Đã từ lâu, hai bài thơ Thăm lúa Trần Hữu Thung, Đêm nay Bác không ngủ Minh Huệ đã được chọn học trong nhà trường phổ thông và được xem là hai trong số những bài thơ thành công nhất của t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ QUỲNH NGA
ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA XỨ NGHỆ
TRONG THƠ MINH HUỆ VÀ THƠ TRẦN HỮU THUNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN, 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ QUỲNH NGA
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA XỨ NGHỆ
TRONG THƠ MINH HUỆ VÀ THƠ TRẦN HỮU THUNG
CHUYÊN NGÀNH: LÍ LUẬN VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học PGS.TS NGUYỄN VĂN HẠNH
NGHỆ AN, 2013
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4MỞ ĐẦU Tran
g
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ CHO NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA XỨ
NGHỆ TRONG THƠ MINH HUỆ VÀ THƠ TRẦN HỮU THUNG
9
1.2 Vài nét về cuộc đời Minh Huệ và Trần Hữu Thung 201.3 Quan điểm nghệ thuật và quá trình sáng tạo 26CHƯƠNG 2 DẤU ẤN VĂN HÓA XỨ NGHỆ-ĐIỂM GẶP GỠ, TƯƠNG
ĐỒNG GIỮA THƠ MINH HUỆ VÀ THƠ TRẦN HỮU THUNG
2.3 Ảnh hưởng phương thức trữ tình của thơ ca dân gian xứ Nghệ 76
CHƯƠNG 3 DẤU ẤN SÁNG TẠO CỦA MINH HUỆ VÀ TRẦN HỮU THUNG
TRONG VIỆC TIẾP THU DI SẢN VĂN HÓA TINH THẦN XỨ NGHỆ
98
3.1 Tình cảm làng quê - tiếng nói trữ tình nổi bật
trong thơ Trần Hữu Thung
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1.Trần Hữu Thung (1923 – 1999) và Minh Huệ (1927 – 2003) là haigương mặt nổi bật của thơ ca xứ Nghệ thế kỷ XX Tên tuổi và sự nghiệp sángtác của họ đã đồng hành với lịch sử thơ ca hiện đại Việt Nam và được biếtđến ở nhiều nước trên thế giới
1.2 Một trong những nét nổi bật trong phong cách thơ Trần Hữu Thung
và thơ Minh Huệ là mang đậm dấu ấn văn hóa xứ Nghệ Nói cách khác, họ đã
đi vào thơ ca dân tộc từ bản sắc văn hóa của quê hương
1.3 Đã từ lâu, hai bài thơ Thăm lúa (Trần Hữu Thung), Đêm nay Bác không ngủ (Minh Huệ) đã được chọn học trong nhà trường phổ thông và được
xem là hai trong số những bài thơ thành công nhất của thơ ca kháng chiếnchống Pháp, mang đậm đà bản sắc văn hóa xứ Nghệ
Vì những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài Ảnh hưởng của văn hóa
xứ Nghệ trong thơ Trần Hữu Thung và thơ Minh Huệ làm đề tài luận văn
Thạc sĩ Ý nghĩa của đề tài không chỉ để khám phá những đặc sắc trong thếgiới nghệ thuật thơ Minh Huệ và thơ Trần Hữu Thung mà còn gợi mở nhiềuvấn đề lý luận về mối quan hệ giữa văn hóa vùng miền và con đường hìnhthành một phong cách thơ
Trang 6ở những bài báo nhỏ, lẻ đăng trên các báo, tạp chí bàn về một phương diệntrong tư tưởng và sáng tác của hai ông.
Trong nguồn tư liệu chúng tôi bao quát được và trong phạm vi quantâm của đề tài, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào khảo sát mộtcách toàn diện, hệ thống những ảnh hưởng của văn hóa xứ Nghệ trong thơTrần Hữu Thung và thơ Minh Huệ
Bài thơ Đêm nay Bác không ngủ của Minh Huệ ra đời năm 1951 đã để
lại một ấn tượng mạnh mẽ trong lòng độc giả, thu hút sự chú ý của giới phêbình văn học một thời Từ đó, xuất hiện nhiều bài viết về cuộc đời và sáng tácMinh Huệ trên báo, tạp chí của tỉnh nhà và của Trung ương Báo Nhân dân
cuối tuần (13/04/2003) Nguyễn Sĩ Đại có bài viết Minh Huệ - Một giá trị riêng trong văn học Ở bài viết này, Nguyễn Sĩ Đại đưa đến một cái nhìn khái
quát về những đóng góp của Minh Huệ cho nền văn học cách mạng Ông viết:
Có lẽ không cần bất cứ đánh giá nào về nhà thơ Minh Huệ Cả cuộc đời ông sống và viết chỉ vì cách mạng Tấm huy hiệu 50 tuổi Đảng lấp lánh bên những giải thưởng văn học Nhưng giải thưởng lớn nhất, sự sống lâu bền và đẹp đẽ nhất của ông là sự sống của thơ ông trong lòng bạn đọc Có những lối
đi riêng nhập lại thành con đường chung với mọi người; Có con đường đi với mọi người, với cách mạng để có được lối đi riêng, giá trị riêng Minh Huệ có một giá trị riêng trong văn học Trong bài Minh Huệ - nhà thơ Xứ Nghệ đăng
trên báo Văn nghệ (số 7, ngày 15/2/2002), Nguyễn Quốc Anh đã viết về
những thành công bước đầu trong lĩnh vực thơ ca của Minh Huệ với bài Đêm nay Bác không ngủ, đồng thời tác giả ghi lại những cảm xúc sâu sắc về cuộc
đời thăng trầm của Minh Huệ và về những kỉ niệm riêng tư đầy ân nghĩa của
họ Viết về Bác từ cái nhìn văn hóa đó là bài phỏng vấn của Nguyễn Văn Hùng trên tạp chí Văn hóa Nghệ An (số 11, ngày 3/4/1998) Trong bài báo
này, tác giả đã xoay quanh đề tài viết về Bác Hồ của nhà thơ Minh Huệ Khi
Trang 7được hỏi: "Những năm gần đây, thơ viết về Bác thưa dần, bài hay càng hiếm Ông nghĩ thế nào?" Minh Huệ trả lời: "(…) Tôi khai thác đề tài Bác Hồ chủ yếu ở khía cạnh văn hóa Anh biết đấy Bác của chúng ta không chỉ là nhà cách mạng vĩ đại mà còn là một nhà văn hóa lớn, một Danh nhân văn hóa tầm cỡ thế giới Nhà văn hóa Hồ Chí Minh lại rất đời thường, Bác lớn lao ở ngay cái giản dị đời thường này" Nhà báo Như Bình viết bài Nhà thơ Minh Huệ: Tôi không muốn người đàn bà thứ hai nào ngoài vợ cũng đã đề cập đến giá trị bài thơ Đêm nay Bác không ngủ và về tình cảm thủy chung son sắt của
Minh Huệ dành cho người vợ dấu yêu Theo Phạm Tường Vân, Minh Huệ là
người trọn đời viết về Bác, ông từng khẳng định: Tôi sẽ tiếp tục viết về Bác cho đến khi nhắm mắt xuôi tay Đáng chú ý, trong bài viết của mình, tác gải
đã dẫn lời của Minh Huệ khi thừa nhận sự ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa xứ
Nghệ trong sáng tác của ông Minh Huệ bộc bạch: Từ ngày bé tôi đã thích nghe hát ví dặm Nghệ Tĩnh Chính vì thế mà nhịp vè 5 chữ ăn sâu vào tôi Bài thơ Đêm nay Bác không ngủ và nhiều bài thơ thành công khác của ông đã
chứng minh cho điều đó Với ông, viết về Bác là cả một hành trình không biết
mệt mỏi: Bây giờ và mãi mãi sau này tôi vẫn tiếp tục viết về Bác, cho tới khi nhắm mắt xuôi tay, vì trong tôi, viết về Bác, bao nhiêu đều không đủ Trong bài Vĩnh biệt nhà thơ Minh Huệ, Nguyễn Quốc Anh, đã ghi lại những kỉ niệm
sâu sắc giữa gia đình ông và gia đình Minh Huệ Ông cảm kích con người
sống rất tình cảm này Ông viết: Nguyên tắc sống của vị nhà thơ xứ Nghệ là không lợi dụng ai cả Mọi kỉ niệm là quý hơn vàng Coi trọng nghĩa tình, phải
chăng cũng là một đặc điểm trong trong ứng xử văn hóa của con người xứNghê, đã thấm một cách tự nhiên vào tình cảm, nghĩ suy, lối ứng xử đờithường của Minh Huệ
Sinh thời, Minh Huệ cũng đã từng suy ngẫm về thơ của mình qua một
số bài báo Trên tờ Hạ Long – Hội văn nghệ Quảng Ninh (5/1994) ông tâm
Trang 8sự Đôi điều về bài Đêm nay Bác không ngủ; bài Trong sức sống Nhân dân (tạp chí Xuất bản - 12/1996) Những bài viết ấy thể hiện tâm huyết của một
nhà thơ đối với cách mạng, với dân, với nước và vị lãnh tụ vĩ đại Hồ ChíMinh
Trần Hữu Thung cũng đã thu hút sự chú ý của đông đảo bạn đọc và
giới nghiên cứu, phê bình văn học khi bài thơ Thăm lúa ra đời Sau này có
hàng loạt bài bình luận nối tiếp Bài viết của Ninh Viết Giao đã đề cập đếncon người, sự nghiệp sáng tác và mảng sưu tầm nghiên cứu văn học, văn hóa
dân gian Trần Hữu Thung Đức Ban viết bài Văn hóa làng qua kí ức đồng chiêm Cao Thế Lữ với Mấy mẩu chuyện về nhà thơ Trần Hữu Thung, nhạc sĩ Ánh Dương đến với Trần Hữu Thung ở khía cạnh âm nhạc qua bài Anh vẫn hành quân Tác giả Chu Trọng Huyến tìm về Tính dân dã trong thơ Trần Hữu Thung Thái Doãn Chất đưa ra nhận định "Trần Hữu Thung gần gũi với thơ ca dân gian"…Tất cả những bài viết ấy ít nhiều đã đề cập đến ảnh hưởng
của văn hóa xứ Nghệ trong thơ Trần Hữu Thung Bên cạnh những báo cáo,còn có những bài phê bình, đánh giá rải rác trên các báo, tạp chí
Bàn về con người và thơ văn Trần Hữu Thung, Phong Lê trong bài
Trần Hữu Thung - nhà thơ xứ Nghệ trên báo Nghệ An, đã viết "Điều đáng bàn ở đây, đối với một nhà thơ như Trần Hữu Thung, là thi liệu, cảm xúc, giọng điệu, cách nói quả có một dấu ấn ảnh hưởng đặc biệt của văn học dân gian xứ Nghệ; nhờ vào đó, thơ ông đến ngay được với quần chúng, nhập ngay được vào tiếng nói của họ, đáp ứng được ngay các yêu cầu phô diễn của họ" Cũng cách nhìn ấy, trước đó, năm 1984 Phong Lê đã có bài viết Trần Hữu Thung với dặm, vè, ca dao, về sau được tập hợp và in trong cuốn Một số gương mặt văn chương học thuật Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội,
2001 Ở bài viết này tác giả đã chỉ ra những ảnh hưởng và tiếp thu của TrầnHữu Thung đối với vốn văn hóa dân gian xứ Nghệ Nhờ đó, thơ Trần Hữu
Trang 9Thung thật sự sống động trong sinh hoạt văn nghệ của nhân dân, nhất là nhândân vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh Thơ ông gần với dặm, vè truyền thống Theo
Phong Lê, thơ Trần Hữu Thung có khả năng nhập cuộc vào ca dao Hơn thế điều đáng bàn ở đây là dấu ấn ảnh hưởng đặc biệt của văn hóa dân gian Cho nên thơ ông đến ngay được với quần chúng Quen thuộc với lời ăn tiếng nói của quần chúng, là điểm xác định nét riêng và đôi khi là chỗ mạnh của thơ ông.
