Để góp phần kiểm soát rệp gây hại rau họ HTT tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đặc điểm sinh học, sinh thái và một số biện pháp phòng trừ rệp xám Brevicoryne brassicae Linnaeus và rệp cả
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ
- -PHAN THỊ THÙY LINH
ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu khoa học này là do tôi trực tiếp thựchiện, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Thanh Các số liệu và kết quả nghiêncứu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được sử dụng để công bố trong bất
kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều đã được chỉ rõnguồn gốc và mọi sự giúp đỡ để thực hiện khóa luận này đã được cảm ơn
Nếu có sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Tổ bộ môn Bảo vệ thựcvật, Khoa Nông Lâm Ngư và Trường Đại học Vinh
Nghệ An, ngày tháng 5 năm 2012
Sinh viên nghiên cứu
Phan Thị Thùy Linh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài để hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận đựơc sự giúp đỡ của nhiều cơ quan và cá nhân.
Nhân dịp này, cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn tới ban chủ nhiệm khoa Nông Lâm Ngư, Trường Đại học Vinh, tập thể cán bộ Tổ bộ môn Bảo vệ thực vật đã tạo điều kiện thuận lợi về thời gian cũng như cơ sở vật chất, thiết bị thí nghiệm cho tôi thực hiện đề tài này.
Với tất cả sự chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn tới
cô giáo kính quý TS Nguyễn Thị Thanh - người đã định hướng, tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới ThS Phan Thị Giang,
KS Đinh Bạt Dũng đã giúp đỡ tôi thực hiện đề tài này.
Đồng thời, tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới các chủ nông hộ thuộc xã Hưng Đông đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tiếp cận, tìm hiểu và thu thập mẫu vật.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Nghệ An, tháng 5 năm 2012 Tác giả khóa luận Phan Thị Thùy Linh
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 5
1.1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5
1.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 9
1.2 Tình hình nghiên cứu về rệp xám Brevicoryne brassicae Linnaeus trên thế giới 10
1.2.1 Vị trí phân loại, triệu chứng gây hại, ký chủ và phân bố của rệp Brevicoryne brassicae Linnaeus 10
1.2.2 Đặc điểm sinh học, sinh thái của rệp Brevicoryne brassicae Linnaeus .10
1.2.3 Tình hình gây hại của rệp xám Brevicoryne brassicae Linnaeus trong sản xuất rau 12
1.2.4 Các biện pháp phòng trừ rệp xám Brevicoryne brassicae Linnaeus 12
1.3 Tình hình nghiên cứu về rệp xám Brevicoryne brassicae Linnaeus trong nước 14
1.3.1 Đặc điểm phân bố, tập quán sinh sống và triệu chứng gây hại của rệp Brevicoryne brassicae Linnaeus 14
1.3.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của rệp Brevicoryne brassicae Linnaeus 15
1.3.3 Nghiên cứu về các biện pháp phòng trừ rệp Brevicoryne brassicae Linnaeus 15
1.4 Những vấn đề tồn tại cần nghiên cứu và giải quyết 17
1.4.1 Những vấn đề tồn tại 17
1.4.2 Những vấn đề mà đề tài tập trung nghiên cứu 17
Trang 61.5 Một vài đặc điểm tự nhiên của Nghệ An 18
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Nội dung nghiên cứu 19
2.2 Vật liệu, dụng cụ, địa điểm và thời gian nghiên cứu 19
2.3 Phương pháp nghiên cứu 21
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái rệp xám Brevicoryne brassicae Linnaeus và Myzus persicae Sulzer 21
2.3.2 Phương pháp pha chế thuốc thảo mộc 22
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu và thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ rệp xám Brevicoryne brassicae, rệp cải Myzus persicae trong điều kiện phòng thí nghiệm và ngoài đồng ruộng 24
2.3.4 Phương pháp xử lý và bảo quản mẫu 29
2.3.5 Các chỉ tiêu theo dõi 30
2.3.6 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 30
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
3.1 Một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của rệp xám Brevicoryne brassicae Linnaeus và rệp cải Myzus persicae Sulzer 31
3.1.1 Một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của rệp xám Brevicoryne brassicae 31
3.1.2 Một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của rệp cải Myzus persicae .37
3.2 Kỹ thuật chế biến và sử dụng chế phẩm thảo mộc phòng trừ rệp xám Brevicoryne brassicae từ cây cúc Pyrethrum cinerariifolium Trev 44
3.3 Hiệu lực phòng trừ rệp xám Brevicoryne brassicae của chế phẩm thảo mộc làm từ cây cúc Pyrethrum cinerariifolium Trev và thuốc trừ sâu Conphai 10WP 49
3.3.1 Trong phòng thí nghiệm 49
3.3.2 Ngoài đồng ruộng 58
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
1 Kết luận 68
2 Kiến nghị 69
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Nguyên liệu để làm chế phẩm từ cây cúc Pyrethrum cinerariifolium
19Bảng 2.2 Các công thức cấu tạo hóa học của Pyrethroid trong cây hoa cúc
20Bảng 2.3 phương pháp chế biến theo dạng chế phẩm cây hoa cúc gồm
hoa cúc (dịch chiết tươi) và thân cúc (bột khô) 23Bảng 2.4 Sơ đồ sử dụng chế phẩm làm từ thân cúc phòng trừ rệp xám
ngoài đồng ruộng 26Bảng 2.5 Sơ đồ sử dụng chế phẩm làm từ hoa cúc phòng trừ rệp xám
ngoài đồng ruộng 27Bảng 2.6 Sơ đồ sử dụng thuốc trừ sâu Conphai 10WP phòng trừ rệp xám
ngoài đồng ruộng 28Bảng 2.7 Sơ đồ sử dụng hỗn hợp thuốc trừ sâu Conphai 10WP + chế
phẩm làm từ hoa cúc phòng trừ rệp xám ngoài đồng ruộng 28Bảng 2.8 Sơ đồ sử dụng hỗn hợp thuốc trừ sâu Conphai 10WP + chế
phẩm làm từ thân cây cúc phòng trừ rệp xám ngoài đồng ruộng 29Bảng 3.1 Thời gian phát dục và vòng đời của rệp xám Brevicoryne brassicae
34Bảng 3.2 Thời gian rệp trưởng thành Brevicoryne brassicae đẻ một cá
thể rệp con (phút) 36Bảng 3.3 Sức sinh sản của rệp xám Brevicoryne brassicae 36
Bảng 3.4 Thời gian phát dục và vòng đời của rệp cải Myzus persicae Sulzer
ở điều kiện phòng thí nghiệm (giờ) 39Bảng 3.5 Thời gian rệp trưởng thành Myzus persicae đẻ một cá thể rệp
con (phút) 42Bảng 3.6 Sức sinh sản của rệp cải Myzus persicae Sulzer 42
Bảng 3.7 Hiệu lực phòng trừ rệp xám của chế phẩm thảo mộc làm từ
hoa cúc 49
Trang 9Bảng 3.8 Hiệu lực phòng trừ rệp xám của chế phẩm thảo mộc làm từ
thân cúc 51Bảng 3.9 Hiệu lực phòng trừ rệp xám của thuốc trừ sâu Conphai 10WP 53Bảng 3.10 Hiệu lực phòng trừ rệp xám của hỗn hợp thuốc trừ sâu Conphai
10WP + chể phẩm thảo mộc làm từ hoa cúc 54Bảng 3.11 Hiệu lực phòng trừ rệp xám của hỗn hợp thuốc trừ sâu Conphai
10WP + chể phẩm thảo mộc làm từ thân cúc 56Bảng 3.12: Hiệu lực phòng trừ rệp xám của chế phẩm thảo mộc làm từ
hoa cúc 58Bảng 3.13 Hiệu lực phòng trừ rệp xám của chế phẩm thảo mộc làm từ
thân cúc 59Bảng 3.14 Hiệu lực phòng trừ rệp xám của thuốc trừ sâu Conphai 10WP 61Bảng 3.15 Hiệu lực phòng trừ rệp xám của hỗn hợp thuốc trừ sâu Conphai
10WP + chể phẩm thảo mộc làm từ hoa cúc 63Bảng 3.16 Hiệu lực phòng trừ rệp xám của hỗn hợp thuốc trừ sâu Conphai
10WP + chể phẩm thảo mộc làm từ thân cây hoa cúc 65
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Hình 2.1 Cấu tạo hóa học của Pyrethroid trong cây hoa cúc 20
Hình 3.1 Hình thái của rệp xám Brevicoryne brassicae 32
Hình 3.2 Rệp cái không cánh đẻ con 35
Hình 3.3 Rệp non không cánh lột xác 35
Hình 3.4 Rệp cải Myzus persicae Sulzer trưởng thành có cánh và rệp con .40
Hình 3.5 Rệp cái không cánh và rệp con 41
Hình 3.6 Rệp cái không cánh lột xác 41
Hình 3.7 Quy trình chế biến và sử dụng chế phẩm từ cây hoa cúc Pyrethrum cinerariifolium Trev phòng trừ rệp hại rau họ hoa thập tự 44
Hình 3.8 Các thiết bị và dụng cụ tạo chế phẩm thảo mộc từ hoa cúc 45
Hình 3.9 Thân cúc, hoa cúc và chất phụ gia để tạo chế phẩm thảo mộc 45
Hình 3.10 Một số hình ảnh rệp phá hại theo giai đoạn phát triển của rau 47
Hình 3.11 Hiệu lực phòng trừ rệp xám của chế phẩm thảo mộc làm từ hoa cúc 50
Hình 3.12 Hiệu lực phòng trừ rệp xám của chế phẩm thảo mộc làm từ thân cúc 52
Hình 3.13 Hiệu lực phòng trừ rệp xám của thuốc trừ sâu Conphai 10WP 53
Hình 3.14 Hiệu lực phòng trừ rệp xám của hỗn hợp thuốc trừ sâu Conphai 10WP + chể phẩm thảo mộc làm từ hoa cúc 55
Hình 3.15 Hiệu lực phòng trừ rệp xám của hỗn hợp thuốc trừ sâu Conphai 10WP + chể phẩm thảo mộc làm từ thân cúc 57
Hình 3.16 Hiệu lực phòng trừ rệp xám chế phẩm thảo mộc làm từ hoa cúc .58
Hình 3.17 Hiệu lực phòng trừ rệp xám chế phẩm thảo mộc làm từ thân cúc .61
Hình 3.18 Hiệu lực phòng trừ rệp xám của thuốc trừ sâu Conphai 10WP 62
Trang 11Hình 3.19 Hiệu lực phòng trừ rệp xám của hỗn hợp thuốc trừ sâu Conphai
10WP + chể phẩm thảo mộc làm từ hoa cúc 64Hình 3.20 Hiệu lực phòng trừ rệp xám của hỗn hợp thuốc trừ sâu Conphai
10WP + chể phẩm thảo mộc làm từ thân cúc 66
