1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của môi trường lên các chỉ tiêu sinh lý và sức khỏe của dân cư làng nghề chế biến hải sản phường Nghi Hải, Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An

121 256 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ô nhiễm đất là do những tập quán mất vệ sinh do những hoạt động trong sản xuất công, nông nghiệp với những phương thức canh tác khác nhau hoặc do các chất thải bỏ không hợp lý của các ch

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

PHẠM LẬP QUỐC

¶ ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG

LÊN CÁC CHỈ TIÊU SINH LÝ VÀ SỨC KHỎE CỦA DÂN LÀNG NGHỀ CHẾ BIẾN HẢI SẢN PHƯỜNG NGHI HẢI, THỊ XÃ CỬA LÒ, TỈNH

NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

NGHỆ AN, NĂM 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

PHẠM LẬP QUỐC

¶ ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG

LÊN CÁC CHỈ TIÊU SINH LÝ VÀ SỨC KHỎE CỦA DÂN LÀNG NGHỀ CHẾ BIẾN HẢI SẢN PHƯỜNG NGHI HẢI, THỊ XÃ CỬA LÒ, TỈNH

NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Chuyên ngành : SINH HỌC THỰC NGHIỆM

Mã số : 60.42.30

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN NGỌC HỢI

NGHỆ AN, NĂM 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

Các thầy cô giáo đã tham gia giảng dạy lớp Cao học Sinh học thực nghiệm, những người thầy, người cô đã trang bị cho tôi tri thức và kinh nghiệm quý báu trong lĩnh vực khoa học nói chung và khoa học Sinh học nói riêng

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô ở Phòng Sau đại học, khoa Sinh học trường Đại học Vinh, Gia đình cùng các bạn bè đồng nghiệp đã động viên, nhiệt tình giúp đỡ tôi và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành bản luận văn này

Đặc biệt tôi xin tỏ lòng biết ơn PGS.TS Nguyễn Ngọc Hợi, Giảng viên trường Đại học Vinh đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tác giả

Phạm Lập Quốc

Trang 4

MỤC LỤC

NGHỆ AN, NĂM 2013 1NGHỆ AN, NĂM 2013 21.Lí do chọn đề tài 9

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Các dạng nước thải công nghiệp chế biến thủy hải sản [15] 33

Bảng 1.2 Kết quả nghiên cứu nước thải ngành chế biến thủy hải sản [77] 35

Bảng 3.1 Kết quả đo đạc các chỉ số vi khí hậu và khí độc hại trong môi trường không khí tại làng nghề CBHS Nghi Hải 55

Bảng 3.2 So sánh nồng độ khí H2S và NH3 tại khu vực nghiên cứu với các kết quả nghiên cứu khác [76], [72], [21] 60

Bảng 3.3 Nhận xét của người dân về mức độ mùi do việc CBHS phát ra 61

Bảng 3.4 Kết quả phân tích mẫu nước mặt lạch Lò 64

Bảng 3.5 Kết quả phân tích mẫu nước thải các hộ gia đình làng nghề 70

Bảng 3.6 Kết quả phân tích mẫu nước thải tại các điểm xả thải cống lạch Lò .74

79

Bảng 3.7 Kết quả phân tích mẫu nước ngầm tại các hộ gia đình tại làng nghề CBHS Nghi Hải 80

Bảng 3.8 Một số chỉ tiêu tim mạch của các đối tượng nghiên cứu 82

Bảng 3.9 Một số chỉ tiêu tim mạch đối tượng nghiên cứu phường Nghi Hải 84 Bảng 3.10 Các chỉ số sinh lý của đối tượng nghiên cứu theo độ tuổi 85

Bảng 3.11 Tần số mạch ở các lứa tuổi .86

Bảng 3.12 Phân loại tăng huyết áp (theo khuyến cáo WHO/ ISH 1999) [100] .87

Bảng 3.13 Một số chỉ tiêu hồng cầu và bạch cầu của đối tượng nghiên cứu phường Nghi Hải và phường Nghi Hòa 88

Bảng 3.14 Một số chỉ tiêu hồng cầu và bạch cầu của đối tượng nghiên cứu phường Nghi Hải 89

Bảng 3.15 Phân bố theo nhóm tuổi, giới của đối tượng nghiên cứu phường Nghi Hải 94

Bảng 3.16 Phân bố theo thâm niên làm việc của đối tượng nghiên cứu tham gia trực tiếp làm nghề tại phường Nghi Hải 95

95

Bảng 3.17 Phân bố theo nhóm tuổi và giới của ĐTNC phường Nghi Hòa 95

Bảng 3.18 Tỷ lệ bệnh tật của đối tượng nghiên cứu ở hai phường 96

Bảng 3.19 Tỷ lệ bệnh tật của đối tượng nghiên cứu trực tiếp làm nghề và không làm nghề ở hai phường Nghi Hải 98

98

Bảng 3.20 Tỷ lệ bệnh tật của dân cư phường Nghi Hải theo lứa tuổi 102

Bảng 3.21 Tỷ lệ bệnh tật của đối tượng nghiên cứu theo thâm niên làm nghề .104

(Kết quả thông qua phiếu điều tra phỏng vấn và sổ bệnh án) 104

Trang 6

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 So sánh nồng độ khí H2S ở hai địa điểm nghiên cứu 57

Biểu đồ 3.2 So sánh nồng độ khí NH3 tại hai địa điểm nghiên cứu 58

Biểu đồ 3.1 So sánh hàm lượng TSS 65

Biểu đồ 3.2 So sánh hàm lượng BOD5 nước mặt ở hai ĐĐNC 65

Biểu đồ 3.3 So sánh hàm lượng COD nước mặt ở hai ĐĐNC 66

Biểu đồ 3.4 So sánh N tổng nước mặt ở hai ĐĐNC 66

Biểu đồ 3.5 So sánh thông số coliform nước mặt ở hai ĐĐNC 67

Biểu đồ 3.6 Hàm lượng P tổng, dầu mỡ động thực vật nước mặt ở hai ĐĐNC .67

Biểu đồ 3.7 Hàm lượng TSS, N tổng nước thải ở các hộ gia đình làng nghề 71 Biểu đồ 3.8 Số lượng coliform nước thải ở các hộ gia đình làng nghề 71

Biểu đồ 3.9 Hàm lượng P tổng, dầu mỡ ĐTV nước thải ở hộ gia đình làng nghề 72

Biểu đồ 3.10 Hàm lượng BOD5, COD nước thải ở các hộ gia đình làng nghề .72

Biểu đồ 3.11 So sánh hàm lượng BOD5, COD nước thải cống ở các ĐĐNC .75

Biểu đồ 3.12 So sánh hàm lượng TSS, N tổng nước thải cống ở các ĐĐNC 75 Biểu đồ 3.13 Số lượng coliform nước thải cống ở các ĐĐNC 76

Biểu đồ 3.14 Hàm lượng P tổng, dầu mỡ động thực vật nước thải cống ở các ĐĐNC 76

Biểu đồ 3.15 Hàm lượng COD, Coliform nước ngầm ở các ĐĐNC 80

Biểu đồ 3.16 Hàm lượng NH4+ trong nước ngầm ở các ĐĐNC 80

Biểu đồ 3.17 So sánh các chỉ số sinh học giữa các đối tượng nghiên cứu nữ82 Biểu đồ 3.18 So sánh các chỉ số sinh học giữa các đối tượng nghiên cứu năm .83

Biểu đồ 3.19 So sánh cơ cấu bệnh tật của đối tượng nghiên cứu ở 2 phường .96

Biểu đồ 3.20 So sánh cơ cấu bệnh tật của đối tượng nghiên cứu trực tiếp làm nghề và không làm nghề ở phường Nghi Hải 98

Biểu đồ 3.21 So sánh cơ cấu bệnh tật của đối tượng nghiên cứu trực tiếp làm nghề ở phường Nghi Hải theo lứa tuổi 102

Biểu đồ 3.22 So sánh tỷ lệ bệnh tật của đối tượng phường Nghi Hải theo thâm niên làm việc 104

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 8

TCVSLĐ Tiêu chuẩn vệ sinh lao động

HATTR Huyết áp tâm trương

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nước ta có tài nguyên rừng vàng biển bạc được đánh giá là vô cùng trù phú đem lại nguồn lợi to lớn về mặt kinh tế Do vậy mà từ xa xưa ông cha ta đã khai thác nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên phục vụ đời sống của mình Bên cạnh việc khai thác thì việc chế biến những nguồn lợi thiên nhiên ấy thành những sản vật đặc trưng và có khả năng lưu trữ lâu dài đã biến nhiều vùng miền trên cả nước hình thành nên các làng nghề truyền thống và biến nó thành một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam Đa số các làng nghề đã trải qua lịch sử phát triển hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm song song với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa và nông nghiệp của đất nước

Trong những năm gần đây làng nghề đang thay đổi một cách nhanh chóng theo nền kinh tế thị trường, nhiều làng nghề truyền thống hiện nay đã được khôi phục, đầu tư phát triển với quy mô và kỹ thuật cao hơn, hàng hóa không những phục vụ nhu cầu trong nước mà còn cho xuất khẩu với giá trị lớn từ đó đã và đang có nhiều đóng góp cho GDP của đất nước nói chung và đối với nền kinh tế nông thôn nói riêng

Song đi kèm đó bộ mặt nông thôn có làng nghề hiện nay đã “thay đổi” theo nhiều nghĩa trong đó có cả sự thay đổi về chất lượng môi trường theo hướng tiêu cực Các làng nghề có quy mô nhỏ, trình độ sản xuất thấp, thiết bị cũ

và công nghệ lạc hậu vẫn chiếm phần lớn (trên 70%) Vì vậy, đã và đang nảy sinh nhiều vấn đề môi trường tại các làng nghề [13], [21] Theo các nghiên cứu đến nay, hầu hết các làng nghề Việt Nam đã có hiện tượng ô nhiễm môi trường Trong đó, ô nhiễm môi trường nước gần như 100% đã xảy ra ở tất cả các làng nghề Theo Đặng Kim Chi [21] chủ nhiệm đề tài KC 08.09, kết quả khảo sát 52 làng nghề điển hình trong cả nước có đến 46% làng nghề có môi trường bị ô

Trang 10

nhiễm nặng, 27% ô nhiễm vừa và 27% ô nhiễm nhẹ Các kết quả quan trắc trong thời gian gần đây cho thấy mức độ ô nhiễm của các làng nghề không những không giảm mà còn có xu hướng gia tăng [1], [21] Sự ô nhiễm có ảnh hưởng không nhỏ không những tới sự phát triển sản xuất bền vững ở làng nghề, nền kinh tế đất nước mà còn kéo theo sự tác động mạnh mẽ tới sức khỏe của con người [9].