Bàn về cách viết của Trần Hữu Thung, Hồ Sĩ Hùy trên báo Nghệ An đã
viết: Điều đáng trân trọng nhất ở Trần Hữu Thung là cái tâm ông trong sáng, tình cảm của ông chân thành và cách diễn đạt độc đáo không lẫn vào ai được Theo ông, trong đời Trần Hữu Thung đã đi đúng con đường mà nhà thơ lớn, nhà phê bình kiệt xuất Xuân Diệu đã tiên đoán trong bức thư gửi ông đề ngày 3 – 2 – 1945: “Mình thấy Thung có bản lĩnh để làm một thi sĩ chắc chắn về lập trường, tư tưởng, về sự chịu khó hi sinh các sáng tác của mình vì nhiệm vụ, về tinh thần trách nhiệm của Thung, về khả năng hiểu biết của Thung về thơ, đào sâu trong ca dao, trong thơ cổ điển kiêm thêm một sự chí thú nhà nghề làm đi làm lại…Cái định đoạt cho thơ Thung không phải là Thủ đô, là tờ báo, là Ban giám khảo hay các giải thưởng mà
đó là trang giấy trắng, mực đen mà Thung cặm cụi đặt bài thơ của mình lên chữa đi, chữa lại, là quần chúng tán thưởng thơ Thung Con đường thơ
là con đường chân thật, ở trong ruột rút ra Theo mình, trong lớp thi sĩ mới sau cách mạng tháng tám, Thung đã có chỗ hẳn hoi, duy nhất Nên luôn cố gắng, chân tâm làm thi sĩ, Thung sẽ cống hiến được một cái gì đó cho thơ Việt Nam” Cùng trường nhìn ấy, Võ Văn Trực, ở bài viết Thi sĩ của miền quê khói lửa in trong tuyển tập Trần Hữu Thung, nhà xuất bản văn học, Hà
Nội, 1997, đã nói tới cái khắc nghiệt của thiên nhiên xứ Nghệ, mà theo ông
là đã hằn sâu trong dáng dấp con người, lối ứng xử và thơ Trần Hữu
Trang 10Thung Ông viết: "Nắng dữ dội, nắng khét da người và da đất, cái nóng như đông đặc lại đến nghẹt thở Gió Nam ròng thổi suốt đêm ngày, đồn điền, núi đồi như được rang cong lên, chạm lửa là cháy tràn" Nhà thơ Huy Phương trong bài Con người ấy – Nhà thơ ấy in trong Tuyển tập Trần Hữu Thung, Nhà xuất bản Nghệ An, 1996, lại cho rằng: "Trần Hữu Thung sinh
ra và lớn lên ở nông thôn, sớm bắt rễ với chính quê hương mình bằng cái thiên bẩm của một tâm hồn giàu cảm xúc, anh từ cái nôi ấy mà đi thẳng vào thơ, vào văn học, cất lên một tiếng nói tự nó đã là tiếng nói của quần chúng và đời sống" Là người em, người viết phê bình văn học, Trần Hữu Dinh, khi viết về anh trai mình, trong bài Trần Hữu Thung – con người ấy, đời thơ ấy đã khẳng định: "Trần Hữu Thung đưa cả quê hương, cả con người anh vào trong thơ, trong văn Anh lầm lụi, cần mẫn cày xới trên cánh đồng thơ của mình" Quả thật vậy, tâm hồn dân giã, phong vị quê
hương, tinh chất xứ Nghệ, trong thơ ông không phải chỉ ở hình thức màthực sự trở thành máu thịt trong cách nghĩ, cách cảm, trong lối diễn đạt
Đến phút cuối cùng của đời mình, nhà thơ vẫn gửi tâm hồn theo “bờ tre đường thôn, cây đa, giếng nước…” Có lẽ Võ Văn Trực đã chính xác khi gọi Trần Hữu Thung là "nhà thơ của nông thôn, của nông dân trăm phần trăm đúng với nghĩa của nó" Bởi theo ông, "Anh sinh ra ở nông thôn, lớn lên ở nông thôn và sống gần trọn cuộc đời mình ở nông thôn".
Điểm lại những bài viết bàn về Minh Huệ, Trần Hữu Thung, có thểthấy, dù khác nhau trong cách nói, cách viết, song từ những góc nhìn khácnhau, các nhà nghiên cứu phê bình đều có chung nhận định khi cho rằng, hồncốt, phong cách thơ Minh Huệ, Trần Hữu Thung chịu ảnh hưởng sâu sắc vănhóa xứ Nghệ Ở một vài bài viết, quan điểm ấy đã có những phân tích, dẫngiải nhất định Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào
đi vào vấn đề này một cách toàn diện, hệ thống
Trang 113 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Như tên đề tài đã xác định, mục đích của đề tài là khảo sát, phântích một cách hệ thống những ảnh hưởng của văn hóa xứ Nghệ trong thơ TrầnHữu Thung và thơ Minh Huệ Từ đó, nhận diện và rút ra những vấn đề lý luận
về mối quan hệ giữa văn hóa vùng miền và con đường hình thành một phongcách thơ
3.2 Với mục đích đó, đề tài đặt ra nhiệm vụ:
Thứ nhất, chỉ ra những gặp gỡ, tương đồng trong ảnh hưởng văn hóa
xứ Nghệ của thơ Minh Huệ và thơ Trần Hữu Thung
Thứ hai, chỉ ra những khác biệt trong ảnh hưởng văn hóa xứ Nghệ của
thơ Minh Huệ và thơ Trần Hữu Thung, từ đó nhận diện được phong cách cánhân ở hai nhà thơ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những dấu ấn văn hóa xứ Nghệtrong thế giới nghệ thuật thơ Minh Huệ và thơ Trần Hữu Thung
4.2 Phạm vi tư liệu khảo sát của đề tài là thơ Minh Huệ và thơ TrầnHữu Thung, gồm các tập sau:
- Trần Hữu Thung, Tuyển tập (Tập 1- thơ), Nhà xuất bản Nghệ An,
1996
- Trần Hữu Thung, Sen Quê Bác, Nhà xuất bản Tác phẩm mới, Hội
Nhà văn Việt Nam,1987
- Trần Hữu Thung, Đất quê mình, Nhà xuất bản Hội Văn nghệ Nghệ
An, 1971
- Trần Hữu Thung, Gió Nam, Nhà xuất bản Văn học, 1962.
- Minh Huệ, Tuyển tập, Nhà xuất bản Nghệ An, 2003.
- Minh Huệ, Đêm nay Bác không ngủ, Nhà xuất bản Nghệ Tĩnh.
- Minh Huệ, Thơ với tuổi thơ, Nhà xuất bản Kim Đồng.
Trang 12- Minh Huệ, Cõi Sen, Nhà xuất bản Nghệ An.
- Minh Huệ, Đất chiến hào, nhà xuất bản Văn học Hà Nội, 1970.
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi sử dụng các phương phápnghiên cứu sau:
- Phương pháp liên ngành
- Phương pháp cấu trúc, hệ thống
- Phương pháp loại hình
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở cho những ảnh hưởng của văn hóa xứ Nghệ trong thơ Minh Huệ và thơ Trần Hữu Thung
Chương 2 Dấu ấn văn hóa xứ Nghệ - điểm gặp gỡ, tương đồng giữa thơ Minh Huệ và thơ Trần Hữu Thung
Chương 3 Dấu ấn sáng tạo của Minh Huệ và Trần Hữu Thung trong việc tiếp thu di sản văn hóa tinh thần xứ Nghệ
Và cuối cùng là danh mục tài liệu tham khảo
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ CHO NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA XỨ NGHỆ TRONG THƠ MINH HUỆ VÀ THƠ TRẦN HỮU THUNG
1.1 Quê hương xứ Nghệ
Quê hương là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến hồn thơ của các thi nhân từ
cổ chí kim Mỗi một người đều có một miền quê để mà thương mà nhớ Quêhương, đó là nơi chôn rau cắt rốn, gắn với bao kỉ niệm vui buồn của mỗingười thuở thiếu thời cũng như lúc trưởng thành Quê hương cũng chính làchiếc nôi văn hóa có tầm ảnh hưởng sâu sắc tới cảm hứng, đề tài, mạch nguồncảm xúc của tác giả Nếu như vùng Yên Đỗ - Bình Lục - Hà Nam đã in hìnhvào thơ của Nguyễn Khuyến, vùng quê Phúc Tằng – Việt Yên – Bắc Gianghiện dáng trong thơ Hoàng Cầm, thì vùng quê xứ Nghệ với những truyềnthống văn hóa lâu đời đã hắt bóng vào thơ của Minh Huệ và thơ Trần HữuThung một cách đậm nét
Xứ Nghệ là nơi khí hậu khắc nghiệt, đời sống nhân dân khó khăn về vậtchất nhưng giàu có về đời sống tinh thần, tình cảm Xứ nghệ còn được gọi là
xứ thơ, nơi đây đã khắc bia tên tuổi Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Xuân Diệu,Huy Cận…
Trang 14Lịch sử vùng miền và danh xưng Nghệ An đã có từ xa xưa Tên gọiNghệ An có từ năm Thiện Thành thứ 3 đời Lý Thái Tông năm(1030) thay chotên Hoan Châu ( tức Nghệ An và Hà Tĩnh) đã có từ mấy trăm năm về trước(năm 627) Năm 1831, thời vua Minh Mệnh, xứ Nghệ bị tách thành hai tỉnhNghệ An và Hà Tĩnh Năm 1976, hai tỉnh lại hợp thành tỉnh lớn Nghệ Tĩnh.Năm 1991, tách ra thành Nghệ An và Hà Tĩnh như ngày nay Nghệ An là tỉnh
có diện tích lớn nhất Việt Nam thuộc vùng Bắc Trung Bộ Phía bắc giáp tỉnhThanh Hóa, phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía tây giáp Lào, phía đông giápbiển Đông Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Vinh, nằm cách thủ
đô Hà nội 291 km về phía Nam Địa hình Nghệ An gồm có núi, đồi, thunglũng Độ dốc thoải dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam Tỉnh Nghệ An nằm ởĐông Bắc dãy Trường Sơn, địa hình đa dạng, phức tạp và bị chia cắt bởi các
hệ thống đồi núi, sông suối Hệ thống đồi núi, sông ngòi dày đặc, có bờ biển
dài 82 km Khí hậu Nghệ Tĩnh vô cùng khắc nghiệt “Nghệ Tĩnh đất đai rộng lớn có đủ các vùng kinh tế: miền núi, miền trung du, miền đồng bằng, miền biển; với nhiều nông sản, lâm sản, hải sản, khoáng sản có giá trị hàng hóa cao, song điều kiện tự nhiên khá phức tạp Xưa kia các nhà viết phong thổ kí đều nhận xét rằng, đất đai xứ Nghệ không được tạo vật cưu đương Nhiều nơi chưa nắng đã hạn, chưa mưa đã úng thủy Đã thế, hè đến nắng như thiêu như đốt và gió mùa tây nam thổi cồn cột, nghe rát ruột rát gan làm nứt đất nẻ đồng, khô héo tất cả Rồi thu sang, mưa lũ kéo dài, lụt bão theo nhau hành
hạ Và đông về, heo rét hàng tháng, những đợt gió mùa đông bắc tràn về thường mang theo mưa dầm, gây khá nhiều khó khăn cho vụ sản xuất đông xuân.” [ 19, 20] Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu sự tác động
trực tiếp của gió Tây - Nam khô và nóng (từ tháng 4 đến tháng 8) và gió mùaĐông Bắc lạnh, ẩm ướt (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) Con Người nơiđây hứng chịu nhiều cảnh khổ thiên tai giáng xuống, họ phải cất lời kêu than:
Trang 15Gió mưa chi lắm hỡi trời, Lúa mùa toan gặt lại trôi đầy đồng.
