói chung, tập hợp các thư viện như vậy và sự liên thông giữachúng cùng với hệ thống các bài giảng điện tử là đủ để phục vụ tốt chohoạt động dạy học Khi sử dụng Website để thực hiện các tiết giảng thựcnghiệm, một số chức năng hỗ trợ của Website được các GV đánh giá rất
cao như chức năng quản lý kết quả học tập của HS (vì nó cho phép đánh
giá năng lực học tập của HS theo tiến trình dạy học, giảm công sức laođộng của GV trong việc làm sổ sách cuối kỳ, cuối năm học, thực sự tíchcực hoá được hoạt động nhận thức của HS); chức năng cập nhật thôngtin riêng của GV(vì nó vẫn tôn trọng tính chủ động, sáng tạo, những sắc
Trang 23thái riêng của mỗi GV và tập hợp được sức mạnh tập thể trong việc ngàycàng nâng cao chất lượng giáo dục); chức năng kiểm tra đánh giá nănglực, kỹ năng vận dụng kiến thức để giải quyết các nhiệm vụ học tậpthông qua thư viện các bài tập, đề thi và kiểm tra [24]
Chức năng tăng cường tính trực quan, với khả năng xử lý các kiểu
dữ liệu khác nhau, năng lực đồ hoạ phong phú có thể xây dựng các phimdạy học, quay phim thí nghiệm, làm trực quan hoá các hiện tượng vật lýdưới dạng hình ảnh động Bằng các chương trình mô phỏng, minh hoạcác quá trình vật lý, HS sẽ hiểu rõ hơn bản chất của các hiện tượng vật
HS, thì điều này cũng có nghĩa là Website đã có tác dụng tăng cườngđược hoạt động nhận thức độc lập, chủ động sáng tạo cùng với việc nângcao một cách đáng kể chất lượng của hoạt động đó (vì GV đã có nhiềuthời gian hơn để tổ chức, điều khiển, giám sát, đánh giá và điều chỉnhhoạt động học tập của từng cá thể HS) Cũng theo cách hiểu như vậy thìWebsite đã có tác dụng tích cực hoá được hoạt động nhận thức của HS(kích thích được hứng thú, tạo động cơ học tập, nâng cao ý thức tráchnhiệm trong việc học, tăng cường sự bền bỉ của trí nhớ, sự sâu sắc của tưduy ); hỗ trợ tốt cho việc tự học, tự đánh giá, ôn tập củng cố, hệ thốnghoá kiến thức (nhờ hệ thống các bài tập luyện tập, kiểm tra, của tài liệu
tự học theo kiểu chương trình hoá, sự liên kết giữa các thư viện, giữa cáctài liệu điện tử )
1.3.1.1 Xây dựng trang Web hỗ trợ hình thành kiến thức, kỹ năng mới
Trang 24Có thể xây dựng trang Web gồm các bài giảng điện tử nhằm hỗtrợ hình thành kiến thức và kỹ năng mới cho HS Trong đó các mô hình,tranh ảnh, các đoạn Video clip quay các hiện tượng thật, mô phỏng cáchiện tượng, đồ thị nhằm cung cấp cho HS nhiều hình ảnh trực quan với
tư cách là những cơ sở thực nghiệm giúp HS khái quát hoặc kiểm chứngkiến thức về các khái niệm, định luật vật lý
Các đoạn Video quay các nghiên cứu của các nhà bác học, trong
đó sự kết hợp cả hình ảnh và âm thanh tạo nên sự trình diễn sinh động,hấp dẫn Sử dụng các ứng dụng mô phỏng, HS có thể thao tác trên máy
vi tính như đang đóng vai nhà nghiên cứu cũng góp phần rèn luyệnphương pháp thực nghiệm cho HS trong điều kiện không thể tiến hànhthí nghiệm thật được Bởi trong dạy học vật lý, chức năng góp phần pháttriển năng lực nhận thức HS của phương tiện dạy học thể hiện rõ nhấttrong việc hỗ trợ tổ chức cho HS tiến hành các thực nghiệm với các thiết
bị thí nghiệm thực hành Thông qua đó góp phần hình thành kỹ năng,rèn luyện tính trung thực, rèn luyện thói quen tiếp thu tri thức một cách
- Lập trình mô phỏng các thiết bị thí nghiệm (thí nghiệm ảo), vớicác thiết bị được mô phỏng, để từ đó giúp HS có thể tiến hành thínghiệm trên các dụng cụ thí nghiệm thật một cách dễ dàng hơn Tuynhiên trong phương pháp này có một nhược điểm là các kết quả thínghiệm đã được lập theo một công thức nhất định, vì vậy kết quả thínghiệm coi như đã được định sẵn Trong khi thực tế có thể diễn rakhông đúng như vậy Ngoài ra, để thực hiện các thí nghiệm ảo như thếphụ thuộc rất nhiều vào khả năng lập trình của người xây dựng Web, đòi
Trang 25hỏi nhiều công sức, cần có một nhóm lập trình viên bậc cao thực hiệnmới đạt được hiệu quả.