Theo Đào Ngọc Phong (1983) [49], [50] sức khoẻ theo quan niệm hiện nay là một khái niệm tổng hợp về tính trạng cơ thể liên quan mật thiết với môi trường Một phía là cơ thể trong đó đang diễn ra sự sống và một phía là môi trường bao quanh, trong đó có cơ thể sống Mỗi sự thay đổi môi trường bên trong hay bên ngoài đều tác động lên sức khoẻ ở một mức độ nhất định Cho tới nay tình hình sức khoẻ bệnh tật và tử vong ở các nước đang phát triển vẫn

bị chi phối chủ yếu bởi các yếu tố sinh học trong môi trường đất, nước, không khí và thực phẩm thiếu vệ sinh [9], [29]

Theo báo cáo môi trường làng nghề 2010, so sánh giữa khu vực làng nghề và không làm nghề cho thấy tỉ lệ mắc bệnh của các đối tượng khu vực làng nghề cao hơn hẳn so với khu vực thuần nông Tại nhiều làng nghề tỷ lệ người mắc bệnh (đặc biệt là người trong độ tuổi lao động) đang có xu hướng tăng cao, tuổi thọ trung bình của người dân tại các làng nghề ngày càng giảm

đi, thấp hơn 10 năm so với tuổi thọ trung bình toàn quốc và so với làng không làm nghề, tuổi thọ này cũng thấp hơn từ 5 đến 10 năm [9] Điều này cho thấy mức độ ô nhiễm môi trường của các làng nghề đã có ảnh hưởng đáng kể tới sức khỏe của cộng đồng dân cư

Nghệ An nằm trong vùng Bắc Trung bộ với chiều dài bờ biển 82 km, là tỉnh có tiềm năng để phát triển nghề khai thác hải sản [57] Nằm cách khu nghỉ mát Cửa Lò không xa, phường Nghi Hải - thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An

từ lâu đã được nhiều người biết đến với nghề CBHS nổi tiếng của vùng đất xứ

Trang 11

Nghệ Làng nghề không chỉ đã giải quyết được việc làm cho một số lượng lớn lao động, giải quyết được bài toán đầu ra cho một lượng lớn hải sản đánh bắt của cả khu vực thị xã Cửa Lò, mà còn trở thành điểm du lịch mua sắm hấp dẫn đối với du khách về nghỉ dưỡng tại Cửa Lò Sản phẩm chính của làng nghề khá đa dạng như nước mắm, tôm, cá, mực, khô, các loại cá biển nướng hoặc hấp và cả các loại hải sản tươi sống Phát triển làng nghề, nâng cao cuộc sống cho người dân là một chủ trương đúng đắn của chính quyền thị xã Cửa Lò Thế nhưng, mặt trái của làng nghề truyền thống CBHS tươi sống đã

và đang làm cho môi trường bị ô nhiễm trầm trọng và ảnh hưởng nhiều tới sức khỏe của cộng đồng

Vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề và giải pháp khắc phục là vấn đề

đã được đề cập nhiều trong thời gian qua Đối với các làng nghề chế biến thủy hải sản ven biển ở thị xã Cửa Lò thì vấn đề này lại càng được quan tâm hơn nữa vì đây không chỉ là không gian sống mà còn là những địa điểm để khai thác du lịch Xuất phát từ nhu cầu thực tế, với mong muốn đóng góp cho công tác bảo vệ môi trường, làm rõ ảnh hưởng của các yếu tố môi trường ở làng nghề lên sức khỏe của cộng đồng dân cư và thực hiện tốt chiến lược chăm sóc

sức khỏe, chúng tôi tiến hành để tài: “Ảnh hưởng của môi trường lên các

chỉ tiêu sinh lý và sức khỏe của dân cư làng nghề chế biến hải sản phường Nghi Hải, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An”

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2.1 Đánh giá thực trạng môi trường không khí và môi trường nước tại làng nghề CBHS Nghi Hải

2.2 Xác định một số chỉ tiêu sinh lý và cơ cấu bệnh tật có trong cộng đồng dân cư tại làng nghề CBHS Nghi Hải

2.3 Bước đầu đánh giá ảnh hưởng của môi trường lên tình trạng sức khoẻ và cơ cấu bệnh tật của dân cư làng nghề CBHS Nghi Hải

Trang 12

3 Nội dung nghiên cứu

3.1 Làm rõ nội dung lý luận về ô nhiễm môi trường từ các hoạt động của làng nghề CBHS trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và kinh nghiệm của các nhà nghiên cứu trong nước và ngoài nước

3.2 Điều tra thực trạng môi trường

3.2.1 Điều tra thực trạng môi trường không khí

- Chỉ số vi khí hậu: Nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió

- Hàm lượng khí độc (NH3, H2S )

3.2.2 Điều tra thực trạng môi trường nước

- Thành phần, tính chất vật lý, tính chất hóa học của nước

- Ô nhiễm hóa chất

- Ô nhiễm vi sinh vật

3.3 Điều tra thực trạng sức khỏe của dân cư

3.3.1 Các chỉ tiêu sinh lí và chỉ tiêu huyết học

3.3.2 Các bệnh thông thường về đường tiêu hóa, hô hấp, bệnh ngoài

da, bệnh tim mạch, thần kinh, giác quan…

3.4 Phân tích sự ảnh hưởng của môi trường lên các chỉ tiêu sinh lý và

cơ cấu bệnh tật của dân cư làng nghề

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở phương pháp luận của đề tài

1.1.1 Môi trường và sức khỏe

1.1.1.1 Môi trường

- Khái niệm

Khái niệm về môi trường đã được thảo luận rất nhiều và từ lâu Tuy nhiên cho đến này vẫn chưa có một khái niệm nào thống nhất chung trong khoa học sinh học Tùy cách tiếp cận khác nhau, các tác giả có những định nghĩa khác nhau

Masn và Langenhim (1957) cho rằng môi trường là tổng hợp các yếu

tố tồn tại xung quanh sinh vật và ảnh hưởng đến sinh vật Joe Whiteney (1993) thì cho rằng môi trường là tất cả những gì ngoài cơ thể, có liên quan mật thiết và có ảnh hưởng đến sự tồn tại của con người như: Đất, nước, không khí, ánh sáng mặt trời, rừng, biển, tầng ozôn, sự đa dạng các loài Lương Tử Dung, Vũ Trung Giang (Trung Quốc) định nghĩa môi trường là hoàn cảnh sống của sinh vật, kể cả con người, mà sinh vật và con người đó không thể tách riêng ra khỏi điều kiện sống của nó [40]

Môi trường là tập hợp các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, kinh tế, xã hội tác động lên từng cá thể hay cả cộng đồng (theo UNEP chương trình môi trường của liên hợp quốc – 1980)

Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam do Quốc hội khóa XI (ngày 29 tháng 11 năm 2005) có định nghĩa “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên

và yếu tố vật chất nhân tạo, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” [28], [56]

Trang 14

Bách khoa toàn thư về môi trường (1994) cũng đã đưa ra một định nghĩa ngắn gọn và đầy đủ hơn về môi trường: “Môi trường là tổng thể các thành tố sinh thái tự nhiên, xã hội – nhân văn và các điều kiện tác động trực tiếp hay gián tiếp lên phát triển, lên đời sống và hoạt động của con người trong thời gian bất kỳ” [28].

Môi trường là tập hợp các vật thể hoàn cảnh và ảnh hưởng bao quanh một đối tượng nhất định nào đó (The Random House College Dictionary – USA) [95] Theo G.Tyler Miler môi trường là tất cả các hoàn cảnh bên ngoài tác động lên một cơ thể sinh vật hoặc một cơ thể nhất định đang sống, là mọi vật bên ngoài một cơ thể nhất định [85] Môi trường là hoàn cảnh vật lý, hóa học, sinh học bao quanh các sinh vật (Encyclopelia of Environmental, USA 1992) [59]

Theo định nghĩa của UNESCO (1981) thì môi trường của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (tập quán, niềm tin) trong đó con người sống và lao động,

họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình Như vậy, môi trường sống đối với con người không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho một thực thể sinh vật và con người

mà còn là “khung cảnh của cuộc sống, của lao động và sự vui chơi giải trí của con người” [40], [71]

Như vậy hiểu một cách khái quát nhất thì môi trường của một khách thể bao gồm các vật chất, điều kiện hoàn cảnh, các đối tượng khác hay các điều kiện nào đó mà chúng bao quanh khách thể này hay các hoạt động của khách thể diễn

ra trong chúng

- Phân loại môi trường

Có nhiều cách phân loại môi trường khác nhau như theo thành phần tự nhiên, theo chức năng, theo điều kiện sinh thái hoặc theo mục đích sản xuất con người tuy nhiên có hai phương pháp phổ biến nhất là:

Trang 15

Theo thành phần tự nhiên, môi trường được chia thành:

* Môi trường không khí

Môi trường không khí được giới hạn trong lớp không khí bao quanh Địa cầu có khối lượng 5,2.108 kg < 0,0001% trọng lượng Trái đất Gồm nhiều lớp khí khác nhau Đây là một hỗn hợp phức tạp của nhiều loại khí: Dưỡng khí (O2), đạm khí (N), thán khí (CO2) và một số khí hiếm như argon, neon, heli và ngoài ra còn có khí trơ, hơi nước, bụi, vi sinh vật… [69]

Không khí là một trong các yếu tố quan trọng mà con người sống trong đó suốt cả cuộc đời, làm việc, nghỉ ngơi Sức khỏe và cảm ứng của con người, sự sinh trưởng và phát triển của tất cả các loài động, thực vật phụ thuộc rất nhiều vào: Thành phần hỗn hợp của không khí, độ trong sạch và đặc tính lý hóa của

nó Có thể nói không khí vô cùng quan trọng và không thể thiếu được trong đời sống, sự sinh trưởng và phát triển của tất cả các loài động vật, thực vật nói chung

và con người nói riêng [62]

* Môi trường nước

Thủy quyển bao gồm tất cả những phần nước của trái đất như: Nước ao

hồ, sông ngòi, suối, đại dương, băng tuyết, nước ngầm,… Thủy quyển là thành phần không thể thiếu được của môi trường toàn cầu, nó duy trì sự sống cho con người và sinh vật [59]

Nước là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của môi trường sống Nước là một loại tài nguyên thiên nhiên quý giá và có hạn, là động lực chủ yếu chi phối mọi hoạt động dân sinh kinh tế của con người Nước được

sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, thủy điện, giao thông vận tải, chăn nuôi, thủy sản v.v… Bởi vậy, tài nguyên nước có giá trị kinh tế và được coi như một loại hàng hóa [41]

* Môi trường đất

Trang 16

Thạch quyển hoặc địa quyển hoặc môi trường đất bao gồm lớp vỏ Trái đất có độ dày 60 – 70 km trên phần lục địa và từ 2 – 8 km dưới đáy đại dương, trên đó có các quần xã sinh vật [24].

