Tuy nhiên, việc lạm dụng thuốc trừ sâu không những làm ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, thoái hóa đất mà còn dẫn đến việc hình thành tính kháng thuốc của sâu hại, ảnh hưởng đến côn t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN VĂN NAM
ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI
CỦA ONG Sympiesis sp1 (Hymenoptera: Eulophidae) NGOẠI KÝ SINH SÂU CUỐN LÁ LẠC ĐẦU ĐEN Archips asiaticus Walsingham Ở HUYỆN NGHI LỘC,
NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC
NGHỆ AN - 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN VĂN NAM
ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI
CỦA ONG Sympiesis sp1 (Hymenoptera: Eulophidae) NGOẠI KÝ SINH SÂU CUỐN LÁ LẠC ĐẦU ĐEN Archips asiaticus Walsingham Ở HUYỆN NGHI LỘC,
NGHỆ AN
Chuyên ngành: Động vật học
Mã số: 60.42.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC
Ngưới hướng dẫn khoa học:
PGS TS TRẦN NGỌC LÂN
TS NGUYỄN THỊ THANH
NGHỆ AN - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các
số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực, chưa được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác
Nghệ An, ngày tháng 10 năm 2013
Tác giả
Trần Văn Nam
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi nhận được sự quan tâm giúp đỡ tận tình, sát sao chu đáo của PGS.TS Trần Ngọc Lân, TS Nguyễn Thị Thanh, tác giả xin gửi tới thầy cô lời cảm ơn và lòng biết ơn sâu sắc nhất
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới NCS Đoàn Văn Tài, người luôn tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn ban giám hiệu Trường Đại học Vinh, các thầy cô giáo, cán bộ phòng Sau đại học, khoa Sinh học và đặc biệt là các thầy cô giáo, cán
bộ phòng thí nghiệm khoa Nông – Lâm – Ngư đã tạo điều kiện giúp đỡ về thời gian cũng như vật chất thiết bị thí nghiệm cho tôi làm việc trong thời gian qua
Xin được gửi lời cảm ơn tới ban lãnh đạo và bà con nông dân huyện Nghi Lộc đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình thực nghiệm
Xin chân thành cảm ơn những người thân, bạn bè gần xa và đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Nghệ An, ngày tháng 10 năm 2013
Tác giả
Trần Văn Nam
Trang 5ngoại ký sinh sâu cuốn lá lạc đầu đen (Archips asiaticus
1.1.1.4 Đặc điểm sinh học, sinh thái sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus
Trang 61.2.2.1 Tình hình nghiên cứu sâu hại lạc 15
1.2.3 Tình hình nghiên cứu ong Sympiesis sp1 ngoại ký sinh sâu cuốn lá
2.1.2.1 Tỷ lệ ký sinh và mối quan hệ của ong ngoại ký sinh Sympiesis sp1
2.3.4 Phương pháp xác định vòng đời, tổng nhiệt hữu hiệu, nhiệt độ thềm
2.3.5 Phương pháp xác định tỷ lệ vũ hoá, tỷ lệ giới tính của ong Sympiesis sp1 25
Trang 72.3.8 Hoá chất, thiết bị, dụng cụ 27
3.1.1 Tỷ lệ ký sinh của ong ngoại ký sinh Sympiesis sp1 trên sâu cuốn lá
3.1.2 Tương quan giai đoạn sinh trưởng của cây lạc - mật độ sâu cuốn lá
3.2.2.1 Vòng đời của ong Sympiesis sp1 trong tủ định ôn ở điều kiện nhiệt
3.2.5.2 Tương quan giới tính của ong Sympiesis sp1 trong phòng thí nghiệm 50
3.3.1 Vị trí đẻ trứng của ong ngoại kí sinh Sympiesis sp1 trên sâu cuốn lá
Trang 83.3.2 Tính thích hợp của ấu trùng ong ngoại ký sinh Sympiesis sp1 với
3.3.3 Đặc điểm ký sinh ngoài trên các đốt thân sâu non sâu cuốn lá lạc đầu
3.4.1.1 Hiệu quả ký sinh bởi tỷ lệ 1 đực : 1 cái của ong Sympiesis sp1 ở các
3.4.1.2 Hiệu quả ký sinh bởi tỷ lệ 1 đực : 2 cái của ong Sympiesis sp1 ở các
3.4.1.3 Hiệu quả ký sinh bởi tỷ lệ 1 đực : 3 cái của ong Sympiesis sp1 ở các
3.4.2 Hiệu quả ký sinh bởi các tỷ lệ đực : cái khác nhau của ong
3.4.2.1 Hiệu quả ký sinh bởi các tỷ lệ đực : cái khác nhau của ong Sympiesis
3.4.2.2 Hiệu quả ký sinh bởi các tỷ lệ đực : cái khác nhau của ong Sympiesis
3.4.2.3 Hiệu quả ký sinh bởi các tỷ lệ đực : cái khác nhau của ong Sympiesis
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Tỷ lệ ký sinh của ong Sympiesis sp1 trên sâu cuốn lá đầu
đen theo giai đoạn sinh trưởng của cây lạc ở Nghi Lộc, Nghệ
sâu cuốn lá Archips asiaticus Wal - tỷ lệ ký sinh của ong
Sympiesis sp1 ở Nghi Lộc, Nghệ An, vụ lạc xuân 2012 30
Trang 11Bảng 3.14 Vị trí đẻ trứng của ong Sympiesis sp1 trên sâu cuốn lá đầu đen 53
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
sâu cuốn lá Archips asiaticus Wal - tỷ lệ ký sinh của ong
Trang 13Hình 3.15 Hiệu quả ký sinh ở mật độ 5 sâu với các tỷ lệ đực : cái khác
Trang 14Trên thực tế, sự phát triển của cây lạc còn nhiều hạn chế, năng suất lạc còn thấp và không ổn định, mà nguyên nhân chủ yếu là do nhiều loại sâu bệnh phá hại
Các nghiên cứu cho thấy sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus) là một trong
những đối tượng gây hại nghiêm trọng nhất trên cây lạc ở nước ta Chúng có thể gây hại đến diện tích lá, làm giảm mạnh tới năng suất lạc và đã phát triển thành dịch hại
ở nhiều vùng trồng lạc Để phòng trừ, người nông dân thường sử dụng thuốc hóa học với nhiều lần phun (có thể lên tới 2-5 lần/vụ lạc) Tuy nhiên, việc lạm dụng thuốc trừ sâu không những làm ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, thoái hóa đất mà còn dẫn đến việc hình thành tính kháng thuốc của sâu hại, ảnh hưởng đến côn trùng và động vật có ích, làm mất cân bằng sinh thái, để lại dư lượng thuốc hóa học trong các sản phẩm nông nghiệp, tổn hao đến sức khỏe con người thông qua các sản phẩm nông nghiệp (Trương Xuân Lam, Vũ Quang Côn, 2004)