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Rau là loại cây thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, đóng vai trò quan trọngtrong bữa ăn hàng ngày của mỗi người dân Việt Nam cũng như trên toàn thế giới,tầm quan trọng của rau trong cuộc sống đã được ông cha ta thừa nhận qua câu cadao “Cơm không rau như đau không thuốc”
Ngày nay khi điều kiện sống được nâng lên, lương thực và các thức ăn giàuđạm được đáp ứng đầy đủ thì nhu cầu về số lượng và chất lượng rau ngày càng tăngcao và là nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng, bởi rau cung cấp cho chúng tanhững chất như Protein, lipit, muối khoáng, axit hữu cơ hỗ trợ để nâng cao sức khoẻ
và kéo dài tuổi thọ của con người
Rau xanh gồm nhiều loại khác nhau trong đó rau họ hoa thập tự chiếm hơn50% tổng sản lượng rau và hầu như xuất hiện quanh năm trên thị trường Cùng với
sự phát triển của các loại rau là sự phát triển và gây hại của các loài sâu hại, docác vụ rau được trồng gối nhau liên tục quanh năm là nguyên nhân chính làm chosâu hại ngày càng nguy hiểm hơn
Có rất nhiều loại sâu hại trên rau họ hoa thập tự, điển hình là một số loại sâu
hại chính như rệp xám (Brevicoryne barassicae), sâu khoang (Spodoptera litura), sâu tơ (Plutella xylostella), sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae), bọ nhảy (Phyllotetra striolata), Các loại sâu hại này đã và đang là nguyên nhân chính làm
giảm năng suất và phẩm chất rau
Để bảo vệ cây rau nông dân đã dùng nhiều biện pháp khác nhau, trong đóchủ yếu là dựa vào biện pháp hoá học Đặc biệt đối với các vùng chuyên canh rau,thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng nhiều, liên tục Kết quả nghiên cứu cho thấy, đểphòng trừ sâu bệnh hại rau, nông dân trồng rau ở Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã
sử dụng 37 loại thuốc hóa học trừ sâu, bệnh, cỏ dại và chất điều hòa sinh trưởng,trong đó chỉ có 10 chất được phép sử dụng trên rau, số còn lại có tới 26 loại thuốckhông được phép sử dụng (Wofatox 50EC) và một số loại không rõ nguồn gốc(Trần Văn Quyền và cs, 2008) [12]
Việc lạm dụng thuốc BVTV trong sản xuất rau đã làm cho một số loài sâu hại
có tính chống thuốc như sâu tơ (Plutela xylostella), sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae),… đồng thời làm giảm số lượng các loài thiên địch có ích trên đồng ruộng,
Trang 13làm mất cân bằng sinh học, gây ô nhiễm môi trường, làm cho các loài sâu hại trướcđây là thứ yếu nay bùng phát số lượng thành loài chủ yếu Đồng thời còn làm cho rauxanh chứa dư lượng thuốc BVTV, phân hoá học, kim loại nặng và vi sinh vật có hạivượt quá mức cho phép dẫn đến các căn bệnh nguy hiểm cho người sử dụng thậm chígây tử vong do sử dụng rau quả nhiễm độc có chiều hướng gia tăng đang là vấn đềquan tâm và nỗi lo của toàn xã hội.
Để góp phần vào chiến lược phát triển một nền nông nghiệp sạch với hệ sinhthái bền vững thì chúng ta cần có sự quan tâm và nghiên cứu nhiều hơn tới biệnpháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) đặc biệt là biện pháp sinh học Trong đó việctăng cường sử dụng các chế phẩm sinh học bảo vệ cây trồng là một trong những xuhướng được quan tâm ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung
Các chế phẩm sinh học có nhiều ưu điểm như: không gây ảnh hưởng tới sứckhỏe con người, vật nuôi, cây trồng và các sinh vật có ích khác Các chế phẩm hữu
cơ phân hủy nhanh trong đất nên không làm hại đến kết cấu đất và tính chất đất màcòn góp phần tăng độ phì đất, không gây ô nhiễm môi trường Chế phẩm thảo mộc
là một hướng đi của biện pháp sinh học và đang được định hướng là biện phápphòng trừ sâu hại an toàn và thân thiện với môi trường
Việc phòng trừ sâu bệnh hại sẽ được thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn khi hiểu
rõ về thành phần loài, đặc điểm sinh học, sinh thái của các đối tượng sâu bệnh hạitrên mỗi loại cây trồng Trong nhiều năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu vềsâu hại và biện pháp phòng trừ trên cây rau họ hoa thập tự (HTT) Tuy nhiên, nhữngnghiên cứu này mới chỉ tập trung ở một số vùng trồng rau lớn trong cả nước như HàNội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt Việc nghiên cứu về rệp xám hiện nay vẫnđang còn rất hạn chế và chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn Các nghiên cứu mới chỉdừng lại ở điều tra thành phần loài mà chưa chú trọng đến nghiên cứu đặc điểm sinhhọc, sinh thái và biện pháp phòng trừ
Ở Nghệ An việc nghiên cứu này hầu như chưa được tiến hành Nên mức độgây hại của rệp trên rau còn rất nghiêm trọng, gây tổn thất rất lớn đến năng suất,chất lượng sản phẩm Để góp phần kiểm soát rệp gây hại rau họ HTT tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Đặc điểm sinh học, sinh thái và một số biện pháp phòng trừ
rệp xám Brevicoryne brassicae Linnaeus và rệp cải Myzus persicae Sulzer
(Aphididae: Homoptera) hại rau họ hoa thập tự ở Nghệ An”.
Trang 143 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
- Rệp xám Brevicoryne brassicae Linnaeus và rệp cải Myzus persicae Sulzer
hại rau họ hoa thập tự, thuộc họ rệp muội (Aphididae), bộ cánh đều (Homoptera)
- Cây cúc Pyrethrum cinerariifolium Trev.
- Thuốc hóa học Conphai 10WP
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học của rệp xám Brevicoryne
brassicae Linnaeus và rệp cải Myzus persicae Sulzer hại rau họ hoa thập tự.
- Nghiên cứu kỹ thuật chế biến và sử dụng chế phẩm thảo mộc làm từ cây
hoa cúc Pyrethrum cinerariifolium phòng trừ rệp xám hại rau họ hoa thập tự.
- Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ rệp xám Brevicoryne brassicae:
+ Biện pháp sinh học: Sử dụng chế phẩm thảo mộc chiết xuất từ cây cúc
Thí nghiệm 5: Sử dụng hỗn hợp thuốc trừ sâu Conphai 10WP + chế phẩmlàm từ thân cúc phòng trừ rệp xám
Trang 15Các thí nghiệm được thực hiện tại phòng thí nghiệm Sinh thái côn trùng nôngnghiệp và trại thực nghiệm Nông học, Trung tâm thực hành thí nghiệm, Trường Đạihọc Vinh.
4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học
- Bổ sung một số dẫn liệu về đặc điểm sinh học, sinh thái học của rệp xám
Brevicoryne brassicae và rệp cải Myzus persicae hại rau họ HTT
- Nghiên cứu kỹ thuật chế biến và sử dụng chế phẩm thảo mộc từ cây cúc
Pyrethrum cinerariifolium để phòng trừ rệp xám Brevicoryne brassicae và rệp cải Myzus persicae hại rau họ HTT
- Cung cấp dẫn liệu khoa học cho biện pháp quản lý tổng hợp (IPM) rệp hạirau họ HTT ở Nghệ An
Trang 16Chương 1TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
1.1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1.1 Đặc điểm sinh học, sinh thái của côn trùng
* Đặc điểm hình thái, sinh học
Trải qua nhiều thế kỷ dưới sự tác dụng của quá trình chọn lọc tự nhiên, côntrùng đã có nhiều biến đổi sâu sắc về mọi mặt để sinh sống thuận lợi nhất trong cácđiều kiện ngoại cảnh và trở thành sinh vật phong phú nhất trong giới tự nhiên
Các loài côn trùng rất khác nhau về tập tính, hình dạng kích thước và cấu tạo
cơ thể nhưng đều có chung một số đặc điểm để phân biệt với các nhóm loài động vậtkhác: Cơ thể côn trùng gồm 3 phần: Đầu, ngực, bụng, đối xứng hai bên và được baobọc bởi lớp vỏ cứng chắc Chu kỳ phát triển của côn trùng từ lúc nở cho tới khitrưởng thành đẻ trứng lần đầu gọi là vòng đời Trong quá trình đó, côn trùng trải quahàng loạt biến đổi gọi là biến thái (biến thái hoàn toàn và biến thái không hoàn toàn)
Trứng là pha đầu tiên của một vòng đời côn trùng Quá trình phát triển củaphôi thai trong trứng chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện sống Do đó, ngay từ lúcphát triển phôi thai có thể tạo ra những điều kiện sống khác nhau để hướng sự pháttriển của trứng theo ý muốn của con người
Đặc điểm nổi bật của côn trùng là giai đoạn sâu non có sự lột xác và sinhtrưởng lớn lên Thời gian lột xác và số lần lột xác có sự khác nhau giữa các loài vàchịu ảnh hưởng của các điều kiện ngoại cảnh như nhiệt độ, độ ẩm, thức ăn Sâunon sau mỗi lần lột xác thêm một tuổi và tuổi sâu được tính theo công thức: n+1(n
là số lần lột xác)
Côn trùng sau vũ hóa, bộ máy sinh dục đã phát triển hoàn chỉnh để có thểgiao phối, thụ tinh và đẻ trứng Côn trùng đẻ trứng có tính chọn lọc như vị trí đẻ, sốlượng trứng đẻ và phương thức đẻ trứng khác nhau giữa các loài nhằm đảm bảođiều kiện tốt nhất cho sâu non sau khi nở Thời gian hoàn thành đẻ trứng, sức đẻtrứng ở các loài có sự khác nhau và chịu sự chi phối của điều kiện dinh dưỡng vàngoại cảnh Dựa vào khả năng đẻ trứng, tỷ lệ giới tính, thời gian sống của trưởng
Trang 17thành trong quá trình nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh thái có ý nghĩa rất lớntrong công tác dự tính dự báo số lượng, số lứa sâu hại để đề ra biện pháp phòng trừphù hợp.