Môi trường đất là môi trường sinh thái hoàn chỉnh, bao gồm vật chất vô sinh sắp xếp thành cấu trúc nhất định Các thực vật, động vật và vi sinh vật sống trong lòng trái đất Các thành phần này có liên quan mật thiết và chặt chẽ với nhau Môi trường đất được xem như là môi trường thành phần của hệ môi trường bao quanh nó gồm nước, không khí, khí hậu [48]

Theo chức năng môi trường sống của con người được chia thành:

* Môi trường tự nhiên: Bao gồm các yếu tố tự nhiên như vật lý, hóa

học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người

* Môi trường xã hội: Là tổng thể các quan hệ giữa người và người tạo

nên sự thuận lợi hoặc khó khăn cho sự tồn tại và phát triển của các cá nhân và cộng đồng loài người

* Môi trường nhân tạo: Là tất cả các yếu tố tự nhiên, xã hội do con

người tạo nên và chịu sự chi phối của con người

1.1.1.2 Ô nhiễm môi trường

đã được xác định

Trang 17

Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì sự ô nhiễm (hoặc sự nhiễm bẩn) là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây tác hại đến sức khoẻ con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường Theo định nghĩa này các tác nhân gây ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải) hoặc rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ Tuy nhiên, môi trường chỉ được gọi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến con người, sinh vật

và vật liệu hoặc vượt mức cho phép được quy định ở các Tiêu chuẩn chất lượng môi trường

Như vậy ô nhiễm môi trường là sự tích luỹ trong môi trường các yếu tố (vật lý, hoá học, sinh học) vượt quá tiêu chuẩn chất lượng môi trường, khiến cho môi trường trở nên độc hại đối với con người, vật nuôi, cây trồng [28]

Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mực, giới hạn cho phép, được

quy định dùng làm căn cứ để quản lý môi trường [69]

- Các dạng ô nhiễm môi trường

Ô nhiễm môi trường nước

Hiến chương châu Âu đã định nghĩa: “Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã” [41]

Ô nhiễm nguồn nước do nông nghiệp và công nghiệp sẽ gây hậu quả là ô nhiễm nguồn nước uống và sinh hoạt Một cách tổng quát, bất cứ sự thay đổi chất lượng nước về mặt vật lý, hóa học hay sinh học, mà sự thay đổi này có tác hại đến sinh vật, hay sự thay đổi này làm cho nước không thích hợp cho bất cứ mục đích sử dụng nào thì được xem là ô nhiễm môi trường nước [48]

Trang 18

Ô nhiễm môi trường không khí

Ô nhiễm không khí xảy ra khi không khí có chứa các thành phần độc hại như các loại khí, bụi lơ lửng, khói, mùi Hay nói cách khác những chất này trong không khí có thể có ảnh hưởng xấu tới sức khỏe hoặc sự thoái mái của con người, động vật hoặc có thể dẫn đến nguy hại đối với thực vật và các vật chất khác Trong không khí bị ô nhiễm có chứa các loại khí, các hạt vật chất lơ lửng và các hạt chất lỏng dưới dạng bụi (aerosol) làm thay đổi thành phần tự nhiên của khí quyển Một số loại khí là những thành phần của không khí sạch như CO2 cũng sẽ trở nên nguy hại và là chất ô nhiễm không khí khi nồng độ của nó cao hơn mức bình thường Ô nhiễm không khí có nguy cơ ảnh hưởng tới sức khỏe con người và những thành phần khác của môi trường như đất nước [19], [45]

Ô nhiễm không khí là sự có mặt của chất khí trong bầu khí quyển do các hoạt động của con người hoặc thiên nhiên và một nồng độ đủ lớn tồn tại trong thời gian đủ lâu ảnh hưởng đến sự thoải mái của con người, động vật [62], [31]

Ô nhiễm môi trường đất

Ô nhiễm môi trường đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi trường đất bởi các chất ô nhiễm Ô nhiễm đất là do những tập quán mất vệ sinh do những hoạt động trong sản xuất công, nông nghiệp với những phương thức canh tác khác nhau hoặc do các chất thải bỏ không hợp lý của các chất cặn bã đặc và lỏng, ngoài ra còn do các chất gây ô nhiễm không khí lắng xuống [2]

1.1.1.3 Sức khỏe và bệnh tật

- Sức khỏe

Theo định nghĩa của tổ chức Y tế Thế giới WHO (1946) thì "Sức khỏe

là một tình trạng thoải mái hoàn toàn về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ

Trang 19

không phải chỉ là một tình trạng không bệnh tật hay tàn tật theo nghĩa thông thường" [99].

Sức khỏe phải được nhìn ở trạng thái biến động: Con người và cộng đồng người luôn dao động giữa hai lực đối kháng là lực gây tổn hại và lực bảo

vệ sức khỏe Sức khỏe là một trạng thái cân bằng giữa hai lực kể trên Đó là điều chúng ta cần phải biết, để có thể dự đoán và dự phòng bảo vệ và nâng cao sức khỏe

Về phương diện sức khỏe, con người phải được nhìn toàn bộ ở ba kích thước của sức khỏe: “Sức khỏe trên con người riêng lẻ, sức khỏe của cộng đồng

xã hội mà con người là thành viên, sức khỏe của con người và cộng đồng trong môi trường” [64]

- Bệnh nghề nghiệp

Bệnh nghề nghiệp là loại bệnh phát sinh do các tác hại nghề nghiệp, mang tính chất đặc trưng nghề nghiệp hoặc liên quan đến nghề nghiệp Do tác hại thường xuyên kéo dài của điều kiện lao động xấu [26], [64]

1.1.1.4 Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường lên sức khỏe

Nhiều nhà khoa học trên thế giới cho rằng 80% các loại bệnh tật của con người có liên quan đến ô nhiễm môi trường và trong vòng 30 năm qua, đã xuất hiện thêm 40 loại bệnh mới bắt nguồn từ các vấn đề về môi trường như ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước, ô nhiễm đất, hay ô nhiễm tiếng ồn, trường điện từ, phóng xạ… [11]

Sức khỏe có mối quan hệ mật thiết với môi trường Sự phụ thuộc của sức khỏe vào môi trường sống đã được đề cập từ thời xa xưa của lịch sử Từ thế kỉ XIX, trong cuốn “Nghiên cứu y học thực nghiệm” nhà sinh lý học người Pháp Claode Bernat đã viết: “Hiện tượng về sự sống đã được quy định từ hai phía, một

là mặt cơ thể trong đó sự sống diễn ra, mặt khác là môi trường bên ngoài trong đó

Trang 20

cơ thể sống đã tìm thấy những điều kiện chủ yếu cho sự xuất hiện của những hiện tượng của bản thân mình” [87].

- Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường không khí lên sức khỏe con người

* Ô nhiễm do nhiệt độ

Theo một nghiên cứu mới từ Trường Y tế công cộng Harvard được công

bố trực tuyến trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences về những thay đổi nhỏ về nhiệt độ mùa hè có thể rút ngắn tuổi thọ ở người cao tuổi bị các bệnh mạn tính Họ thấy rằng, ở mỗi thành phố, những năm có nhiệt

độ mùa hè biến thiên càng lớn thì tỷ lệ tử vong càng cao hơn so với những năm nhiệt độ biến thiên ít Cứ tăng 1oC trong mùa hè thì tỷ lệ tử vong ở người cao tuổi bị các bệnh mạn tính tăng 2,8 – 4%, tùy thuộc vào tình trạng bệnh Nguy cơ tử vong tăng 4% đối với người mắc bệnh tiểu đường; 3,8% đối với người đã từng bị đau tim; 3,7% đối với người bị bệnh phổi mạn tính và 2,8% đối với người bị suy tim Dựa vào sự gia tăng nguy cơ tử vong, các nhà nghiên cứu ước tính rằng sự biến thiên lớn nhiệt độ mùa hè ở Mỹ có thể gây thêm hơn 10.000 ca tử vong mỗi năm [80]

Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới như ở nước ta, điều kiện nóng ẩm kèm theo nhiệt độ cao dễ xuất hiện những tai biến nguy hiểm cho người tiếp xúc: Rối loạn điều hòa nhiệt, say nắng, mất nước, mất muối…[19], [31]

Nhiều nghiên cứu cho thấy người nông dân lao động trong điều kiện thời tiết nóng, phân phối máu nội tạng thiếu và mất thăng bằng muối nước, thường ảnh hưởng đến chức phận của cơ quan tiêu hóa, bệnh đường ruột có cơ hội gia tăng Bệnh tiêu hóa mắc phổ biến ở người lao động là viêm dạ dày – tá tràng, rối loạn tiêu hóa [70]

* Ô nhiễm không khí

Có những ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người, đặc biệt đối với đường hô hấp Kết quả nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy, khi môi trường không

Trang 21

khí bị ô nhiễm, sức khỏe con người bị suy giảm, quá trình lão hóa trong cơ thể

bị thúc đẩy, chức năng của phổi bị suy giảm; gây bệnh hen suyễn, viêm phế quản; gây ung thư, bệnh tim mạch và làm giảm tuổi thọ của con người Các nhóm cộng đồng nhạy cảm nhất với sự ô nhiễm không khí là những người cao tuổi, phụ nữ mang thai, trẻ em dưới 14 tuổi, người đang mang bệnh, người thường xuyên phải làm việc ngoài trời… Mức độ ảnh hưởng của từng người tùy thuộc vào loại tình trạng sức khỏe, nồng độ, loại chất ô nhiễm và thời gian tiếp xúc với môi trường ô nhiễm [9]

* Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường nước đến sức khỏe con người

Nguồn nước (nước mặt và nước ngầm) đóng vai trò rất quan trọng đối với hầu hết các hoạt động của con người và sinh vật Hàng ngày con người khai thác

và sử dụng một lượng lớn nước cho các hoạt động khác nhau như cấp nước sinh hoạt, tưới tiêu trong nông nghiệp, công nghiệp, giải trí… Các nguồn nước cũng đóng vai trò quan trọng trong việc cân bằng nước toàn cầu, duy trì đa dạng sinh học, điều hoà khí hậu [65]

Ước tính trên thế giới có đến 88% trường hợp bệnh tiêu chảy là do thiếu nước sạch, vệ sinh môi trường kém Có khoảng 6 triệu người bị mù do bệnh đau mắt hột và khoảng 500 triệu người có nguy cơ bị mắc bệnh này Theo thống kê sức khoẻ toàn cầu của trường Đại học Harvard, của Tổ chức Y

tế Thế giới và Ngân hàng Thế giới thì hàng năm có khoảng 4 tỷ trường hợp bị

ỉa chảy, làm 2,2 triệu người chết mà chủ yếu là trẻ em dưới 5 tuổi (tương đương cứ 15 giây thì có một trẻ em bị chết) Con số này chiếm khoảng 15%

số trẻ em chết vì tất cả các nguyên nhân ở những nước đang phát triển Nâng cao chất lượng nước sinh hoạt và cung cấp các công trình vệ sinh phù hợp sẽ giảm 1/4 đến 1/3 số ca bị ỉa chảy hàng năm [10]

Sự nhiễm bẩn của nguồn nước xảy ra do nhiều nguyên nhân Có thể xảy ra theo hai cách là nhiễm bẩn tự nhiên và nhiễm bẩn nhân tạo Nhiễm bẩn

Trang 22

tự nhiên do các quá trình phong hóa địa chất, hoạt động núi lửa, hoặc do nước mưa chảy tràn trên bề mặt đất mang theo chất bẩn và vi khuẩn gây bệnh vào nguồn nước tiếp nhận [40] Nhiễm bẩn nhân tạo chủ yếu do xả nước thải (sinh hoạt, bệnh viện, công nghiệp và nông nghiệp) vào nguồn nước tiếp nhận Nước thải từ các khu công nghiệp không được xử lý gây ô nhiễm nước mặt và nước ngầm, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước cấp và có thể thông qua chuỗi thức ăn gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người [10], [31].