Vì vậy, để phòng trừ sâu cuốn lá đầu đen hại lạc giảm tối thiểu ô nhiễm môi trường nhưng vẫn đem lại hiệu quả kinh tế cao, xu hướng hiện nay là sử dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), mà muốn phát triển quản lý dịch hại một cách tốt nhất thì phải có sự hiểu biết về mối quan hệ giữa cây trồng - sâu hại, đặc biệt là sự hiểu biết về thiên địch của chúng
Ở Việt Nam, trong những năm qua thiên địch của sâu hại lạc đã được một số tác giả quan tâm nghiên cứu như Lê Văn Thuyết và nnk (1993), Phạm Thị Vượng
Trang 15(1996), Trần Ngọc Lân (2000), Nguyễn Thị Thanh (2002), Nguyễn Thị Hiếu (2004)… Tuy nhiên các nghiên cứu chỉ dừng lại ở mức độ điều tra thành phần loài,
tỷ lệ ký sinh mà ít đi sâu nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh thái, nhân nuôi lây thả chúng vào tự nhiên Vì vậy, nghiên cứu sử dụng thiên địch phòng trừ sâu cuốn lá hại lạc là hướng nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn to lớn
Các nghiên cứu côn trùng ký sinh sâu hại lạc ở tỉnh Nghệ An đã cho thấy, sâu
cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus) bị nhiều loài thiên địch ăn thịt và ký sinh, trong
đó ong ngoại ký sinh Sympiesis sp1 là loài ký sinh với tỉ lệ cao nhất, là yếu tố chính
hạn chế sự phát triển của loài sâu hại này nhưng cho đến nay vẫn chưa được nghiên cứu nhiều
Xuất phát từ các lý do trên chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Đặc điểm sinh học,
sinh thái của ong Sympiesis sp1 (Hymenoptera: Eulophidae) ngoại ký sinh sâu cuốn lá lạc đầu đen (Archips asiaticus Walsingham) ở huyện Nghi Lộc, Nghệ
An” để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
nhằm tạo cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu ứng dụng côn trùng ký sinh và loài
ong Sympiesis sp1 để phòng trừ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus
Walsingham) hại lạc góp phần cung cấp các dẫn liệu khoa học cho sử dụng côn trùng ký sinh trong biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) sâu hại lạc
3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu đặc điểm sinh học, đặc điểm ký sinh của một loài
ong ký sinh ngoài là Sympiesis sp1 trên sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus
Walsingham.) hại lạc
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp thêm một số dẫn liệu khoa học về đặc
điểm sinh học, sinh thái của loài ong ký sinh ngoài Sympiesis sp1 trên sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus Walsingham) hại lạc
Trang 16Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Trên cơ sở hiểu biết những dẫn liệu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài ong
ký sinh ngoài Sympiesis sp1 làm cơ sở cho nghiên cứu kỹ thuật nhân nuôi ong
Sympiesis sp1 để phòng trừ sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus Walsingham.)
hại lạc
Trang 17CHƯƠNG I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
1.1.1 Cơ sở khoa học
1.1.1.1 Đặc điểm sinh học, sinh thái của côn trùng ký sinh
Côn trùng (Insects) có cấu tạo cơ thể và tập tính bản năng phát triển cao, có khả năng thích nghi hữu nhiệt tốt đối với sức ép của chọn lọc tự nhiên trong quá trình tiến hoá Chính vì thế chúng phân bố rộng ở mọi nơi Chúng có điểm chung là
cơ thể chia làm 3 phần: Đầu, ngực, bụng
Trong quá trình sinh trưởng, phát dục và sinh sản côn trùng hình thành nên những chu kỳ của các giai đoạn phát triển Toàn bộ chu kỳ từ lúc trứng nở cho tới khi trưởng thành phải trải qua một loạt biến đổi gọi là biến thái (biến thái hoàn toàn
và biến thái không hoàn toàn)
Trứng là pha đầu tiên trong vòng đời côn trùng Trứng có cấu tạo gồm 3 phần: vỏ trứng, tế bào chất và nhân Quá trình phát triển của phôi thai trong trứng chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện sống Do đó ngay từ lúc phát triển phôi thai có thể tạo ra những điều kiện sống khác nhau để hướng sự phát triển theo ý muốn của con người
Đặc điểm nổi bật của giai đoạn sâu non là sự lột xác và sinh trưởng lớn lên Thời gian lột xác và số lần lột xác có sự khác nhau giữa các loài và chịu sự ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh như nhiệt độ, độ ẩm, thức ăn Sâu non sau mỗi lần lột xác thêm một tuổi và tuổi sâu được tính theo công thức n + 1 (n là số lần lột xác) Giai đoạn sâu non là giai đoạn tích luỹ dinh dưỡng và sinh trưởng lớn lên nên có những hoạt động đặc biệt của sâu non sâu hại Đối với các loài thiên địch đây là giai đoạn thể hiện rõ nét nhất vai trò khống chế, điều hoà số lượng sâu hại góp phần bảo
vệ cây trồng Do đó nghiên cứu hoạt động này nhằm giúp cho việc tìm hiểu, ứng dụng các phương pháp điều tra phát hiện và phòng trừ sâu hại cho hiệu quả cao
Trang 18Côn trùng sau vũ hoá bộ máy sinh dục đã phát triển hoàn chỉnh có thể bắt đầu giao phối, thụ tinh, đẻ trứng Côn trùng trưởng thành đẻ trứng có tính chọn lọc, vị trí
đẻ, cách đẻ, số lượng trứng đẻ khác nhau; chúng thường chọn vị trí có lợi cho sự sống, phát triển của sâu non sau này Thời gian hoàn thành đẻ trứng, sức đẻ ở các loài có sự khác nhau và chịu sự chi phối của điều kiện dinh dưỡng và ngoại cảnh Dựa vào nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể trưởng thành, trong quá trình nghiên cứu nhân nuôi các loài ong ký sinh, ruồi ký sinh, ngài, bướm ta thường bổ sung thức ăn
là nước đường hoặc mật ong
Trong vòng đời phát triển của côn trùng ký sinh, pha ấu trùng thường sống ký sinh vào mô cơ thể vật chủ và làm vật chủ chết ngay sau khi hoàn thành pha phát dục của nó
Côn trùng ký sinh là loài biến thái hoàn toàn trong đó chỉ có pha trứng và pha