* Đặc điểm sinh thái
Trong tự nhiên, các quần thể côn trùng không phải phân bố một cách tùy tiện
mà theo từng vùng xác định của lãnh thổ Điều này chứng tỏ mỗi loài côn trùng cónhững nhu cầu nhất định với môi trường xung quanh hay nói cách khác chúng cótiêu chuẩn sinh thái khác nhau Vì vậy, khả năng phát triển về số lượng của quần thểcủa các loài không giống nhau ngay cả trong cùng một loài cũng khác nhau tùy điềukiện môi trường
Sinh thái học côn trùng là nghiên cứu tổng hợp mối quan hệ giữa cơ thể côntrùng và môi trường sống của chúng Nghiên cứu về sự hình thành các đặc điểmhình thái, sinh lý, tập tính của côn trùng trong mối quan hệ với điều kiện môi trườngcũng như ảnh hưởng của môi trường đến số lượng cá thể từng loài, quy luật phân
bố, phát sinh phát triển của các loài sâu hại và kẻ thù tự nhiên của chúng
Darwin(1859) đã viết: “Mỗi loài sinh vật bị những ảnh hưởng của rất nhiềuyếu tố tác động lên những tuổi khác nhau, ở những thời điểm khác nhau trong năm
và ở những năm khác nhau Trong đó có một hoặc vài yếu tố tác động mạnh mẽ,song số lượng trung bình của loài và ngay cả sự tồn tại của loài đều phụ thuộc vào
sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố môi trường”
Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến đời sống côn trùng bao gồm các yếu tố
vô sinh(nhiệt độ, ẩm độ, ánh sang…), yếu tố hữu sinh(thức ăn, thiên địch,…) và yếu
tố con người Các yếu tố này có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến đời sống côntrùng Trong một chừng mực nào đó, tất cả các yếu tố môi trường đều có quan hệvới nhau và tác động tổng hợp đến côn trùng dưới hình thức tổ hợp các yếu tố chứkhông riêng rẽ Song trong điều kiện thực nghiệm, để làm sáng tỏ các yếu tố chính
và vai trò của nó đối với đời sống từng loài côn trùng, người ta thường tạo nênnhững hoàn cảnh mà trong đó chỉ có yếu tố theo dõi thay đổi còn các yếu tố khácgiữ nguyên F.Engels đã viết: “Để hiểu được từng hiện tượng riêng biệt, chúng tacần tách khỏi mối lien hệ chung và nghiên cứu chúng một cách độc lập, trongtrường hợp nào đó chúng ta thấy sự vận động biến đổi một cái là nguyên nhân còn
Trang 18cái khác là hậu quả” Đây là một trong những phương pháp nghiên cứu sinh thái nóichung và sinh thái côn trùng nói riêng.
1.1.1.2 Cơ chế tác động của thuốc thảo mộc lên sâu hại
Thuốc thảo mộc là thuốc có nguồn gốc từ thực vật, thuốc sử dụng những chấtđộc có sẵn trong cây cỏ thự nhiên để phòng trừ hoặc hạn chế tác hại của sâu hại
Khi sử dụng thuốc thảo mộc có nhiều ưu điểm cơ bản như: Chất độc là hợpchất tự nhiên nên hầu như sau khi sử dụng chúng nhanh chóng bị phân hủy không
để lại dư lượng độc trong nông sản và môi trường, ít gây hại cho sinh vật có ích, ítgây tính chống thuốc(Nguyễn Trần oánh(chủ biên), Nguyễn Văn Viên, 2004)
Thuốc trừ sâu xâm nhập vào cơ thể côn trùng qua vỏ cơ thể, qua miệng vàqua đường hô hấp
Thuốc xâm nhập qua vỏ côn trùng:
Thuốc trừ sâu có đặc tính thẩm thấu qua vỏ côn trùng gọi là thuốc trừ sâutiếp xúc Các loại thuốc trừ sâu tiếp xúc có khả năng tan trong lipit và lipoprotein và
độ hòa tan này càng cao hiệu lực thuốc càng mạnh Cơ thể côn trùng có những chỗ
là đoạn da mèm như các đoạn khớp đầu, ngực, bàn chân, chân lông, râu, cơ quancảm giác Thuốc xâm nhập qua chỗ gia mềm và qua các tuyến dịch vào lớp hạ bì vàmàng đáy rồi từ đó vào tế bào thần kinh, tế bào máu được truyền đi khắp cơ thểthông qua hệ tuần hoàn
Các chế phẩm chứa dung môi hữu cơ thẩm thấu qua lớp biểu bì mạnh hơncác chế phẩm không chứa dung môi hữu cơ Dung môi hữu cơ có trong chế phẩm
có khả năng hòa tan chất béo, thấm ướt nhanh lớp biểu bì trên, hoạt chất trongchế phẩm lại ở dạng hòa tan nên dễ tiếp xúc qua vật cản hơn Do vậy thuốc trừsâu tiếp xúc ở dạng sữa hoặc dạng dung dịch hiệu lực phòng trừ sâu mạnh hơn ởcác dạng khác
Thuốc xâm nhập qua đường tiêu hóa
Loại thuốc trừ sâu tác động qua đường tiêu hóa gọi là thuốc vị độc Quamiệng vào đường ruột cùng với thức ăn, thuốc được hấp thụ chủ yếu ở đoạn ruộtgiữa qua bao ruột peritrophit rồi khuếch tán qua lớp biểu bì ruột rồi vào tế bào thầnkinh, máu được truyền đi khắp cơ thể Một lượng nhỏ thuốc cũng có thể thấm sâu
Trang 19qua thành ruột trước vào thành ruột sau và được giữ lại ở đó, nhất là vùng tế bàotuyến rectum của ruột sau.
Quá trình đồng hóa và bài tiết thức ăn tiến triển càng chậm, chất độc lưu lạitrong ruột lâu, chất độc xâm nhập vào cơ thể càng lớn, tuy nhiên một phần chất độc
bị phân giải do tác động của men tiêu hóa và độ pH của dịch ruột
Thuốc xâm nhập qua đường hô hấp
Những loại thuốc ngoài tác động qua đường tiếp xúc, vị độc còn gây hiệu lựcqua đường hô hấp, một phần thuốc biến thành thể khí gọi là thuốc có tác dụng xônghơi Chất độc xâm nhập qua lỗ thở của cơ thể côn trùng và từ đó qua hệ thống khíquản và vi khí quản vào tổ chức tế bào thông qua quá trình thông hơi và khuếch tán.Thuốc xâm nhập qua đường hô hấp gây độc nhanh và mạnh hơn so với xâm nhậpqua đường ruột và qua vỏ cơ thể côn trùng bởi thuốc tác động ngay vào tế bào thầnkinh Cường độ hô hấp của côn trùng càng mạnh thuốc xâm nhập càng nhanh
Hoạt động sống của côn trùng rất tinh vi, phức tạp và được tạo nên bởi sựtrao đổi chất và năng lượng dưới sự điều khiển của hệ thần kinh Hệ thần kinh điềuhòa mọi hoạt động sống của cơ thể là cầu nối cơ quan cảm giác với các cơ quankhác trong cơ thể cấu thành nên sự nhịp nhàng trong hệ thống sống Một trongchuỗi hoạt động sống này bị tác động của chất độc, thế cân bằng trong hệ bị phá vỡ,hoạt động sống bị ngừng trệ và cơ thể côn trùng bị tử vong (Trần Quang Hùng,1999) [6]
1.1.1.3 Sâu hại cây trồng nông nghiệp
Hệ sinh thái nông nghiệp là nơi nuôi dưỡng các loài côn trùng trong đó cósâu hại Thành phần cây nông nghiệp phân bố đa dạng ở các vùng sinh thái và thời
vụ phức tạp dẫn đến tính chất sâu hại cũng khác nhau Do có nhiều chủng loại câynông nghiệp nên thành phần thức ăn của sâu hại rất phong phú, mỗi loại cây làthức ăn ưa thích của một số loài sâu hại và mức độ gây hại ở mỗi loài là khácnhau Có loài sâu gây hại mạnh ở vùng này nhưng ở vùng có điều kiện tự nhiênkhác thì gây hại không đáng kể Tuy nhiên, các loài sâu hại vẫn có các đặc điểm
cơ bản giống nhau
Hầu hết các loài sâu hại là côn trùng biến thái hoàn toàn trong đó cây trồng
bị phá hoại mạnh nhất là giai đoạn sâu non Đây là giai đoạn tích lũy dinh dưỡng và