Tuy nhiên, việc sử dụng các thí nghiệm đều tạo ra được sự tranhluận trí tuệ - thực tiễn của HS đối với đối tượng học tập, HS phải thamgia vào các giai đoạn của quá trình thí nghiệm với mức độ cao nhất cóthể được
1.3.1.2 Xây dựng trang Web hỗ trợ học sinh củng cố, ôn tập
Ôn tập là khâu quan trọng trong quá trình dạy học Để HS có thể
ôn luyện kiến thức của mình cần xây dựng trang Web ôn tập cho mộtchương, một phần Trong chương trình ôn tập có thể biểu diễn phối hợpcác dạng thông tin khác nhau như các sơ đồ, các hình mô phỏng, cácđoạn phim thí nghiệm về những hiện tượng vật lý Qua đó, nhằm giúp
HS có thể nắm vững kiến thức đã học, phát triển khả năng khái quát hoá,năng lực tổng hợp các vấn đề, các sự kiện; HS cũng có thể được giải cácbài tập dưới nhiều hình thức khác nhau như trắc nghiệm, tự luận, thôngqua đó mà hiểu sâu sắc hơn những kiến thức đã lĩnh hội được Đặc biệt,
có thể đưa vào trang Web ôn tập những sự kiện thực tiễn, tạo cơ hội cho
HS gắn hoạt động học tập trong nhà trường với thực tế ứng dụng ngoàicuộc sống
1.3.1.3 Xây dựng trang Web để kiểm tra và đánh giá kiến thức, kỹ năng mà HS đã thu nhận được
Các bài kiểm tra trắc nghiệm trên Web với tư cách là một phươngtiện dạy học được sử dụng như một biện pháp tích cực, hữu hiệu để chỉ đạohoạt động học Nó có tác dụng định hướng hoạt động tích cực, tự chủ củaHS
Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm được soạn thảo công phu, theo cácthời điểm khác nhau của quá trình dạy học trên Web như: Bắt đầu học mộtchương, trong quá trình học một chương, kết thúc một chương, được coinhư một công cụ, phương tiện để định hướng hoạt động chiếm lĩnh kiếnthức, đánh giá mục tiêu và phương pháp dạy học Có thể lưu giữ các bàikiểm tra trong một thư viện các bài kiểm tra chuẩn và cập nhật nó thườngxuyên Trên cơ sở đó, GV sẽ thiết kế các bài kiểm tra thích hợp với trình
Trang 26độ của HS và đánh giá HS trong khi họ thực hiện bài kiểm tra đó Với cácbài trắc nghiệm nhiều câu trả lời truyền thống thì khi tiến hành kiểm tra HS
có thể chọn các phương án trả lời bằng cách bấm các chữ cái tương ứngtrên bàn phím hoặc nhắp chuột vào phương án được chọn Với nhữngchương trình trắc nghiệm có sử dụng các kết quả nghiên cứu của lĩnh vựctrí tuệ nhân tạo thì câu trả lời của HS có thể là một câu văn hoàn chỉnhhoặc thậm chí là một đoạn tự luận Kết quả kiểm tra của HS được lưu vàomáy tính và được xử lý riêng, nếu cần thì máy tính cũng có thể cung cấpthông tin phản hồi để người học có thể tự điều chỉnh quá trình học tập củamình cho phù hợp với mục đích học tập
Với năng lực tính toán nhanh, chính xác, máy tính dễ dàng và nhanhchóng thực hiện kiểm tra trên Web theo thang điểm đã đặt ra Hình thứcđánh giá này có ưu điểm hơn hẳn so với cách kiểm tra truyền thống bởi nómang tính khách quan cao, ít sai sót và nhanh chóng , đồng thời nhờ khả
năng lưu trữ dữ liệu với khối lượng lớn Nhờ đó, người GV có thể thực
hiện các phép xử lý thống kê để kiểm định các giả thiết nảy sinh trong quátrình nghiên cứu về quá trình học tập và tiếp thu kiến thức của HS để từ đó
đề ra biện pháp giáo dục thích hợp, kịp thời
1.3.2 Chức năng hỗ trợ dạy học của các tài liệu điện tử trong Website dạy học vật lý
1.3.2.1 Bài giảng điện tử
Bài giảng điện tử là một tài liệu cơ bản và chủ yếu của Websitedạy học Nó là công cụ hỗ trợ đắc lực cho hoạt động dạy của GV
Khái niệm bài giảng điện tử được hiểu là toàn bộ kế hoạch hoạtđộng dạy của GV và hoạt động học tập của HS cùng các phương tiện dạy
và học (như tranh ảnh, biểu bảng, biểu đồ, các thí nghiệm được quay
phim, chụp ảnh hay mô phỏng bằng các ảnh động trong không gian hai,
ba chiều ) của một tiết học được số hoá và cài đặt trên máy vi tính dướidạng một chương trình nhằm thực hiện mục đích của quá trình dạy học
đã đặt ra (truyền thụ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển trí tuệ và hình
thành nhân cách cho HS)
Trang 27Như vậy, bài giảng điện tử vừa là một bản kế hoạch, vừa là mộtphương tiện (vì nó là một chương trình), khác hẳn với khái niệm ''giáoán'' trong dạy học truyền thống trước đây hỗ trợ cho hoạt động dạy củathầy và hoạt động học của trò Sự hỗ trợ ấy phải tạo được điều kiện để
GV có thể tổ chức và điều khiển tốt hoạt động nhận thức của HS, tạođược nhiều điều kiện thuận lợi để HS có thể phát huy tốt tính tích cực,độc lập, chủ động sáng tạo chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng kỹ xảo và hìnhthành các hành vi Chính vì vậy, khi thiết kế nội dung bài giảng điện tử,chúng tôi quan tâm tới những khả năng hỗ trợ của nó đối với hoạt độngdạy học
Nội dung bài giảng bao gồm các câu hỏi, câu trả lời, tranh ảnh,hình vẽ, các phim về thí nghiệm, các biểu bảng, các biểu đồ , nó sẽ lầnlượt được xuất hiện theo tiến trình giảng dạy nhờ vào chỉ một vài thaotác đơn giản (gõ phím kí tự trắng - Space bar hay nháy phím trái củachuột - Click Mouse) Mỗi một thao tác trên máy tính luôn gắn chặt vớimột nội dung trong hoạt động học tập của HS Nhờ vậy, GV đã khôngmất thời gian cho việc ghi bảng, trình bày tranh ảnh, vẽ các biểu bảng,biểu đồ, thực hiện các phép tính, ghi nhớ nội dung bài giảng Lúc này,bảng đen chỉ là một phương tiện phụ, sử dụng để hỗ trợ những khi cầnthiết như ghi chép các phép tính trung gian, các số liệu thí nghiệm Hơnnữa, những nội dung xuất hiện trong bài giảng điện tử đã được biên soạn