ấu trùng của chúng là có kiểu sống ký sinh, còn pha trưởng thành chúng sống tự do
Ở pha trứng: Đối với loài nội ký sinh thì trứng nằm trong cơ thể vật chủ, sau một thời gian nở ra ấu trùng, chúng sống và phát triển trong cơ thể vật chủ Còn với các loài ngoại ký sinh, trứng thường được đẻ ngoài bề mặt cơ thể vật chủ
Pha ấu trùng: Sau khi đục vỡ vỏ trứng, ấu trùng chui ra và hút dịch từ cơ thể vật chủ để sống, một số loài ấu trùng có thể ăn thịt lẫn nhau Gai đoạn này chúng trải qua các lần lột xác để sinh trưởng, phát triển, thường ấu trùng có 3 đến 4 tuổi
Pha nhộng: Nhộng có các dạng nhộng màng và nhộng trần, nhưng nhộng màng thường phổ biến hơn Ấu trùng tuổi cuối rời khỏi cơ thể vật chủ để tìm nơi dệt kén hoá nhộng
Pha trưởng thành: Chúng sống tự do, thức ăn không phải là những chất hút dịch từ cơ thể vật chủ mà chủ yếu từ nguồn mật hoa tự nhiên Chỉ sau khi ghép đôi giao phối chúng mới tìm đến vật chủ để đẻ trứng [29], [30]
1.1.1.2 Mối quan hệ giữa ký sinh - vật chủ
Hiện tượng ký sinh là một dạng quan hệ tương hỗ giữa các loài sinh vật rất phức tạp và đặc trưng Có nhiều định nghĩa về ký sinh, theo Dogel (1941) thì các loài ký sinh là những sinh vật sử dụng các sinh vật sống khác (vật chủ) làm nguồn
Trang 19thức ăn và môi trường sống Theo Viktorov (1976) thì hiện tượng ký sinh là một dạng quan hệ tương hỗ có lợi một chiều, trong đó loài được lợi (ký sinh) đã sử dụng loài sinh vật sống khác (vật chủ) làm thức ăn và nơi ở trong một phần nào đó của chu kỳ vòng đời của nó Bondarenko (1978) định nghĩa ký sinh là loài sinh vật sống nhờ vào loài khác (vật chủ) trong thời gian dài dần dần làm vật chủ chết và suy nhược (Dẫn theo Phạm Văn Lầm, 1995) [20]
Hiện tượng ký sinh có tính chất chuyên hoá cao về mối tương quan giữa các loài sâu hại và loài ký sinh, pha sinh trưởng phát triển và đặc biệt tương ứng với thời
vụ sản xuất cây trồng Tuỳ theo mối quan hệ của loài côn trùng ký sinh với pha phát triển của loài sâu hại mà xuất hiện các nhóm ký sinh như ký sinh trứng, ký sinh sâu non, ký sinh nhộng và ký sinh trưởng thành
Hiện tượng ký sinh phổ biến trong tự nhiên, đặc biệt là côn trùng ký sinh, trong đó thông thường vật ký sinh (loài ký sinh) sử dụng hết hoàn toàn các mô của
cơ thể vật chủ và vật ký sinh thường gây chết vật chủ ngay sau khi chúng hoàn thành chu kỳ phát triển
Đặc trưng của sự tác động qua lại trong hệ thống ký sinh, ký chủ, bắt mồi ăn thịt - con mồi là sự chậm trễ của ký sinh hay bắt mồi ăn thịt đối với sự thay đổi mật
độ của ký chủ hay con mồi Điều đó được thể hiện bằng sơ đồ biểu diễn mối tương quan vật chủ - ký sinh, con mồi - vật ăn thịt gọi là đường cong Lotka - Volterra - Gause (Dẫn theo Phạm Văn Lầm, 1995) [20]
Trang 20
Hình 1.1 Sơ đồ biểu thị diễn biến mật độ quần thể của 2 loài
trong các mối quan hệ vật chủ - ký sinh hoặc con mồi - vật ăn thịt
N1-Mật độ quần thể loài vật chủ hoặc con mồi N2-Mật độ quần thể loài ký sinh hay vật ăn thịt (Dẫn theo Phạm Văn Lầm, 1995) [20]
Vấn đề quan trọng nhất để lợi dụng mối cân bằng sinh học đó là làm thế nào
để tăng số lượng của các loài thiên địch
Sự liên quan mật thiết giữa các loài sâu hại với côn trùng ký sinh trong quá trình phát triển quần xã có ý nghĩa to lớn không những trong lý luận mà còn có ý nghĩa trong thực tiễn Vì vậy, việc nghiên cứu, xem xét và thiết lập mối quan hệ tương hỗ đó góp phần quan trọng trong các biện pháp phòng trừ dịch hại cây trồng theo hướng bảo vệ sự đa dạng, cân bằng sinh học trong hệ sinh thái nông nghiệp
1.1.1.3 Biến động số lượng côn trùng
Số lượng của các loài sâu hại nói riêng và côn trùng nói chung thường có sự dao động giữa các pha với nhau và từ thế hệ này sang thế hệ khác Sự biến động số lượng của sâu hại có mối quan hệ với thiên địch và yếu tố gây bệnh Đối với côn trùng ăn thịt, sự điều chỉnh số lượng quần thể quan trọng là sự cạnh tranh trong loài
Sự cạnh tranh trong loài là cơ chế điều hoà cao nhất Cơ chế này tác động ở mức độ
số lượng cao, khi nguồn thức ăn dự trữ bị cạn kiệt và sự át chế lẫn nhau của các cá thể cùng loài Ngoài sự cạnh tranh, các mối quan hệ trong loài có một số cơ chế cơ
Trang 21bản tự điều hoà số lượng như tác động tín hiệu thường xảy ra trong sự tiếp xúc giữa các cá thể cùng loài
Trên cơ sở xem xét hàng loạt dẫn liệu về sự biến động số lượng và các dạng
cơ chế điều hoà số lượng, Viktorov (1967) đã tổng hợp khái quát thành sơ đồ chung của biến động số lượng côn trùng Một trong những đặc trưng của quần thể là mật
độ cá thể trong quần thể được xác định bởi sự tương quan của các quá trình tăng thêm và giảm bớt đi số lượng cá thể Tất cả các yếu tố biến động số lượng đều tác động đến các quá trình này khi chúng làm thay đổi sức sinh sản, tỷ lệ tử vong và sự phát tán của các cá thể Các yếu tố vô sinh mà trước tiên là điều kiện khí hậu, thời tiết tác động biến đổi lên côn trùng được thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua thức ăn, thiên địch
Sự điều hoà được đảm bảo bằng sự tồn tại của các mối liên hệ ngược trở lại Điều đó phản ánh ảnh hưởng của mật độ quần thể lên sức sinh sản, tỷ lệ tử vong và
sự di cư trực tiếp thông qua mối quan hệ bên trong loài cũng như sự thay đổi đặc điểm của thức ăn và đặc tính tích cực của thiên địch Chính nhờ mối quan hệ ngược này đã đảm bảo cho quần thể luôn cân bằng giữa sự tăng lên và giảm xuống của số lượng cá thể trong quần thể (Dẫn theo Phạm Bình Quyền, 1994) [28]