Con đau vợ đói nhìn chồng, Khóc thảm khóc thiết đỏ tròng con ngươi.
(Ca dao)
Người dân bỏ biết bao công sức nhọc nhằn nơi đồng ruộng nhưng thu lạichẳng được gì cả:
Thấy làm mà chẳng thấy ăn;
Thấy một đám cỏ khổ thân cả ngày
(Ca dao)
Minh Huệ cũng đã phản ánh hiện thực ấy vào trong thơ của mình:
Nắng chi nắng sém bờ hào Gió chi gió cuốc gió cào trời rung
(Loạt đạn mẹ hiền - Minh Huệ)
Thời tiết khắc nghiệt, khi nóng, khi bão lụt cũng đã có ảnh hưởngkhông nhỏ đến tính cách con người xứ Nghệ, hiền lành, tốt bụng nhưng hơicục cằn, nóng nảy
Xứ Nghệ là nơi có truyền thống kiên cường anh dũng trong chống giặcngoại xâm Nói đến lịch sử Nghệ An chúng ta không thể không kể đến nhữngchiến công to lớn trong công cuộc dựng nước và giữ nước của người dân XứNghệ Những người con nơi đây đã giương cao ngọn cờ yêu nước để bảo vệ,xây dựng vùng đất quê hương của mình Mai Hắc Đế đã phất cao cờ nghĩa,xây thành Vạn An ở Sa Nam (Nam Đàn) để chống lại ách thống trị của nhàĐường ở thế kỉ thứ VIII Dân Nghệ Tĩnh từ lâu đã tôn sùng vị anh hùng này:
Sa Nam trên chợ dưới đò Nơi đây Hắc Đế kéo cờ dựng binh
(Ca dao)
Trang 16Năm 1285, vua Trần Nhân Tông đã dựa vào nguồn lực hùng hậu củavùng đất này để trừ họa xâm lăng của quân Nguyên Mông Năm 1424, trongcuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh, Lê Lợi tiến quân vào Nghệ
An lập đại bản doanh ở đây bốn năm Người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đãtừng chiêu mộ 5 vạn quân sĩ của Nghệ An góp sức cho đội quân của ông thêmhùng mạnh đánh đuổi 29 vạn quân Thanh ra khỏi bờ cõi nước ta Nhân dân xứNghệ không ngớt lời ngợi ca vị anh hùng “áo vải cờ đào” trong một thời gianngắn đánh thắng oanh liệt quân Thanh:
Long lanh đá tạc bia vàng.
Rồng chầu phượng múa ngai vàng Quang Trung.
(ca dao)
Dưới ngọn cờ của tiến sĩ Nguyễn Xuân Ôn và phó bảng Lê Doãn Nhạ,Nhân dân Nghệ An đã dấy lên một phong trào kháng Pháp mạnh mẽ, đứnghàng đầu trong cả nước Quê hương Nghệ An chính là nơi ghi dấu ấn đầu tiêncủa truyền thống đấu tranh cách mạng vô sản ở Việt Nam với cao trào XôViết Nghệ Tĩnh 1930-1931, mở đầu cho phong trào cách mạng vô sản trong
cả nước Đầu thế kỉ XX xuất hiện Phan Bội Châu, một con người có ý thứctrách nhiệm cao trước vận mệnh đất nước đã bôn ba hải ngoại, với khát vọngtiếp thu cái hay, cái mới đưa nhân dân ta thoát khỏi vòng nô lệ Và đặc biệtNghệ An chính là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại củadân tộc việt Nam, một nhà yêu nước lớn, một danh nhân văn hóa thế giới vàanh hùng giải phóng dân tộc Người dân xứ Nghệ quyết tâm đấu tranh, không
hạ vũ khí khi kẻ thù đang còn dày xéo Tổ quốc, họ thề với quê hương, đấtnước, thề với lương tâm:
Bao giờ Hồng Lĩnh nên cồn, Sông Lam hết nước mới hết nguồn đấu tranh.
(Ca dao)
Trang 17Tiếp nối truyền thống lịch sử hào hùng của cha anh, hai người con xứNghệ, Minh Huệ - Trần Hữu Thung đã lên đường đi kháng chiến, mang theomình một tình cảm yêu nước, niềm tự hào về quê hương xứ sở Họ đã thành thựcnói lên niềm xúc động sâu sắc, ngợi ca những tấm gương sáng ngời lòng yêu
nước Đêm nay bác không ngủ (Minh Huệ), Loạt đạn mẹ hiền (Minh Huệ), Ra quân (Hữu Thung) , O Tám ( Hữu Thung) là những bài thơ như thế.
Đối với Trần Hữu Thung, vùng quê Diễn Châu nói riêng, xứ Nghệ nói
chung đã trở thành một phần máu thịt trong tâm hồn ông (Lại nói về quê tôi).
Thành phố Vinh nơi sinh ra nhà thơ Minh Huệ, trải qua biết bao mưa bom bão
đạn, nơi ấy đã trở thành niềm yêu thương da diết của ông (Thành phố tôi yêu/Thành phố tôi yêu):
Bước ra khỏi đạn bom Thành phố cười trong gió nóng (…)Vẫn giữ chắc một dòng máu thịt
“Không có gì quý hơn độc lập tự do”
Thành phố nở sinh Bến Thủy – Ngã ba chói lọi (…) Thành phố tôi yêu
Cho tôi phẩm giá làm người và chân lí.
Điều kiện địa lí, lịch sử ảnh hưởng khá nhiều đến đời sống xã hội của conngười Nó đã hằn sâu trong tính cách, tâm hồn, điệu sống của con người xứ Nghệ.Với những nghệ sĩ nhạy cảm như Minh Huệ, Trần Hữu Thung điều này càng rõnét hơn Trong thơ họ, dấu ấn văn hóa xứ Nghệ đã hằn lên rõ nét, góp phần làmnên một vẻ đẹp, một phong cách riêng trong thơ ca Việt Nam hiện đại
1.1.2 Những đặc điểm nổi bật của đời sống xã hội
Thiên nhiên khắc nghiệt, địa hình hiểm trở, đất đai khi úng ngập, lúckhô cằn, trời chẳng chiều lòng đã đẩy người dân xứ Nghệ từ bao đời nay vàocảnh cực khổ, lầm than
Trang 18Sấm cũng ở trên nguồn, Chớp cũng ở trên nguồn.
Không mưa dông đôi ba trộ(trận) để giải buồn nhà nông.
(Ca dao)
Trần Hữu Thung cũng đã có những dòng thơ ghi lại ấn tượng sâu sắc
về quê hương xứ Nghệ “chảo lửa túi mưa”:
Từ mái đồi khô như một lá sen khô Gió lào thổi bốn bề xào xạc
Từ lối rộc tựa chảo đầy nước bạc Chiều thu hun hút cánh cò chao
(Đổi cái nhìn – Trần Hữu Thung)
Trước cuộc sống khó khăn, khắc nghiệt, người nông dân xứ Nghệ đã tự
nhủ phải chăm chỉ, cần cù trong lao động: "Muốn no thì phải chăm làm/ Một hột thóc vàng, chín giọt mồ hôi" (Ca dao) Người xứ Nghệ làm lụng chămchỉ “đầu tắt mặt tối” đói không kịp ăn, khát không kịp uống nhưng cái nghèo vẫn
đeo bám bên mình: "Gánh cực mà đổ lên non/ Cong lưng mà chạy cực còn chạy theo" (Ca dao) Cảnh đói ăn, thiếu thốn quanh năm dày vò người dân nơi
đây: "Trời sinh cái cực làm chi/ Bán thì không được, cho thì không ai xin" (Ca
dao) Cái nghèo, cái khổ do trời sinh ra đã bạc rồi song vẫn chưa bằng những kẻ
địa chủ bóc lột xảo quyệt, nhiều thủ đoạn: "Bước chân vô cửa nhà người,/ Xin hột gạo hẩm hắn đòi bán nương/Ông trời chết nứt, chết trương/ Ông ghét tôi khổ, ông thương nhà giàu." (Ca dao) Trước sự áp bức bóc lột của bọn vua quan,
người dân xứ Nghệ đã lên tiếng tỏ rõ thái độ phản kháng mãnh liệt:
Vua chi mà vua, Quan chi mà quan, Lọng vàng thì có, lòng vàng thì không.