Các nghiên cứu khoa học cũng cho thấy, khi sử dụng nước nhiễm asen

để ăn uống, con người có thể mắc bệnh ung thư trong đó thường gặp là ung thư da Ngoài ra, asen còn gây nhiễm độc hệ thống tuần hoàn khi uống phải nguồn nước có hàm lượng asen 0,1mg/l Vì vậy, cần phải xử lý nước nhiễm asen trước khi dùng cho sinh hoạt và ăn uống Người nhiễm chì lâu ngày có thể mắc bệnh thận, thần kinh, nhiễm amoni, nitrat, nitrit gây mắc bệnh xanh

da, thiếu máu, có thể gây ung thư Metyl tert – butyl ete là chất phụ gia phổ biến trong khai thác dầu lửa có khả năng gây ung thư rất cao Nhiễm Na gây bệnh cao huyết áp, bệnh tim mạch, lưu huỳnh gây bệnh về đường tiêu hoá Kali, cadimi gây bệnh thoái hoá cột sống, đau lưng Hợp chất hữu cơ, thuốc trừ sâu, thuốc diệt côn trùng, diệt cỏ, thuốc kích thích tăng trưởng, thuốc bảo quản thực phẩm, phốt pho… gây ngộ độc, viêm gan, nôn mửa Tiếp xúc lâu dài sẽ gây ung thư nghiêm trọng các cơ quan nội tạng Chất tẩy trắng xenon peroxide, sodium percarbonate gây viêm đường hô hấp, oxalate kết hợp với calcium tạo ra calcium oxalate gây đau thận, sỏi mật Vi khuẩn, ký sinh trùng các loại là nguyên nhân gây các bệnh đường tiêu hóa, nhiễm giun, sán Kim loại nặng các loại: Titan, sắt, chì, cadimi, asen, thuỷ ngân, kẽm gây đau thần kinh, thận, hệ bài tiết, viêm xương, thiếu máu [60]

Theo thống kê của Cục Y tế dự phòng – Bộ Y tế cho thấy, trong số 10 trên 26 bệnh truyền nhiễm gây dịch được giám sát có tỷ lệ mắc trên 100.000 dân,

Trang 23

cao nhất là cúm, tiêu chảy, sốt rét, sốt xuất huyết, ly trực khuẩn, quai bị, lỵ amip, viêm gan virut, thủy đậu có liên quan đến nguồn nước bị nhiễm asen và nhiều chất hữu cơ khác.

* Tác hại do ô nhiễm bụi

Bụi vào phổi gây kích thích cơ học và phát sinh phản ứng xơ hoá phổi gây nên những bệnh hô hấp Nói chung, bụi đất không gây bệnh phổi cấp tính, nhưng nếu trong bụi có 2% silic tự do thì có thể phát sinh bệnh bụi phổi – silic sau nhiều năm tiếp xúc [39], [48]

* Khí chứa Lưu Huỳnh

Khí acid SOx khi tiếp xúc với oxy và hơi nước trong không khí sẽ biến thành các hơi acid gây kích thích khi tiếp xúc với niêm mạc Hơi acid vào cơ thể qua đường hô hấp hoặc hoà tan vào nước bọt rồi vào đường tiêu hoá sau

đó phân tán vào máu Hơi acid khi kết hợp với bụi tạo thành các hạt bụi acid

lơ lửng, nếu kích thước nhỏ hơn 2 – 3 micromet sẽ vào tới phế nang, bị đại thực bào phá huỷ hoặc đưa đến hệ thống bạch huyết SO2 xâm nhập vào cơ thể động vật qua đường hô hấp và tiếp xúc với các niêm mạc ướt hình thành

Trang 24

nhanh chóng các acid sau đó sẽ phân tán vào máu qua hệ thống tuần hoàn Hydro sunfur (H2S): Trong tự nhiên H2S là do chất hữu cơ, rau, cỏ hoặc các ruộng lúa, đầm lầy, vùng đất ngập nước, nhiều tàn tích hữu cơ Quá trình phân giải yếm khí các hữu cơ chứa lưu huỳnh hay trong môi trường đất, nước giàu lưu huỳnh sẽ tạo ra sản phẩm H2S Trong công nghiệp, H2S sinh ra do quá trình sử dụng nhiên – nguyên liệu có chứa lưu huỳnh H2S cũng được sinh

ra trong ngành hóa dầu, luyện than cốc Đối với con người và động vật H2S có tác dụng nhiễm độc toàn thân Khí này ức chế men hô hấp có thể gây tử vong

H2S có tác dụng kích thích tại chỗ lên niêm mạc vì tiếp xúc ẩm, hình thành các loại sunfur Các sunfur được tạo thành có thể xâm nhập hệ tuần hoàn, tác động đến các vùng cảm giác – mạch, vùng sinh phản xạ của các thần kinh động mạch cảnh và thần kinh Hering

là đến hệ thần kinh trung ương Do đó, chất độc xâm nhập qua đường hô hấp tác động gây độc nhanh gần như là tiêm thẳng vào tĩnh mạch

Nitơ oxit (NO) là một chất khí không màu, không mùi, không tan trong nước NO có thể gây nguy hiểm cho cơ thể do tác dụng với hồng cầu trong máu, làm giảm khả năng vận chuyển oxy, gây bệnh thiếu máu NO được biết đến như một chất gây kích thích viêm tấy (viêm xơ phổi mãn tính) và có tác hại đối với hệ thống hô hấp NO với nồng độ thường có trong không khí không gây tác hại đối với sức khoẻ của con người, nó chỉ nguy hại khi bị oxy

Trang 25

hoá thành NO2 Tiêu chuẩn Việt Nam qui định nồng độ NO2 cho khu dân cư nhỏ hơn 0,1mg/m3 (trung bình 24 giờ), khu vực sản xuất nhỏ hơn 0,5 mg/m3.

Đioxit Nitơ (NO2): Khi tiếp xúc với niêm mạc, tạo thành axit qua đường hô hấp hoặc hoà tan vào nước bọt rồi vào đường tiêu hoá, sau đó vào máu Ở hàm lượng 15 – 50ppm, NO2 gây nguy hiểm cho tim, phổi và gan Tác dụng của NO2 phụ thuộc vào nồng độ và thời gian tiếp xúc Ở nồng độ thấp thường gặp trong môi trường lao động hoặc trong không khí xung quanh, tác hại của NO2 tương đối chậm và khó nhận biết

Amoniac (NH3): Có mùi khó chịu và gây viêm đường hô hấp cho người, động vật, gây loét giác mạc, thanh quản, khí quản NH3 thường gây nhiễm độc cấp tính Là một chất khí gây kích thích đường hô hấp, có mùi khai đặc trưng

và có khả năng gây ngạt Người làm việc trong môi trường có nồng độ NH3 cao thường gặp các triệu chứng cay mắt, khó thở, viêm phế quản, ở nồng độ quá cao có thể gây chết người Tác động của NH3 lên cơ thể tuỳ thuộc vào nồng độ NH3 trong môi trường lao động Nồng độ không gây tác hại đáng kể khi tiếp xúc trong vòng 1 giờ là 0,03% thể tích, khi tiếp xúc trong vòng 4 – 5 giờ là 0,01% thể tích Trong trường hợp phải hít nhiều NH3 và đột ngột, khí

NH3 chưa vào đến phổi mà đã gây phản xạ ở thanh quản, cuống họng, co rút đột ngột đường hô hấp làm nạn nhân nghẹt thở chết [10]

- Ảnh hưởng của chất thải rắn lên sức khỏe con người

Việc quản lý và xử lý CTR không hợp lý không những gây ô nhiễm môi trường mà còn ảnh hưởng rất lớn tới sức khoẻ con người, đặc biệt đối với người dân sống gần khu vực làng nghề, khu công nghiệp, bãi chôn lấp chất thải Người dân sống gần bãi rác không hợp vệ sinh có tỷ lệ mắc các bệnh da liễu, viêm phế quản, đau xương khớp cao hơn hẳn những nơi khác Một nghiên cứu tại Lạng Sơn cho thấy tỷ lệ người ốm và mắc các bệnh như tiêu

Trang 26

chảy, da liễu, hô hấp tại khu vực chịu ảnh hưởng của bãi rác cao hơn hẳn so với khu vực không chịu ảnh hưởng [13].

CTR còn ảnh hưởng tới sức khỏe con người gián tiếp thông qua ô

nhiễm môi trường nước, môi trường không khí do chất thải rắn Hai thành

phần chất thải rắn được liệt vào loại cực kỳ nguy hiểm là kim loại nặng và chất hữu cơ khó phân hủy Các chất này có khả năng tích lũy sinh học trong nông sản, thực phẩm cũng như trong mô tế bào động vật, nguồn nước và tồn tại bền vững trong môi trường gây ra hàng loạt bệnh nguy hiểm đối với con người như

vô sinh, quái thai, dị tật ở trẻ sơ sinh; tác động lên hệ miễn dịch gây ra các bệnh tim mạch, tê liệt hệ thần kinh, giảm khả năng trao đổi chất trong máu, ung thư

có nhiều hải sản quý, có giá trị kinh tế cao [75] Nguồn hải sản chiếm 70% trong tổng sản lượng thủy hải sản thu gom được ở Việt Nam, sản lượng bình quân là 700.000 tấn với 40% sản lượng cá đáy, 60% là cá nổi Bắt đầu từ năm

1995, do nghề đánh bắt cá xa bờ được đầu tư mạnh nên sản lượng đã tăng lên 1.230.000 tấn

Bên cạnh đó, nước ta còn có diện tích mặt nước rất lớn để phát triển nuôi trồng thủy sản Nguồn nguyên liệu từ nuôi trồng khai thác nội đồng là khoảng 492.000 tấn/năm vào năm 1997, 515.020 tấn/năm vào năm 1998 [75]

Trang 27

Trong những năm gần đây, nước ta đang đẩy mạnh phát triển kinh tế cho ngành sản xuất thủy hải sản Đến nay, theo Cục Quản lý chất lượng nông – lâm sản và thủy sản (Nafiqad), cả nước có 300 cơ sở CBHS và khoảng 220 nhà máy chuyên sản xuất các sản phẩm đông lạnh phục vụ xuất khẩu, có tổng công suất