Các sinh vật ăn côn trùng chuyên hoá có khả năng thực hiện sự điều hoà số lượng cá thể ở cả mật độ thấp được xác nhận trong thực tiễn của phương pháp sinh học đấu tranh chống côn trùng gây hại Còn đối với các loài ký sinh và ăn thịt chuyên hoá chúng có thể hoạt động trong phạm vi rộng hơn của mật độ quần thể vật chủ (con mồi) nhờ khả năng tăng số lượng với sự gia tăng mật độ của sâu hại
Điều này đã được ghi nhận trong thực tế ở những trường hợp khả năng khống chế sự bùng phát sinh sản hàng loạt của sâu hại bởi sinh vật ăn côn trùng chuyên hoá Vai trò quan trọng của ký sinh, ăn thịt được coi là yếu tố điều hoà số lượng của côn trùng và được thể hiện ở hai phản ứng đặc trưng là phản ứng số lượng và phản ứng chức năng
Phản ứng số lượng thể hiện khi gia tăng quần thể con mồi và vật chủ thì kéo theo sự gia tăng số lượng vật ăn thịt, vật ký sinh Phản ứng chức năng được biểu thị
Trang 22ở chỗ khi mật độ quần thể con mồi (vật chủ) gia tăng thì số lượng cá thể của chúng
bị tiêu diệt bởi vật ăn thịt (vật ký sinh) cũng tăng lên
Hình 1.2 Sơ đồ chung về tác động của các yếu tố lên quần thể côn trùng
đa dạng sinh học của hệ sinh thái nông nghiệp
Thức ăn
Quan hệ trong loài
Trang 231.1.1.4 Đặc điểm sinh học, sinh thái sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus
Walsingham)
Tên Việt Nam: Sâu cuốn lá đầu đen
Tên khoa học: Archips asiaticus Walsingham
Họ: Ngài cuốn lá (Tortricidae)
Trang 243/4 tính từ gốc cánh, và cũng tại đó có một vân hình bán nguyệt màu nâu Mép ngoài của cánh trước hình lượn sóng, có viền lông tơ màu nâu đậm Mặt trên của đôi cánh trước có những vệt vân nâu, trắng xen kẽ loang lỗ Tấm lưng ngực trước và ngực giữa màu nâu cùng với màu của đầu Đôi cánh sau và bụng có màu vàng rơm
Trứng: Có hình cầu, khi mới đẻ màu vàng nhạt, sắp nở chuyển sang màu vàng sẫm
Sâu non: Có 5 tuổi, trải qua 4 lần lột xác Đầu mảnh mai đốt ngực trước và đôi chân ngực trước màu đen
Sâu non tuổi 1 rất linh hoạt, chiều dài dao động từ 1,64 – 2,05 mm Cơ thể có màu vàng nhạt, sắp lột xác có màu vàng đậm hơn Tuổi 2 khi mới lột xác có màu vàng xanh, kích thước dài khoảng 3,3 – 3,9 mm Sâu non tuổi 3 có màu xanh lục hơi vàng, kích thước dài khoảng 7,3 – 9,4 mm Tuổi 4 có màu xanh đậm, kích thước dài khoảng 15,3 – 17,5 mm Tuổi 5 khi mới lột xác, cơ thể dài khoảng 18,6 mm; đẫy sức có thể dài tới 23,2 mm Cơ thể có màu xanh lục, cuối tuổi chuyển sang màu vàng xanh
Nhộng: Khi mới hoá có màu xanh lá mạ ở phần bụng; mặt lưng các đốt bụng
có màu cánh dán; ở giữa mặt lưng mỗi đốt bụng có một vân đen nằm ngang tạo thành một vệt đen chạy dọc thân Kích thước nhộng dài khoảng 8,6 – 12,9 mm Mầm cánh kéo dài đến đốt bụng thứ 5 [15]
2) Vòng đời
* Vòng đời: 31 – 38 ngày
- Trứng: 5 ngày
- Sâu non (5 tuổi): 17 - 22 ngày
- Nhộng: 7 - 8 ngày
Trang 25- Trưởng thành: 2 – 3 ngày [15]
3)Tập tính hoạt động
Trưởng thành: Ban ngày thường ẩn nấp dưới lá cây lạc hoặc cỏ dại, tập trung nhiều ở các ruộng rậm rạp xanh tốt, gần bờ hoặc đường đi Khoảng thời gian hoạt động mạnh nhất vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát Khi giao phối quan sát bên ngoài con đực và con cái trên cùng một đường thẳng, đầu ngược nhau, phần sau của con đực (cả mép cánh và bộ phận sinh dục) nằm trong (bên dưới) mép cánh của con cái
Trưởng thành đẻ trứng thành từng ổ, thường ở mặt dưới (thỉnh thoảng có những ổ ở mặt trên) lá bánh tẻ (gần ngọn), trứng được xếp thành hàng, bề mặt được che phủ bởi một lớp dung dịch màu xanh nhạt, khi khô trở thành một lớp sáp mỏng
cơ thể chuyển dần sang màu vàng, nó nhả tơ một lớp dầy trong bao lá, làm tổ và hóa nhộng trong đó [37]
1.1.2 Cơ sở thực tiễn
Hiện nay, trên các vùng trồng lạc của nước ta một trong những đối tượng gây hại mạnh nhất là sâu cuốn lá đầu đen Ở Nghệ An cũng như nhiều vùng khác có những đợt sâu cuốn lá đầu đen phát triển thành dịch gây hại nghiêm trọng cho cây lạc Để hạn chế chúng, bà con nông dân thường sử dụng thuốc hóa học trừ sâu nhiều lần Điều đó không những làm tăng tính kháng thuốc của sâu hại mà còn để lại nhiều
Trang 26tác hại đối với hệ sinh thái nông nghiệp và con người Bên cạnh đó nhu cầu về nông sản sạch ngày càng tăng và xu thế toàn cầu là hướng tới một nền nông nghiệp sạch, một môi trường bền vững Vì vậy cần hạn chế các loại thuốc hóa học trừ sâu để chuyển sang phòng trừ tổng hợp dựa trên các yếu tố sinh học sâu bệnh hại và sinh thái học quần thể Một trong những nguyên lý cơ bản của biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) là sử dụng tối đa các nhân tố gây chết tự nhiên của dịch hại Nhân tố gây chết tự nhiên của côn trùng gây hại cây trồng có ý nghĩa rất lớn trong việc hạn chế sự phát triển của sâu hại
Các nghiên cứu cho thấy các loài thiên địch sâu hại lạc rất phong phú, có khả năng khống chế sự phát triển của sâu hại Nổi bật là các côn trùng ký sinh thuộc bộ cánh màng và hoạt động của chúng đã làm giảm đáng kể sâu hại, giữ vai trò quyết
định đến cân bằng hệ sinh thái Trong số đó ong Sympiesis sp1 ngoại ký sinh sâu
non sâu cuốn lá đầu đen là loài phổ biến trên sinh quần ruộng lạc và có vai trò rất lớn trong hạn chế số lượng sâu cuốn lá đầu đen hại lạc ở Nghệ An Cho đến nay ở Việt nam vẫn còn rất ít những nghiên cứu về loại ong này Vì vậy, đi sâu nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái là rất cần thiết để tạo cơ sở cho việc nhân nuôi và lây
thả số lượng lớn ong Sympiesis sp1 ra đồng ruộng phòng trừ sâu hại Đây là việc
làm cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc xây dựng một nền nông nghiệp phát triển bền vững
