Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần từng bước xây dựng quy trình kỹ thuật thâm canh cây cà chua múi vụ Đông xuân ở huyện Tương Dương và một số huyện miền núi của tỉnh Nghệ An... Cơ sở kh
Trang 1ĐINH THỊ LAM
ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ ẢNH HƯỞNG
CỦA BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TỈA CÀNH ĐẾN NĂNG SUẤT CÂY CÀ CHUA MÚI (Lycopersicum esculentum (L.) Mill.)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NGÀNH NÔNG HỌC
Trang 2VINH – 5 2012
Trang 3ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TỈA CÀNH ĐẾN NĂNG SUẤT
CÂY CÀ CHUA MÚI (Lycopersicum esculentum (L.) Mill.)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 4VINH - 5/2012
Trang 5nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Sinh viên
Đinh Thị Lam
Trang 6Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực và cố gắng của bản thân tôi còn nhận được sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô và bạn bè.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng, sự biết ơn chân thành và sâu sắc tới thầy giáo Th.S Trần Ngọc Toàn và thầy giáo K.S Đinh Bạt Dũng là những người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Nông - Lâm - Ngư cùng tất cả các thầy cô trong tổ bộ môn Nông học đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Cán bộ UBND, cùng người dân
xã Thạch Giám; Trạm Khuyến nông huyện Tương Dương đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Nhân dịp này, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình, bạn bè đã luôn động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, ngày 24 tháng 05 năm 2012
Sinh viên Đinh Thị Lam
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AVRDC : Trung tâm Rau Châu Á
KH - KT : Khoa học - Kỹ thuật
KH&CN : Khoa học và công nghệ
NSCT : Năng suất cá thể
NSLT : Năng suất lý thuyết
NSTT : Năng suất thực thu
Trang 8Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng cà chua trên thế giới trong những năm gần đâyBảng 1.2 Các nước có sản lượng cà chua sản xuất lớn nhất Thế giới
Bảng 1.3 Chỉ tiêu sản xuất cà chua năm 2005 và 2010
Bảng 3.1 Đặc điểm hình thái quả cà chua múi
Bảng 3.2 Chất lượng quả cà chua múi
Bảng 3.3 Một số chỉ tiêu sinh trưởng của cây chua múi
Bảng 3 4 Thời gian các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cà chua múi
Bảng 3.5 Các yếu tố cấu thành năng suất của cây cà chua múi
Bảng 3.6 Ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật tỉa cành đến năng suất cây Cà chua múiBảng 3.7 Tình nhiễm sâu bệnh hại chính trên cà chua múi của các công thức
Trang 9Hình 3.1 Hình dạng lá
Hình 3.2 Hoa cà chua múi
Hình 3.3 Dạng chùm hoa
Hình 3.4 Chiều cao từ gốc đến chùm hoa đầu tiên
Hình 3.5 Quả cà chua múi
Hình 3.6 Màu sắc quả
Hình 3.7 Động thái ra lá của cà chua múi
Hình 3.8 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của Cà chua múiBiểu đồ 3.1 Tổng số hoa trên cây
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ đậu quả
Biểu đồ 3.3 Tổng số quả trên cây
Biểu đồ 3.4 Khối lượng trung bình quả
Biểu đồ 3.5 Năng suất cá thể của cà chua múi
Biểu đồ 3.6 Năng suất của Cây cà chua múi
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tầm quan trọng và ý nghĩa của đề tài
Cà chua (Lycopersicum esculentum (L.) Mill.) là loại trái cây không thể thiếu
trong thực đơn gia đình cũng như các nhà hàng, là nguồn cung cấp khoáng chất và vitamin góp phần làm cho món ăn, nước uống trở nên bổ dưỡng hơn
Trong cà chua có chứa chất lycopen, đây là thành phần tạo nên màu đỏ của quả cà chua Chất này làm giảm đi những nguy cơ của bệnh tim mạch và ngăn ngừa bệnh ung thư tuyến tiền liệt Ngoài ra, chất lycopen còn có thể làm giảm hiện tượng oxy hóa [12]