200 tấn/ngày Cũng theo thống kê của Nafiqad, tính đến thời điểm này, cả nước

có 300 doanh nghiệp được phép xuất khẩu thủy sản sang EU, hơn 440 doanh nghiệp sang Hàn Quốc, hơn 440 doanh nghiệp sang Trung Quốc, 30 doanh nghiệp sang Liên bang Nga, 60 doanh nghiệp sang Brazil và gần 450 doanh nghiệp sang Nhật Bản Tính đến cuối năm 2009, giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản đạt 4,2 tỷ USD [3], [23], [53], [74]

1.1.2.2 Vấn đề môi trường tại các cơ sở CBHS

Vấn đề đáng quan tâm nhất đối với bất kỳ nhà máy chế biến thủy hải sản nào đó là việc tiêu thụ nước, năng lượng và đồng thời phát sinh ra nước thải, chất thải rắn Sau đây là các vấn đề ảnh hưởng đến môi trường trong ngành chế biến thủy hải sản phải kể đến:

- Vấn đề ô nhiễm không khí

Quá trình phân hủy các chất thải hữu cơ bao gồm các quá trình lên men chua, lên men thối, lên men mốc vàng, mốc xanh, có mùi ôi, thiu, hôi thối Quá trình này có thể do các vi sinh vật tiết ra các enzim hỗn hợp hoặc đơn lẽ thực hiện

Quá trình phân hủy kị khí, hiếu khí và tùy tiện có thể xảy ra độc lập hoặc kết hợp xen kẽ nhau, để tạo ra các chất độc hại ở dạng hòa tan trong nước hoặc ở dạng khí phát tán trong không khí, gây ô nhiễm khí như vi khuẩn, nấm men, nấm mốc, các khí có mùi nặng như CH4, H2S, Indol, Skatol, các mercaptan, các hợp chất cacboxyl, các axit cacboxilic

Các loại hơi khí độc, mùi hôi tanh là những đặc trưng chủ yếu gây ô nhiễm môi trường không khí vùng làm việc và khu vực xung quanh các cơ sở

Trang 28

CBHS với phạm vi và mức độ ảnh hưởng rất khác nhau phụ thuộc vào loại hình, trình độ công nghệ cũng như các điều kiện vệ sinh công nghiệp Bên cạnh đó, nhóm các yếu tố vi khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió) và vật lý có hại (tiếng ồn, độ rung) tuỳ theo mức độ, tình trạng thiết bị sẽ có những biểu hiện gây ô nhiễm với tác động diễn ra chủ yếu trong môi trường lao động.

Các CTR phát sinh trong quá trình CBHS, khi có mặt trong nước dưới tác dụng của các vi khuẩn có trong môi trường và các enzim nội tại trong phế liệu, các hợp chất phức tạp như protein, lipid, hydratcarbon sẽ bị phân hủy trong điều kiện hiếu khí, kị khí, thiếu khí tạo các chất khí có mùi hôi thối như axit béo không no, mercaptan, CH4, H2S, indol, skatol, NH3, methylamin

Sự tạo ra các chất khí ô nhiễm còn có thể diễn ra khi tiến hành công nghệ chế biến các sản phẩm hun khói, các sản phẩm thủy sản sấy khô, phơi khô, sản phẩm tẩm gia vị và sản xuất nước mắm cao đạm, cô đặc bằng phương pháp sấy, làm khô và cô đặc trực tiếp Sau quá trình chế biến các sản phẩm này thì các chất khí ô nhiễm được tạo thành và phát tán trong không khí như các khí CO2, hơi nước, CO, NH3… và rất nhiều các chất hữu cơ dễ bay hơi được tạo thành như các axit cacboxilic, các loại alcol, các andehyt, xeton, các hydrocacbon no, không no, thơm, các phenol, furan, các este

Dầu, mỡ sau khi rán các sản phẩm tẩm gia vị cũng tạo ra ô nhiễm khí

do sự oxy hóa các axit béo no, chưa no thành các hidroperoxit trung gian và cuối cùng tạo ra các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi như rượu, xeton, aldehit và axit, các cetoaxit, tạo nên mùi ôi, thối, đắng, khét, rất độc hại cho sức khỏe con người và môi trường

- Ô nhiễm bởi các chất thải rắn

Cũng như các hoạt động sản xuất công nghiệp khác, hoạt động trong ngành công nghiệp CBHS đã đưa vào môi trường nhiều loại rác thải có thành phần khác nhau, tùy theo quy mô, sản lượng và mặt hàng sản xuất của cơ sở

Trang 29

chế biến nhưng chủ yếu là hai loại là phế phẩm sản xuất và chất bã sau chế xuất, hầu hết các loại chất rắn này đều chưa có lợi ích kinh tế gì nên chưa được tận dụng và trở thành một gánh nặng của quá trình chế biến thủy hải sản.

Chất thải rắn phát sinh ra trong ngành công nghiệp CBHS thường tập trung ở hai nguồn chủ yếu: Chất thải rắn sản xuất (chủ yếu) và chất thải rắn sinh hoạt

Chất thải rắn trong quá trình sản xuất

Nguồn phát sinh chất thải sản xuất tập trung ở công đoạn xử lý nguyên liệu và chế biến sản phẩm:

+ Phế thải từ nguyên liệu (tôm, cá, mực, cua, ghẹ…) có thành phần hữu

cơ chủ yếu như protein, lipit… và thành phần vô cơ như canxi, kali, magie…

và nước

+ Nguyên liệu, bán thành phẩm và sản phẩm dễ ươn bị hỏng hơn các thực phẩm khác, nếu không bảo quản lạnh đúng cách thì cá sẽ nhanh hỏng, thịt cá trở nên nhão và rời rạc, các miếng thịt cá dễ bị nát, sản phẩm hỏng sẽ góp phần làm tăng lượng thải bỏ

+ Các vụn phế liệu thuỷ sản dễ bị phân huỷ bởi nhiều loại vi sinh vật làm phát sinh các khí độc hại như: Indol, Scatol, Mecaptan,…

+ Chất thải rắn thường bị cuốn trôi theo dòng nước thải Do đó làm tăng nồng độ và tải lượng các chất ô nhiễm trong nước

Ngoài phế liệu thuỷ sản, tại các cơ sở sản xuất còn có thể có các thành phần chất thải rắn khác như: Giấy bao gói, vỏ hộp cacton…từ đóng gói sản phẩm, tro xỉ than từ lò hơi cấp nhiệt, vỏ thùng, vỏ hộp, palet gỗ…từ vận chuyển nguyên, nhiên vật liệu, từ các công đoạn sản xuất và phụ trợ

Chất thải rắn sinh hoạt

Lượng rác thải sinh hoạt chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với lượng phế thải sản xuất và thường không vượt quá 10% tổng lượng rác thải của cơ sở chế

Trang 30

biến.Thành phần của chất thải sinh hoạt chủ yếu là rác thải văn phòng, rác thải nhà ăn, bao bì, túi nilon…với định mức phát sinh trung bình là 0,8kg/đầu người/ngày Lượng chất thải này không lớn, lại dễ quản lý, thu gom, và xử lý (hợp đồng thông qua công ty môi trường đô thị ) không có tác động đáng kể tới môi trường.

Tác động môi trường của chất thải rắn

CTR không được thu gom, thải vào kênh rạch, sông, hồ, ao gây ô nhiễm môi trường nước, làm tắc nghẽn đường nước lưu thông, giảm diện tích tiếp xúc của nước với không khí dẫn tới giảm DO trong nước Chất thải rắn hữu cơ phân hủy trong nước gây mùi hôi thối, gây phú dưỡng nguồn nước làm cho thủy sinh vật trong nguồn nước mặt bị suy thoái CTR phân huỷ và các chất ô nhiễm khác biến đổi màu của nước thành màu đen, có mùi khó chịu [13]

Chất thải rắn nói chung (sinh hoạt và công nghiệp) nếu lưu trữ và vận chuyển xử lý không đúng qui định chúng sẽ phân hủy hoặc không phân hủy làm gia tăng nồng độ các chất dinh dưỡng, tạo ra các hợp chất vô cơ, hữu cơ độc hại làm ô nhiễm nguồn nước, gây hại cho hệ vi sinh vật đất, các sinh vật thủy sinh trong nước hay tạo điều kiện cho vi khuẩn có hại, ruồi muỗi phát triển và là nguyên nhân gây các dịch bệnh gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người

Chất thải rắn của các cơ sở CBHS, do có hàm lượng dinh dưỡng cao nên đều có thể được thu gom tái sử dụng để chế biến các phụ phẩm khác như thức ăn gia súc, phân bón, chiết tách hoá chất…Cơ sở chế biến có thể thu gom bán lại cho các đơn vị, cá nhân khác hoặc đầu tư cho các dây chuyền chế biến phụ phẩm

- Vấn đề ô nhiễm nước thải

Nước thải là một trong những vấn đề môi trường lớn nhất trong công nghiệp CBHS bao gồm: Nước thải trong quá trình sản xuất, nước thải vệ sinh

Trang 31

nhà xưởng, nước thải sinh hoạt Trong đó cần đặc biệt quan tâm đến khối lượng và mức độ ô nhiễm nước thải trong quá trình sản xuất

Nước thải sinh hoạt

Gồm nước thải từ nhà vệ sinh công cộng, nước rửa tay công nhân, nhà

ăn v.v Nước thải này chứa hàm lượng các chất hữu cơ (lơ lửng và hoà tan), dầu mỡ, vi trùng Tỷ trọng chiếm từ 10 ÷ 15% tổng lượng nước thải của các

cơ sở Tuy nước thải sinh hoạt có mức độ ô nhiễm không cao nhưng cũng cần được xử lý để đạt tiêu chuẩn quy định trước khi xả vào nguồn tiếp nhận

Nước thải vệ sinh nhà xưởng

Đây là lượng nước thải sau khi sử dụng cho việc vệ sinh nhà xưởng, các trang thiết bị, dụng cụ chế biến, bảo quản, vệ sinh kho lạnh, thiết bị cấp đông… Thành phần của lượng nước thải này bên cạnh việc có chứa các chất hữu cơ giàu đạm, lipit… của nguyên liệu thuỷ sản còn chứa các thành phần của các hoá chất tẩy rửa, khử trùng đã được sử dụng trong quá trình vệ sinh Lượng nước thải này thực tế thường được thải cùng với nước thải sản xuất

Nước thải trong quá trình sản xuất

Loại nước thải này chiếm tỷ trọng lớn nhất và có mức độ ô nhiễm cao nhất trong các loại nước thải của cơ sở CBHS (80 – 90%) Nước thải sản xuất bao gồm:

+ Nước thải trong quá trình sản xuất: Rửa nguyên liệu, rửa bán thành phẩm… Nước thải này chứa máu, nhớt, thịt vụn, tạp chất có hàm lượng chất hữu cơ cao giàu đạm, lipit, nitơ, photpho, khoáng chất…

+ Nước thải từ khu vực rửa sàn tiếp nhận nguyên liệu, khu vực sản xuất

và vệ sinh công nghiệp như rửa dụng cụ, thiết bị sản xuất chứa nhiều chất hữu

cơ giàu đạm của nguyên liệu thuỷ sản và các hoá chất tẩy rửa được sử dụng

+ Nước làm mát thiết bị, tách khuôn… chứa dầu mỡ bôi trơn

Trang 32

Ngoài ra, nước thải sản xuất còn được pha Clorine (Canxi hypoclorat - Ca(OCl2)) để khử trùng và bảo quản sản phẩm.