1.2 Tình hình nghiên cứu sâu hại lạc và thiên địch của chúng
1.2.1 Tình hình nghiên cứu sâu hại lạc và thiên địch của chúng trên thế giới 1.2.1.1 Tình hình nghiên cứu sâu hại lạc
Theo Wynnigor (1962), ở vùng nhiệt đới cây lạc bị 37 loài sâu hại bao gồm ở
rễ, củ, thân cây, lá, hoa và hạt giống Thiệt hại do sâu làm sản lượng giảm 17,2 %, do bệnh giảm 11,5% và do cỏ dại giảm 11,8% (dẫn theo Lương Minh Khôi và nnk,
1989 - 1990) [16]
Smith và Barfield (1982) [47] đã thống kê danh mục sâu hại lạc gồm 360 loài
ở các vùng trồng lạc khác nhau trên thế giới Trong đó bộ cánh vảy (Lepidoptera) có
60 loài
Trang 27Các tác giả Hill và Waller (1985) [58] cho rằng, ở vùng nhiệt đới có 8 loài sâu hại chính và 40 loài gây hại thứ yếu Những loài đặc biệt nguy hiểm như loài: rệp đen
(Aphis craccivora Koch), sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.), sâu xám (Agrotis
ypsilon Rott), sâu xanh (Hellicoverpa armigera Hubner), ban miêu (Epicauta impresicornic Pic), sâu cuốn lá lạc đầu đen (Archips asiaticus Walsingham )
Tại Ấn Độ theo Amin (1988) có tới 2500 loài rầy xanh phá hoại trên hầu hết
tất cả các cây trồng, trong đó có nhiều loài hại lạc Tại Ấn Độ, loài (Empoasca kerri Pruthi) là loài sâu hại lạc quan trọng, còn ở Mỹ thì loài rầy xanh (E fabae Harris) là
loài gây hại có vai trò kinh tế cho các vùng trồng lạc ở phía Nam Ở Châu Phi loài (
E dolichi Paoli), còn các vùng trồng lạc Đông – Nam Châu Á thì rầy xanh (Orosius argentatus) là loài có vai trò quan trọng bởi chính nó là véc tơ truyền các bệnh virus
trên lạc (Dẫn theo Phạm Thị Vượng) [30]
Tác giả Ching Tieng Tseng (1991) [54] nghiên cứu tại Trung Quốc cho biết, các loài sâu cánh vảy ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của sản xuất lạc bao gồm sâu
khoang (Spodoptera litura), sâu xanh (Helicoverpa armigera), sâu keo da láng (Spodoptera exiuga) Tổng giá trị phòng trừ các loài sâu này ước tính khoảng 5 tỷ
nhân dân tệ
1.2.1.2.Tình hình nghiên cứu thiên địch của sâu hại lạc
Thompson (1946) [48] thì loài sâu hại lạc spodoptera có 10 loài ký sinh
thuộc bộ hai cánh, 7 loài thuộc bộ cánh màng, họ Ichneumonide 2 loài, họ Eulophidea 1 loài, họ Trichogrammatidea 1 loài
Smith và Barfield (1982) [47] nghiên cứu tác nhân gây chết của loài sâu xanh
(Heliothis virescen) vùng Đông Nam nước Mỹ Kết quả cho thấy có từ 3-83% trứng của các loài sâu trên bị loài ong mắt đỏ (Trichogramma sp) ký sinh, các loài ký sinh sâu non(Microplitis croceipes, Eucelatoria armigera) và virus Nuclear polyhedrosis
đã làm giảm mật độ sâu xanh hại lạc xuống dưới ngưỡng gây hại kinh tế
Theo Ranga Rao and Shanower (1988) [52], thành phần thiên địch của sâu hại lạc vùng Andhra Pradesh (Ấn Độ) thu được 67 loài, trong đó có 23 loài côn trùng ký sinh Riêng trên sâu cuốn lá tìm thấy 4 loài
Trang 28Kết quả nghiên cứu của Hryeң TxuҸ ar (1992) cho thấy: Trong 34 loài sâu hại đậu tương ở vùng Krasnoda (Liên Xô cũ) có 17 loài bắt mồi, ăn thịt và 17 loài
ký sinh chúng làm mật độ sâu cuốn lá giảm 20 – 25 % trong hai năm 1990 – 1991 (dẫn theo Đặng Thị Dung) [7]
Waterhouse (1993) [50] cho biết, ở Ấn Độ loài sâu xanh (H armigera) bị 37
loài ký sinh, trong đó 8 loài có vai trò quan trọng trong việc hạn chế số lượng Ở Châu Phi, sâu xanh bị 23 loài ký sinh tấn công, trong đó 20 loài thuộc bộ cánh màng, 3 loài thuộc bộ 2 cánh, sâu khoang bị 46 loài ký sinh trong đó 36 loài thuộc
bộ cánh màng và 10 loài thuộc bộ 2 cánh
Nghiên cứu thiên địch của sâu hại lạc Ranga Rao và Winghtman (1993) [49]
đã xác định được 48 loài ăn thịt, 71 loài ký sinh, 25 loài tuyến sinh trùng và vi sinh vật gây bệnh
AnaC.Y, luisA.F (2003) [61] nghiên cứu các đặc điểm sinh học, sinh sản và
tuổi thọ của ong E ronnai để nhân nuôi, lây thả phòng trừ sâu hại
1.2.2 Tình hình nghiên cứu sâu hại lạc và thiên địch của chúng ở Việt Nam 1.2.2.1 Tình hình nghiên cứu sâu hại lạc
Theo kết quả điều tra côn trùng trên cây trồng nông nghiệp trong 2 năm 1967 – 1968 đã thống kê được trên cây lạc có tất cả 149 loài sâu thuộc 43 họ của 7 bộ bao gồm 57 loài có hại, 4 loài có ích, 88 loài chưa rõ có ích hay có hại (Viện BVTV,
1976) [45] Trong số 57 loài có hại có 5 loài quan trọng là dế mèn lớn (Brachytrupes
portentosus Licht), rệp muội hại lạc, bọ xít (Creontrades gosipii Hsiao), sâu đục quả
(Maruca testulatis Geyer), sâu cuốn lá (Đặng Trần Phú và nnk, 1977) [25]
Nghiên cứu trên sinh quần ruộng lạc ở vùng Hà Nội đã xác định được 21 loài thường xuất hiện gây hại trong đó có 10 loài gây tổn thất về kinh tế, phá hại nhiều hơn cả là bọ trĩ, rệp, sâu cuốn lá, sâu khoang, sâu xanh, sâu xám (Lương Minh Khôi
Trang 29đối tượng gây hại nghiêm trọng nhất trên cây lạc ở nước ta Chúng có thể gây hại từ
70 – 81% diện tích lá, làm giảm tới 18,0% năng suất lạc và đã phát triển thành dịch hại lạc ở nhiều vùng trồng lạc (Phạm Thị Vượng và nnk, 1996; Đặng Trần Phú và nnk, 1997) [25], [39]
Tại Hà Tĩnh, tác giả Nguyễn Đức Khánh (2002) [14] cho biết, trong 36 loài sâu hại thu được trên lạc thì chỉ có 4 loài gây hại chính là sâu đục quả đậu đỗ
(Maruca testulalis), sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus), sâu khoang (Spodoptera litura), sâu xanh (H armigera)
Trong vụ lạc xuân tại Thanh Hoá, Lê Văn Ninh (2002) [24] đã ghi nhận 24
loài sâu hại lạc, trong đó sâu xám (Agrotis ypsilon) gây hại chính ở thời kỳ cây con,
ở các giai đoạn sau thì sâu cuốn lá, sâu khoang, sâu xanh là những loài gây hại nặng hơn cả