(Ca dao)
Trang 19Tinh thần chống kẻ bóc lột của người dân xứ Nghệ càng tăng cao khi
Thực dân Pháp sang xâm chiếm nước ta: "Vì ai mà Pháp sang đây/ Nước thời
đã mất, dân thời còn chi?/ Vì ai Phú Lãng tác oai/ Non cao biển rộng sông dài xót xa." (Ca dao) Tinh thần chiến đấu ấy đã được Minh Huệ phản ánh
thông qua hình tượng người mẹ Làng Đỏ
Trăng tàn, gặp pháo lưng đồi Thở phào, mẹ đứng lặng người nhìn con,
Ùa ra đón mẹ dập dồn Nhấp nhô mũ sắt quây tròn tóc sương, Mắt ai rực lửa chiến trường
Vì đâu phút chốc hai hàng lệ rơi…
(Loạt đạn mẹ hiền – Minh Huệ)
Nạn đói năm Ất Dậu với chính sách ác nghiệt “nhổ lúa trồng đay” củaNhật đã cướp đi hơn hai triệu đồng bào cả nước Nghệ An cũng không thoátkhỏi thảm họa ấy Thời bao cấp - trước thời kì đổi mới (1975 - 1986), nềnkinh tế Nghệ An cũng chịu chung bầu không khí tù đọng và thất bại của nềnkinh tế Việt Nam Nhưng điều đáng quý là trong khó khăn gian khổ ngườidân xứ Nghệ cũng không nản lòng thoái chí mà họ đã vươn mình đứng dậybằng những nổ lực của bản thân Họ vẫn lạc quan tin tưởng vào tương lai
cuộc sống: "Sông kia lúc lở lúc bồi/ Con người khổ mãi thì rồi có vinh" (Ca
dao) Bằng sự nổ lực của bản thân giành giật lại với thiên nhiên, con người xứNghệ cũng tạo dựng cho quê hương mình có nhiều nơi rất trù phú:
Đức Thọ gạo trắng nước trong
Ai về Đức Thọ thong dong con người Tiếng đồn cá mát sông Giăng Dẻo thơm ba lá, ngon măng chợ Chùa
(Ca dao)
Trang 20Địa lí địa hình phức tạp, thiên nhiên khắc nghiệt, đời sống của nhân dânNghệ Tĩnh trải qua bao khó khăn, cực khổ nhưng xứ Nghệ là một vùng vănhóa giàu bản sắc Người xứ Nghệ vẫn giữ vững khí tiết của mình Họ lànhững con người có bản lĩnh vững vàng trong cuộc sống, thường xuyên vậtlộn với thiên nhiên khô cằn, cay nghiệt, đã liên tục đấu tranh chống giai cấpthống trị độc ác, bất nhân để giành lấy sự sống, cuộc đời tự do.
1.1.3 Một vùng văn hóa giàu bản sắc
Nền văn hóa là cái nôi ươm mầm và nuôi dưỡng tâm hồn thi ca Nó có ảnhhưởng rất nhiều đến nhận thức, tình cảm, cảm xúc của các nhà văn, nhà thơ Vănhóa xứ Nghệ đã tạo nền cho thơ ca Minh Huệ - Trần Hữu Thung phát triển Nếu
soi chiếu vào định nghĩa "Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên xã hội" [61] chúng ta
nhận thấy xứ Nghệ là một vùng văn hóa giàu bản sắc Nền văn hóa ấy bao gồmnhững giá trị vật chất và tinh thần Nhưng chính giá trị tinh thần đã tác động mộtcách sâu sắc đến sự phát triển hồn thơ Minh Huệ và Trần Hữu Thung Dòng suốimát ngọt của văn học dân gian với những câu hò, điệu ví đã tưới tắm cho hồn thơ
họ Có thể nói ca trù, ca dao, giặm, vè xứ Nghệ là những giá trị tinh thần ảnhhưởng trực tiếp đến hình thức lẫn nội dung tư tưởng của hai nhà thơ này
Cơ sở hình thành bản sắc văn hóa xứ Nghệ được bắt nguồn từ thiênnhiên, lịch sử, xã hội, con người nơi đây Xứ Nghệ là vùng quê sơn thủy hữutình Thiên nhiên hùng vĩ, tráng lệ và nên thơ Sông Lam mềm mại tươi mátuốn quanh chân núi Hồng Lĩnh vững chãi tạo sức gợi rất lớn trong trí tưởngtượng của bao nghệ sĩ, nhà văn, nhà thơ Nhiều thi sĩ viết về thiên nhiên tươiđẹp của xứ Nghệ đã làm xao xuyến lòng người Thiên nhiên còn như nhữngchứng nhân lịch sử ghi dấu bao trận chiến oanh liệt của nhân dân xứ Nghệ vớiquân xâm lược trước công cuộc giữ nước:
Trang 21Quê hương mình sông bọc vành trăng Màu xanh gắn sắp liền vết đạn
( Mẹ để lại – Trần Hữu Thung) Anh Tư ơi, theo giọt máu thiêng anh nhỏ
Mồ hôi chúng tôi thấm sâu thớ gỗ Nghe không anh, lại tỏa bến Thanh Chương Hương thắm vàng tâm ngan ngát yêu thương.
( Người thợ mộc trong chiến hào - Minh Huệ)
Xứ Nghệ (gồm hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh) có chung một văn hóa –văn hóa Lam Hồng, với hai biểu tượng núi Hồng, sông Lam Văn hóa xứNghệ được hình thành bởi cộng đồng cư dân nông nghiệp sống trên một vùngrộng lớn, phía Bắc giáp Thanh Hóa, phía Nam giáp Quảng Bình, phía Tây tựalưng vào dãy trường Sơn, phía Đông nhìn ra biển Từ xa xưa, dải đất này từng
được xem là địa linh, nhân kiệt, danh tiếng hơn cả Nam Châu với sông dài,
biển rộng, núi cao Nhận xét về đất và người nơi đây, sử gia Phan Huy Chú
viết: Con người ở đây rất cần kiệm và hiếu học, vật sản thì quý báu và hiếm
lạ, thần núi và thần biển đều linh dị, khí thiêng non sông kết thành nhiều bậc danh hiền Người xứ Nghệ giàu lòng yêu nước, dũng cảm xả thân vì Tổ
Quốc Nguyễn Trọng Tạo rất yêu cái phẩm chất cao đẹp này và đã phát biểu
Tôi yêu cái quyết liệt vì nghĩa lớn của người Nghệ [59] Trên mảnh đất này Thời nào cũng có danh nhân, vùng nào cũng có nhiều bậc anh hùng tài cao chí lớn đã làm rạng danh quê hương đất nước Bàn về đặc điểm văn hóa xứ Nghệ, Nguyễn Văn Hạnh trong bài Ví giặm xứ Nghệ từ góc nhìn văn hóa học (Tạp chí Khoa học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, số 4/2013) đã viết: Theo chiều dài lịch sử, vùng đất này đã trải qua nhiều thay đổi, cả về hình hài vóc dáng, và tên gọi, như: Việt Thường, Hoan Châu, An Tịnh( thời
cổ, trung đại) hay Nghệ Tĩnh, và giờ đây tách thành hai tỉnh Nghệ An và Hà
Trang 22Tĩnh Tuy nhiên, từ góc nhìn địa – văn hóa – lịch sử, đây vẫn là một vùng văn hóa thống nhất, có tính đặc thù, khu biệt với các khu vực văn hóa khác ở Việt Nam Từ rất sớm, dọc theo hai bờ sông Lam, từ thượng nguồn đến hạ lưu đã hình thành nên những xóm làng trù phú Với xứ Nghệ, núi Hồng, sông Lam không chỉ là bức tranh thiên nhiên sơn thủy hữu tình mà còn góp phần tạo nên bản sắc cho một vùng văn hóa Vốn là vùng đất biên ải, viễn trấn, nguồn gốc cư dân xứ Nghệ khá đa dạng Tuy nhiên, sau hàng ngàn năm lịch sử, nơi đây đã hình thành nên một cộng đồng cư dân có tính thống nhất cao độ, với danh xưng người Nghệ So với cư dân ở các vùng miền khác, người Nghệ có những đặc điểm riêng, dễ nhận biết: về tiếng nói, âm sắc của người Nghệ đục
và nặng, khó nghe, khó bắt chước; về tư duy, người Nghệ thường không uyển chuyển, thường cứng nhắc, rạch ròi, dứt khoát đến cực đoan, bảo thủ; về hành động, người Nghệ quyết liệt, hăng hái, bản lĩnh đến mức liều lĩnh; về ứng xử hàng ngày, thường không thích hình thức phô trương mà chuộng sự giản dị, mộc mạc Con người Xứ Nghệ rất trọng nghĩa tình Họ đề cao tình cảm, không có tình cảm thì của cải vật chất cũng trở thành vô nghĩa: Giàu chi, giàu lúa giàu tiền/ Giàu bạc giàu ác, nhân duyên không giàu (Ca dao).
Họ chỉ trích, phê phán những kẻ tham lam Keo kiệt: Những người lúa đụn tiền kho/ Ruột bằng chạc chỉn miệng to bằng trời (Ca dao).