Nhờ vậy, cà chua giúp cho da bạn luôn mịn màng, tươi sáng, đồng thời làm chậm khả năng lão hóa của da và cơ thể Thêm nữa, loại quả này còn có thể ngăn chặn các tế bào ung thư [12]
Hơn nữa, cà chua là một trong những loại rau ăn quả quan trọng được trồng phổ biến và trở thành một trong những loại được ưa chuộng bậc nhất trên thế giới Không chỉ là nguồn dinh dưỡng đặc biệt mà nó còn là nguồn nguyên liệu phong phú cung cấp cho các nhà máy chế biến thực phẩm, nước giải khát
Ngoài giá trị dinh dưỡng, cà chua còn có các giá trị về mặt y học và hơn thế nữa cà chua là loại cây xóa đói giảm nghèo, mang lại hiệu quả kinh tế cao và là mặt hàng xuất khẩu lớn trên thế giới
Tại Việt Nam, cây cà chua được du nhập và trồng phổ biến nhiều nơi trên cả nước Từ trước đến nay đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu sâu rộng về cây cà chua Từ kết quả nghiên cứu đã tạo ra nhiều giống cà chua năng suất và phẩm chất tốt, có khả năng kháng bệnh cao Nhiều nghiên cứu cũng đã tập trung nghiên cứu việc bảo tồn quỹ gen cây cà chua Nghiên cứu đặc điểm nông- sinh học của cà chua là một trong những nội dung quan trọng từ đó đưa ra các biện pháp kỹ thuật và các nhân tố tác động để hoàn thiện quy trình sản xuất, công tác bảo tồn và nhân giống Tỉa cành bấm ngọn là một biện pháp kỹ thuật quan trọng nhằm nâng cao năng suất cây trồng nói chung và cây cà chua nói riêng Khi tỉa cành làm tăng độ thông thoáng
Trang 11trong quần thể cây trồng, giúp cây thu nhận ánh sáng nhiều hơn và tập trung dinh dưỡng tốt hơn Từ đó làm tăng năng suất cây trồng.
Vì vậy, nghiên cứu và phát triển các đặc điểm nông- sinh học của Cà chua
và áp dụng các biện pháp kỹ thuật cắt tỉa là một trong những nội dung quan
trọng bước đầu để nâng cao năng suất và chất lượng quả cà chua, nâng cao thu nhập cho người dân
Tại huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An, bà con nông dân ở đây đã bảo tồn và sản xuất cây cà chua múi từ bao đời nay, là một loại cây trồng bản địa cho năng suất cao, quả to, chất lượng quả ngon, ngọt, khả năng kháng bệnh cao và có rất có triển vọng cải thiện đời sống cho bà con Tuy nhiên, hầu như từ trước đến nay chưa có nghiên cứu nào về loại cây trồng này Người dân nơi đây trồng theo kiểu tự phát, chưa có các biện pháp kỹ thuật tác động để nâng cao năng suất, phẩm chất quả cà chua, diện tích gieo trồng còn manh mún nên ứng dụng để sản xuất đại trà gặp nhiều khó khăn, chưa tạo được thương hiệu riêng cho quả cà chua múi Để đáp ứng
nhu cầu thực tiễn và khắc phục các khó khăn đó, chúng tôi tiến hành đề tài “Đặc
điểm nông sinh học và ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật tỉa cành đến năng
suất cây cà chua múi (Lycopersicum esculentum (L.) Mill.)”
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích
Trên cơ sở của việc nghiên cứu các đặc điểm nông sinh học và ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật tỉa cành đến năng suất cây cà chua múi từ đó làm tiền đề cho việc sản xuất cây cà chua múi đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả cao
2.2 Yêu cầu
- Nghiên cứu các đặc điểm nông sinh học của cây cà chua múi.
- Nghiên cứu mối quan hệ giữa năng suất, các yếu tố cấu thành năng suất dưới tác động của một số biện pháp kỹ thuật lên cây cà chua múi
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Trang 12Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học, làm tiền đề cho việc nghiên cứu về cây cà chua múi theo hướng chuyên sâu hơn về giống cà chua bản địa này.