Trang 20sinh trưởng lớn lên nên có những hoạt động sinh sống nhất định trong đó phươngthức gây hại là một trong những hoạt động đặc biệt của sâu non Phương thức gâyhại và triệu chứng cây cây bị hại được biểu hiện qua các kiểu và mức độ khác nhauchủ yếu phụ thuộc vào nhu cầu sinh sống qua các giai đoạn sinh trưởng và cấu tạophần phụ miệng khác nhau của sâu hại Căn cứ vào đặc điểm cấu tạo phần phụmiệng có thể chia thành các nhóm sâu hại sau:
- Sâu hại có cấu tạo kiểu gặm nhai: Loài sâu này gây ra những tổn thương cơgiới, cây bị hại gần như toàn bộ, ảnh hưởng tới khả năng quang hợp của lá và sự hútdinh dưỡng của cây như sâu khoang, sâu xanh,…
- Sâu hại có cấu tạo kiểu chích hút: Loài sâu này gây hại đến sinh lý của cây,làm cho cây héo, lá úa vàng và rụng như rầy chổng cánh hại Cam Quýt,…
Dựa vào thành phần thức ăn của sâu có thể phân làm hai nhóm sâu:
- Nhóm sâu đa thực: Nhóm này có thể gây hại trên rất nhiều loại cây trồng vànhiều loại rau khác nhau như sâu khoang, sâu xanh đục quả,…
- Nhóm đơn thực: Nhóm sâu chuyên hại một loại cây hoặc một số loài cùng
họ như rệp, sâu tơ, sâu xanh bướm trắng hại rau họ hoa thập tự,…
Ngoài ra, sâu non và trưởng thành còn có một số tập tính đặc trưng của mỗiloài sâu hại như tập tính giả chết, ngụy trang hay hóa nhộng dưới đất của sâu Nghiêncứu đi sâu vào đặc điểm sinh học sinh thái các loài sâu hại là cơ sở khoa học quantrọng cho các biện pháp phòng trừ tổng hợp sâu hại cây trồng trong nông nghiệp
1.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
Rệp xám Brevicoryne brassicae Linnaeus và rệp cải Myzus persicae Sulzer
là loài sâu hại nguy hiểm phá hoại trên nhiều loại cây trồng như rau cải, cải củ, bắpcải, xà lách, đậu đỗ,… nếu không có biện pháp phòng trừ kịp thời dễ phát triểnthành dịch, ảnh hưởng tới năng suất, phẩm chất cây trồng
Trên thực tế tại các vùng trồng rau trên cả nước nói chung và Nghệ An nóiriêng đã phải gánh chịu hậu quả do rệp gây ra Đây là đối tượng dịch hại quan trọng
và nguy hiểm, thường xuất hiện và gây hại trên cây rau từ giai đoạn cây con đến lúcthu hoạch Rệp sinh sống bằng cách hút nhựa lá cây, thích tập trung chích hút trênphần non của cây, làm cây bị quăn queo chậm tăng trưởng Ngoài ra chúng còn làmôi giới truyền một số bệnh do virus Điều này không những làm giảm năng suất
Trang 21mà còn giảm chất lượng nguy hiểm hơn là gây tính kháng thuốc ở dịch hại, làmtrạng thái cân bằng của hệ sinh thái bị phá vỡ, gây ô nhiễm môi trường do việc lạmdụng thuốc trừ sâu quá mức.
Từ những vấn đề đặt ra đó cho thấy, việc nghiên cứu đặc điểm sinh học sinhthái để biết được tập tính, quy luật phát sinh phát triển kết hợp đưa vào ứng dụngcác chế phẩm sinh học với tính năng thân thiện với môi trường, để bảo vệ cây trồngkịp thời, hiệu quả là vấn đề đang được quan tâm hiện nay Nhiều sản phẩm thuốctrừ sâu bằng thảo mộc đã được đưa vào sử dụng rộng rải trong bảo vệ thực vật như:Các sản phẩm chế biến từ cây Neem tên thương phẩm là VINEEM 1500EC – Đây
là sản phẩm của công ty thuốc sát trùng Miền Nam chứa hoạt chất azadirachtin cóhiệu lực phòng trừ nhiều loại sâu hại trên cây trồng Hoạt chất rotenone được chiếtxuất từ hai cây họ đậu là derriselliptica benth và derris trifoliata có tác dụng diệt trừsâu, rầy trên lúa, ốc bươu vàng Chế phẩm đầu trâu bihopper (hoạt chất rotenone)đóng vai trò diệt tuyến trùng
1.2 Tình hình nghiên cứu về rệp xám Brevicoryne brassicae Linnaeus trên thế giới
1.2.1 Vị trí phân loại, triệu chứng gây hại, ký chủ và phân bố của rệp
Brevicoryne brassicae Linnaeus
Rệp được coi là một trong những đối tượng nguy hiểm gây hại trên rau họ
hoa thập tự có tên khoa học là Brevicoryne brassicae Linnaeus thuộc họ rệp muội
(Aphididae) Bộ cánh đều (Homoprera)
Theo Jayma Kesing L Martin,1907, rệp xám hại bắp cải lần đầu tiên đượcghi nhận trên Oahu ở một bản địa của châu Âu và tìm thấy tại nhiều nước trên thếgiới: Châu Phi, châu mỹ, châu Đại Dương, châu Á
Rệp sinh sống và gây hại trên nhiều loại cây khác nhau: Bông cải xanh, raucải, cải Bru-Xen, súp lơ, cải bắp đầu, rệp tấn công cà rốt, cần tây, ở trung Quốc rệpgây hại trên cải xanh, cải bắp, củ cải, cải xông, nhưng ký chủ chính của chúng vẫn
là rau cải
1.2.2 Đặc điểm sinh học, sinh thái của rệp Brevicoryne brassicae Linnaeus
Theo Amin, AH và GM ElDefray, 1981 rệp trưởng thành có 2 dạng: có cánh
và không cánh
Trang 22Rệp trưởng thành có cánh cơ thể dài 2,1 – 2,6mm, hình cầu, màu xanh lá cây,toàn thân được phủ 1 lớp phấn trắng, râu ngắn gần một nữa chiều dài cơ thể.
Rệp trưởng thành có cánh ngực màu xanh đậm và bụng màu xanh được phủ một lớpbột màu xám, râu dài bằng chiều dài cơ thể [19]
Theo Flint M.L., 1985 trưởng thành có cánh cơ thể dài 1,4 – 1,5mm Ngực
và đầu màu đen, bụng màu xanh lục hay vàng lục đậm hay xanh xám Hai bên thân
có 5 điểm đen Toàn thân phủ một lớp phấn trắng, ống bụng ngắn
Rệp trưởng thành không cánh cơ thể dài 1,7 – 2,2, toàn thân màu xanh lụcnâu, toàn thân cũng được phủ bởi một lớp phấn trắng [24]
Rệp xám sinh sản theo 2 cách: Ở vùng Hawaii nơi khí hậu ấm áp thì thuộcđịa của rệp chủ yếu là rệp cái, sinh sản không liên quan đến giao phối, đẻ trứng màrệp đẻ ra con
Ở vùng khí hậu ôn đới, rệp sinh sản như trên trong thời gian ấm áp của năm.Vào mùa thu rệp có những thay đổi sinh sản, rệp đực được sản xuất nhiều để giảmphotoperiod hoặc nhiệt độ (Black man và Eastop, 1984)[21] Xảy ra giao phối vàcon cái đẻ trứng Rệp qua mùa đông trong giai đoạn trứng
Thế hệ chồng chéo và liên tục suốt năm ở Hawaii, chu kỳ sống của rệp kéodài trong khoảng thời gian từ 16 – 50 ngày phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ
Theo Van Emden., 1969 cung cấp 1 đánh giá tốt của chu kỳ sống Tùy theonhiệt độ, vòng đời của rệp có thể kéo dài nhanh hay chậm, ở thời tiết lạnh rệpthường sống từ 10 – 12 ngày cho một thế hệ hoàn chỉnh
Vòng đời của rệp ít di chuyển, hầu hết toàn bộ vòng đời nằm trọn trên cây họcải Số lượng rệp đạt đỉnh điểm vào cuối tháng 5, khi vỏ hình thành
Cả trưởng thành và rệp non Brevicoryne brassicae Linnaeus đều thích tập
trung chích hút trên phần non của cây làm cây bị quăn queo, chậm tăng trưởng
Trong quá trình phát triển rệp xám Brevicoryne brassicae Linnaeus có đặc điểm là
khi điều kiện thức ăn kém như lượng nước trong cây giảm hay nhiệt độ thấp hoặctrời khô hạn, sẽ hình thành dạng rệp có cánh
Trên cây rau cải, khi số lượng còn ít, rệp thường tập trung 2 bên bìa lá hay 2bên gân chính của lá hoặc gần cuống lá để chích hút nhựa cây Khi cây còn nhỏ
Trang 23khoảng 15 ngày sau khi dặt cây con, nếu bị rệp chích hút với số lượng nhiều, cây sẽcòi cọc, không lớn, lá rũ dần rồi chết.