Tình cảm của người xứ Nghệ vừa nồng nàn lại vừa sâu lắng Tình cảmcủa những người thân trong gia đình luôn luôn gắn kết “máu chảy ruột mềm”.Tình cảm đối với xóm giềng cũng hết sức thân thiết, có bát nước chè ngoncũng mời nhau đến thưởng thức Tình đồng hương của người xứ Nghệ đi đếnvùng miền nào trên Tổ quốc cũng được nhắc đến Tình cảm của người xứNghệ đối với những người thầy, người cô đã dạy mình cũng một niềm kínhtrọng, khắc ơn Những đặc điểm đó có ở người bình dân, người trí thức, trongvăn chương nghệ thuật cũng như trong ứng xử giao tiếp đời thường Văn hóa
Trang 23là sản phẩm của con người, thuộc về con người, vì con người, là những gì cònlại của một chu trình lịch sử Trải qua bao đời từ thời tiền sơ sử đến nay,người xứ Nghệ không chỉ có nhiều đóng góp quan trọng vào tiến trình lịch sửdân tộc mà đã kiến tạo nên một vùng văn hoá đặc sắc
Trầm tích văn hóa của một dân tộc, một vùng miền luôn gắn liền với lịch
sử do con người tạo nên Mọi thành tố của một nền văn hóa, cũng chính là mọikhía cạnh của cuộc sống con người Từ cách nhìn đó, có thể nói, đất và người xứNghệ đã làm nên bản sắc văn hóa xứ Nghệ, mà trước hết là văn hóa dân gian.Nghệ Tĩnh có kho tàng văn học dân gian phong phú vào bậc nhất so với các địaphương khác trong toàn quốc Đó chính là tài sản vô giá truyền từ đời này sangđời khác nuôi dưỡng tinh thần, là cơ sở văn hóa, là trí tuệ và tài năng, là động lựcphát triển,…của người dân xứ Nghệ Nghệ Tĩnh là xứ sở của nền văn hóa dângian đặc sắc với những điệu hò, hát phường vải, hát đò đưa… Với 6 dân tộccùng chung sống, văn hoá Nghệ An đa dạng, độc đáo, với nhiều bản sắc riêng trong sự hài hoà thống nhất của nền văn hoá Việt Nam Nghệ An ngày naykhông chỉ có sự hiện diện một nền văn hoá đương đại sống động mà còn có mộtkho tàng di sản văn hoá vô cùng phong phú, đặc sắc Đó là khoảng 1000 di tíchlịch sử văn hoá và rất nhiều giá trị văn hoá phi vật thể như văn học thành văn vàvăn học dân gian, âm nhạc dân gian, múa dân gian, phong tục tập quán… NghệTĩnh là xứ sở của những lễ hội cổ truyền diễn ra trên sông nước như lễ hội CầuNgư, Rước hến, Đua thuyền… Lễ hội làm sống lại những kỳ tích lịch sử đượcnâng lên thành huyền thoại, giàu chất sử thi, đậm đà tính nhân văn như lễ hộiđền Cuông, lễ hội làng Vạn Lộc, làng Sen Nghệ An còn lưu giữ được nhiều ditích văn hoá lịch sử, nhiều danh lam thắng cảnh, lễ hội văn hoá truyền thống
Chính cái nôi văn hóa của Xứ Nghệ đã góp phần chưng cất nên bao thế
hệ nhà thơ , nhà văn tài năng cho nền văn học nước nhà Trong số đó có MinhHuệ và Trần Hữu Thung
Trang 241.2 Vài nét về cuộc đời Minh Huệ và Trần Hữu Thung
1.2.1 Hoàn cảnh xuất thân
Trần Hữu Thung và Minh Huệ là hai nhà thơ cùng thời nhưng xuất thâncủa họ khác nhau, một người xuất thân từ nông thôn, người kia sinh ra và lớnlên ở thành thị nên hơi thơ của họ cũng có những điểm khác nhau
Trần Hữu Thung sinh năm 1925 trong một gia đình nông dân làngTrung Phường - xã Diễn Minh - huyện Diễn Châu - tỉnh Nghệ An Diễn Châu
là nơi đất cằn sỏi đá nhưng tình người hồn hậu Người dân nơi đây chủ yếulàm nông nghiệp Cuộc đời của Trần Hữu Thung lam lũ ,vất vả từ nhỏ Sinh
ra trong một gia đình đông con, nghèo khó, Trần Hữu Thung vẫn trở thànhmột anh trai làng rắn rỏi , là một đô vật của làng quê Trong thân hình vạm vỡ
ấy lại chứa đựng một tâm hồn dạt dào cảm xúc Những vần thơ của ông làmxao động lòng người Thơ ông có cái nắng bỏng rát của tháng tám, mưa dầm
dề tháng ba:
Mưa to gió cả, Nắng cháy cánh đồng.
(Cò trắng phát thanh – Trần Hữu Thung)
Có cả ngọn gió nồm thổi lên thơm mát lại có thêm bóng dáng cây tre,cây lúa in hình:
Đời cha nhớ lấy con nghe Đơn sơ như thể cây tre đầu làng
( Cây Tre – Trần Hữu Thung)
Khác với Trần Hữu Thung, Minh Huệ lại xuất thân từ thành thị, nơitrung tâm, kinh tế, chính trị của Nghệ An đó là Thành phố Vinh Minh Huệ códáng người nho nhã, thanh thoát, tính tình nhu mì , điềm đạm rất thư sinh
Minh Huệ đã từng tự bạch: "Tôi sinh năm Đinh Mão, cha đỗ bằng tú tài, gia
Trang 25đình cũng thuộc loại bậc trung …Tôi ở trong xóm Hàng Bún (Bây giờ là xã Vĩnh Tân, TP Vinh) có cả nông dân, trí thức, nhà nho Đầu xóm là nhà máy gạch của Pháp, bên cạnh là chùa Đá – chùa nổi tiếng có tín đồ đông nhất miền Trung, bên kia là bãi tha ma, xóm của khoảng hai chục người phu “xia” với những chiếc xe bò kéo đen sì Qua nhà thờ phật đến một cái xóm đạo Thế
là khu vực tôi ở, chưa đầy 1km mà như một thế giới thu nhỏ Tôi không sướng nhưng không khổ, đủ cơm no áo ấm, nhưng xung quanh tôi là những con người không được làm người Những người phu “xia” không dám đi ra đường vì không có quần áo, toàn khoác bị gai"[68] Qua lời tâm sự ấy, chúng
ta cũng hình dung được cuộc sống nơi nhà thơ ở thật nghèo khổ và xô bồ.Sống trong một môi trường như thế Minh Huệ càng cảm nhận thấm thía, sâusắc nỗi thống khổ của người dân lương thiện Minh Huệ yêu lắm quê hươngmình, cảm xúc trào dâng trong từng câu thơ:
Thành phố tôi yêu Thành phố tôi yêu Cho tôi phẩm giá làm người và chân lí Rồi có một ngày tôi yên nghỉ
Trong lòng thành phố quê hương Hồn thơ tôi xin tái sinh làm một hàng cây bên đường Góp tiếng gió ngơi ca thành phố thợ
(Thành phố tôi yêu/ Thành phố tôi yêu – Minh Huệ)
Minh Huệ và Trần Hữu Thung đều sinh ra và lớn lên trong mưa bom,bão đạn, họ đều chứng kiến sự đau thương mất mát của quê hương, đều đượcnuôi dưỡng từ một nền tảng văn hóa, văn học xứ Nghệ Điểm gặp gỡ giữaMinh Huệ và Trần Hữu Thung chính là lòng yêu nước nồng nàn Hồn thơ của
họ sôi nổi, nhiệt huyết, giàu tình cảm với dân với nước Những vần thơ của họrất gần với ca dao, dân ca, dặm, vè xứ Nghệ Nhưng trong cái chung ấy vẫn
Trang 26có cái riêng biệt giữa hai hồn thơ, bởi Thơ bao giờ cũng tự biểu hiện cái tôi tác giả của nó, dù nhà thơ có ý thức điều đó hay không Thơ là gương mặt riêng của mỗi người (…) Qua từng trang thơ, dòng thơ, người đọc cảm thấy được, thậm chí tiếp xúc trực tiếp được với một cá tính, một cuộc đời, một tâm hồn [55] Nếu thơ Minh Huệ nhẹ nhàng, phảng phất chút lãng mạn, thanh tao,
thì thơ Trần Hữu Thung lại hồn hậu, mộc mạc, chất phác hồn nhiên Cả haihồn thơ đều được chưng cất từ một vùng văn hóa giàu bản sắc - văn hóa núiHồng sông Lam
1.2.2 Phẩm cách cá nhân
Trong cuộc sống đời thường, Trần Hữu Thung là người ngay thẳng vàbộc trực, mạnh mẽ và sôi nổi Cái chất nông dân mộc mạc, chân thật , hồnnhiên, nhiệt tình, hồn hậu và giản dị đã thể hiện rất rõ qua những vần thơcủa ông Tâm hồn Trần Hữu Thung mang màu sắc và phong cách riêng của
cả một miền, một vùng sông nước( Thăm lúa, O Bưởi làng tôi, Hai Tộ hò khoan, Ngày xưa ta ước, Cò trắng phát thanh) Lòng yêu nước của Trần
Hữu Thung đã kết tinh thành những vần thơ mạnh mẽ kêu gọi nhân dân hãy
vùng lên tiêu trừ kẻ ác: Vùng lên chính giữa làng này/ Đấu tranh một dạ diệt bầy cường gian (Ngày xưa ta ước – Trần Hữu Thung) Tâm hồn
Trần Hữu Thung rất nhạy cảm với thiên nhiên và vẻ đẹp của đất nước Huy
Phương – một người bạn của nhà thơ đã từng nhận xét Cũng hiếm có một nhà thơ nào khác mà qua tác phẩm của người ấy, người đọc có thể bắt gặp ngay được cái điệu rung cảm của một tâm hồn mang màu sắc và phong cách riêng của cả một miền, một vùng đất nước, một lớp người, như trong thơ của Trần Hữu Thung, Anh là cây bút hết sức nhạy cảm với thiên nhiên
và vẻ đẹp của đất nước [ 62,11]
Minh Huệ là Chàng văn sĩ đẹp trai, con nhà trí thức [29,262] đó là
một người thơ vừa kín đáo, nhẹ nhàng, tế nhị lại vừa lắng sâu Ở ông có cái
Trang 27nếp sống cao nhã của một người có học vấn đồng thời có cái nét thanh lịchcủa người thành phố Điều đó phần nào được thể hiện qua các tác phẩm tiêu
biểu, như Đêm nay Bác không ngủ, Những mùa xuân, Thỏ sen, Con dâu mới thật, Nguồn vui nhỏ Lòng yêu đất nước của Minh Huệ cũng đã được nẩy nở ngay từ lúc còn bé thơ , chỉ vừa bốn tuổi :
Lên bốn tuổi, tôi đã nghe trống dậy Nghe cờ reo ngõ tối những cuộc đời Trống Xô Viết quyện ngọn cờ Ái Quốc Gọi ngàn năm dân tộc cháy hồn tôi.
( Những mùa xuân - Minh Huệ)
Minh Huệ có một sở thích từ bé, đó là thích nghe hát ví dặm Nghệ
Tĩnh Nói về điều này, ông bộc bạch: Từ ngày bé tôi đã thích nghe hát ví dặm Nghệ Tĩnh Chính vì thế mà nhịp vè 5 chữ đã in sâu vào tôi [68] Trong một
bài thơ ông viết:
Sương lạnh thấm vào xương Sương muối tan thành nước
Em dần dần chậm bước Cởi khăn trùm nhường anh.
(Đêm trường – Minh Huệ) Ông cũng rất thích đọc Thơ Mới, mà như ông nói là chỉ thích đọc Thơ Mới nhưng chỉ thích loại giản dị nông thôn, thích“Ông đồ”( Vũ Đình Liên),
“Bức tranh quê” (Anh Thơ), “Chùa Hương” (Nguyễn Nhược Pháp), thơ Huy Cận và Chế Lan Viên lại ít đọc.