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả thu được của đề tài là nguồn tư liệu quý để đánh giá tiềm năng về năng suất, chất lượng của cây cà chua múi bản địa
Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần từng bước xây dựng quy trình kỹ thuật thâm canh cây cà chua múi vụ Đông xuân ở huyện Tương Dương và một số huyện miền núi của tỉnh Nghệ An
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học và Cơ sở thực tiễn
1.1.1.Cơ sở khoa học
Giống là sản phẩm của chọn lọc tự nhiên, đồng thời là sản phẩm của sức lao động sáng tạo của con người, là một loại tư liệu sản xuất đặc biệt trong nông nghiệp sản sinh ra mọi thứ nông phẩm Vì lý do đó giống giữ vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Việc chọn đúng các giống tốt, thích hợp với điều kiện tự nhiên và canh tác giúp cho người sản xuất thu được năng suất cao và ổn định với phẩm chất tốt và mức chi phí sản xuất trên đơn vị sản phẩm thấp
Ngày nay giống được xem là một trong những yếu tố hàng đầu trong việc không ngừng nâng cao năng suất cây trồng Các nhà khoa học ước tính khoảng 30% đến 50% mức tăng năng suất hạt của các cây lương thực trên thế giới là nhờ việc đưa vào sản xuất những giống tốt mới [10]
Giống tốt có tác dụng tăng năng suất, phẩm chất cây trồng Mỗi giống cây trồng đều có tiềm năng năng suất nhất định, khi các yếu tố đầu vào sản xuất khác: Nước, phân bón, chăm sóc…được đáp ứng đầy đủ thì giống cũng không thể vượt qua ngưỡng tiềm năng năng suất của nó Chỉ có sự đột phá về giống mới có thể mang lại năng suất cao hơn
Trong bản thân cây trồng, sinh trưởng và phát triển là kết quả tổng hợp của các hoạt động sinh lý Cơ sở vật chất và năng lượng cho sinh trưởng phát triển là các hoạt động sinh lý cung cấp Sinh trưởng là một quá trình biến đổi về lượng, còn phát triển là một quá trình biến đổi về chất trong cơ thể thực vật Giữa hai quá trình này có mối quan hệ mật thiết với nhau: Sinh trưởng là tiền đề về lượng cho quá trình phát triển, còn phát triển là tiền đề về chất cho quá trình sinh trưởng Hai quá trình này cùng song song tồn tại trong suốt chu kì sống của cây [15]
Nghiên cứu mối tương quan giữa sinh trưởng và phát triển trong cây giúp chúng ta đưa ra các biện pháp điều chỉnh phù hợp với mục đích sản xuất của con người Từ đó góp phần tăng năng suất cây trồng
Trang 14Bên cạnh đó, cây trồng sinh trưởng và phát triển còn chịu ảnh hưởng to lớn từ các điều kiện ngoại cảnh Một trong những nhân tố sinh thái ảnh hưởng quan trọng đó là ánh sáng Ánh sáng có mối liên quan mật thiết đến khả năng quang hợp của cây Chất khô tích lũy được, trong đó 95% là từ quang hợp, còn 5% còn lại là lấy từ chất khoáng của đất [15] Trong sản xuất, sản phẩm chất khô mà cây trồng tích lũy được, người ta chia ra 2 bộ phận: Năng suất sinh vật và Năng suất kinh tế Tỷ lệ giữa Năng suất sinh vật và Năng suất kinh tế được gọi là Hệ số kinh tế Hệ số kinh tế cao hay thấp là tùy loại cây trồng, sinh trưởng phát triển thân lá, sự ra hoa, kết quả, sự vận chuyển và tích lũy chất hữu cơ từ lá về bộ phận kinh tế thuận lợi hay không Bởi vậy, chúng ta có thể tác động vào quang hợp để tăng năng suất cây trồng Bao gồm: Tăng hệ số sử dụng quang năng và tăng cường độ quang hợp Trong đó, biện pháp kỹ thuật tỉa cành là một trong những biện pháp đã được áp dụng cho cây trồng nhằm tăng năng suất thông qua thõa mãn các yêu cầu cần thiết cho quang hợp, từ đó làm tăng hệ số sử dụng năng lượng mặt trời dẫn đến tăng năng suất cây trồng [15]