Khi cây lớn thì rệp bám trên nhiều bộ phận của cây, tập trung trên các búpnon, lá non, nụ hoa, đài hoa, trái non và phần ngọn của cây Lá bị hại có màu vàngnhạt, mặt lá lồi lên hoặc quăn queo, biến dạng, có vị nhạt
1.2.3 Tình hình gây hại của rệp xám Brevicoryne brassicae Linnaeus trong sản
xuất rau
Dịch và bệnh hại là vấn đề gây khó khăn ngày càng lớn cho sản xuất raumàu, trong đó côn trùng gây hại như rệp xám, cơ thể gây ra những thiệt hại và đãtrở thành mối đe dọa lớn, nghiêm trọng đến sản xuất rau
Theo Jayma Kesing L Martin, 1907, rệp xám được tìm thấy trên hai bề mặt
lá trên, dưới và trong nếp gấp lá, cuống lá, trên trục lá Đôi khi được tìm thấy trênmặt đất Rệp xám ăn bằng cách hút nhựa cây từ máy chủ của họ Cây bị nhiễmkhuẩn có thể trở nên còi cọc, quăn keo, nó còn là một véc tơ của 23 bệnh vi rút củabệnh Cruciferae và nhiều Citrus giảm đáng kể năng suất và chất lượng rau
Rệp bám trên lá non và chích hút dịch cây với mật độ rất cao, gây ra tìnhtrạng thiếu nước dẫn đến lá bị héo, đồng thời giảm tốc độ tăng trưởng của cây Rệpphá hại kéo dài có thể gây ra giảm đáng kể năng suất, chất lượng sản phẩm
1.2.4 Các biện pháp phòng trừ rệp xám Brevicoryne brassicae Linnaeus
Theo Jayma Kesing L Martin,1907, có nhiều loại thuốc trừ sâu có hiệu quảchống lại rệp xám này Do tính chất sáp của dịch hại nên lựa chọn cách phun sát bềmặt kết hợp với thiết bị điều chỉnh phun phù hợp để thuốc tiếp xúc với rệp tốt chohiệu quả phòng trừ tốt nhất
Do đặc tính tiêu diệt nhanh, mạnh, dễ cơ giới hóa nên nhà sản xuất rauthường lạ chọn thuốc trừ sâu để kìm hãm, tiêu diệt rệp Sử dụng thuốc trừ sâu có hệthống, chủ yếu là phun vào thời điểm trồng để tiêu diệt tránh sự tích tụ dân số rệptrong quá trình quan trọng và nhạy cảm giai đoạn đầu (Powell 1980)
Sử dụng thuốc trừ sâu quá mức và không cần thiết cần phải tránh Đầu mùa
sự phá hại của rệp thường ngắt quảng và nếu các vùng sản xuất hoặc khu vực đượcphòng trừ một cách kịp thời, thiệt hại lớn có thể được ngăn chặn sau này trong mùa
Trang 24vụ Trong một số trường hợp sử dụng thuốc trừ sâu có thể làm rệp bùng phát, vô ýtiêu diệt côn trùng có ích, cũng có thể gây nên hiện tượng lờn thuốc.
Đây là phương pháp cơ bản, rất quan trọng, mang ý nghĩa tích cực, đơn giản, dễlàm, ít tốn kém nhưng mang lại hiệu quả rõ rệt Các biện pháp canh tác như luâncanh, vệ sinh đồng ruộng, mật độ gieo cấy, tưới nước, bón phân, thời vụ gieo cấy và
sử dụng giống ngắn ngày
Theo Jayma Kesing L Martin,1907, tiến hành cày lật đất ngay sau khi thuhoạch Điều này sẽ làm giảm lây lan sang những mảnh đất khác, một giả pháp hữuích là trồng luân phiên cây trồng không cùng cây kí chủ
Cùng với sự phát triển của nền nông nghiệp toàn cầu thì việc nghiên cứu, sản
xuất và sử dụng chế phẩm thảo mộc phòng trừ sâu hại cây trồng ngày càng đượcnhiều nước quan tâm
Trên thế giới có 866 loài cây cho sản phẩm có khả năng phòng trừ sâu hạicây nông nghiệp (Anand Prakash, Jagadiswari Rao, 1996) [20], chế phẩm từ cây
hoa cúc (Pyrethrum) có tác dụng phòng trừ nhiều loại sâu hại và an toàn với môi
trường (Casida J.E.,1980) [22], sử dụng nhiều loại thảo mộc để phòng trừ các loạisâu hại rau cải (PAN Germany, 2008) [31] Ofuya T.I.,Okuku I.E (1994) [30],
nghiên cứu sử dụng dịch chiết của 6 loại cây Cymbopogon citrates (DC) Stapf., Momordica cbarantia L., Zingiber oficinale Ros., Xylopia aethiopica (Dunal) A Rich., Ocimum gratissimum L., Aframomum melegueta (Ros.) K.Schum phòng trừ rệp Aphis craccivora Koch Theo Katsvanga C.A.T., Chigwaza S (2004) [27], chế phẩm từ cây Lippia javanica, Tagestes minuta có tác dụng như là thuốc trừ rệp Brevicoryne brassicae hại rau cải Nghiên cứu của Moyo M và cs (2006) [28], chế phẩm thảo mộc từ Derris elliptica, Capsicum frutescens và Tagestes minuta phòng trừ có hiệu quả đối với rệp Brevicoryne brassicae hại rau cải Nghiên cứu của
Habibullah Bahar Md Và cs (2007) [25], cho thấy dịch chiết của 5 loại cây
Nicotiana tabacum, Azadirachta indica, Allium sativum, Eucalyptus camaldulemsis Swietenia mehagani có tác dụng phòng trừ rệp Aphis spp.
Trang 25Thuốc trừ sâu pyrethroid được sản xuất thương mại từ loài Pyrethrum là các loài cây Tanacetum cinerariifolium, Pyrethrum cinerariifolium và Chrysantheum cinerariifolium được sử dụng rộng rãi trên thế giới Lượng pyrethrum sản xuất hiện
nay ước tính khoảng 15000 tấn hoa khô mỗi năm Các loài hoa được sấy khô chứakhoảng 1 – 2% pyrethrum về trọng lượng, trung bình khoảng 1,3%, nên việc sảnxuất pyrethrin khoảng 150 – 200 tấn mỗi năm Hiện nay năng suất được khoảng560kg hoa khô/ha/năm
Từ thế kỷ XIX, pyrethrin bắt đầu được sử dụng trừ sâu ở Đan Mạch Tronghoa cúc pyrethrum có hàm lượng 25 – 30% pyrethrin an toàn với con người, đọngvật máu nóng và cây trồng nhưng lại rất độc với sâu hại Pyrethrin là chất độc tiếpxúc, khi xâm nhập vào gây tê liệt thần kinh, chất nhiễm sắc bị kết hạt lại tạo thànhhốc nhỏ trong hạch thần kinh, gây hại men lipaza Khi sử dụng nghiền thành bộtchứa 0,1 – 0,3% pyrethrin phun trừ sâu hại rau và cây ăn quả
Một số nơi sử dụng cây nghệ, tỏi gừng, hành, rau mùi,… để kiểm soát và đẩylùi rệp gây hại Củ tỏi và dịch chiết từ tỏi cho thấy hiệu lực xua đuổi rệp vừng xanh
do chất alixin có trong tỏi dễ bay hơi tạo nên mùi hôi (Rahman G K M.Mustafizur, Motoyama Naoki, 2000) [33]
1.3 Tình hình nghiên cứu về rệp xám Brevicoryne brassicae Linnaeus trong nước
1.3.1 Đặc điểm phân bố, tập quán sinh sống và triệu chứng gây hại của rệp
Brevicoryne brassicae Linnaeus
Cải xanh là loại rau phổ thông được trồng rất phổ biến ở nước ta Do đượctrồng nhiều và thường được trồng thành những khu vực tập trung chuyên canh, nênthành phần sâu bệnh hại trên cây cải xanh cũng khá phong phú và thường xuyên gâyhại nhiều Bên cạnh những sâu bệnh thường gặp như sâu tơ, bệnh sưng rễ, bọ nhảy,
bệnh thối nhũn vi khuẩn, thì rệp xám Brevicoryne brassicae Linnaeus, cũng là một
đối tượng thường xuyên xuất hiện và gây hại, đôi khi rất trầm trọng, gây thất thu lớncho nhà vườn, rệp xuất hiện quanh năm trên các vùng trồng rau khắp cả nước(Nguyễn Danh Vàn)
Cả thành trùng và ấu trùng của loại rệp xám này đều sinh sống bằng cách hútnhựa lá cây, thích tập trung chích hút trên phần non của cây, làm cây bị quăn queochậm tăng trưởng Ngoài ra chúng còn là môi giới truyền một số bệnh do virus [36]
Trang 26Trong điều kiện nhiệt đới nóng ẩm như nước ta, ban đầu rệp tập trung gây hại ởnhững búp non, lá non Về sau do tích lũy nhiều, mật số tăng nhanh, chúng xuất hiệntrên cả những lá già và thường bu bám ở mặt dưới của lá Rệp chích hút nhựa làm búpnon, lá non bị quăn queo, phiến lá hẹp và vặn vẹo, lá chuyển dần sang màu vàng, câycòi cọc, sinh trưởng kém, phẩm chất giảm Nếu mật số cao, bị hại nặng cây có thể bịchết, nhất là khi cây còn nhỏ Ngoài gây hại trực tiếp, rệp còn là môi giới lan truyềnbệnh visuts cho cây cải Rệp xám có thể xuất hiện và gây hại quanh năm, nhưngthường gây hại nhiều khi thời tiết nắng nóng, khô hạn, ít mưa (Nguyễn Danh Vàn).