kỹ lưỡng về mặt cú pháp ,ngữ nghĩa như những câu hỏi, những chú ý,những giải thích mà bình thường GV truyền tải chúng thông qua lờinói của mình, trong nhiều trường hợp chưa được chuẩn bị kỹ, có thể sai
về cú pháp, thiếu trong sáng về ngữ nghĩa và sẽ làm cho HS hiểu khôngđúng, giống nhau về một vấn đề do GV trình bày
Việc sử dụng bài giảng điện tử đã giúp GV trình bày nội dung kiếnthức dưới một dạng chuẩn tắc nhất về kích thước (size), kiểu dáng(style), màu sắc (color) của nhiều loại chữ (font) và có cấu trúc logicchặt chẽ Điều này cũng đồng thời giúp HS rèn luyện được kỹ năng viết,
vẽ, trình bày bài học vào vở ghi của mình một cách chính xác, đầy đủ và
có thẩm mỹ Như vậy, lao động chân tay của GV đã được giảm thiểu,hầu như tất cả thời gian của tiết học giờ đây được GV sử dụng vào việc
Trang 28tổ chức, điều khiển, kiểm soát hoạt động học tập của HS như: phân tích,giải thích thêm để HS hiểu rõ, hiểu đúng nội dung các câu hỏi; nêu thêmcác câu hỏi phụ để đào sâu hay mở rộng vấn đề; tổ chức cho học sinhtham gia xây dựng bài; quan sát hoạt động của từng nhóm, từng cá thểHS; tiến hành các thí nghiệm thực hành mẫu; hướng dẫn, gợi mở giúpcho HS phát hiện hay giải quyết các vấn đề đặt ra trong quá trình họctập
Bài giảng điện tử được xây dựng trên nhiều dạng dữ liệu như : vănbản, hình ảnh hoặc động hai hoặc ba chiều, biểu bảng, biểu đồ, âm thanh,các đoạn phim học tập với nhiều màu sắc khác nhau, được kiết xuất từmáy tính lên màn ảnh thông qua máy chiếu tường Projector Nhờ đó chophép GV trình bày bài giảng một cách hết sức sinh động và đầy ấntượng, có tác dụng tốt trong việc kích thích hứng thú, tăng cường sứcchú ý, độ bền trí nhớ của HS trong quá trình học tập Sự đa dạng trongcác kiểu dữ liệu được trình bày như thế trên máy vi tính đã cho phép GVthực hiện được nhiều hơn những yêu cầu của hoạt động dạy học đặt ra sovới khi không có nó Các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan, cácthí nghiệm thực hay thí nghiệm mô phỏng được tái tạo lại trước mắt HSthông qua các đoạn Video Clip Những đoạn phim này đặc biệt hữu dụngkhi dùng để tạo tình huống có vấn đề để truyền thụ tri thức
Nội dung môn học được phân chia thành các bài học trong sáchgiáo khoa chỉ có tính tương đối, nghĩa là giữa các yếu tố kiến thức trongcùng một bài học, giữa nội dung của các bài học khác nhau có một mốiliên hệ mật thiết Việc xây dựng kiến thức của bài học này luôn dựa trên
cơ sở là những kiến thức mà HS đã tiếp thu được từ những bài học trước
đó Nhờ chức năng siêu liên kết (hyperlink) có thể truy cập nhanh chóngđến một nội dung kiến thức của bài học trước được cài sẵn trên bài giảngđiện tử, đã cho phép GV thực hiện yêu cầu này theo những cách khácnhau Có thể chuyển đến một bài học bất kỳ, một mục bất kỳ, một thínghiệm, một kết luận hay tóm tắt nội dung của một bài học trước đó Yêu cầu này trong các tiết giảng thông thường (không sử dụng máy vitính) chỉ được thực hiện bằng cách thông qua phát biểu bằng lời của HShoặc của GV Khác biệt một cách căn bản, các liên kết trên Website đã
Trang 29cho phép nhanh chóng tái hiện lại chúng chỉ qua một thao tác nhắp chuộtđơn giản Khả năng hỗ trợ này đồng thời cũng đã đáp ứng được nhu cầucủa GV trong việc ôn tập hệ thống hoá kiến thức khi cần thiết
Cá biệt hoá HS trong quá trình dạy học là một yêu cầu hết sứcquan trọng nhằm hướng tới mục đích là cho mỗi HS được học tập vàphát triển theo khả năng riêng của mình Đối với các tiết học thôngthường, yêu cầu này rất khó được thực hiện, giáo viên thường phải căn
cứ vào trình độ của đại đa số HS để quyết định cách thức tổ chức và lựachọn phương pháp giảng dạy tương ứng Sử dụng bài giảng điện tử cónhiều cơ hội để GV thực hiện nhiệm vụ này Đi kèm với các câu hỏichính được xây dựng dựa vào trình độ của đại đa số HS trong lớp (mứckhó trung bình), là các câu hỏi phụ được xây dựng dựa vào trình độ củacác HS yếu (mức khó thấp) và trình độ các HS khá giỏi (mức khó cao).Khả năng cho phép lưu trữ và cập nhật được hệ thống các câu hỏi nàytrên máy vi tính đã giúp mỗi một GV xây dựng cho mình một thư việnriêng các câu hỏi - một tài sản quý giá, vì nó hàm chứa trong đó cả trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ, kinh nghiệm và cả nghệ thuật dạy học.Không ép buộc GV phải thực hiện giáo án theo một khuôn mẫu cứngnhắc mà ngược lại vẫn phát huy được khả năng sáng tạo, những năng lựcriêng của mỗi GV Lựa chọn được câu hỏi phù hợp cho từng đối tượng
HS sẽ thực hiện tốt được nhiệm vụ cá biệt hoá trong dạy học
Bài giảng điện tử có thể được in ra giấy để GV làm giáo án giảngdạy trong trường hợp không sử dụng máy tính (vì một lý do nào đó) Nộidung tổng kết cuối bài học (nội dung HS cần ghi vào vở) sau khi đã đượcrút ra từ bài giảng điện tử cũng có thể được in ra giấy và phát cho HS saumỗi tiết học để làm tài liệu học tập cho HS ở nhà, ngoài những gì mà các
em ghi được vào vở
1.3.2.2 Bài tập điện tử
Ngoài bài giảng điện tử, trên Website còn có các ''tài liệu điện tử ''(tài liệu số hoá) liên quan như SGK, SGV, SBT Khái niệm ''tài liệuđiện tử'' được chúng tôi như quy ước, với nghĩa là các tài liệu phục vụ
Trang 30cho việc dạy và học một môn khoa học nào đó được số hoá và lưu trữtrên máy tính Một trong những tài liệu điện tử đó là bài tập điện tử.