Tại mỗi địa phương có những loài cây phân bố tự nhiên gọi là cây trồng bản địa Ưu điểm của cây bản địa là có khả năng thích ứng tốt với điều kiện thiên nhiên tại địa phương đó, ít bị tổn hại bởi các tác nhân nên có tính ổn định cao, nguồn giống có sẵn, dồi dào và rẻ tiền; dễ dàng lựa chọn có đặc tính mong muốn do có tính đa dạng cao, tạo ra cảnh quan phù hợp với tiềm thức và văn hóa dân tộc Ngoài
ra, người dân có nhiều kinh nghiệm trong việc nhận biết, sử dụng và phát triển.Việc nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của mỗi loại cây trồng có ý nghĩa to lớn trong việc ứng dụng vào sản xuất và tác động các biện pháp phù hợp nhằm bảo tồn nguồn gen, phục tráng giống, mở rộng diện tích canh tác, tăng năng suất và chất lượng nông sản
Bên cạnh đó, nghiên cứu ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật đến năng suất cũng là một hướng đi quan trọng trong việc hoàn thiện quy trình và tăng năng suất cây trồng
Trang 151.1.2.Cơ sở thực tiễn
Tương Dương là một trong mười huyện miền núi của tỉnh Nghệ An và thuộc các huyện nghèo theo chương trình 30a của chính phủ Diện tích đất tự nhiên lớn nhất tỉnh (281.129,37ha), dân số đạt 75.993 người, với 7 dân tộc sinh sống [1] Theo một số nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy nhu cầu rau xanh cần thiết cho mỗi người là 85 kg/người/năm, như vậy với dân số 75.993 người, hàng năm huyện Tương Dương cần tới 6.459 tấn rau (năm 2010), trong khi đó sản xuất hiện tại trên địa bàn huyện mới chỉ đáp ứng được 3.657 tấn rau [Cục thống kê Nghệ
An, 2010] Như vậy, chỉ tính riêng cho năm 2010, toàn huyện Tương Dương còn thiếu 2.902 tấn rau xanh/năm mới đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân
Theo khảo sát gần đây của chúng tôi (năm 2011), giá rau trên địa bàn Tương Dương (tại thị trấn Hòa Bình) đắt gấp 1,5 đến 2 lần so với giá rau trên thị trường (miền xuôi), đa số rau ở nơi đây phải nhập về từ các huyện đồng bằng như Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Hà Nội Cũng theo khảo sát cho thấy, người dân thị trấn Hòa Bình thích dùng nguồn rau xanh mà người dân các bản nơi đây tự sản xuất đem bán hơn
là phải mua rau từ miền xuôi, vì sản phẩm tươi hơn và mặt khác nó an toàn vì không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
Nhìn chung tình hình sản xuất rau ở Tương Dương chủ yếu ở quy mô nông
hộ, diện tích nhỏ lẻ, đa số trồng theo phương thức tự cung tự cấp Sản xuất chủ yếu đáp ứng nhu cầu sử dụng hàng ngày của gia đình (Một số hộ tại thị trấn Hòa Bình
đã sản xuất rau theo hướng hàng hóa song diện tích của hộ trồng nhiều nhất cũng chỉ đạt 500 m2, lượng rau không đáp ứng cho nhu cầu tiêu thụ của thị trấn) Trong canh tác, bà con nông dân chưa áp dụng tiến bộ khoa học kỷ thuật vào sản xuất, do vậy trong những năm qua tại Tương Dương sản xuất rau còn đạt thấp cả về diện tích, năng suất và sản lượng, tại đây chưa có quy hoạch vùng trồng rau an toàn
Một trong những loại cây trồng mà bà con nông dân tại huyện Tương Dương trồng phổ biến và được người tiêu dùng dễ chấp nhận đó là cây Cà chua múi Theo người dân cho biết, cà chua múi là loại cây cung cấp rau ăn quả chủ yếu được bà con trồng từ bao đời nay với năng suất cao mà cho quả ăn rất ngon Có thể nói, cà chua múi là cây trồng bản địa gắn bó với bà con nơi đây trong mỗi mùa sản xuất
Trang 16Tuy nhiên, sản xuất chỉ dừng trong quy mô nông hộ, quá trình trồng và chăm sóc gặp nhiều khó khăn do thiếu khoa học kỹ thuật, diện tích sản xuất còn manh mún Vì vậy mà công tác sản xuất mang tính tự cung tự cấp là chủ yếu, chưa có sản phẩm ra thị trường trong khi nhu cầu tiêu dùng lại rất cao (giá bán 20.000 – 30.000 đồng/kg, trong khi giá cà chua thông thường từ 10.000 – 15.000 đồng/kg).