1.3.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của rệp Brevicoryne brassicae
Linnaeus
Rệp trưởng thành có hai dạng: có cánh và không cánh
Dạng không cánh cơ thể dài từ 1,5 – 1,9 mm và rộng từ 0,6 – 0,8 mm Toànthân màu xanh đen, xanh thẩm và có phủ sáp, một ít cá thể có dạng màu vàng xanh.Dạng có cánh: cơ thể dài từ 1,2 -1,8 mm, rộng từ 0,4 – 0,7 mm Đầu và ngực màunâu đen, bụng màu vàng nhạt, xanh nhạt, có khi xanh đậm, phiến lưng ngực trướcmàu đen Mắt kép to, ống bụng đen[36]
Theo Nguyễn Danh Vàn rệp cái có hai dạng: có cánh và không cánh Ở đầu
vụ, do có đầy đủ thức ăn rệp sinh ra dạng không có cánh Vào giai đoạn cuối vụ, khithức ăn đã cạn kiệt rệp cần bay đi nơi khác để kiếm sống, sinh sản bảo tồn nòi giốngthì chúng sinh ra dạng có cánh Rệp xám có kích thước rất nhỏ, hình quả trứng, contrưởng thành dài 1,5 – 2mm, đầu và ngực có màu nâu đen, thân màu xanh hoặcvàng nhạt Cơ thể được phủ một lớp sáp màu xám trắng (Nguyễn Danh Vàn)
1.3.3 Nghiên cứu về các biện pháp phòng trừ rệp Brevicoryne brassicae Linnaeus
Gieo cải với mật độ hợp lý, không nên gieo quá dầy Bón đầy đủ và cân đối cácloại phân NPK và luôn tưới nước đầy đủ cho ruộng cải để cây sinh trưởng, pháttriển tốt Sau mỗi vụ thu hoạch cần gom sạch những tàn dư của cây cải ở vụ trướcđem ra khỏi ruộng tiêu hủy hoặc chôn làm phân, để tiêu diệt những con rệp cònsống sót trên đó, hạn chế rệp lây lan sang vụ sau Không nên trồng cải xanh hoặcnhững loại rau thuộc họ thập tự khác như cải ngọt, su hào, bắp cải, lai rai quanhnăm Nên vận động những chủ ruộng trồng rau cải trong cùng khu vực trồng dứt
Trang 27điểm từng thời vụ, có thời gian cho đất nghỉ để cắt đứt nguồn thức ăn của rệp trênđồng ruộng (Nguyễn Danh Vàn)
Brevicoryne brassicae Linnaeus
Rau an toàn là những sản phẩm rau tươi, có chất lượng đúng như đặc tínhgiống của nó, hàm lượng các hóa chất độc và mức độ nhiểm các sinh vật gây hại ởdưới mức tiêu chuẩn cho phép, bảo đảm an toàn cho người sử dụng và môi trường,thì được coi là rau đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, gọi tắt là “rau an toàn” Sảnxuất rau an toàn hiện đang gặp rất nhiều khó khăn mà nguyên nhân chính là ngườinông dân buộc phải dùng nhiều loại thuốc hóa học để phòng trừ sâu bệnh hại rau, đểlại dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong rau quả
Hiện nay chiến lược bảo vệ cây trồng được xác định không chỉ vì lợi ích kinh
tế trước mắt mà bởi sự an toàn sinh thái, môi trường, bảo vệ sức khỏe con người,với mục tiêu là xây dựng một nền nông nghiệp bền vững và hiệu quả
Nghiên cứu của (Nguyễn Văn Duy, 2008)[4] về sử dụng chế phẩm từ câynghệ để diệt trừ nhiều loài sâu miệng nhai và chích hút như rệp, nhện, sâu ăn lá…thuốc có độ độc trung bình với người và động vật máu nóng, phân giải nhanh vàkhông để lại dư lượng trong nông sản
Thuốc trừ sâu pyrethroid được sản xuất thương mại từ loài cúc Pyrethrum đả
được sử dụng nhiều nơi trên thế giới Ở nước ta nhiều nơi đả trồng các loại cúc này,nhất là ở Đà Lạt, Lâm Đồng nhưng chỉ để làm hoa cảnh mà hầu như chưa ai biết sửdụng hao cúc để làm thuốc trừ rệp, mặc dù dân ta nhập một lượng rất lớn, khoảnghơn 100 tấn trên năm thuốc trừ sâu pyrethroid (tên thương mại là decis) để làmthuốc trừ rệp hại rau cải hoa màu,…Bên cạnh đó các chế phẩm thảo mộc từ cây gia
vị có sẵn ở địa phương có hiệu lực phòng trừ rệp hại cao như gừng, tỏi [35] Nhưnghầu như như chưa được quan tâm nghiên cứu
Việc sử dụng biện pháp hóa học cũng giống như bất kỳ biện pháp BVTV nàokhác cũng có những ưu và khuyết điểm Chúng ta không thể phủ nhận rằng trongthời gian qua biện pháp hóa học vẫn được coi là biện pháp chủ lực vì đã phát huyvai trò tích cực như: Hiệu quả cao, nhanh, đơn giản và dễ sử dụng Vào thập kỷ 50 -
Trang 2860 của thế kỷ 20 biện pháp hóa học đóng vai trò quan trọng trong việc giả quyếtnhiều vụ dịch hại lớn trên thế giới trên thế giới, góp phần không nhỏ vào việc tăngnăng suất cây trồng (Phạm Văn Lầm) [8]
Nông nghiệp Việt Nam sau nhiều năm đổi mới đã thu được nhiều thành tựu.Thành tự nổi bật là trong lĩnh vực sản xuất rau màu, để có được thành tựu đó phải
kể đến công lao đóng góp của các công trình nghiên cứu khoa học Việt Nam đã cónhững công trình nghiên cứu về rệp xám hại rau họ hoa thập tự, nhưng thiệt hại dorệp gây ra cho các vùng trồng rau trọng điểm trong cả nước nối chung và Nghệ Annói riêng trong thời gian gần đây vẫn rất lớn và chưa có biện pháp phòng chốnghiệu quả, người sản xuất vẫn chủ yếu lệ thuộc vào thuốc trừ sâu để phòng trừ chúng,môi trường ngày càng bị ô nhiễm
Suy cho cùng việc nghiên cứu chế phẩm thảo mộc vẫn chưa được quan tâm đúngmức nên chưa thấy rõ được tầm quan trọng của biện pháp này Chính vì vậy song
song với việc nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh thái của rệp xám Brevicoryne
brassicae Linnaeus và rệp cải Myzus persicae Sulzer Tôi tiến hành nghiên cứu chế
phẩm thảo mộc từ cây hoa cúc để phòng trừ rệp xám xám Brevicoryne brassicae
Linnaeus hại rau họ hoa thập tự
1.4 Những vấn đề tồn tại cần nghiên cứu và giải quyết
1.4.1 Những vấn đề tồn tại
- Nghiên cứu chưa thực sự đầy đủ và chuyên sâu một số đặc điểm sinh học,
sinh thái của rệp xám Brevicoryne brassicae Linnaeus và rệp cải Myzus persicae Sulzer
- Xác định ngưỡng gây hại kinh tế của rệp xám và rệp cải trên rau họ HTT
- Đánh giá tác hại của rệp tới năng suất rau họ HTT
1.4.2 Những vấn đề mà đề tài tập trung nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của rệp xám Brevicoryne brassicae Linnaeus và rệp cải Myzus persicae Sulzer
- Nghiên cứu kỹ thuật chế biến và sử dụng chế phẩm thảo mộc từ hoa và thân
cây cúc Pyrethrum cinerariifolium Trev.
- Đánh giá hiệu lực phòng trừ rệp xám Brevicoryne brassicae của chế phẩm làm từ cây cúc Pyrethrum cinerariifolium Trev và thuốc trừ sâu Conphai 10WP.
Trang 291.5 Một vài đặc điểm tự nhiên của Nghệ An
Nghệ An là 1 tỉnh thuộc vùng Trường Sơn Bắc, có tọa độ địa lý từ 18035’
-19030’ vĩ độ Bắc và 103052’ – 105042’ kinh độ Đông với tổng diện tích tự nhiên1637068ha (bằng 1/20 diện tích lãnh thổ Việt Nam)
Địa hình Nghệ An có thể chia ra 3 vùng cảnh quan, đây là đặc điểm chi phốiđến mọi hoạt động, nhất là trong sản xuất nông nghiệp của Nghệ An Vùng núi cao(chiếm 77,0% diện tích), vùng gò đồi (13,0%), vùng đồng bằng chiếm 10,0% diệntích Đồng bằng hẹp bị chia cắt thành vùng đồng bằng phù sa và dải cát ven biển.Đồng bằng phù ra gồm các giải đồng bằng Vinh, Quỳnh Lưu, Yên Thành, DiễnChâu, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Nghi Lộc, Đô Lương Vùng cát ven biển Nghi Lộc,Hưng Nguyên và Quỳnh Lưu, Diễn Châu
Khí hậu Nghệ An mang đặc tính nhiệt đới gió mùa, đặc điểm cơ bản là nóng
ẩm mưa nhiều theo mùa Hằng năm, đất Nghệ An nhận trung bình 120 –140Kcal/cm2 bức xạ mặt trời, nhiệt độ trung bình 23 – 240c, độ ẩm không khí là85%, lượng mưa trung bình của năm từ 1600 – 2000mm(Lê Văn Phương,1982)(dẫntheo Phan Thị Thu Hiền,2008)
Nghi Lộc nằm ở vị trí 18054’ vĩ độ Bắc và 105045’ kinh độ Đông, cao hơn
so với mặt nước biển là 18,5m Đây là vùng đồng bằng chủ yếu đất cát, đất thịtnhẹ và trung bình Là khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa đông lạnh vàmùa hè nóng
Trang 30Chương 2NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
(1) Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của rệp xám
Brevicoryne brassicae Linnaeus và rệp cải Myzus persicae Sulzer
(2) Kỹ thuật chế biến và sử dụng chế phẩm thảo mộc phòng trừ rệp xám
Brevicoryne brassicae từ cây cúc Pyrethrum cinerariifolium Trev.
(3) Đánh giá hiệu lực phòng trừ rệp xám Brevicoryne brassicae của chế phẩm làm từ cây cúc Pyrethrum cinerariifolium Trev và thuốc trừ sâu Conphai
10WP
2.2 Vật liệu, dụng cụ, địa điểm và thời gian nghiên cứu
Cây cúc Pyrethrum cinerariifolium Trev.
Bảng 2.1 Nguyên liệu để làm chế phẩm từ cây cúc Pyrethrum cinerariifolium
có quả tháng 12 – 1 (năm sau)
Cúc trừ trùng là loại cây cỏ lâu năm, thân cao 0,8 – 1,2 m, mọc đứng, ít phânnhánh, có rãnh dọc mịn Lá có phiến cõa 3 – 8 × 2 – 4 cm, xẻ lông chim thànhnhững đoạn hẹp, mặt lá phủ lông tơ mịn và có tuyến, chỉ những lá phía đưới có
Trang 31cuống ngắn, phía trên không cuống Cụm hoa đầu, đơn độc ở tận cùng hay nách lá,trên cuống dài 3 – 7 cm, đường kích 2,5 – 4,5 cm Tổng bao hình chén, lá bắc dài 3– 6 mm, mặt lưng phủ lông bạc Đế hoa không có vảy, trong cụm hoa, hoa ở viềntrắng có dạng lưới nhỏ, phiến lưới màu trắng đục, gốc hẹp, hình bầu dục, có khía taibèo, dài 9 – 15 mm, rộng 3 – 5 mm, đầu có 2 thùy; ở giữa là hoa lưỡng tính, cótràng dạng ống, dài 3 – 4 mm, màu trắng đục Nhị 5; bao phấn dính nhau, đầu tù.Núm nhụy có đầu nhẵn Quả bế, hình trụ, dài 2mm; vỏ có gờ dọc; mào lông trênđỉnh quả giống như vành đĩa, cao thấp không đều nhau.