Bài tập điện tử được hiểu đó là những yêu cầu, những nhiệm vụ,những vấn đề mà HS cần phải giải quyết (nhờ những kiến thức đã tiếpthu được) được số hoá và đưa vào máy tính dưới dạng các phần mềmnhằm hỗ trợ cho HS nắm vững, khắc sâu, mở rộng kiến thức môn học,rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức để giải quyết các nhiệm vụ họctập, hay để thực hiện chức năng kiểm tra đánh giá năng lực học tập của
HS Điều khác biệt một cách cơ bản giữa bài tập điện tử và sách bài tậpthông thường là những khả năng đáp ứng lại hoạt động làm bài của HSnhư đưa ra nhận xét, đánh giá và cả những chỉ dẫn cho HS cần phải làm
gì để đạt được kết quả học tập tốt hơn `
Bài tập điện tử là một trong các Site của Website dạy học, nó làkết quả số hoá các sách bài tập đã được Bộ giáo dục ban hành để phục
vụ cho việc dạy và học một môn học (ở đây là môn vật lý 12) dưới haidạng: bài tập luyện tập và bài tập kiểm tra đánh giá Dù ở dạng nào đinữa thì Site này cũng sẽ đưa ra nhiều loại bài tập khác nhau, cả trắcnghiệm (đúng - sai, chọn một trong các câu, chọn một số câu trong cáccâu, điền khuyết, ghép từ ) lẫn tự luận Đối với các bài tập trắc nghiệmthì máy tính tỏ ra là một phương tiện chuyên dụng có nhiều ưu điểm trênnhiều phương diện như lưu trữ bài tập dưới dạng thư viện đề thi, đáp ứngđược những yêu cầu của việc sản xuất các đề thi và kiểm tra (kháchquan, nhanh chóng, chính xác, thể loại bài, mức độ khó, phạm vi kiếnthức cần khảo sát ), đặc biệt là việc chấm điểm, xử lý, tổng hợp và kiếtxuất kết quả được tự động hoá ở mức độ cao Riêng đối với loại bài tập
tự luận, do sự hạn chế của các kết quả nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo, nênviệc chấm điểm tự động đang còn phải chờ đợi Với loại bài tập tự luậntrên Website dạy học, chúng tôi chỉ dừng lại ở mức học sinh tự đánh giákhi đối chiếu bài làm với đáp án (loại bài tập luyện tập) hay GV phải đọcbài làm của HS và trực tiếp cho điểm (loại bài tập kiểm tra đánh giá).Các bài tập ở dạng này thường là những câu hỏi chỉ yêu cầu trả lời ngắn,nên GV cũng rất dễ chấm và chấm cũng nhanh
Trang 31Mục đích của loại bài tập luyện tập là giúp HS tự làm các bài tậptheo sự lựa chọn của mình về số lượng câu, bài, thuộc nội dung kiếnthức (của chương) nào Thông qua việc giải các bài tập HS được rènluyện kỹ năng vận dụng những kiến thức đã tiếp thu để giải quyết cácnhiệm vụ học tập, tự đánh giá kiến thức của mình và biết những chỗhổng trong kiến thức để ôn tập, củng cố lại Đặc điểm nổi bật của loạibài tập điện tử dùng cho luyện tập và cũng thể hiện tính ưu việt củacông nghệ đã mang lại là ở chỗ đã phối hợp sức mạnh của tập thể GV
để tạo nên một thư viện đề bài đa dạng, phong phú và ngày được chuẩnhoá (thông qua công cụ cập nhật) Hơn nữa, sau mỗi câu hay mỗi bàitập luyện tập HS đều nhận được những đánh giá, nhận xét về nhữngthiếu sót, những chỗ hổng trong kiến thức và cả những nội dung kiếnthức nào (những quy tắc, định lý, định luật, những tranh ảnh, nhữngphim thí nghiệm ) HS cần phải xem lại để lấp đầy những chỗ hổng,sữa chữa được các thiếu sót ấy
Khác hẳn với dạng trên, bài tập kiểm tra đánh giá là dạng bài tậpgiúp GV kiểm tra chất lượng học tập của HS theo từng tháng từng kỳhay cả năm Chức năng này chỉ hỗ trợ cho GV trong việc tổ chức thi haykiểm tra và các kết quả thường phải được lưu lại, nên sẽ có nhữngnguyên tắc bảo mật riêng Khi đã được cấp quyền truy cập, GV có thểchọn trường, lớp và lập danh sách các thí sinh dự thi, đánh số báo danh(lập mã HS), ra đề (lựa chọn câu, mức độ khó, thuộc nội dung kiến thứcnào, đáp án, thời gian làm bài), xác lập các quy tắc thi (có hay khônghiển thị kết quả thi sau khi HS làm bài xong, có hay không được đăng kýthi lại) Các thông số xác lập cho việc xuất bản đề ở trên sẽ được lưu giữcùng với bài làm và kết quả xử lý thi của HS GV hoặc có thể soạn đề ởnhà, sau đó mới đưa tới lớp và tổ chức thi, hoặc cũng có thể soạn đềngay tại phòng thi Cách soạn thảo đề thi như thế sẽ đảm bảo an toàn và
có tính chất bảo mật cao, vì rằng trong đề thi đã không chứa một câu hỏinào mà thực chất chỉ chứa đựng những quy tắc và cách thức trích rút từcác câu hỏi, từ thư viện đề thi mà thôi Các quy tắc và cách thức soạnthảo đề ấy chỉ được hệ thống Website thực hiện việc xuất bản đề khi có
sự đăng nhập Password và User name của GV