Các tác giả Bùi Công Hiển và Trần Huy Thọ (2003) [11] cho biết, ở nước ta nhóm sâu khoang, sâu xanh, sâu cuốn lá, sâu đục quả thường có mật độ cao và gây hại nặng từ khi cây lạc có 4 lá lớn tới khi ra hoa và quả chắc
Trong vụ lạc xuân năm 2006 tại Nghi Ân - Nghi Lộc, Trịnh Thạch Lam (2006) [17] đã thu thập được 10 loài sâu bộ cánh vảy, trong đó sâu khoang
(Spodoptera litura), sâu xanh (Heliothis armigera), sâu đục quả đậu rau (Maruca
testulalis), sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus) là những loài sâu gây hại lớn
Kết quả nghiên cứu trong 2 năm 2006 – 2007 của Trịnh Thị Hồng [13] cho thấy có 17 loài sâu cánh vảy gây hại lạc, các loài gây hại chính là sâu khoang
(Spodoptera litura) và sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus)
Pyralidae và Tortricidae Trong đó sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus) xuất hiện
với mật độ cao nhất và gây hại mạnh nhất Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy nhóm
sâu cuốn lá Archips asiaticus xuất hiện 15 NSG cho đến khi thu hoạch, chúng biến
động và đạt 2 đỉnh cao trong một vụ, đỉnh cao thứ nhất vào giai đoạn 64 NSG (8,8
Trang 30Trong vụ lạc xuân 2010 tại Nghi Phong, Nghi Lộc, Nghệ An, Lê Thị Lệ [23]
đã thu thập được 5 loài sâu cuốn lá hại lạc thuộc 2 họ là họ Pyralidae và họ
Tortricidae Trong đó sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus) xuất hiện và gây hại
nhiều nhất trên cây lạc và ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng của ruộng lạc, mật độ đạt 2 đỉnh cao trong một vụ vào giai đoạn bắt đầu đâm tia (57 NSG) với mật độ
1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu thiên địch của sâu hại lạc
Ở Việt Nam, trong những năm qua thiên địch của sâu hại lạc đã được một số tác giả quan tâm nghiên cứu như Lê Văn Thuyết và nnk (1993), Phạm Thị Vượng (1996), Trần Ngọc Lân (2000), Nguyễn Thị Thanh (2002), Nguyễn Thị Hiếu (2004)… Tuy nhiên đa số các nghiên cứu chỉ dừng lại ở mức độ điều tra thành phần loài của một đối tượng sâu hại cụ thể, mà chưa đi sâu nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh thái, nhân nuôi lây thả chúng vào tự nhiên
Kết quả điều tra thành phần côn trùng ký sinh từ năm 1981 - 1995 trên lúa, lạc, ngô, bông, đậu tương ở hơn 20 tỉnh thành phố trong cả nước đã thu được 175 loài thuộc 88 giống, 19 họ Trong đó ký sinh sâu khoang có 1 loài, ký sinh sâu cuốn
lá 7 loài [20]
Điều tra thiên địch ăn thịt ký sinh trên sâu hại lạc ở Hà Bắc và Nghệ Tĩnh trong 2 năm 1991-1992, Lê Văn Thuyết và nnk (1993) [36] đã thu thập được 15 loài nhện và một loài bọ rùa, 2 loài ong ký sinh trứng, 1 loài ruồi và một số loài động vật trên sâu non của một số sâu hại như rệp, bọ trĩ, sâu cuốn lá, sâu xanh nhưng chưa định được tên khoa học
Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Vượng và nnk (2000) [40], thành phần thiên địch của sâu hại lạc khá phong phú Trên một số loài sâu hại như sâu xanh, sâu khoang và sâu cuốn lá lạc ở một số vùng trồng lạc phía bắc đã thu được 16 loài ký sinh
Ở Nghệ An, Trần Ngọc Lân và nnk (2002) [18] đã điều tra trên sinh quần ruộng lạc tại Diễn Châu, Nghi Lộc - Nghệ An vào hai vụ lạc năm 2001 đã thu thập được 5 loài côn trùng ký sinh, 23 loài chân khớp ăn thịt trên đối tượng sâu khoang
Trang 31Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh (2002) [31] có 20 loài côn trùng
ký sinh thuộc 6 họ của 2 bộ trên sâu hại lạc, trong đó họ Braconidae có số lượng loài lớn nhất (8 loài)
Tại Hà Tĩnh, Nguyễn Đức Khánh (2002) [14] cho biết, trên sâu hại lạc có 13 loài thiên địch trong đó có 2 loài ong ký sinh, 4 loài còn lại thuộc nhóm vi sinh vật
ký sinh
Nguyễn Thị Hiếu (2004) [12] nghiên cứu trên lạc tại Diễn Châu Nghệ An, đã tìm thấy 24 loài ký sinh, đã định loại được 22 loài Trong số 22 loài, có 6 loài ký sinh trên 2 loại vật chủ, còn lại ký sinh trên một loại vật chủ, 19 loài ký sinh pha sâu non, 3 loài ký sinh nhộng, 13 loài ký sinh đơn, 8 loài ký sinh tập đoàn, 1 loài ký sinh đa phôi
Trịnh Thạch Lam [17], trên sâu hại lạc vụ xuân 2006, tìm thấy 14 loài côn trùng ký sinh thuộc 6 họ của bộ cánh màng, loài có tỷ lệ ký sinh cao nhất là
Microplitis manilae
Trịnh Thị Hồng (2007) [13] nghiên cứu trên lạc tại Nghi Lộc – Nghệ An đã
tìm thấy 20 loài côn trùng ký sinh trên sâu cuốn lá Archips asiaticus, có 15 loài ký
sinh pha sâu non, 2 loài ký sinh trứng, 3 loài ký sinh nhộng
Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của ong Euplacrus
sp1 ngoại ký sinh sâu khoang của Nguyễn Thị Hiếu, Nguyễn Thị Hương, Nguyễn
73%RH, vòng đời của ong là 11,12 ± 0,402 ngày
Theo kết quả điều tra của Hoàng Thị Bích Thảo (2008) [33] trên sâu cuốn lá hại lạc tại Nghi lộc, đã xác định được 50 loài côn trùng ký sinh thuộc 9 họ của 2 bộ
Sâu cuốn lá đầu đen Archips asiaticus có tỉ lệ ký sinh cao nhất với 44 loài (chiếm
88%) Có 25 loài lần đầu tiên được ghi nhận vào danh mục côn trùng ký sinh sâu
cuốn lá hại lạc ở Nghệ An, trong đó có ong ngoại ký sinh Sympiesis sp1 Đáng chú ý
là ong ngoại ký sinh Sympiesis sp1 lần đầu tiên được ghi nhận vào danh mục côn
trùng ký sinh sâu cuốn lá hại lạc ở Nghệ An nhưng lại chiếm tỷ lệ ký sinh cao nhất với 16,54%
Trang 32Lê Thị Lệ (2010) [23] nghiên cứu trên lạc tại xã Nghi Phong, Nghi Lộc,
Nghệ An cho thấy trong các loài sâu cuốn lá hại lạc thì sâu cuốn lá đầu đen Archips
asiaticus có tập hợp ký sinh đa dạng nhất, với 15 loài ký sinh, trong đó các loài ký
sinh chủ yếu là Sympiesis sp1., Sympiesis sp2., Oomyzus sp1., Oomyzus sp2.,