+ Thành phần hóa học
Các hoạt chất trong cúc trừ trùng gọi chung là Pyrethroid (Trần Kim Qui,1993) [11] gồm có:
Hình 2.1 Cấu tạo hóa học của Pyrethroid trong cây hoa cúc
Bảng 2.2 Các công thức cấu tạo hóa học của Pyrethroid trong cây hoa cúc
OCH
CH3C
R’
C
C = O
H2C
Trang 32 Địa điểm nghiên cứu
- Phòng thí nghiệm Sinh thái côn trùng nông nghiệp, tổ bộ môn Bảo vệ thựcvật và trại thực nghiệm Nông học Khoa Nông Lâm Ngư, Trường Đại họcVinh
- Cánh đồng rau Hưng Đông, Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái rệp xám
Brevicoryne brassicae Linnaeus và Myzus persicae Sulzer
Nuôi rệp trong hộp nhựa sạch đường kính từ 15 - 20cm, cao 15 - 25cm, cóbông giữ ẩm, nắp hộp khoét lỗ có đường kính 5cm để dán vải màn thông khí đồngthời tiện lợi cho việc quan sát hàng ngày Mỗi lọ nuôi đều có ký hiệu (etyket) riêng,tương ứng với phiếu theo dõi Mỗi hộp nuôi 1 cá thể rệp trưởng thành hoặc 4 - 5 cáthể rệp non ở điều kiện phòng thí nghiệm (nhiệt độ 15 – 300C, ẩm độ 65 – 100%).Hàng ngày theo dõi thời gian phát dục của từng tuổi của rệp xám, tập tính ăn, sinhsản, lột xác đồng thời thay lá rau (là thức ăn của rệp) và vệ sinh lọ nuôi Các thínghiệm được lặp lại ít nhất 3 lần, số lượng theo dõi ở mỗi thí nghiệm từ 30 - 35 cáthể rệp
Phương pháp xác định thời gian đẻ con, khả năng đẻ con và thời gian sốngcủa trưởng thành: Trưởng thành sau khi vũ hóa được đem vào nuôi trong lọ nhựa đã
có lá rau cải trên nắp lọ được khoét lỗ và gián vải màn thông khí Mỗi ngày thaythức ăn một lần, lá rau lấy ra được quan sát kỹ dưới kính lúp soi nổi để kiểm tra córệp non không, vệ sinh ống nghiệm rồi bỏ rệp và thức ăn vào Tiến hành quan sát đochiều dài và đếm số lượng rệp non rồi chuyển sang ống nghiệm khác có ký hiệu đểtiến hành quan sát sự sinh trưởng và phát triển qua từng tuổi của rệp non Kết quảđược ghi lại và theo dõi song song với theo dõi trưởng thành Trưởng thành đượctheo dõi tới khi chết Các thí nghiệm được lặp lại ít nhất 3 lần, số lượng theo dõi ởmỗi thí nghiệm từ 30 - 35 cá thể rệp
Phương pháp theo dõi thời gian phát dục và vòng đời của rệp xám: Rệp nonsau khi đẻ xong được chuyển qua ống nghiệm khác có ký hiệu để theo dõi hằngngày, ký hiệu ngày đẻ và ghi lại thời gian rệp non tuổi 1, tiến hành theo dõi thời
Trang 33gian sống của rệp đến khi lột xác sang tuổi 2, tuổi 3 và tuổi 4 cho đến khi vũ hóathành con trưởng thành Tiếp tục theo dõi từ lúc rệp trưởng thành đến lúc đẻ con rệpcon đầu tiên là bao nhiêu thời gian, thời gian đẻ một rệp non là bao nhiêu và sau baonhiêu thời gian thì rệp đẻ con kế tiếp, cho tới con rệp con cuối cùng Trong thời giantheo dõi cũng tiến hành thay thức ăn thường xuyên để đảm bảo cho rệp có đủ điềukiện thức ăn để tiến hành lột xác được bình thường Thí nghiệm được theo dõi vàghi lại từng thời điểm lột xác, chiều dài các tuổi của rệp non trong suốt quá trìnhnuôi Các thí nghiệm được lặp lại ít nhất 3 lần, số lượng theo dõi ở mỗi thí nghiệm
từ 30 - 35 cá thể rệp
2.3.2 Phương pháp pha chế thuốc thảo mộc
Thành phần chủ yếu của chế phẩm là thân cây cúc và hoa cúc Pyrethrum cinerariifolium Ngoài ra còn có các chất phụ gia để tăng độ bám dính cho thuốc.
Thí nghiệm chế phẩm hoa cúc và chế phẩm thân cây cúc phòng trừ rệp trong ốngnhựa gồm các bước sau:
1 Chuẩn bị vật liệu thí nghiệm
- Hộp nhựa có kích thước 6cm × 12 cm Miệng hộp được đậy bằng vải màn
để có lỗ thông hơi, đáy hộp được lót giấy thấm Trong hộp có lá cải tươi (quấn bônggiữ ẩm), chổi lông nhỏ,…
- Chế phẩm hoa cúc được pha sẵn
- Chế phẩm thân cúc (khô) pha sẵn
- Rệp trong hộp nhựa
2 Cho rệp tiếp xúc với chế phẩm
- Cho 30 rệp trưởng thành/ 1 hộp nhựa lên mặt sau của lá cải
- Đổ chế phẩm đã pha vào bình phun ( loại nhỏ) phun lên lá cải (có rệp)
3 Rệp sau khi tiếp xúc với chế phẩm được đặt lại vào ống nhựa
Thí nghiệm với hai loại chế phẩm hoa cúc và thân cúc (khô) ở 3 mứcnồng độ
4 Sau 1 ngày thí nghiệm tiến hành kiểm tra số lượng rệp sống ở mỗi côngthức để so sánh hiệu lực phòng trừ của các chế phẩm
Trang 345 Rệp chết do chế phẩm hoa cúc và thân cúc triệu chứng trúng thuốc thểhiện nhanh, nhiều cá thể chỉ sau 20 -25 phút Rệp khi chết có màu nâu đen, sau đó
bị lên nấm trắng như sợi bông
Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm tiến hành trong hộp nhựa để xác địnhloại chế phẩm với nồng độ tối ưu làm cơ sở cho các nghiên cứu ngoài đồng ruộng
Bảng 2.3 phương pháp chế biến theo dạng chế phẩm cây hoa cúc gồm hoa cúc
(dịch chiết tươi) và thân cúc (bột khô)Vật liệu Hoa cúc (dịch chiết tươi)Phương pháp chế biếnThân cúc (bột khô)
Cây hoa cúc, nước,
Cho phụ gia và nướcvào dịch chiết khuấy
đều
Nồng độ phun
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu và thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ rệp
xám Brevicoryne brassicae, trong điều kiện phòng thí nghiệm và ngoài đồng
ruộng
Trang 35- Tiến hành thu thập cá thể trưởng thành, sâu non rệp xám từ tuổi 1 đến tuổi
4 Các đối tượng thu thập được đưa về nuôi và theo dõi ở phòng thí nghiệm Sinhthái côn trùng nông nghiệp, Tổ bộ môn Bảo vệ thực vật, khoa Nông Lâm Ngư,trường Đại học Vinh Nuôi rệp trong lọ, các bước tương tự như nghiên cứu đặcđiểm sinh học, sinh thái Mỗi hộp nuôi 30 cá thể rệp, Mỗi lọ nuôi đều có ký hiệu(etyket) riêng
- Phương pháp thử nghiệm các biện pháp phòng trừ rệp xám bao gồm các thínghiệm
+ Biện pháp sinh học: Phương pháp sử dụng chế phẩm thảo mộc chiết xuất từ
cây cúc Pyrethrum cinerariifolium
Thí nghiệm 1: Sử dụng chế phẩm làm từ thân cúc phòng trừ rệp xám
Phun dung dịch chế phẩm lên rệp xám ở tất cả các pha Công thức được thửnghiệm ở 3 loại nồng độ khác nhau (NĐ1 = 2,5g/lít; NĐ2 = 5g/lít; NĐ3 = 7,5g/lít).Sau khi phun chọn ra 2 nồng độ cho hiệu quả cao nhất để đưa ra thử nghiệm ngoàiđồng ruộng, mỗi nồng độ được tiến hành thí nghiệm ba lần nhắc lại và 3 ô đốichứng (phun bằng nước lã), bố trí thí nghệm hoàn toàn ngẫu nhiên Với mật độ30con/hộp, bắt thả rệp xám lên lá rau cải bỏ vào trong hộp nhựa sạch để phun chếphẩm (phun lúc chiều mát), hộp có kích thước 6cm × 12 cm Miệng hộp được đậybằng vải màn để có lỗ thông hơi, đáy hộp được lót giấy thấm
Tiến hành theo dõi hiệu quả phòng trừ bằng cách đếm số rệp sống sau khiphun chế phẩm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 ngày
Trang 36Tiến hành theo dõi hiệu quả phòng trừ bằng cách đếm số rệp sống sau khiphun chế phẩm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 ngày.