Mức độ ô nhiễm nước thải phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Quy mô sản xuất, đối tượng sản phẩm, công nghệ sản xuất, các giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Lưu lượng nước thải

Lượng nước thải sản xuất trong chế biến thủy hải sản thường dao động mạnh, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đặc tính nguyên liệu, loại hình, trình

độ công nghệ chế biến… Lưu lượng dao động trung bình 30 – 70m3/tấn thành phẩm đối với các mặt hàng tôm và 30 – 50m3/tấn thành phẩm đối với mặc hàng cá và mực Phần lớn các cơ sở CBHS đông lạnh ở Việt Nam có quy mô sản xuất vừa và nhỏ với công suất chế biến thực tế 2 – 5 tấn thành phẩm/ngày với lượng nước thải sản xuất trung bình 100 – 400 m3/ngày So sánh với định mức trung bình trong CBHS của Mỹ, Canada, định mức nước sử dụng ở Việt Nam cao hơn trung bình 20 – 30% Ước tính tính tỷ lệ (%) đối với các công đoạn thải chính được thể hiện qua bảng 1.1

Bảng 1.1 Các dạng nước thải công nghiệp chế biến thủy hải sản [15]

2 Nước trong công đoạn xử lý nguyên liệu 35 – 45

3 Nước trong công đoạn vệ sinh thiết bị nhà

4 Nước kĩ thuật, làm mát thiết bị 1 – 5

(Nguồn: Báo cáo khảo sát thực nghiệm của viện khoa học môi trường 2009) Đặc trưng nước thải CBHS

Thành phần chủ yếu của nước thải CBHS là protein, chất béo trong đó chất béo là thành phần khó bị phân hủy bởi vi sinh vật Thành phần, tính chất nước thải công nghiệp CBHS thường thay đổi theo các mặt hàng của các cơ

Trang 33

sở chế biến cũng như theo mùa vụ, công nghệ chế biến… Nước thải CBHS còn chứa nhiều các thành phần hữu cơ tồn tại chủ yếu ở dạng keo, phân tán mịn, tạp chất lơ lửng tạo nên độ màu, độ đục cho dòng thải Do quá trình phân huỷ sinh học xảy ra nhanh nên nước thải thường có mùi khó chịu, độc hại với đặc trưng chủ yếu là những dạng sản phẩm phân huỷ trung gian của các hợp chất hữu cơ chứa N, S như: Trimetylamin, mercaptan, amoniac, sunfuahydro, urê… Thành phần không tan và dễ lắng chủ yếu là các mảnh vụn xương thịt, vây, vảy từ quá trình chế biến và ngoài ra còn có các tạp chất vô cơ như cát sạn,… Đối với những nhóm sản phẩm đông lạnh, sản phẩm ăn liền và đồ hộp, trong nước thải thường chứa các loại hoá chất khử trùng, chất tẩy rửa từ vệ sinh nhà xưởng, thiết bị… Ngoài ra còn có thể chứa một lượng nhỏ các loại hoá chất phụ gia thực phẩm thải ra từ các khâu xử lý nguyên liệu phối chế sản phẩm.

Tác động của nước thải chế biến thủy hải sản đến môi trường

Nước thải CBHS có hàm lượng các chất ô nhiễm cao nếu không được xử

lý sẽ gây ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm trong khu vực

Đối với nước ngầm tầng nông, nước thải chế biến thuỷ sản có thể thấm xuống đất và gây ô nhiễm nước ngầm Các nguồn nước ngầm nhiễm các chất hữu cơ và vi sinh vật gây bệnh rất khó xử lý thành nước sạch cung cấp cho sinh hoạt

Đối với các nguồn nước mặt, các chất ô nhiễm có trong nước thải chế biến thuỷ sản sẽ làm suy thoái chất lượng nước, tác động xấu đến môi trường

và thủy sinh vật, cụ thể như sau:

Các chất hữu cơ: Các chất hữu cơ chứa trong nước thải chế biến thuỷ

sản chủ yếu là dễ bị phân hủy Trong nước thải chứa các chất như cacbonhydrat, protein, chất béo… Khi xả vào nguồn nước sẽ làm suy giảm nồng độ oxy hòa tan trong nước do vi sinh vật sử dụng oxy hòa tan để phân hủy các chất hữu cơ Nồng độ oxy hòa tan dưới 50% bão hòa có khả năng gây ảnh hưởng tới sự phát triển của tôm, cá Oxy hòa tan giảm không chỉ gây suy thoái tài nguyên thủy sản mà còn làm giảm khả năng tự làm sạch của nguồn nước, dẫn đến giảm chất lượng nước cấp cho sinh hoạt và công nghiệp

Trang 34

Chất rắn lơ lửng: Các chất rắn lơ lửng làm cho nước đục hoặc có màu,

hạn chế độ sâu tầng nước được ánh sáng chiếu xuống, gây ảnh hưởng tới quá trình quang hợp của tảo, rong rêu… Chất rắn lơ lửng cũng là tác nhân gây ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên thủy sinh đồng thời gây tác hại về mặt cảm quan (tăng độ đục nguồn nước) và gây bồi lắng lòng sông, cản trở sự lưu thông nước và tàu bè…

Chất dinh dưỡng (N, P): Nồng độ các chất N, P cao gây ra hiện tượng

phát triển bùng nổ các loài tảo, đến mức độ giới hạn tảo sẽ bị chết và phân hủy gây nên thiếu hụt oxy Ngoài ra, các loài tảo nổi trên mặt nước tạo thành lớp màng khiến ánh sáng không tới được các lớp nước bên dưới, do vậy quá trình quang hợp của các thực vật tầng dưới bị ngưng trệ Tất cả các hiện tượng trên gây tác động xấu tới chất lượng nước, ảnh hưởng tới hệ thuỷ sinh, nghề nuôi trồng thuỷ sản, du lịch và cấp nước

Vi sinh vật: Các vi sinh vật gây bệnh và trứng giun sán trong nguồn

nước bị ô nhiễm bởi nước thải là yếu tố có thể truyền dẫn các bệnh dịch cho người như bệnh lỵ, thương hàn, bại liệt, nhiễm khuẩn đường tiết niệu, tiêu chảy cấp tính

Bảng 1.2 Kết quả nghiên cứu nước thải ngành chế biến thủy hải sản [77]

- pH thường nằm trong khoảng giới hạn từ 6,5 – 7

Trang 35

- Có hàm lượng các chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học cao.

- Giá trị BOD và COD dao động lớn và tương đối khá cao chứng tỏ mức độ ô nhiễm của nước thải thủy hải sản cũng rất nghiêm trọng

- Hàm lượng lơ lửng cao cho thấy quy trình chế biến và công tác thu gom chưa tốt

- Chứa hàm lượng lớn các protit và chất dinh dưỡng thể hiện qua hai thông số nitơ tổng và photpho tổng

- Thường có mùi hôi vì có sự phân hủy của các axit amin

Như vậy có thể thấy nước thải chế biến thủy hải sản chứa hàm lượng chất hữu cơ khá cao, nếu không được xử lý thì hàm lượng BOD có thể vượt TCVN đến 20 – 40 lần, COD vượt 20 lần, SS vượt 15 – 20 lần… Nước thải này nếu không xử lý sẽ đe dọa nghiêm trọng đến môi trường của nguồn tiếp nhận

- Tiếng ồn và độ rung

Các tác nhân này có thể chấp nhận được vì hầu hết các thiết bị máy móc đều được thiết kế tính toán theo những chuẩn mực quốc tế

1.1.2.3 Đặc điểm lao động sản xuất kinh doanh ngành CBHS

Nghề chế biến thuỷ sản, đặc biệt chế biến thuỷ sản đông lạnh sau 10 năm đổi mới đã trở thành ngành công nghiệp đạt trình độ khu vực về công nghệ chế biến, đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm Người lao động trực tiếp được trang bị các phương tiện bảo hộ lao động khá đầy đủ, điều kiện vệ sinh lao động, vệ sinh cá nhân đã được chú ý cải thiện đạt mức tương đương với các tiêu chuẩn quốc tế

Công nhân lao động trong khâu chế biến đông lạnh thuỷ sản chiếm tới 83% là lao động nữ, chủ yếu là lao động thủ công, đòi hỏi sự kiên trì, chịu khó Hàng năm có tới 6 tháng mùa nguyên liệu dồn dập, công nhân phải làm việc liên tục 12 – 16h/ngày trong tư thế đứng, thao tác lao động lặp đi lặp lại

Trang 36

nhàm chán, môi trường lao động ẩm ướt (độ ẩm không khí > 95%) không khí

bị tù đọng thông gió kém, hai bàn tay luôn tiếp xúc với nước lạnh, nước đá và suốt ngày lao động phải ngửi mùi tanh hôi của nguyên liệu thuỷ sản, mùi hoá chất nước tẩy rửa Điều kiện làm việc, môi trường lao động không đảm bảo kéo dài làm cho người lao động mệt mỏi, sức khoẻ giảm sút nhanh chóng.Đặc điểm lao động trong ngành thuỷ sản là lao động thủ công, nặng nhọc chiếm gần 70%, điều kiện sản xuất còn gặp nhiều khó khăn ở cả 4 khâu: Nuôi trồng, khai thác, chế biến và dịch vụ hậu cần Người lao động phải tiếp xúc với nhiều yếu

tố độc hại dễ gây nên rủi ro, ảnh hưởng tới sức khoẻ và tính mạng

Mức độ tiếp xúc với các yếu tố có hại và nguy hiểm của công nhân ngành chế biến thuỷ sản đông lạnh cũng cao Các yếu tố có hại đặc trưng tại nơi làm việc của nghề chế biến thuỷ sản là 88,2%, lạnh 8%, mùi hôi là 69,2% Ngoài ra các loại chất độc thoát ra từ dung dịch sát trùng (Cl2), rò rỉ từ hệ thống lạnh (NH3), do phân huỷ các thành phần hữu cơ của sản phẩm thuỷ sản (H2S) cũng là yếu tố nguy hiểm đối với công nhân lao động

Qua hồ sơ y tế và các ý kiến phản ánh của công đoàn, của người lao động và người sử dụng lao động, cũng như kết quả dự án “Hỗ trợ việc xây dựng, thực hiện các chính sách và biện pháp Quốc gia nhằm đẩy mạnh công tác

an toàn – vệ sinh lao động trong ngành Thuỷ sản và ngành Xây dựng ở Việt Nam” (INT/95/NM10/DAN ), do Viện Nghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động – Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phối hợp với Bộ Thuỷ sản và