Trang 32Ngoại trừ đề thi dạng tự luận (GV phải đọc trên máy hay trên giấy
để chấm), tất cả các loại khác đều được chấm, xử lý tự động và kiết xuấtkhi cần thiết Đối với dạng bài tập này, việc xuất bản đề cùng đáp ántheo một khuôn dạng đã định sẵn (thuận tiện lúc chấm) là rất cần thiếtcho việc tổ chức thi trên giấy khi không có điều kiện tổ chức thi trênmáy Một lợi điểm nữa của loại bài tập này, đó là ngay cả phụ huynh HScũng có thể thực hiện được việc kiểm tra đánh giá năng lực học tập củacon cái mình ngay tại nhà mà không đòi hỏi ở họ những kiến thức nhấtđịnh về môn học Sử dụng chức năng này, HS cũng có thể thực hiện việckiểm tra thử để tự đánh giá năng lực học tập của mình khi cần thiết (ví
dụ thử kiểm tra trước các kỳ thi học kỳ hay cuối năm)
1.4 Cấu trúc của Website dạy học
Website được cấu trúc từ ba thành phần cơ bản sau:
- Công cụ cập nhật: Đây là một mô đun cho phép người quản trị sốhoá các dữ liệu để đưa vào kho dữ liệu Dữ liệu nhập vào có thể ở nhiềudạng: văn bản, hình ảnh, âm thanh, phim và được lấy từ nhiều nguồnkhác nhau Cập nhật được hiểu là sự tạo mới hay chỉnh sửa thông tin
- Kho dữ liệu số hoá (hay còn gọi là cơ sở dữ liệu): Việc xây dựngcấu trúc cho cơ sở dữ liệu một cách chuẩn tắc, tối ưu liên quan nhiều đếncác vấn đề kỹ thuật của Tin học đã nằm ngoài giới hạn nghiên cứu của
đề tài Vì vậy ở đây chúng tôi chỉ xem xét những lợi ích về mặt dạy họccủa kho dữ liệu số hoá này, đó là việc tổ chức như vậy sẽ tạo nên mộtkho tài nguyên dùng chung Nhờ việc dễ dàng phát huy được sức mạnhcủa cộng đồng (không chỉ riêng đội ngũ GV mà cả những người sử dụngkhác), nên kho dữ liệu này ngày càng phát triển cả về số lượng lẫn chấtlượng
Trong kho dữ liệu số hoá lại được phân làm ba khu vực: khu vựcthứ nhất chủ yếu là khu vực dữ liệu có tính pháp quy (của tổ chức quảntrị Website), còn gọi là khu vực dữ liệu gốc, dữ liệu được khởi tạo đầutiên từ người thiết kế (hội đồng chuyên môn, các nhà khoa học); tiếp đến
là khu vực dữ liệu dành riêng cho mỗi GV (đã được cung cấp User name
và Password); cuối cùng là khu vực dữ liệu dành cho những người quan
Trang 33tâm tới những vấn đề trong dạy học bộ môn ( như các GV đã nghỉ hưu,phụ huynh HS).
- Các tài liệu điện tử trên Website: Trình duyệt Web là một chương trình
có tính thương mại do các hãng máy tính, các công ty hay các trung tâmnghiên cứu xây dựng phần mềm sản xuất Nó cho phép sản xuất các tàiliệu điện tử và trình diễn thông tin Có nhiều trình duyệt khác nhau,nhưng ở nước ta phổ biến vẫn là trình duyệt IE (Internet Explorer) Sốliệu các tài liệu điện tử có được trên Website cũng đồng thời nói lên khảnăng hỗ trợ cho hoạt động dạy và học
Tuy vậy, tuỳ theo điều kiện, khả năng triển khai khác nhau hayquy mô của ứng dụng để có sự lựa chọn kiểu cấu trúc Website khácnhau Người ta vẫn có thể thiết kế các site, từ đó hình thành nên Website
mà không cần thiết kế cơ sở dữ liệu Mặc dù cách làm này đã phát huyđược khả năng thiết kế của một số người, có ít nhiều về các quy trìnhsoạn thảo Web, không cần am hiểu lắm về lập trình, để tạo ra cácWebsite (thường để trên đĩa cứng của các máy lẻ hoặc trên đĩa CD).Nhưng nó vẫn chưa phải là một lựa chọn tốt và không phù hợp với xuthế phát triển phần mềm hiện nay bởi đặc tính cứng nhắc của nó
1.5 Các bước xây dựng Website dạy học
Khi xây dựng Website đầu tiên là xác định mục đích sư phạm, dạyhọc của Website, lập kế hoạch cẩn thận; lựa chọn công cụ xây dựngWebsite thích hợp và có một chiến lược cụ thể mới đảm bảo sự thànhcông của Website.[4]
Quy trình xây dựng Website thường phải trả qua các giai đoạn sau:
1.5.1 Lập kế hoạch
Xác định mục tiêu sư phạm của Website, thu thập và phân tíchthông tin, xác định nội dung và phạm vi của Web, lựa chọn công cụ vàtrình duyệt, xây dựng hoặc thu thập các Applet, Video, hình ảnh cầnthiết
1.5.2 Xây dựng và phát triển Website
Trang 34Mỗi một Website đều có những cách thức riêng, nói chung quytrình phát triển Website đều qua các giai đoạn sau:
- Định nghĩa Site
Giai đoạn này là giai đoạn xác định phạm vi nội dung Website,xác định công nghệ và tính năng phương pháp cần thiết để đáp ứng đượcmục tiêu đề ra
Đối với các Website dạy học, giai đoạn này còn phải xác địnhphương pháp áp dụng cho Website, lựa chọn phương tiện phù hợp tựđộng hoá quá trình dạy học Các câu hỏi phải đặt ra:
+ Làm thể nào để tạo ra tiên đề để xuất phát, gợi động cơ kíchthích ?