+ Biện pháp hóa học:
Thí nghiệm 3: Sử dụng thuốc trừ sâu Conphai 10WP phòng trừ rệp xám
Phương pháp thí nghiệm được tiến hành ở 3 mức nồng độ khác nhau (NĐ1 =1g/lít; NĐ2 = 1,5g/lít; NĐ3 = 2g/lít), bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, 3 lần nhắc lại vớimật độ 30 con/ hộp nhựa (6cm × 12 cm)
Tiến hành theo dõi hiệu lực phòng trừ bằng cách đếm số rệp rệp sống sau khiphun thuốc 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 ngày
Thí nghiệm 4: Sử dụng hỗn hợp thuốc trừ sâu Conphai 10WP + chế phẩm
làm từ hoa cúc phòng trừ rệp xám
Phương pháp thí nghiệm được tiến hành ở 3 mức nồng độ khác nhau (NĐ1 =1g Conphai +10g chế phẩm hoa cúc/lít; NĐ2 = 1,5g Conphai + 10g chế phẩm hoacúc/lít; NĐ3 = 2g Conphai +10g chế phẩm hoa cúc/lít), bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên,
3 lần nhắc lại với mật độ 30 con/ hộp nhựa (6cm × 12 cm)
Tiến hành theo dõi hiệu lực phòng trừ bằng cách đếm số rệp rệp sống sau khiphun thuốc 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 ngày
Thí nghiệm 5: Sử dụng hỗn hợp thuốc trừ sâu Conphai 10WP + chế phẩm
làm từ thân cúc phòng trừ rệp xám
Phương pháp thí nghiệm được tiến hành ở 3 mức nồng độ khác nhau (NĐ1 =1g conphai + 5g bột cúc khô/lít nước; NĐ2 = 1,5 Conphai +5g bột thân cúc khô/lít;NĐ3 = 2g Conphai + 5g bột thân cúc/lít), bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, 3 lần nhắc lạivới mật độ 30 con/ hộp nhựa (6cm × 12 cm)
Tiến hành theo dõi hiệu lực phòng trừ bằng cách đếm số rệp sống sau khiphun thuốc 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 ngày
- Hiệu lực của chế phẩm được tính theo công thức Abbott (1925)
K(%)=[Ca – Ta)/ Ca)]× 100
Trang 37Trong đó:
K là hiệu lực của chế phẩm sinh học
Ca là số cá thể sống ở công thức đối chứng
Ta là số cá thể sống ở công thức thí nghiệm sau khi xử lý
+ Biện pháp sinh học: Phương pháp sử dụng chế phẩm thảo mộc chiết xuất từ cây
cúc Pyrethrum cinerariifolium
Thí nghiệm 1: Sử dụng chế phẩm làm từ thân cúc phòng trừ rệp xám
Tiến hành Phun dung dịch chế phẩm lên rệp xám ở tất cả các pha Thínghiệm gồm 2 CT tương ứng với 2 nồng độ đạt hiệu quả cao đã thử nghiệm trongphòng thí nghiệm Mỗi công thức được tiến hành thí nghiệm ba lần nhắc lại và 3 ôđối chứng (phun bằng nước lã) Trồng rau cải xanh với diện tích mỗi ô thí nghiệm là1m2 Phun chế phẩm vào chiều má Các công thức được thiết kế hoàn toàn ngẫunhiên RCB
Mỗi ô thí nghiệm tiến hành thả 30 con/ ô trung bình 5con/khóm Thí nghiệmđược tiến hành đếm số rệp tại thời điểm 1 ngày trước khi sử dụng chế phẩm và 1, 2,
3, 4, 5, 6, 7 ngày sau khi sử dụng chế phẩm Số rầy sống được ghi lại tại các thờiđiểm trong ngày
Bảng 2.4 Sơ đồ sử dụng chế phẩm làm từ thân cúc phòng trừ rệp xám
ngoài đồng ruộngHàng rào bảo vệ
Hàng rào bảo vệ
Ghi chú: CT: Công thức; CTĐC: Công thức đối chứng
- CT1: Chế phẩm thân cây cúc (Pyrethrum cinerariifolium) nồng độ 5g/lít nước
- CT2: Chế phẩm thân cây cúc (Pyrethrum cinerariifolium) nồng độ 7,5g/lít nước
Trang 38Thí nghiệm 2: Sử dụng chế phẩm làm từ hoa cúc phòng trừ rệp xám.
Phương pháp thí nghiệm được tiến hành ở 2 mức nồng độ chế phẩm cho hiệulực cao ở thí nghiệm trong phòng thí nghiệm và công thức đối chứng được bố tríhoàn toàn ngầu nhiên (RCB), diện tích ô thí nghiệm 1 m2 với 3 lần nhắc lại
Mỗi ô thí nghiệm tiến hành thả 30 con/ ô trung bình 5con/khóm Thí nghiệmđược tiến hành đếm số rệp tại thời điểm 1 ngày trước khi sử dụng chế phẩm và 1, 2,
3, 4, 5, 6, 7 ngày sau khi sử dụng chế phẩm Số rệp sống được ghi lại tại các thờiđiểm trong ngày
Bảng 2.5 Sơ đồ sử dụng chế phẩm làm từ hoa cúc phòng trừ rệp xám
ngoài đồng ruộngHàng rào bảo vệ
Hàng rào bảo vệ
Ghi chú: CT: Công thức; CTĐC: Công thức đối chứng
- CT3: Chế phẩm hoa cúc (Pyrethrum cinerariifolium) nồng độ 10g/lít nước
- CT4: Chế phẩm hoa cúc (Pyrethrum cinerariifolium) nồng độ 20g/lít nước
+ Biện pháp hóa học:
Thí nghiệm 3: Sử dụng thuốc trừ sâu Conphai 10WP phòng trừ rệp xám
Phương pháp thí nghiệm được tiến hành ở 2 mức nồng độ đạt hiệu lực caotrong phòng thí nghiệm, bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, 3 lần nhắc lại với mật độ 30con/ 1m2.
Mỗi ô thí nghiệm tiến hành thả 30 con/ ô trung bình 5con/khóm Thí nghiệmđược tiến hành đếm số rệp tại thời điểm 1 ngày trước khi sử dụng chế phẩm và 1, 2,
3, 4, 5, 6, 7 ngày sau khi sử dụng chế phẩm Số rệp sống được ghi lại tại các thờiđiểm trong ngày
Bảng 2.6 Sơ đồ sử dụng thuốc trừ sâu Conphai 10WP phòng trừ rệp xám ngoài
đồng ruộng
Trang 39- CT5: Thuốc trừ sâu Conphai 10WP nồng độ 1,5g/lít nước
- CT6: Thuốc trừ sâu Conphai 10WP nồng độ 2g/lít nước
Thí nghiệm 4: Sử dụng hỗn hợp thuốc trừ sâu Conphai 10WP + chế phẩm làm từ
hoa cúc phòng trừ rệp xám
Phương pháp thí nghiệm được tiến hành ở 2 mức nồng độ nồng độ hỗn hợpthuốc trừ sâu Conphai 10WP (1,5g/lít nước và 2g/lít nước)+ chế phẩm làm từ hoacúc cho hiệu quả cao nhất ở trong phòng thí nghiệm (10g/lít) và công thức đốichứng được bố trí hoàn toàn ngầu nhiên (RCB), diện tích ô thí nghiệm 1 m2 với 3lần nhắc lại
Mỗi ô thí nghiệm tiến hành thả 30 con/ ô trung bình 5con/khóm Thí nghiệmđược tiến hành đếm số rệp tại thời điểm 1 ngày trước khi sử dụng chế phẩm và 1, 2,
3, 4, 5, 6, 7 ngày sau khi sử dụng chế phẩm Số rệp sống được ghi lại tại các thờiđiểm trong ngày
Bảng 2.7 Sơ đồ sử dụng hỗn hợp thuốc trừ sâu Conphai 10WP + chế phẩm làm từ
hoa cúc phòng trừ rệp xám ngoài đồng ruộng
Trang 40- CT7: Thuốc trừ sâu Conphai 10WP nồng độ 1,5g/lít + chế phẩm làm từhoa cúc nồng độ 10g/lít.
- CT8: Thuốc trừ sâu Conphai 10WP nồng độ 2g/lít + chế phẩm làm từ hoacúc nồng độ 20g/lít
Thí nghiệm 5: Sử dụng hỗn hợp thuốc trừ sâu Conphai 10WP + chế phẩm làm từ
thân cây cúc phòng trừ rệp xám
Phương pháp thí nghiệm được tiến hành ở 2 mức nồng độ nồng độ hỗn hợpthuốc trừ sâu Conphai 10WP (1,5g/lít và 2g/lít) + chế phẩm làm từ thân cây cúc chohiệu lực cao nhất ở thí nghiệm trong phòng thí nghiệm (5g/lít) và công thức đốichứng được bố trí hoàn toàn ngầu nhiên (RCB), diện tích ô thí nghiệm 1 m2 với 3lần nhắc lại
Mỗi ô thí nghiệm tiến hành thả 30 con/ ô trung bình 5con/khóm Thí nghiệmđược tiến hành đếm số rệp tại thời điểm 1 ngày trước khi sử dụng chế phẩm và 1, 2,
3, 4, 5, 6, 7 ngày sau khi sử dụng chế phẩm Số rệp sống được ghi lại tại các thờiđiểm trong ngày
Bảng 2.8 Sơ đồ sử dụng hỗn hợp thuốc trừ sâu Conphai 10WP + chế phẩm làm từ
thân cây cúc phòng trừ rệp xám ngoài đồng ruộng
- CT9: Thuốc trừ sâu Conphai 10WP nồng độ 1,5g/lít + chế phẩm làm từthân cây cúc nồng độ 5g/lít
- CT10: Thuốc trừ sâu Conphai 10WP nồng độ 2g/lít + chế phẩm làm từthân cây cúc nồng độ 5g
2.3.4 Phương pháp xử lý và bảo quản mẫu
Mẫu vật thu thập được xử lý và bảo quản theo quy trình kỹ thuật sưu tầm, xử
lý và bảo quản côn trùng của UBKHKT nhà nước (Tổ côn trùng, 1976)