Bộ Xây dựng năm (1997 – 2000) [79] thực hiện cho thấy: Việc khảo sát đo đạc tại trên 90% vị trí đo đạc điều kiện lao động không thuận lợi có độ ẩm cao, 92% các điểm đi lại dễ trơn trượt, trên 60% vị trí làm việc là môi trường

có hoá chất ăn mòn, trên 1/3 nơi làm việc công nhân phải tiếp xúc với môi trường có tác nhân sinh học dễ gây tác hại đối với da và niêm mạc như dị ứng,

lở loét nấm ngứa, viêm quanh móng Điều đó cho thấy người lao động phải

Trang 37

làm việc trong môi trường rất không thuận lợi Trong số các công nhân chế biến thuỷ sản, đặc biệt chế biến thuỷ sản đông lạnh đã xuất hiện một số công nhân mắc các triệu chứng của những bệnh tật có liên quan đến nghề nghiệp Ở tuổi 40 – 45 hiếm thấy công nhân chế biến thuỷ sản đông lạnh còn trực tiếp làm việc ở phân xưởng sản xuất, đặc biệt là lao động nữ Họ sớm bị mất khả năng lao động dẫn đến nguy cơ mất việc làm, do trình độ văn hoá thấp nên họ không có

cơ hội được đào tạo chuyên môn khác để chuyển vị trí lao động

1.1.3 Khái quát về làng nghề chế biến hải sản Nghi Hải

Là phường nằm trong vùng trọng điểm CBHS của Nghệ An, Nghi Hải

đã được công nhận là làng nghề từ năm 2011 Thực tế, từ những năm 1960 của thế kỷ XX ở đây đã phát triển và có truyền thống nghề CBHS, tuy nhiên chỉ diễn

ra ở quy mô nhỏ lẻ Sản phẩm làm ra chủ yếu cung cấp cho nhu cầu trong phường, và vùng lân cận Từ khi thành lập thị xã đến nay kinh tế du lịch phát triển, du khách về nghỉ tại thị xã ngày càng đông, bên cạnh đó kỹ thuật sản xuất từng bước được cải tiến, chất lượng sản phẩm ngày càng tăng vì thế sản phẩm tiêu thụ ngày càng nhiều, được du khách trong cả nước ưa chuộng Đến nay ở Nghi Hải đã có hơn 40% số hộ chuyên nghề CBHS, phân bố trên khắp 10 khối toàn phường Sản phẩm của làng nghề ngày một đa dạng, phong phú: Chế biến nước mắm, tôm nõn phơi khô hấp sấy, các mặt hàng hải sản khô, mắm tôm, ruốc, kho cấp đông, cá nướng… cung cấp cho các công ty, các nhà hàng nội tỉnh, vùng lân cận, khách du lịch

Phường Nghi Hải nằm ở phía Đông Bắc của thị xã Cửa lò, Nghệ An,

cách thành phố Vinh khoảng 10 Km về phía Tây Nam Phía Bắc giáp với cảng

Cửa Lò (Lạch Lò), huyện Nghi Lộc Phía Nam giáp với phường Thu Thủy và

xã Nghi Thủy Phía Đông giáp với biển Đông Phía Tây và Tây Bắc giáp với phường Nghi Xuân

Trang 38

Giao thông ở đây chủ yếu là cảng biển Cửa Lò, đường Bình Minh, và đường quốc lộ Vinh-Cửa Hội Phường có vị trí địa lý thuận lợi, là nơi tập trung cầu cảng, đầu mối của nhiều tuyến giao thông huyết mạch Cảng Cửa Lò – đầu mối giao thông vận tải của khu vực các tỉnh Bắc Trung Bộ, trung chuyển hàng hóa sang Lào và bắc Thái Lan Có chợ Hôm – là điểm tập trung nguồn hải sản dồi dào, cùng với thế mạnh về du lịch làng nghề chế biến hải sản Nghi Hải có rất nhiều lợi thế về thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng như thu hút những chính sách đầu tư của Nhà nước về vốn, công nghệ trong thời gian tới.

Môi trường hoạt động sản xuất của làng nghề phù hợp với tình hình đặc điểm, vị trí địa lý của địa phương Với nguyên liệu sẵn có, việc tìm kiếm thu mua nguyên liệu phục vụ sản xuất thuận lợi, lao động tại chỗ dồi dào (Nguồn: UBND phường Nghi Hải)

1.2 Tình hình nghiên cứu

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Từ những năm đầu của thập niên 50, trên thế giới đã bắt đầu nghiên cứu

về những ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đến sức khỏe con người Các nhà nghiên cứu đã cho thấy hàng năm ô nhiễm môi trường đe dọa sức khỏe và tính mạng của hàng chục triệu người, trong đó có hàng triệu tử vong Các nhà y học thế giới cho rằng 80% các loại bệnh tật đều liên quan tới ô nhiễm môi trường Trong vòng 30 năm qua, có khoảng 40 bệnh mới đã phát sinh và đều có nguồn gốc từ ô nhiễm môi trường [11]

Helsing K.J, Billing S.C.E, Conde J (1987) đã nghiên cứu 3 trường ở Mỹ

có mức độ ô nhiễm không khí SO2, CO2, bụi, các vi sinh vật phát tán trong không khí Các tác giả thấy mối liên quan rõ rệt giữa các triệu chứng của hội chứng SBS và mức độ ô nhiễm không khí Đau họng 4,5%, (P<0,05) so với nhóm chứng (P<0,05), đau đầu 13,2 – 25,0% (P<0,05) [86]

Trang 39

Leitmann J (1994) thấy khi phát triển công nghiệp tại các đô thị, ở hầu hết các nước, đều gây ô nhiễm không khí khu vực và đều tác động rõ rệt lên sức khỏe Ở Jakarta ô nhiễm không khí làm tăng bệnh ung thư, tim mạch, đau yếu toàn thân Trong khi đó, ở Sao Paulo ô nhiễm không khí làm tăng các bệnh cấp và mạn tính đường hô hấp, làm tăng tỷ lệ chết của những bệnh này và thấy mối liên hệ rất rõ ràng giữa mức độ ô nhiễm không khí và tổn thương đường hô hấp ở trẻ em Ở Tunizi tỷ lệ tử vong do các bệnh về tổn thương hô hấp và tim mạch là cao nhất và thấy có liên quan rõ rệt với ô nhiễm không khí [93].

Gần đây nhiều công trình nghiên cứu của các tổ chức quốc tế đã đưa ra những cảnh báo về các thảm họa môi trường ở thế kỷ 21 nếu loài người không

có những biện pháp để bảo vệ môi trường Các nhà khoa học đã bắt tay vào nghiên cứu môi trường để đưa ra những dự báo và tìm biện pháp bảo vệ

Tại Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển năm 1992 ở Rio

De Raneiro (Braxin), 178 nước đã thông qua các nguyên tắc Rio Nguyên tắc Rio 16 chỉ rõ: “Các Chính phủ cần đẩy mạnh áp dụng các chính sách nhằm nội hóa các yếu tố ngoại ứng môi trường và thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải chi trả” Nguyên tắc này nhằm giải quyết một trong những nguyên nhân sâu xa của ô nhiễm môi trường là các yếu tố ngoại ứng môi trường (Externalities) Ngoại ứng xuất hiện khi một quyết định sản xuất hoặc tiêu dùng của một cá nhân hay một tổ chức làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc sản xuất hay tiêu dùng của những người khác mà không thông qua giá cả thị trường Vì có ngoại ứng nên tổng chi phí của việc sản xuất một sản phẩm cần bao gồm 2 chi phí: Chi phí sản xuất trực tiếp ra sản phẩm và chi phí thiệt hại môi trường do ô nhiễm gây ra Do vậy, để điều chỉnh hành vi gây ô nhiễm, cần có công cụ thuế và phí để hạn chế các yếu tố ngoại ứng này Nhà kinh tế học người Anh Pigou (1877 – 1959) là người đề xuất loại thuế/phí này và vì vậy các loại thuế/phí môi trường còn được gọi là thuế/phí Pigou [99]

Trang 40

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Theo PGS TS Đặng Kim Chi, chủ nhiệm đề tài KC 08 – 09: “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng các chính sách và biện pháp giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường ở các làng nghề Việt Nam” thì 100% mẫu nước thải ở các làng nghề được khảo sát có thông số vượt tiêu chuẩn cho phép; nước mặt, nước ngầm đều có dấu hiệu bị ô nhiễm Môi trường khí bị ô nhiễm có tính cục bộ tại nơi trực tiếp sản xuất, đặc biệt là ô nhiễm bụi vượt tiêu chuẩn cho phép và ô nhiễm do sử dụng nhiên liệu là than củi Vì vậy, ô nhiễm môi trường ở các làng nghề ảnh hưởng rõ rệt đến sức khoẻ của người lao động, dân cư làng nghề và một số khu vực xung quanh Các bệnh của người dân ở các làng nghề cao hơn các làng nghề thuần nông, thường gặp là các bệnh về đường hô hấp, đau mắt, bệnh đường ruột, bệnh ngoài da Tại một số làng nghề

có đặc thù, xuất hiện các bệnh nguy hiểm như ung thư, quái thai, nhiễm khí độc

và kim loại nặng Nhiều dòng sông chảy qua các làng nghề hiện đang bị ô nhiễm nặng (sông Nhuệ, sông Vân Tràng), ở nhiều ruộng lúa cây trồng bị giảm năng suất do ô nhiễm không khí từ các làng nghề [20], [21]

Theo kết quả nghiên cứu về nguy cơ sức khỏe ở các làng nghề tại một số tỉnh phía Bắc của Nguyễn Thị Liên Hương (2006) [34] thuộc viện

Vệ sinh dịch tễ Trung ương thì môi trường lao động đang bị ô nhiễm, 25% mẫu đo các yếu

tố nguy cơ trong môi trường lao động không đảm bảo TCVSLĐ Đặc biệt, môi trường cộng đồng cũng

bị ô nhiễm trầm trọng Ô nhiễm nước thải là đặc trưng của làng nghề chế biến thực phẩm 100% mẫu đo các chỉ tiêu hữu cơ, NH4 và coliform đều vượt QCVN, tác động tiêu cực đến chất lượng nước mặt và nước ngầm, nguy cơ gây các bệnh đường ruột, bệnh mắt.