+ Nội dung kiến thức nào cần nhấn mạnh khi xây dựng nội dungkiến thức mới?
+ Phương thức nào giúp ôn tập, củng cố ?
+ Bằng cách nào để kiểm tra, đánh giá?
- Thiết kế cấu trúc Website
Cấu trúc Website là toàn bộ cấu trúc liên kết giữa các trang Web,cách tổ chức Website Cấu trúc nội dung Website có phù hợp vớiphương pháp đã nêu ra hay không? phụ thuộc vào các công đoạn: phânđoạn thông tin thành các trang riêng lẻ; lựa chọn các phương pháp cầnthiết giúp người sử dụng dễ dàng khai thác Website; lựa chọn các ngônngữ lập trình cần thiết để thể hiện các phương pháp đó; phác thảo thiết
kế đồ hoạ, thiết kế các trang Web
- Xây dựng Website
Giai đoạn này bắt đầu sử dụng các công cụ xây dựng Website Cáccông việc bắt đầu từ thiết kế các trang riêng lẻ, thực hiện theo chiến lượcxây dựng Website đã nêu ra, áp dụng chiến lược cho toàn bộ Site Cáccông cụ càng mạnh thì càng cho phép quản lý cấu trúc của Site càng tốthơn, việc đó sẽ rất thuận lợi cho việc tạo các siêu liên kết, ngoài ra khảnăng sử dụng tính năng đa phương tiện (âm thanh, hình ảnh, video )
Trang 35của ứng dụng là điều hết sức quan tâm khi lựa chọn công cụ xây dựngWeb.
- Thực nghiệm, đánh giá và ứng dụng Website
Thực nghiệm Website cho các đối tượng cụ thể, thu thập số liệuđiều tra và rút ra đánh giá, rút kinh nghiệm, sửa đổi Website và triển khaiứng dụng
1.6 Nguyên tắc xây dựng Website dạy học
Nhờ kỹ thuật biểu diễn thông tin có tên gọi là ''Siêu văn bản''(Hyper Text) và được xây dựng bằng ngôn ngữ có tên là HTML (HyperText Markup Language) mà Website đã trở thành một phương tiện cótính chuẩn hoá quốc tế để tìm kiếm, trao đổi thông tin và giao lưu trênmạng Internet Nếu như sự ra đời của mỗi một phần mềm ứng dụng đãmang lại cho máy tính một số khả năng mới nào đó, thì Website vớichức năng Hyperlink đã mở rộng khả năng của máy tính nhiều hơnnhững gì mà người sử dụng mong đợi.Vì vậy, đứng trên phương diệndạy học, để có thể xây dựng một Website dạy học đáp ứng được nhữngyêu cầu trên, cần dựa vào một số nguyên tắc cơ bản sau đây:
Website dạy học cần đảm bảo những yêu cầu của một phần mềm
hỗ trợ dạy học, đó là phải hàm chứa trong đó những tri thức chuyên giacủa hai lĩnh vực Giáo dục và Tin học Bởi về bản chất thì Website dạyhọc là một phần mềm được cài đặt trên máy tính để hỗ trợ cho hoạt độngdạy học của GV và HS Đáp ứng được những yêu cầu này cũng là đồngthời đề cao tính hiệu quả của việc sử dụng nó trong điều kiện hiện nay.[1], [3]
Xây dựng Website dạy học trước tiên cần phải xuất phát từ những
ý tưởng sư phạm đã được xác định rõ từ đầu và phải lấy tính hiệu quảlàm tiêu chí cho việc triển khai ứng dụng nó Vì rằng, các hoạt động dạyhọc rất đa dạng và phong phú bao gồm cả những hoạt động chân tay vàhoạt động trí óc Website với tư cách là một phần mềm, cùng với máytính phải hỗ trợ được nhiều mặt của quá trình dạy học Giải phóng ngườidạy khỏi những lao động phổ thông để có nhiều thời gian hơn đầu tư cho
Trang 36việc tổ chức, thiết kế, điều khiển, giám sát và điều chỉnh hoạt động nhậnthức của người học Đồng thời phải tạo ra được những điều kiện tốt đểhoạt động nhận thức của HS được diễn ra một cách tích cực, độc lập, chủđộng và sáng tạo Xuất phát từ những ý tưởng này, vừa đáp ứng đượcnhững yêu cầu của các lý thuyết dạy học hiện đại, vừa phát huy nhữngthế mạnh riêng của việc sử dụng máy tính và cũng chính là nâng caohiệu quả sử dụng của một thiết bị dạy học hiện đại [4]
Trong một Website thường có sự liên kết của nhiều Site, mỗi mộtSite sẽ đảm nhận hỗ trợ một số chức năng nào đó Xây dựng cấu trúc củaWebsite cũng là thực hiện sự phân nhóm các chức năng mà Website cóthể hỗ trợ