Oomyzus sp3., đây là lực lượng chính trong việc hạn chế sự phát triển của sâu cuốn
lá đầu đen trên sinh quần ruộng lạc Trong đó ong ngoại ký sinh Sympiesis sp1 là
loài ký sinh quan trọng và có ý nghĩa trong việc hạn chế số lượng loài sâu hại này
1.2.3 Tình hình nghiên cứu ong sympiesis sp1 ngoại ký sinh sâu cuốn lá lạc đầu đen (Archips asiaticus Walsingham)
Ong Sympiesis sp1 lần đầu tiên được ghi nhận vào danh mục côn trùng ký
sinh sâu cuốn lá hại lạc ở Nghệ An ở vụ lạc xuân 2008 theo kết quả điều tra của tác giả Hoàng Thị Bích Thảo và chúng chiếm tỉ lệ ký sinh cao nhất trong các loài côn trùng ký sinh trên sâu cuốn lá đầu đen (16,54%) [33]
Năm 2010, Lê Thị Lệ [23] điều tra trên sâu cuốn lá hại lạc tại xã Nghi Phong, Nghi Lộc, Nghệ An đã khẳng định lại trong các loài côn trùng ký sâu cuốn lá đầu
đen Archips asiaticus thì loài ong ngoại ký sinh Sympiesis sp1 chiếm tỉ lệ cao nhất Đồng thời tác giả cũng chỉ ra một số đặc điểm sinh học, sinh thái của ong Sympiesis sp1 đó là đặc điểm hình thái, tuổi thích hợp ong Sympiesis sp1 với vật chủ, tỷ lệ vũ
hoá ngoài đồng ruộng, tỷ lệ giới tính ngoài đồng ruộng, ảnh hưởng thức ăn (mật ong
10%, 20%, 30%, 40%, 50%) đến ong Sympiesis sp1
Như vậy, ong ngoại ký sinh Sympiesis sp1 là loài ký sinh quan trọng và có ý nghĩa trong việc hạn chế số lượng sâu cuốn lá đầu đen Archips asiaticus hại lạc, nhưng mới chỉ có một nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái về ong Sympiesis
sp1 của tác giả Lê Thị Lệ Tuy nhiên phần lớn nội dung của luận văn này tập trung điều tra thành phần côn trùng ký sinh sâu cuốn lá hại lạc mà chưa đi sâu nghiên cứu
đặc điểm sinh học, sinh thái về ong Sympiesis sp1 Vì vậy việc đi sâu nghiên cứu
đặc điểm sinh học, sinh thái là cần thiết và có nhiều ý nghĩa
Trang 331.3 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An
1.3.1 Điều kiện tự nhiên của Nghệ An
1/20 diện tích lãnh thổ Việt Nam) [10] Vị trí địa lý đó có ý nghĩa quan trọng về tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Nghệ An
Địa hình Nghệ An có thể chia thành 3 vùng cảnh quan: Vùng núi cao chiếm 77% diện tích, vùng gò đồi 13%, vùng đồng bằng 10%, và bị đồi núi chia cắt thành vùng đồng bằng phù sa và dải cát ven biển Vùng đồng bằng gồm các dải đồng bằng của huyện Quỳnh Lưu, Yên Thành, Diễn Châu, Đô Lương, Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc
Khí hậu Nghệ An mang đặc tính nhiệt đới gió mùa, với đặc điểm cơ bản là nóng ẩm và mưa nhiều theo mùa Hàng năm đất Nghệ An nhận được trung bình 120
Độ ẩm không khí là 85%, lượng mưa trung bình cả năm 1600 - 2000mm
Khí hậu Nghệ An có 2 mùa: Mùa mưa, nóng từ tháng 4 đến tháng 10 và mùa khô, lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau [26]
1.3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Nghệ An có dân số là 3.003.200 người (tính đến 2005), với mật độ trung bình
bằng chiếm 10% diện tích, nhưng tập trung đến 80% dân số, vùng núi và gò đồi chiếm 90% diện tích nhưng chỉ có 20% dân số (Cục thống kê Nghệ An, 2005) [43]
1.3.3 Cây lạc ở tỉnh Nghệ An
Cây lạc ở Nghệ An là một trong 10 loại cây trồng chính đem lại nhiều giá trị kinh tế trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp của Tỉnh Về diện tích và sản lượng thì Nghệ An đứng thứ 2 trong cả nước sau Tây Ninh Sản lượng hàng năm mang lại cho người sản xuất tương đương 9 vạn tấn thóc (Sở NN và PTNT Nghệ An, 2001) [10] Đặc biệt là từ những năm 70, tỉnh Nghệ An đã chuyển đổi mùa vụ coi trọng sản xuất Ở Nghệ An có 3 vụ lạc: Vụ lạc xuân, vụ hè thu, vụ lạc đông; trong đó vụ lạc
Trang 34xuân truyền thống thường được gieo trồng với diện tích lớn nhất và cho năng suất, sản lượng cao nhất
Khả năng phát triển gieo trồng lạc ở Nghệ An có thể đạt tới 35000 ha, phân
bố chủ yếu ở đồng bằng ven biển, bãi bồi ven sông Nghi Lộc là một trong những huyện có diện tích gieo trồng lớn, phẩm chất lạc tốt, năng suất cao (Cục thống kê Nghệ An, 1999) [10]
Trang 35CHƯƠNG II
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và nội dung nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
(1) Sâu cuốn lá đầu đen (Archips asiaticus Walsingham) (Lepidoptera:
Tortricoidae)
(2) Ong ngoại ký sinh Sympiesis sp1 trên sâu cuốn lá đầu đen
(3) Giống lạc: Giống lạc Sen lai Nghệ An và giống lạc L14 là các giống lạc được gieo trồng phổ biến ở Nghệ An hiện nay
2.1.2 Nội dung nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những nội dung sau đây:
2.1.2.1 Tỷ lệ ký sinh và mối quan hệ của ong ngoại ký sinh Sympiesis sp1 với
sâu cuốn lá lạc đầu đen
- Tỷ lệ ký sinh của ong ngoại ký sinh Sympiesis sp1 trên sâu cuốn lá đầu đen
theo giai đoạn sinh trưởng của cây lạc
- Tương quan giai đoạn sinh trưởng của cây lạc - mật độ sâu cuốn lá đầu đen-
tỷ lệ ký sinh của ong Sympiesis sp1
2.1.2.2 Đặc điểm sinh học, sinh thái của ong Sympiesis sp1
- Đặc điểm hình thái của ong ngoại ký sinh Sympiesis sp1
- Vòng đời của ong Sympiesis sp1
- Tổng nhiệt hữu hiệu và nhiệt độ thềm của ong Sympiesis sp1
- Tỷ lệ vũ hóa của ong Sympiesis sp1
- Tương quan giới tính của ong Sympiesis sp1
2.1.2.3 Đặc điểm ký sinh ngoài của ong Sympiesis sp1
2.1.2.4 Hiệu quả ký sinh của ong Sympiesis sp1
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu
- Vùng trồng lạc Nghi Lộc - Nghệ An
Trang 36- Phòng thí nghiệm Sinh thái – Côn trùng, Trung tâm thực hành thí nghiệm, Trường Đại học Vinh (Cơ sở 2)
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 2/2012 – 06/2013
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu côn trùng ký sinh