Ở Minh Huệ và Trần Hữu Thung có chung dòng máu yêu nước nồngnàn, tha thiết Đó là điều đáng quý, đáng trân trọng Lòng yêu nước ấy kết nên
chữ nhân trong thơ Minh Huệ - Trần Hữu Thung và đưa đến thành công lớn
cho thơ ca của họ
Trang 281.2.3 Quá trình công tác
Minh Huệ và Trần Hữu Thung cùng trưởng thành trong hai cuộc khángchiến ác liệt của dân tộc Sự nghiệp văn học của họ đi suốt chiều dài của haicuộc chiến tranh cho đến mãi sau này Cũng giống như Tố Hữu, Minh Huệ vàTrần Hữu Thung làm thơ trước hết là để tuyên truyền cách mạng
Trần Hữu Thung (1923-2000) đã từng tham gia Việt Minh từ 1944 Năm
1945 ông tham gia giành chính quyền ở quê nhà và làm chủ tịch xã Từ năm 1947đến 1948, ông học lớp văn hóa kháng chiến Liên khu IV tại Quần Tín - ThanhHóa Khoảng thời gian 1948-1954 ông làm việc ở Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác
- Liên khu IV, Chi hội văn nghệ Liên Khu IV Trong khoảng thời gian này ông đã
cho ra đời một bài thơ đặc sắc Thăm lúa Bài thơ vừa thể hiện sự thủy chung trong
tình chồng vợ lại vủa thể hiện sự gắn bó mật thiết trong tình quân dân, hậuphương với tiền tuyến Ông còn viết những tập thơ nêu cao tinh thần chiến đấu,
như: Hai Tộ hò khoan (tập thơ-1951), Dặn con (tập thơ-1954) Sau đó một thời
gian, ông đi chiến dịch Hà Nam Ninh Từ năm 1955-1965 ông giữ chức ủy viênchấp hành Hội liên hiệp Thanh niên Việt Nam Thời gian này ông cho ra đời các
tập thơ Ðồng tháng Tám (1956), Gió Nam (thơ kể chuyện-1962) Trong giai đoạn chống Mĩ ông viết tiếp hai tập thơ Đất quê mình (1971) và Tiếng chim đồng
(1975) thể hiện nhiệt huyết cách mạng vô bờ Ông là Ủy viên Chấp hành Hội liênhiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, làm ở Tòa soạn Tuần báo Văn nghệ; là Ủyviên chấp hành Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam Từ năm 1966 đến khi về hưu,ông giữ chức Hội trưởng Hội Văn học Nghệ Tĩnh - Nghệ An
Minh Huệ tên thật là Nguyễn Đức Thái ( 3/10/1927-11/10/2003) Ngoàibút danh Minh Huệ, ông có các bút danh khác là Quốc Minh, Nguyễn Thái
Từ 1/5/1945, ông hoạt động bí mật trong đội thanh niên cứu Quốc Tháng 8/
1945, ông là cán bộ tuyên truyền, đến tháng 7/1947 ông trở thành đội trưởngđội tuyên truyền kháng chiến Từ năm 1948 đến 1949, ông là cán bộ tuyên
Trang 29huấn Liên Ủy Năm 1950 - 1951, ông là biên tập viên của nội san Liên Ủy củaQuân khu IV Năm 1952 - 1955, ông giữ chức Bí thư chi bộ chiến dịch hòabình của Đông Bắc, Giáo vụ Tuyên huấn của Tỉnh ủy Ông viết tác phẩm(1954) Từ 1955 – 1958, ông phụ trách chi hội Liên khu IV, phó trưởng ty
Văn hóa Lúc này ông viết tập thơ Tiếng hát quê hương (1959) Từ 1961 –
1963, ông là Tổ trưởng Hội Nhà văn Việt Nam Ông lần lượt viết các tác
phẩm: Rừng xưa rừng nay (1962), Đất chiến hào (1970), Mùa xanh đến (1972), Ngọn cờ Bến Thủy ( 1974 – 1979) Từ năm 1976 – 1991, ông trở
thành Hội trưởng, Hội Văn học Nghệ thuật Nghệ Tĩnh Giai đoạn này ông
đóng góp tác phẩm Người mẹ và mùa xuân (truyện kí – 1981), Thưởng thức thơ viết về Bác Hồ (1992) Năm 1993, ông nghỉ hưu.
Minh Huệ và Trần Hữu Thung là hai người con nhiệt tâm với cáchmạng, với Đảng và Bác Hồ, với quê hương xứ Nghệ Cuộc đời và sáng tạovăn chương nghệ thuật của hai ông đều gắn bó với miền Trung, xứ Nghệ.Sáng tác của hai ông đều hướng tới mục đích tuyên truyền cách mạng Đểphục vụ cho mục đích đó, Minh Huệ - Trần Hữu Thung lựa chọn những thểthơ dễ thuộc, dễ nhớ: thơ 5 chữ và thơ lục bát gần với ca dao, dặm, vè xứNghệ Đến nay, những vần thơ in đậm dấu ấn văn hóa xứ Nghệ của Minh Huệ
và Trần Hữu Thung vẫn còn vẹn nguyên giá trị
1.3 Quan điểm nghệ thuật và quá trình sáng tạo
Quan điểm nghệ thuật của các nhà văn có khi được phát biểu một cáchtrực tiếp nhưng cũng có khi thể hiện gián tiếp qua những tác phẩm vănchương Với Minh Huệ và Trần Hữu Thung quan điểm nghệ thuật được thểhiện qua những sáng tác
1.3.1 Quan điểm nghệ thuật của Minh Huệ và Trần Hữu Thung
Điểm gặp gỡ trong quan điểm nghệ thuật của Minh Huệ và Trần HữuThung là họ làm thơ với mục đích trước hết để phục vụ cách mạng, phục vụ
Trang 30cuộc kháng chiến vệ Quốc vĩ đại Mục đích đó đã chi phối đến việc lựa chọn
đề tài và nghệ thuật thể hiện của hai nhà thơ yêu nước này
Nhà thơ Minh Huệ khai thác sâu về đề tài lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh.Ông viết về Bác không ngừng với tất cả lòng trân trọng và ngưỡng mộ tàinăng và nhân cách của Người Ông đã từng khẳng định một cách tâm huyết
Tôi sẽ tiếp tục viết về Bác cho đến khi nhắm mắt xuôi tay[68] Ông đã có hơn
100 bài thơ về Bác Trong số những bài thơ viết đó có bài Đêm nay Bác không ngủ để lại trong chúng ta những xúc động sâu xa nhất Bài thơ Đêm nay Bác không ngủ viết vào lúc tên tuổi Hồ Chí Minh đã là niềm kính phục
của cả dân tộc, là lúc người đang trăn trở trước vận mệnh của dân tộc bị đếquốc Pháp xâm lược Minh Huệ chọn được một trong vô vàn biểu hiện củaBác khi cùng quân dân trên đường chiến dịch để ghi lại thành thơ Bài thơkính yêu Bác của ông cũng là tư tưởng, tình cảm của người cầm bút trước thờicuộc Nó là câu chuyện kể thành đạt cả khi ông chưa có ý làm văn chương
Bài thơ ấy cùng với các bài thơ khác như: Mừng thọ, Bác giữa Ba Đình, Tâm tình đã khiến chúng ta cảm động vô bờ.
Ngoài ra ông còn khai thác đề tài đời tư, viết về người yêu, vợ, con vàcháu của mình, mảng đề tài thứ hai này cũng khá thành công Có những tác
phẩm làm ngân rung tâm hồn người đọc, như: Chia tay đầu trăng mật, Nghĩ tới em, Đầy đặn, Con dâu mới thật Với mục đích phục vụ cách mạng, Minh
Huệ thể nghiệm ngòi bút của mình trên nhiều lĩnh vực: thơ, truyện ngắn, bút
kí, câu đối, phê bình văn học nhưng thành công nhất vẫn là lĩnh vực thơ ca.Mục đích đó được thể hiện trong lối viết Minh Huệ đã lựa chọn cách nóitrong sáng, dễ hiểu, gần gũi với người đọc người nghe Báo Nhân dân (ngày
11-4-1993) đã có bài khẳng định Minh Huệ thuộc lớp nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp, lời thơ trong sáng, khỏe khoắn, mới mẻ, lạc quan tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của dân tộc Thơ ông chân tình
Trang 31đằm thắm, đậm đà bản sắc văn hóa dân gian vùng quê Nghệ Tĩnh Hoàng Minh Châu trong Lời tựa cuốn Minh Huệ tuyển tập, đã viết Qua thơ văn chứng tỏ anh ít băn khoăn về nội dung, chừng như nội dung đã là đường đi nước bước, vốn sống, cách sống không tách rời nội dung Cái đúng cái tốt
đó có thực hiện được trong toàn bộ bài viết hay không, có tác dụng nhiều hay ít còn là điều hoàn toàn tùy thuộc vào gu của từng người đọc [29] Quả
thật vậy, Minh Huệ không phải cất công đi tìm đề tài cho thơ mình, bởi
dường như viết về Bác thuộc cái gu của nhà thơ rồi Niềm trăn trở trong
ông chỉ còn là tìm ra hình thức thơ sao cho mới mẻ nhưng phải phù hợp vớiđối tượng quần chúng Nhân dân Cuối cùng neo đậu lại trong lòng quầnchúng độc giả là những bài thơ gần với thơ ca dân gian Mã Giang Lân đã
từng nhận xét Thơ Minh Huệ còn lại với chúng ta là nhờ ở tâm hồn đằm thắm, chân tình đôn hậu của ông Chúng ta đòi hỏi nhiều ở tác giả, nhưng tấm lòng say sưa, chất đậm của một vùng văn hóa in sâu trong lòng mỗi câu chữ thì không ai có thể quên được…[43] Thơ Minh Huệ thể hiện tấm
chân tình da diết, chính điều đó đã đưa đến thành công cho thơ ông đúng
như Nguyễn Sĩ Đại nhận xét Thành công của Minh Huệ và nhiều người khác bắt đầu từ tấm lòng [13]
Minh Huệ đã để lại cho nền văn học cách mạng những tác phẩm tiêubiểu là: Tiếng hát quê hương (thơ, 1959); Đất chiến hào, (thơ, 1970); Mùa xanh đến (thơ, 1972); Đêm nay Bác không ngủ (thơ, 1985); Rừng xưa rừng nay (bút ký, 1962); Ngọn cờ Bến Thủy (truyện ký, 1974-1979); Người mẹ và mùa xuân (truyện ký, 1981); Phút bi kịch cuối cùng (tiểu thuyết, 1990); Thưởng thức thơ viết về Bác Hồ (tiểu luận, 1992) Ông đã được nhậngiải thưởng nhà nước 2007 – giải thưởng xuất sắc có giá trị cao về văn họcnghệ thuật ngợi ca Đất nước, Nhân dân góp phần xây dựng CNXH và bảo vệ
Tổ Quốc Ông được công nhận là nhà thơ lão thành cách mạng
Trang 32Cũng như Minh Huệ, Trần Hữu Thung làm thơ là để tuyên truyền cổđộng cách mạng Ông khai thác đề tài các chị dân quân, các anh hỏa tuyến và
về cuộc sống của những người nông dân nghèo khổ Trần Hữu Thung khôngquan tâm lắm đến chuyện đời tư, chuyện vui, buồn, được, mất của cuộc đờimình mà chỉ vui buồn cùng vận nước, tình dân Ông có phong cách một nhàthơ dân gian Thơ của ông dễ đọc, dễ hiểu và dễ nhớ Bởi đối với ông, làm thơtrước hết là để phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân Ông viết những vần thơnhằm ca ngợi chiến công, phổ biến chủ trương chính sách, phản ánh đời sốngngười nông dân kháng chiến Lời thơ chân tình, mộc mạc, mang tính phổ cập.Lòng yêu nước của Trần Hữu Thung được nhen nhóm từ những câu chuyện
bà kể và từ truyền thống chống giặc ngoại xâm của quê hương ông Qua lờitâm sự của Trần Hữu Thung phần nào chúng ta hình dung được quan niệmnghệ thuật của nhà thơ:
"Tôi được nghe những mẫu chuyện đánh Tây từ thuở nhỏ, đâu chừng bảy tám tuổi.