Khi thiết kế một phần mềm nói chung, Website nói riêng thì việcxây dựng cơ sở dữ liệu là hết sức quan trọng Dữ liệu ấy phải được cậpnhật dễ dàng và thuận lợi, yêu cầu kích thước phải tối thiểu, truy cậpnhanh chóng khi cần, dễ dàng chia sẻ, dùng chung hay trao đổi giữanhiều người dùng Đặc biệt đối với giáo dục, cấu trúc cơ sở dữ liệu phảihướng tới việc hình thành những thư viện điện tử trong tương lai, nhưthư viện các bài tập, đề thi; thư viện các tranh ảnh, các phim học tập; thưviện các tài liệu SGK, SGV Cùng với việc xây dựng Website, cần xâydựng các công cụ nhập dữ liệu một cách thuận tiện, đơn giản để mọingười đều có thể tham gia xây dựng kho dữ liệu, làm cho nó ngày càngphong phú [8]
Sự hấp dẫn người sử dụng khi khai thác các Website trên mạng lànhờ khả năng trình diễn các thông tin Multimedia Do được mặc nhiênxem là phương tiện giao diện chuẩn có tính quốc tế giữa các máy tínhnối mạng mà Website được hỗ trợ nhiều công cụ Nhờ đó Website ngàycàng trở nên sinh động, hấp dẫn trong việc trình diễn thông tinMultimedia Cách thiết kế này có thể rất hấp dẫn với những người sửdụng nói chung, nhưng trong dạy học nếu thiết kế rập khuôn theo kiểunhư vậy sẽ không đáp ứng được yêu cầu của quá trình dạy học, thậm chícòn phản tác dụng Trình tự xuất hiện của các thông tin, sử dụng các hiệuứng, các hình ảnh động, phim ảnh, màu sắc đều phải được cân nhắcmột cách kỹ lưỡng khi sử dụng và phải tuân theo những nguyên tắc sư
Trang 37phạm của quá trình dạy học, điều đó cũng được quy định bởi dạy học làmột hoạt động nghệ thuật Như vậy, việc xây dựng Website luôn kèmtheo yêu cầu với nó là việc phải xây dựng cấu trúc và kịch bản cho quátrình trình diễn thông tin.[8]
Xu hướng xây dựng các phần mềm hiện nay là chương trình phải
có giao diện hết sức thuận tiện (theo nghĩa dễ tìm hiểu, dễ tiếp cận, dễthao tác, dễ sử dụng, tận dụng được các thói quen ) Việc thiết kế xâydựng Website cũng không nằm ngoài yêu cầu đó Sử dụng quá nhiềuphím chức năng, giao tiếp người máy quá nhiều menu, hộp thoại, trìnhbày thông tin ngược với những tư duy thông thường, sử dụng màu sắc,
độ tương phản không phù hợp với tâm lý thị giác sẽ là những cản trở lớnđối với người sử dụng Website
Lựa chọn các công cụ thiết kế Website vốn là công việc của ngườilập trình Song hiện nay, do có sự phát triển có tính bùng nổ của Tin học
mà trên thị trường xuất hiện nhiều mã nguồn mở khác nhau để nhà giáodục có thể thiết kế cho mình một trang web riêng Có một sự hiểu biếtnhất định ở mức khái quát về chúng sẽ giúp cho nhà giáo dục biết đượckhả năng của công nghệ có thể giúp hỗ trợ được gì cho hoạt động dạyhọc Nhờ đó mà có thể đưa ra được nhiều yêu cầu hơn, các yêu cầu thiếtthực hơn, có tính khả thi hơn Vì vậy, sự phối hợp chặt chẽ giữa một bên
là nhà sư phạm, một bên là nhà Tin học sẽ là sự cần thiết cho sự ra đờicủa những sản phẩm có giá trị cao Cần lưu ý tới một sự bất cập thườngxảy ra đối với các nước chậm và đang phát triển, đó là nhiều khi ta chỉđược tiếp xúc với các phần mềm, phần cứng đã quá cũ kỹ và lạc hậu.Mặc dù điều kiện giao tiếp trên Internet vẫn cho phép tiếp cận nhanhhơn, nhưng các phương thức thanh toán trên mạng (thương mại điện tử)vẫn còn quá xa lạ
Cuối cùng phải lưu ý đến vấn đề bảo mật và phát triển Website.Khi nói đến thông tin người ta phải quan tâm đến sự bảo toàn và bảo mật
nó Xây dựng Website dạy học và việc ứng dụng nó vào trong giáo dụccần phải xác định rõ các loại thông tin, mức độ quan trọng để phânquyền truy cập sử dụng, bảo vệ và bảo mật Đặc điểm của Khoa học tinhọc là trẻ và phát triển rất nhanh chóng Sự phát triển của phần cứng
Trang 38luôn kéo theo nó sự phát triển của phần mềm và
ngược lại Vì thế, việc kéo dài tuổi thọ của một
chương trình vẫn là cách nghĩ, cách làm trong
hoàn cảnh của đất nước ta hiện nay
1.7 Một số công cụ chủ yếu cho việc xây dựng
Website
1.7.1 Mã nguồn mở
Hiện nay, trên thị trường và trên Internet cung cấp rất nhiều mãnguồn mở hỗ trợ xây dựng Website, mỗi mã nguồn đều có ưu và nhượcđiểm của nó, việc lựa chọn công cụ tốt không những dễ sử dụng, mà còn
hỗ trợ nhiều tính năng mà không đòi hỏi phải lập trình bằng các ngônngữ bậc cao, không yêu cầu khả năng của
người sử dụng phải được đào tạo một cách
Hổ trợ Widget dạng kéo – thả Cực kỳ tiện lợi khi muốn thay đổi