Phương pháp điều tra, nghiên cứu sâu hại và thiên địch tuân thủ theo các phương pháp về nghiên cứu côn trùng và bảo vệ thực vật (Lê Đình Thái, Phạm Bình Quyền, 1967; Viện BVTV, 1997) [32] [46]
2.3.2 Phương pháp thu thập mẫu ngoài đồng ruộng
Đối với sâu cuốn lá đầu đen: Thu bắt tất cả các pha phát triển của sâu cuốn lá đầu đen đem về nuôi trong phòng thí nghiệm để theo dõi thu thập ong ngoại ký sinh
Sympiesis sp1 Nuôi ngài sâu cuốn lá đầu đen đẻ trứng và nuôi trứng để lấy sâu non
sâu cuốn lá đầu đen “sạch” được dùng trong các thí nghiệm về ong ký sinh
Đối với ong ngoại ký Sympiesis sp1., thu thập các pha phát triển của ong từ
sâu non sâu cuốn lá đầu đen ngoài đồng ruộng
Điều tra mật độ sâu cuốn lá đầu đen vào mỗi buổi sáng từ 5h30 - 7h định kỳ 7 ngày một lần theo nguyên tắc 5 điểm chéo góc trên mỗi ruộng điều tra
2.3.3 Phương pháp nhân nuôi ong ký sinh Sympiesis sp1
Thí nghiệm 1 Đặc điểm hình thái của ong Sympiesis sp1
Ong trưởng thành sau khi vũ hoá cho ghép đôi trong ống nghiệm 12 – 24 giờ, cho vào các hộp nhựa có thức ăn bổ sung là mật ong 25% Đặt sâu non sâu cuốn lá đầu đen sạch ở tuổi thích hợp (tuổi 3 và tuổi 4) vào trong đó, thời gian tiếp xúc giữa
ký sinh và vật chủ là 24 giờ Thí nghiệm được lặp lại nhiều lần để có số lượng vật chủ và vật ký sinh đủ lớn Hàng ngày lấy vật chủ bị ký sinh ra quan sát dưới kính hiển vi soi nổi để mô tả hình dạng, màu sắc, vẽ hình thái, đo đếm kích thước, tính thời gian phát triển các pha,… Công việc thực hiện cho đến khi ấu trùng hoá nhộng Quan sát và chụp ảnh hình thái, đo kích thước trưởng thành
Trang 37Thí nghiệm 2 Tính thích hợp tuổi vật chủ đối với ong Sympiesis sp1
Ong ký sinh trưởng thành ghép đôi trong ống nghiệm 12 – 24 giờ, sau đó cho tiếp xúc với vật chủ sâu non sâu cuốn lá đầu đen sạch ở từng tuổi riêng biệt (từ tuổi
1 đến tuổi 5) trong hộp nhựa sạch Với số lượng vật chủ phù hợp để không bị lãng phí vật chủ Mỗi công thức được lặp lại nhiều lần, thời gian tiếp xúc là 24 giờ Quan sát, theo dõi và đếm số lượng sâu từng tuổi bị ký sinh, số lượng ấu trùng trên từng tuổi sâu
Thí nghiệm 3 Đặc điểm ký sinh ngoài của ong Sympiesis sp1
Cho ong ký sinh trưởng thành ghép đôi trong ống nghiệm 12 – 24 giờ, tiếp xúc với vật chủ sâu non sâu cuốn lá đầu đen sạch ở tuổi thích hợp (tuổi 3 và tuổi 4) trong hộp nhựa sạch Với số lượng vật chủ phù hợp để không bị lãng phí vật chủ Mỗi công thức được lặp lại nhiều lần, thời gian tiếp xúc là 24 giờ Quan sát vị trí đẻ trứng của ong, đếm số lượng trứng, theo dõi và đếm số lượng ấu trùng trên từng đốt thân sâu
Thí nghiệm 4 Hiệu quả ký sinh của ong Sympiesis sp1
Ong trưởng thành sau khi vũ hoá cho ghép đôi theo các công thức khác nhau (1 đực : 1 cái; 1 đực : 2 cái; 1 đực : 3 cái) trong ống nghiệm 12 – 24 giờ, cho vào các hộp nhựa có thức ăn bổ sung là mật ong 25% Đặt sâu non sâu cuốn lá đầu đen sạch
ở tuổi thích hợp (tuổi 3) vào trong đó với các mật độ khác nhau (5 sâu, 10 sâu, 15 sâu), thời gian tiếp xúc giữa ký sinh và vật chủ là 24 giờ Thí nghiệm được lặp lại nhiều lần để có số lượng vật chủ và vật ký sinh đủ lớn Hàng ngày lấy vật chủ ra quan sát để đếm vật chủ bị ký sinh
Trang 382.3.4 Phương pháp xác định vòng đời, tổng nhiệt hữu hiệu, nhiệt độ thềm của
ong Sympiesis sp1
Nuôi ong Sympiesis sp1 và vật chủ sâu cuốn lá đầu đen trong tủ định ôn Binder Ong Sympiesis sp1 sau khi vũ hoá từ nhộng cho cặp đôi 24 giờ với thức ăn bổ
sung là mật ong 25% Sau đó cho tiếp xúc vật chủ sâu non sâu cuốn lá đầu đen sạch
ở độ tuổi và số lượng thích hợp, vật chủ bị ký sinh cho vào ống nghiệm, để vào tủ
68%RH, hàng ngày lấy ong bị ký sinh ra quan sát, ghi lại thời gian từng giai đoạn phát dục của ong ký sinh
Cách tính tổng nhiệt và nhiệt độ thềm sinh học được áp dụng theo công thức tính tổng nhiệt hữu hiệu của Sandeson và Rears (1917) và Bluck (1923)
Trong đó : K: Tổng nhiệt hữu hiệu
2.3.5 Phương pháp xác định tỷ lệ vũ hoá, tỷ lệ giới tính của ong Sympiesis sp1
Ngoài đồng ruộng: Thu thập nhộng ở ngoài đồng ruộng, cho vào các ống nghiệm và ghi nhãn các số liệu, theo dõi đến lúc vũ hoá thì tiến hành đếm số ong vũ hoá, đếm số ong đực và ong cái
Trong phòng thí nghiệm: Nhộng thu được từ quá trình nhân nuôi ong trong phòng thí nghiệm cho vào các ống nghiệm và ghi nhãn các số liệu đặt lên giá ở trong phòng thí nghiệm, theo dõi đến lúc vũ hoá thì tiến hành đếm số ong vũ hoá, đếm số ong đực và ong cái
Trong tủ định ôn: Nhộng thu được từ quá trình nhân nuôi ong cho vào các ống nghiệm và ghi nhãn các số liệu đặt lên giá để vào trong tủ định ôn Binder ở các
Trang 3968%RH và 300C, độ ẩm 85%RH), theo dõi đến lúc vũ hoá thì tiến hành đếm số ong
vũ hoá, đếm số ong đực và ong cái
2.3.6 Phương pháp xử lý, bảo quản mẫu vật
Mẫu vật thu thập được bảo quản tại phòng thí nghiệm Sinh thái côn trùng của Trung tâm thực hành thí nghiệm tại cơ sở 2 của Trường Đại học Vinh theo phương pháp bảo quản mẫu khô và bảo quản mẫu ướt
Bảo quản khô: Con trưởng thành của các loài côn trùng ký sinh thu được cho
(lọ, ống nghiệm) kín để nơi khô thoáng
Bảo quản ướt: Con trưởng thành của các loài côn trùng ký sinh thu được bảo
Trang 40Trong đó: Y: Thời gian phát triển từng pha
2.3.8 Hoá chất, thiết bị, dụng cụ
Thiết bị: Kính hiển vi, kính hiển vi soi nổi, tủ định ôn, máy chụp ảnh, nhiệt ẩm kế…
Dụng cụ: Ống nghiệm, hộp nhựa, đĩa petri, vải màn, băng dính, bông, kéo, sổ ghi chép…
+ Hiệu quả ký sinh (%) =
Số sâu bị ký sinh TB Mật độ sâu nghiên cứu
x 100