Tại Hội nghị Khoa học toàn quốc về Y học lao động, Sức khỏe môi trường

và Sức khỏe trường học lần thứ VII (10/2008) Một loạt nghiên cứu về bệnh nghề nghiệp ở nhiều ngành nghề khác nhau đã được công bố, trong đó điển hình là các nghiên cứu:

Ngày đăng: 27/10/2015, 20:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê Huy Bá (2008), Độc học môi trường cơ bản, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độc học môi trường cơ bản
Tác giả: Lê Huy Bá
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
3. Ban quản lý chương trình hỗ trợ ngành thủy sản giai đoạn II (2011), Báo cáo tổng hợp đánh giá nguy cơ tổn thương, xây dựng kế hoạch hành động thích ứng và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu tới phát triển ngành thủy sản tỉnh Nghệ An, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp đánh giá nguy cơ tổn thương, xây dựng kế hoạch hành động thích ứng và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu tới phát triển ngành thủy sản tỉnh Nghệ An
Tác giả: Ban quản lý chương trình hỗ trợ ngành thủy sản giai đoạn II
Năm: 2011
4. Ban quản lý chương trình hỗ trợ ngành thủy sản giai đoạn II (2011), Báo cáo đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường tại các cảng Lạch Vạn, Lạch Quèn và đề xuất các giải pháp xử lý, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường tại các cảng Lạch Vạn, Lạch Quèn và đề xuất các giải pháp xử lý
Tác giả: Ban quản lý chương trình hỗ trợ ngành thủy sản giai đoạn II
Năm: 2011
5. Trần Văn Bé (1999), Lâm sàng huyết học, NXB Y học, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm sàng huyết học
Tác giả: Trần Văn Bé
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 1999
6. Bộ môn Sinh lý học Học viện Quân Y (2002), Sinh lý học, NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học
Tác giả: Bộ môn Sinh lý học Học viện Quân Y
Nhà XB: NXB Quân đội Nhân dân
Năm: 2002
7. Bộ môn Sinh lí học ®ại học Y khoa Hà Nội (1998), Bài giảng sinh lí học, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng sinh lí học
Tác giả: Bộ môn Sinh lí học ®ại học Y khoa Hà Nội
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 1998
8. Bộ Tài nguyên Môi trường (2005), Hiện trạng môi trường quốc gia – phần tổng quan, Bộ Tài nguyờn Mụi trường. NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng môi trường quốc gia – phần tổng quan
Tác giả: Bộ Tài nguyên Môi trường
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2005
9. Bộ Tài nguyên Môi trường (2008), Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2008, Môi trường làng nghề Việt Nam, Bộ Tài nguyên Môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2008, Môi trường làng nghề Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài nguyên Môi trường
Năm: 2008
10. Bộ Tài nguyên Môi trường (2009), Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2009, Môi trường khu công nghiệp Việt Nam, Bộ Tài nguyên Môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2009, Môi trường khu công nghiệp Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài nguyên Môi trường
Năm: 2009
11. Bộ Tài nguyên Môi trường (2010), Môi trường Việt Nam 2006 - 2010, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường Việt Nam 2006 - 2010
Tác giả: Bộ Tài nguyên Môi trường
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
12. Bộ Tài nguyên môi trường (2010), Báo cáo môi trường quốc gia 2010, Môi trường khu công nghiệp Việt Nam, Bộ Tài nguyên Môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo môi trường quốc gia 2010, Môi trường khu công nghiệp Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài nguyên môi trường
Năm: 2010
13. Bộ Tài nguyên Môi trường (2011), Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2011 - Chất thải rắn, Bộ Tài nguyên Môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2011 - Chất thải rắn
Tác giả: Bộ Tài nguyên Môi trường
Năm: 2011
14. Bộ Thủy sản (2000), Báo cáo cơ sở khoa học của Viện xây dựng quy chế bảo vệ môi trường trong công nghiệp chế biến thủy sản, Bộ Thủy sản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo cơ sở khoa học của Viện xây dựng quy chế bảo vệ môi trường trong công nghiệp chế biến thủy sản
Tác giả: Bộ Thủy sản
Năm: 2000
15. Bộ Thủy sản (2007), Báo cáo hiện trạng Môi trường, Bộ Thủy sản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hiện trạng Môi trường
Tác giả: Bộ Thủy sản
Năm: 2007
16. Bộ y tế (2000), Chiến lược bảo vệ sức khoẻ nhân dân 1990-2000, Bộ Y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ y tế (2000)," Chiến lược bảo vệ sức khoẻ nhân dân 1990-2000
Tác giả: Bộ y tế
Năm: 2000
17. Bộ y tế (2002), 21 Tiêu chuẩn vệ sinh lao động, 05 nguyên tắc và 7 thông số vệ sinh lao động, Bộ Y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 21 Tiêu chuẩn vệ sinh lao động, 05 nguyên tắc và 7 thông số vệ sinh lao động
Tác giả: Bộ y tế
Năm: 2002
18. Bộ Y tế (2003), Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 thế kỷ XX, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 thế kỷ XX
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2003
19. Trương Thanh Cảnh (2009), Không khí và ô nhiễm không khí, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không khí và ô nhiễm không khí
Tác giả: Trương Thanh Cảnh
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2009
20. Đặng Kim chi, Huỳnh Trung Hải, Vũ Văn Mạnh và cs (2000), Hiện trạng và giải pháp cải thiện ô nhiễm môi trường tại một số làng nghề Bắc Bộ , Tạp chí xây dựng, số 3/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng và giải pháp cải thiện ô nhiễm môi trường tại một số làng nghề Bắc Bộ
Tác giả: Đặng Kim chi, Huỳnh Trung Hải, Vũ Văn Mạnh và cs
Năm: 2000
21. Đặng Kim Chi, 2005, Làng nghề Việt Nam và môi trường, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng nghề Việt Nam và môi trường
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2. So sánh nồng độ khí H2S và NH3 tại khu vực nghiên cứu với các kết - Ảnh hưởng của môi trường lên các chỉ tiêu sinh lý và sức khỏe của dân cư làng nghề chế biến hải sản phường Nghi Hải, Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An
Bảng 3.2. So sánh nồng độ khí H2S và NH3 tại khu vực nghiên cứu với các kết (Trang 59)
Bảng 3.3. Nhận xét của người dân về mức độ mùi do việc CBHS phát ra - Ảnh hưởng của môi trường lên các chỉ tiêu sinh lý và sức khỏe của dân cư làng nghề chế biến hải sản phường Nghi Hải, Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An
Bảng 3.3. Nhận xét của người dân về mức độ mùi do việc CBHS phát ra (Trang 60)
Bảng 3.4. Kết quả phân tích mẫu nước mặt lạch Lò - Ảnh hưởng của môi trường lên các chỉ tiêu sinh lý và sức khỏe của dân cư làng nghề chế biến hải sản phường Nghi Hải, Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An
Bảng 3.4. Kết quả phân tích mẫu nước mặt lạch Lò (Trang 63)
Bảng 3.5. Kết quả phân tích mẫu nước thải các hộ gia đình làng nghề - Ảnh hưởng của môi trường lên các chỉ tiêu sinh lý và sức khỏe của dân cư làng nghề chế biến hải sản phường Nghi Hải, Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An
Bảng 3.5. Kết quả phân tích mẫu nước thải các hộ gia đình làng nghề (Trang 69)
Bảng 3.7. Kết quả phân tích mẫu nước ngầm tại các hộ gia đình tại làng nghề - Ảnh hưởng của môi trường lên các chỉ tiêu sinh lý và sức khỏe của dân cư làng nghề chế biến hải sản phường Nghi Hải, Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An
Bảng 3.7. Kết quả phân tích mẫu nước ngầm tại các hộ gia đình tại làng nghề (Trang 79)
Bảng 3.9. Một số chỉ tiêu tim mạch đối tượng nghiên cứu phường Nghi Hải - Ảnh hưởng của môi trường lên các chỉ tiêu sinh lý và sức khỏe của dân cư làng nghề chế biến hải sản phường Nghi Hải, Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An
Bảng 3.9. Một số chỉ tiêu tim mạch đối tượng nghiên cứu phường Nghi Hải (Trang 83)
Bảng 3.10. Các chỉ số sinh lý của đối tượng nghiên cứu theo độ tuổi - Ảnh hưởng của môi trường lên các chỉ tiêu sinh lý và sức khỏe của dân cư làng nghề chế biến hải sản phường Nghi Hải, Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An
Bảng 3.10. Các chỉ số sinh lý của đối tượng nghiên cứu theo độ tuổi (Trang 84)
Bảng 3.13. Một số chỉ tiêu hồng cầu và bạch cầu của đối tượng nghiên cứu - Ảnh hưởng của môi trường lên các chỉ tiêu sinh lý và sức khỏe của dân cư làng nghề chế biến hải sản phường Nghi Hải, Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An
Bảng 3.13. Một số chỉ tiêu hồng cầu và bạch cầu của đối tượng nghiên cứu (Trang 87)
Bảng 3.14. Một số chỉ tiêu hồng cầu và bạch cầu của đối tượng nghiên cứu - Ảnh hưởng của môi trường lên các chỉ tiêu sinh lý và sức khỏe của dân cư làng nghề chế biến hải sản phường Nghi Hải, Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An
Bảng 3.14. Một số chỉ tiêu hồng cầu và bạch cầu của đối tượng nghiên cứu (Trang 88)
Bảng 3.15. Phân bố theo nhóm tuổi, giới của đối tượng nghiên cứu phường - Ảnh hưởng của môi trường lên các chỉ tiêu sinh lý và sức khỏe của dân cư làng nghề chế biến hải sản phường Nghi Hải, Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An
Bảng 3.15. Phân bố theo nhóm tuổi, giới của đối tượng nghiên cứu phường (Trang 93)
Bảng 3.16. Phân bố theo thâm niên làm việc của đối tượng nghiên cứu tham - Ảnh hưởng của môi trường lên các chỉ tiêu sinh lý và sức khỏe của dân cư làng nghề chế biến hải sản phường Nghi Hải, Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An
Bảng 3.16. Phân bố theo thâm niên làm việc của đối tượng nghiên cứu tham (Trang 94)
Bảng 3.18. Tỷ lệ bệnh tật của đối tượng nghiên cứu ở hai phường - Ảnh hưởng của môi trường lên các chỉ tiêu sinh lý và sức khỏe của dân cư làng nghề chế biến hải sản phường Nghi Hải, Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An
Bảng 3.18. Tỷ lệ bệnh tật của đối tượng nghiên cứu ở hai phường (Trang 95)
Bảng 3.19. Tỷ lệ bệnh tật của đối tượng nghiên cứu trực tiếp làm nghề và - Ảnh hưởng của môi trường lên các chỉ tiêu sinh lý và sức khỏe của dân cư làng nghề chế biến hải sản phường Nghi Hải, Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An
Bảng 3.19. Tỷ lệ bệnh tật của đối tượng nghiên cứu trực tiếp làm nghề và (Trang 97)
Bảng 3.20. Tỷ lệ bệnh tật của dân cư phường Nghi Hải theo lứa tuổi - Ảnh hưởng của môi trường lên các chỉ tiêu sinh lý và sức khỏe của dân cư làng nghề chế biến hải sản phường Nghi Hải, Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An
Bảng 3.20. Tỷ lệ bệnh tật của dân cư phường Nghi Hải theo lứa tuổi (Trang 101)
Bảng 3.21. Tỷ lệ bệnh tật của đối tượng nghiên cứu theo thâm niên làm nghề - Ảnh hưởng của môi trường lên các chỉ tiêu sinh lý và sức khỏe của dân cư làng nghề chế biến hải sản phường Nghi Hải, Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An
Bảng 3.21. Tỷ lệ bệnh tật của đối tượng nghiên cứu theo thâm niên làm nghề (Trang 103)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w