vị trí các widget, thay vì phải động vào code, bạn chỉ việc kéo –thả ở những vị trí thích hợp
Hổ trợ tag/chuyên mục: Giúp bạn dễ dàng phân loại bài viết, dễdàng, thuận tiên trong quá trình tìm kiếm cũng như xem lại các bàiviết
Hình 1.1 Biểu tượng WordPress
Trang 39hệ hoàn toàn mới do người Việt phát
triển Lần đầu tiên ở Việt Nam, một bộ
nhân mã nguồn mở được đầu tư bài bản và chuyên nghiệp cả về tài chính, nhân lực và thời gian Kết quả là 100% dòng code của NukeViet được viết mới hoàn toàn, NukeViet 3 sử dụng xHTML, CSS với
Xtemplate và jquery cho phép vận dụng Ajax uyển chuyển cả trong côngnghệ nhân
Tận dụng các thành tựu mã nguồn mở có sẵn nhưng NukeViet 3 vẫn đảmbảo rằng từng dòng code là được "code tay" Toàn bộ nhân hệ thốngđược xây dựng từ đầu, xuyên suốt và mạch lạc; không phải là những thưviện chắp vá rời rạc
Bộ nhân NukeViet 3 ngoài việc thừa hưởng sự đơn giản vốn có củaNukeViet nhưng không vì thế mà quên nâng cấp mình Hệ thốngNukeViet 3 hỗ trợ công nghệ đa nhân module Công nghệ này cho phépngười sử dụng có thể khởi tạo hàng ngàn module một cách tự động màkhông cần động đến một dòng code
NukeViet 3 cũng hỗ trợ việc cài đặt từ động 100% các module, block,theme từ Admin Control Panel, người sử dụng có thể cài module màkhông cần làm bất cứ thao tác phức tạp nào NukeViet 3 còn cho phépbạn đóng gói module để chia sẻ cho người khác
NukeViet 3 đa ngôn ngữ 100%, phân biệt rõ ràng, đó là giao diện vàdatabase NukeViet 3 có tính năng cho phép người quản trị tự xây dựngngôn ngữ mới cho site, có thể quản lý và phân quyền theo ngôn ngữ,biên tập và đóng gói file ngôn ngữ để chia sẻ cho cộng đồng
- Drupal
Drupal là một khung sườn phát triển phần mềm hướng mô-đun, một hệ
thống quản trị nội dung miễn phí và mã nguồn mở Cũng giống như các
hệ thống quản trị nội dung hiện đại khác, Drupal cho phép người quản trị
hệ thống tạo và tổ chức dữ liệu, tùy chỉnh cách trình bày, tự động hóa
Hình 1.2 Biểu tượng NukeViet
Trang 40các tác vụ điều hành và quản lý hệ thống những Drupal có cấu trúc lậptrình rất tinh vi, dựa trên đó, hầu hết các tác vụ phức tạp có thể được giảiquyết với rất ít đoạn mã được viết, thậm chí không cần Đôi khi, Drupalcũng được gọi là "khung sườn phát triển ứng dụng web", vì kiến trúcthông minh và uyển chuyển của nó.
Drupal được chạy trên rất nhiều môi trường khác nhau, bao gồmWindows, Mac OS X, Linux, FreeBSD, OpenBSD và các môi trường hỗtrợ máy phục vụ web Apache (phiên bản 1.3+) hoặc IIS (phiên bản 5+)
có hỗ trợ ngôn ngữ PHP (phiên bản 4.3.3+) Drupal kết nối với cơ sở dữliệu MySQL hoặc PostgreSQL để lưu nội dung và các thiết lập
Ứng dụng
Website thảo luận, website cộng đồng
Website nội bộ (Intranet), website doanh nghiệp
Website cá nhân
Website thương mại điện tử
Thư mục tài nguyên
Hệ thống quản lý công trình phát triển phần mềm
Hệ thống quản lý quan hệ khách hàng
- Microsoft PowerPoint: Là một trong những phần mềm của bộ
Microsoft Office Nó là một phần mềm trình diễn mạnh, linh hoạt và dễhọc Chương trình có thế mạnh là làm gia tăng các chất liệu cho trìnhdiễn có minh hoạ Nhờ đó có thể thiết kế các mẫu chủ yếu cho bài báocáo, bài giảng với các trang tiêu đề, văn bản, các biểu bảng, biểu đồ, cáchình minh hoạ, ảnh chụp được quét vào máy vi tính, các hoạt hình, phim,video và âm thanh Vì vậy, PowerPoint là một công cụ mạnh để soạnthảo các bản trình bày phục vụ cho các cuộc hội thảo khoa học và đặcbiệt là thiết kế các bài giảng điện tử
PowerPoint cho phép liên kết với tất cả các dạng dữ liệu trên môi trườngWindows Vì vậy với các công cụ Web được xây dựng trên PowerPoint
có thể bắt đầu với một bản trình bày PowerPoint chuẩn và tự động biếnđổi nó thành dạng thức ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản
1.7.1.2 Vai trò của việc sử dụng phần mềm tự do nguồn mở trong DH
Sự ra đời của phần mềm tự do nguồn mở (Free and Open SourceSoftware – FOSS) xuất phát từ chính lợi ích của người sử dụng phầnmềm Khi phần mềm tự do nguồn mở chưa ra đời, người sử dụng bị hạn