Những đêm đông giá rét bên bếp gộc lò sưởi gia đình, tôi ngồi tựa vào lòng bà nội mà nghe kể Những mẩu này thường được xen vào sau những bài
vè, những đoạn Kiều, Tống Trân rồi liên hệ đến “thời buổi”, và bà tôi kể thầm…phải, hồi đó phải kể thầm.
Tuổi nhỏ thường tò mò và nhớ dai Càng bị cấm, trí tò mò càng bị kích thích Cho đến nay, giọng kể của bà tôi hầu như còn thì thầm bên ánh lửa…
“ Một hôm, các “ngài” họp ở nhà quan Biện bàn kế đánh Tây Trong cuộc họp một ông cử có ý tháo lui, quan Biện đập án thư quát:
- Các người chỉ nghĩ đến riêng mình mà bỏ quên dân Thôi, về xách váy cho vợ!
“Chính cái lò rèn ông Túc Viện đầu cổng chợ là nơi xưa rèn dáo mác cho nghĩa quân.
Trang 33“ Nơi quán Rài kia là chỗ dàn thế trận…
Có lần tôi hỏi bà: “ Tại sao ông “ học” Vượng lại thường cởi truồng ngồi đầu thôn mà hát?” Bà tôi nói khẽ: “ Ấy, những người như thế thường là bất đắc kì chí Trong bụng ông ta học nhiều chữ quá nên hóa cuồng Chữ thì thi cử đã bỏ Nghĩa thì – bà tôi kể sang chuyện ông khác- bức chí vì chậm chân không xuất ngoại được” ( bà dùng chữ “xuất ngoại” để chỉ phong trào xuất dương) Bà tôi thường kết luận:
“ Thời vận chưa đến đó thôi Người nước Nam ta tài giỏi lắm! Cứ nhìn vào ông Tác- Lực làng ta thì rõ Người anh đưa Tây về nhà bắt ông ta, hắn đứng trên tường nhà gạch gọi xuống:
- Em ơi em! Thế sự đã tàn, em nên nghĩ đến tổ tiên, nghe anh ra mà hàng đi”
Ông Tác thò đầu ra mái tranh, nói to lên:
- Anh ơi anh, hòn lèn có nằm sấp xuống em mới chịu bó tay anh ạ.”
“ Giặc bắn ông gẫy chân, ông vẫn chạy thoát!
Tôi say sưa nghe những mẫu chuyện như thế Và cứ như một xoáy nước cuốn rộng ra dần, những câu chuyện đánh Tây cũng mỗi ngày một thêm phong phú Các cụ già kể tiếp cho tôi nhiều mẩu mới hơn, lôi cuốn hơn nữa Thí dụ có cụ kể: “ Ông Mao Trạch Đông có cái đầu to như mặt trời mới mọc! Ông Nguyễn Ái Quốc có đôi mắt nhìn suốt từ “ Ba-ri” thấu Bến Thủy!”
Sau này, qua cách mạng tháng Tám và kháng chiến trường kì dồn dập không biết bao nhiêu là sự kiện và nhân vật anh hùng đã phát sinh Hình như những mẫu chuyện đời xưa ấy đã bị lấn át đi rồi Hay có nhắc lại chăng nữa tôi cũng coi đó như là những câu chuyện” thần thoại” với một câu kết vừa kính trọng vừa gợi buồn cười: Ông cha chúng mình ngày xưa đánh Tây như thế đó!
Trang 34Nhưng lại có một sự thật là kiến thức càng được mở thêm thì những mẫu chuyện ngày xưa lẻ tẻ, rời rạc, có tính chất truyền thuyết ấy lại càng bám sâu, bám hoài vào trí nhớ của tôi Nó như cái mối dây hiểu biết của tôi
về lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc.
Nghe ai kể, đọc sách hay bản thân được chứng kiến, tôi lại vẫn quây về cái đầu mối dây ấy mà tưởng tượng, mà hình dung.
Đúng là trí nhớ thường làm việc với cả tình cảm Sao tôi mến và say
mê những câu chuyện, những con người của thời cần vương, thời Xô-Viết Nghệ- Tĩnh đến thế! Thích nghe và thích kể phải chăng là để thỏa mãn mơ ước của mình?
Mối cảm tình đặc biệt đó càng ngày càng được sắc đọng và đã thành một thúc giục trong lòng tôi: phải viết ra dù bằng hình thức nào cũng được.
Sao lại không viết ra nhỉ?
Các cụ và bà nội ngày xưa vì sợ giặc mà phải kể thầm! Sao ngày nay, cái đồn Tây đã trở thành hội quán của hợp tác, mà bút tôi lại lặng thinh?
“ Người nước Nam ta tài giỏi lắm”- bà tôi nói thế Nay tôi nói: “ Nhân dân ta rất anh hùng” Sao lại không ghi lấy những gương bất khuất?
Đâu phải là chuyện chơi đồ cổ!
Chính cuộc sống mới, con người mới vô cùng phong phú ngày nay lại giục giã tôi Chính tin tức và không khí sản xuất, đấu tranh thắng lợi hàng ngày của thôn xóm ở hai miền đất nước lại càng nhóm mạnh thêm nguồn cảm hứng của tôi.
Tôi viết.
Vốn liếng có được là bao! Chỉ vẻn vẹn có mấy mẩu chuyện rời rạc, lẻ
tẻ, mỗi nơi kể một khác và thêm một số bài vè.
Nhưng, đó là cái nền, cái vốn quý Vì, tôi vẫn trìu mến nó như những ngày nào Mọi kiến thức chính xác qua sử sách đều được xây lên trên cái nền
Trang 35ấy Tôi nhào nặn mọi thứ lại rồi mạnh dạn đặt ra theo kiểu tưởng tượng của riêng mình Cho nên, xin đừng coi đây là tài liệu lịch sử.
Ấy thế mà, cho đến khi viết xong, tôi lại thấy rằng: kể chưa hết Làm sao mà gói hết vào được tập chuyện này bây giờ?
Rồi, tôi cũng thấy rằng đây chưa phải là một chuyện mà chỉ mới là từng mảnh một có ít nhiều dính líu với một số nhân vật thôi Và cuối cùng hình như đây càng chưa phải là anh hùng ca Thì ra, quá trình sáng tác quả
là một quá trình nhận thức gay go và gian khổ Biết được đây chỉ mới là một lối kể chuyện; biết rõ rằng mình mới làm được ít ỏi như thế này, nhưng vẫn gắng ra mắt bạn đọc, vì cần để phục vụ đã.
Kinh nghiệm rút ra được trong khi viết đã quý Kinh nghiệm học hỏi được sau khi đưa ra phục vụ càng quý hơn."[65]
Quan niệm về hình thức thơ, Trần Hữu Thung không đề cao sự trauchuốt hình thức mà coi trọng sự chân thực, giản dị, tự nhiên trong lối thể hiện.Thơ Trần Hữu Thung làm lay động lòng người không phải bởi ở sự trau chuốtngôn từ hay ở cấu trúc ngữ pháp mà ở chỗ tình cảm chân thành mộc mạc Nhà
thơ Huy Phương khi viết về Trần Hữu Thung đã cho rằng: "Con người nhà thơ ấy đã từng nêu cảm nhận: Tôi vẫn còn nhớ cái lần đầu tôi gặp Trần Hữu Thung ở cơ quan Chi hội Văn Nghệ Liên Khu IV Trước mắt tôi là một anh chàng với cái dáng của một lực điền, vạm vỡ trong bộ áo quần nâu đã hơi bạc màu, có khuôn mặt vuông sạm nắng, đôi mắt nhìn thẳng tự ti dưới đôi lông mày rậm Anh Lưu Trọng Lư săn đón giới thiệu con người ấy với tôi : “ Trần Hữu Thung đấy!”và chìa vào tay tôi bài thơ “Thăm lúa” mà có lẽ Trần Hữu Thung vừa làm xong, còn chép trên một mảnh giấy nứa, Hồi ấy tôi ở Quân Giới vừa ra ít lâu, đang còn tò mò đối với tất cả những gì mà người ta viết về nông thôn."[62] Bài thơ Thăm lúa của Trần Hữu Thung mang cái chất
ấy-nông thôn mộc mạc, chân thật, hồn nhiên Chính sự nhiệt tình sôi nổi mà hồn
Trang 36hậu ở Trần Hữu Thung, tấm lòng gắn bó của ông với hàng xóm, quê hương,thể hiện một cách bộc trực và giản dị trong cuộc sống cũng như trong nhữngbài thơ, những bài ca dao, đã gây được một ấn tượng đáng kể đối với nhiềungười cầm bút khác cùng lứa tuổi đang hăm hở trên những bước đầu của nghềviết Đến với Trần Hữu Thung, qua tác phẩm của ông, người đọc có thể bắtgặp ngay được cái điệu rung cảm của một tâm hồn mang màu sắc và phongcách riêng của cả một miền, một vùng đất nước, một lớp người đi trước chúng
ta Ông là cây bút vô cùng nhạy cảm với thiên nhiên và vẻ đẹp của giang sơn
gấm vóc Dẫu khi phác họa vài nét chấm phá qua một giọt Sương treo đầu ngọn cỏ, một ráng mây, một tiếng chim buổi sáng, để đặt nó vào một dòng
thơ, một câu ca dao, hay khi muốn bao quát cả một vùng sông núi với những
hình ảnh hùng vĩ như anh đã làm trong tập trường thiên Gió Nam, Trần Hữu
Thung vẫn thể hiện một cái nhìn cặn kẽ và thuần phác, tinh tế mà vẫn hồnhậu, ấm áp Chất hiện thực cuộc sống được đưa vào trong thơ Hữu Thung rấtphong phú đó là mảnh ruộng nứt nẻ dưới chân trâu, là lũy tre vòng quanh thônnhỏ, là tiếng cuốc chim trên công trường thủy lợi, là một buổi họp bình nghịthuế nông nghiệp, là ông cụ tri điền, là bà mẹ chiến sĩ, những đoàn trai và gái
đi dân công trên đường ra mặt trận…
Xứ sở mưa rào, nắng xói, gió nam cào, nam cuốc đã để lại dấu ấn sâuđậm trong thơ Trần Hữu Thung Những chặng đường cách mạng gian lao,những hiện thực cuộc sống vô cùng ngổn ngang đều in đậm trong tâm trí HữuThung tạo nên dáng vẻ không nhầm lẫn được trong thơ ông Thơ Trần HữuThung tạo nên sức truyền cảm không hẳn là nhờ ở ý, ở chữ và lời, mà trướchết là ở cái cách nói, ở cái giọng nói riêng, chỉ riêng của ông thôi Ta bắt gặptrong thơ ông một cách diễn đạt, một lối cấu tạo hình ảnh đôi khi đến mứclàm ta bỡ ngỡ chỉ có Trần Hữu Thung mới viết được như thế Cái bản sắcriêng trong thơ Trần Hữu Thung được bắt nguồn từ một tập quán dân gian
Trang 37Chính cái đó góp phần làm nên tên tuổi Trần Hữu Thung và tạo sức sống lâubền cho thơ ông Trần Hữu Thung không mất công đi kiếm tìm những líthuyết hàn lâm để làm thơ mà chính những vần thơ tự tuôn trào như mạchnước suối rừng tự nhiên tuôn chảy vậy Tâm hồn ông chân thực làm nên thơông chân thành Tấm lòng ông trong sáng, ngay thẳng làm nên thơ ông dung
dị, hồn nhiên Thơ Trần Hữu Thung đã đi vào cuộc kháng chiến trong nhữngbuổi tập văn nghệ, những buổi họp đoàn thể một cách tự nhiên Chính vì thếthơ ông có sức lan tỏa rất lớn Trần Hữu Thung từng ý thức được rằng thơ ông
là để phục vụ Và hơn thế nữa là để dâng hiến cho kháng chiến, cho cách
mạng cho dân cho nước Thơ của Trần Hữu Thung cũng chính là con ngườiông đó Những sáng tác tiêu biểu của Trần Hữu Thung:
- Anh vẫn hành quân (thơ ) (1983), Nxb Nghệ Tĩnh.
- Tiếng chim đồng (thơ) (1975), Nxb văn học.
- Sen quê Bác (thơ) (1987), Nxb tác phẩm mới.
1.3.2 Con đường thơ của Minh Huệ
Minh Huệ tham gia cách mạng từ trước tháng 8/ 1945, nhiều năm làmcán bộ tuyên truyền, báo chí, văn nghệ và quản lí văn hóa - văn nghệ ở cấptỉnh Ông là tác giả các tập thơ:
Trang 38- Minh Huệ, Tuyển tập, Nhà xuất bản Nghệ An, 2003.
- Minh Huệ, Đêm nay Bác không ngủ, Nhà xuất bản Nghệ Tĩnh.
- Minh Huệ, Thơ với tuổi thơ, Nhà xuất bản Kim Đồng.
- Minh Huệ, Cõi Sen, Nhà xuất bản Nghệ An.
- Minh Huệ, Đất chiến hào, Nhà xuất bản văn học Hà Nội, 1970.
- Minh Huệ, Đêm nay Bác không ngủ(Tuyển, 1985 - giải thưởng văn
học Nguyễn Du của tỉnh Nghệ Tĩnh 1986)
Khi mới 24 tuổi, Minh Huệ đã tạo nên tiếng vang lớn trong nền thơ cakháng chiến chống Pháp Và chính Minh Huệ đem đến cho dân tộc một hyvọng mới, một hình tượng mới về vị lãnh tụ vĩ đại - hình tượng Bác Hồ, Chủtịch Hồ Chí Minh Con người có cuộc đời từng trải gần như huyền thoại này
có sức hấp dẫn kì lạ đối với mỗi người dân đương ngây ngất vì thân phận mới
của mình Rất sớm, Tố Hữu đã có bài thơ Hồ Chí Minh (1946, trong tập Từ ấy) rồi ít lâu sau là Sáng tháng năm (1951) Và gần như nhà thơ Việt Nam
nào cũng có ít ra là một sáng tác về chủ đề lớn này, tuy số thành công khôngphải là nhiều lắm Ngoài Tố Hữu còn phải kể đến Bảo Định Giang, Chế LanViên, Thanh Tịnh, Hoàng Trung Thông, Hải Như…và tất nhiên là có Minh
Huệ vớ bài thơ Đêm nay Bác không ngủ ( 1951) Đặt bài thơ vào bối cảnh
của thi đàn Việt Nam đầu những năm năm mươi mới thấy hết cái mới và phầnđóng góp của Minh Huệ Sau ngày 19/12/1946, hầu hết những thi sĩ có danhtiền chiến đều hăng hái rời bỏ thành thị, tham gia vào chiến đấu sinh tử vớiquân thù Xuân Diệu loay hoay chưa thể nào yêu được người mới, cảnh mới:
Sáng nay ra cửa u tì quốc/ Một chiếc xe bon đạp giữa đàng! Chế Lan Viên tự kiểm điểm Đi xa về hóa chậm/ Biết bao là nhiêu khê Chính Hữu vẫn dùng những hình tượng cũ Bụi trường chinh phai bạc áo bào hoa… Màu tím hoa sim (Hữu Loan), Bên kia sông Đuống (Hoàng Cầm), Tây Tiến (Quang Dũng)
… là những bài thơ hay nhưng còn không ít hình tượng và nhất là nhịp điệu
Trang 39cũ…và Đêm nay Bác không ngủ - một trong những thi phẩm mang dấu ấn
thực sự của một cách cảm, cách nghĩ mới ra đời Bài thơ của Minh Huệ dùngbút pháp tự sự, 16 khổ, 64 dòng nhưng không gây ấn tượng thừa thãi Tứ thơcũng là tên bài thơ Đêm là phút lắng lại, là giao thừa của ngày cũ ngày mới,
là lúc cái thực nhòa đi, cái ảo thăng hoa, hiện hình trong những giấc mơ Đêmcũng là môi trường của tình cảm, của sự ngẫm ngợi, chiêm nghiệm, đôi khi làphút vụt hiện của tiềm thức, vô thức, của sáng tạo Đêm là thời khắc yêu thích
của các nhà thơ Nguyễn Trãi đau đời thương nước Đêm đêm thức nhẫn nẻo
sơ chung Hồ Xuân Hương thương thân Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn/ Trơ cái hồng nhan với nước non Hàn Mặc Tử nghe được tiếng thỏ thẻ đêm xuân Chàng ơi chàng ơi sự lạ đêm qua/ Mùa Xuân đến mà không ai biết cả…Trong ba ngàn đêm của cuộc kháng chiến trường kì, Minh Huệ chỉ mô tả
một đêm Nhà thơ đã hóa thân thành anh đội viên, người chiến sĩ bảo vệthường xuyên gần gũi Bác Anh đội viên này hẳn còn trẻ, rất có trách nhiệmnhưng cũng dễ ăn, dễ ngủ, dễ xúc động Tình cảm của anh với Bác có phần
nghiêng về tình con đối với cha hơn là tình quần chúng với lãnh tụ Anh đội viên nhìn Bác/ Càng nhìn lại càng thương/ Người cha mái tóc bạc/ Đốt lửa cho anh nằm Tình cảm ấy khiến anh thổn thức bồn chồn, bề bộn, rồi hốt
hoảng, từ đó có cái cách ép buộc rất…trẻ con: nằng nặc! khi đã hiểu ra lí dokhiến Bác mất ngủ thì anh vui sướng rồi bày tỏ sự đồng cảm một cách cũngrất trẻ trung là thức luôn cùng Bác! Nếu bài thơ dừng ở câu này thì cũng đủ làmột câu chuyện cảm động về vị lãnh tụ Nhưng Minh Huệ đã xuất sắc thêmvào một khổ kết, nâng hẳn tầm bài thơ lên : hóa ra cái đêm mất ngủ của Báckhông phải là sự tình cờ , ngẫu nhiên mà là một tất yếu Một nhân cách, một
tấm lòng như Hồ Chí Minh thì chỉ một lẽ thường tình: một nỗi đau, một sự
vất vả của quần chúng lao khổ cũng đủ khiến hồn người xao xuyến Đến đây
ta có thể hiểu vì sao bài thơ có sức lan tỏa và có sức sống bền lâu như vậy:
Trang 40Hình tượng Hồ Chí Minh trong sáng tạo của nhà thơ phù hợp với cách cảm,cách nghĩ và khao khát của quần chúng về một mẫu hình lãnh tụ kiểu mới -gần gụi, thương yêu nhân dân như tình cha con Bác Hồ chẳng được tôn xưng
là cha già của dân tộc đó sao? Đây là mối qua hệ mang tính Việt Nam, tính Á
Đông rất rõ nét và chẳng ai có thể nghi ngờ về Bản sắc dân tộc trong thi ca của
Minh Huệ Bài thơ tràn đầy một tình cảm yêu thương, ngưỡng mộ nhưng khôngsùng bái Những lần in đi in lại sau này, một đôi câu chữ bị biên tập, sửa đổi làm
sai lạc dụng ý ban đầu của tác giả Chẳng hạn, khổ thứ 5, nguyên văn Anh đội viên mơ màng/ Như nằm trong giấc mộng/ Bóng Bác cao lồng lộng/ Ấm hơi ngọn lửa hồng Đây là những câu thơ tả thực giản dị: anh đội viên đương nằm,
lại trong trạng thái nửa thức, nửa ngủ (mơ màng) nên nhìn bóng Bác đang đi
(dém chăn) thấy (lồng lộng) là phải Bác vừa rời bếp lửa nên ấm hơi lửa chứ đâu phải là ấm hơn lửa như người đã vô tình hoặc cố ý sửa đi cho hô ứng với chữ lồng lộng bên trên? Trong tuyển tập thơ văn cuối cùng của mình, Minh Huệ đã lấy lại chữ ấm hơi nguyên thủy như thế là hợp lí.
Gọi Minh Huệ là hiện tượng một bài không có nghĩa là những thi phẩm
khác của ông không có gì đáng chú ý Ông, cùng với Trần Hữu Thung là hainhà thơ đậm chất Nghệ nhất, tuy hình như tính cách chẳng mấy giống nhau.Thơ ông chắc thiệt, đôi khi thô sơ nhưng cũng vì thế không véo von uốn éonhư một vài cây bút bị những nỗi buồn tiền chiến cầm tù Nhà thơ có cốt cáchcông dân, cốt cách cán bộ rất rõ này không phải người khô khan, chai cứngtrong tình cảm riêng Thơ ông ít dư ba về âm thanh nhưng không thiếu màusắc Sang thăm nước bạn Lào, ông chú ý cả đến sự tương phản giữa tấm áo
nhà sư và màu sóng Mê Công "Chiều đảo khoỏng hồn nhiên/ như nhà sàn hóng gió/ Song gỗ, áo vắt vàng/ Nhà sư tắm sóng đỏ" Minh Huệ cũng mang
nhiều trăn trở, nhọc nhằn trên con đường đổi mới thi ca Nhưng đổi lại, chỗđứng của thơ ông trong thi đàn vững chắc hơn