Vì vậy, cần có các nghiên cứu nhằm bổ sung thêm thông tin, dữ liệu hữu ích về loài cây trồng này từ đó hướng tới mục tiêu xây dựng quy trình thâm canh đạt năng suất cao, góp phần tạo ra hàng hóa đáp ứng thị trường người tiêu dùng
1.2 Nguồn gốc, phân loại và đặc điểm của cây cà chua
1.2.1 Nguồn gốc
Cây cà chua có nguồn gốc ở vùng Nam Mĩ Tomato là tên gọi của Nam Mỹ chỉ cây cà chua, từ này có nguồn gốc từ xitomate hoặc Zitomate va Mexican tomati [9] Theo tài liệu nghiên cứu của Decandole (1844), Muller (1940), Luckwill (1943), Jenkin (1948) thì cà chua trồng hiện nay có nguồn gốc từ Peru, Ecuado và Bolivia Và cà chua hoang dã vẫn có thể được tìm thấy ở dãy núi Andes Ở các vùng núi ở Trung và Nam Mỹ, người ta tìm thấy rất nhiều dạng cà chua dại và cà chua trồng Decandole đã chứng minh rằng cà chua dại quả lớn rất phổ biến, dạng cà chua dại quả nhỏ thì phát triển phổ biến dọc theo bờ biển của Peru, miền Đông Peru và tại vùng biên giới Mêhico và Mỹ theo hướng lên tới Califolia Bukaxop (1930) đã tìm thấy các dạng cà chua dại tại vùng rừng núi của Mêhico, Goatemala và Colombia Khả năng lớn nhất của cà chua là các nước Peru và Mêhico Nhiều bằng chứng về khảo cổ học, thực vật học, ngôn ngữ học và lịch sử đã thừa nhận Mêhico là trung tâm thuần hóa cà chua trồng Pier Andrea Mattioli cho rằng những giống cà chua đầu tiên đưa vào Châu Âu xuất phát từ Mêhico Đến thế kỉ 18, cà chua được trồng phổ biến, sử dụng làm thực phẩm ở các nước Châu Âu và Bắc Mỹ Ở Châu Á, cà chua được đưa đến đầu tiên là Philippin, Java và Malayxia từ Châu Âu qua các lái buôn và thực dân Hà Lan, Bồ Đào Nha vào thế kỉ 17 Sau đó mới phổ biến đến các vùng khác của Châu Á (Kuo và cs, 1998)
1.2.2 Phân loại
Cà chua có tên khoa học là Lycopersicum esculentum (L).Mill, thuộc:
Trang 17 Chi Lycopersicon
Họ cà (Solanaceae)
Bộ hoa mõm sói (Scrophulariales)
Phân lớp Cúc (Asteridae)
Lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida)
Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) [3]
Chi này gồm nhiều loài, đều có nguồn gốc ở Nam Mỹ
Lyberty Hyde Bailey (Đại học Nông nghiệp Michigan) đã khởi đầu chương trình thử nghiệm về phân loại các giống cà chua vào năm 1886 Sau đó nhiều nhà khoa học đã đi sâu vào phân loại cà chua (Morrison 1938)[24]
Theo Muller (1940) và Luckwill (1943) (Trích dẫn theo Trần Thị Minh Hằng, 1999)[4], các loài cà chua được phân thành 2 chi phụ:
* Chi phụ Eriopersicon: được đặc trưng bởi quả màu xanh trắng với sắc tố
Anthocyanin thường có sọc tía, có lông, hạt nhỏ, chùm hoa có lá bao, gồm các loài: L.pissisi (Luckwill 1943), L peruvianum, L hirsutum, L glandulosum và L cheesmanii (Mul1er 1940)
* Chi phụ Eulycopersicon: đặc trưng bởi quả ăn được, màu đỏ hoặc vàng khi
chín, hạt to, chùm hoa không có lá bao, là cây hàng năm Gồm có 2 loài:
- L Pimpinellifolium: Dạng quả nhỏ, màu đỏ, thân yếu và mảnh, hoa mọc
thành chùm, 10- 25 quả/chùm và có 2 ngăn hạt/quả
- L Esculentum: là dạng cà chua trồng, đứng cây Theo Bailey 1949,
L.esculentum gồm các biến chủng:
+ L.esculentum var Commune (cà chua thường): Đa số các giống cà chua
trồng hiện nay thuộc biến chủng này Cây có khối lượng lớn và thường được cắt tỉa
+ L esculentum vai.cerasiforme (cà chua Anh Đào): Lá mỏng và nhỏ, chùm
hoa dài là phổ biến, quả chia 2 ngăn, quả hình cầu màu đỏ hoặc vàng, đường kính khoảng 2cm, có 15- 25 quả/chùm
+ L.esculentum var grandifolium: Lá to, phẳng, lá chét hình khoai tây và
không quá 5 lá chét/ 1 lá, có hoặc không có lá chét nhỏ
Trang 18+ L esculentum var validum (cà chua đứng): Cây mập, đứng cây, chắc chắn,
không cần chống đỡ, lá xanh thẫm, quăn và nhiều lá
1.2.3 Đặc điểm và giá trị dinh dưỡng, giá trị kinh tế của cây cà chua.
Cây cà chua có 2 loại hình sinh trưởng: hữu hạn và vô hạn Cà chua là cây dài ngày, tự thụ phấn Quả cà chua mọng, khi chín có màu vàng hoặc đỏ, có nhiều hình dạng: tròn, dẹt, có cạnh, có múi…[13]
Trong quả cà chua chín chứa nhiều loại chất dinh dưỡng có giá trị cao như các dạng đường dễ tiêu (2- 4%) chủ yếu là Glucoza và Fructoza; các loại vitamin cơ bản cần thiết cho con người như tiền vitamin A (1- 2mg%), vitamin B1 (0,08- 0,15mg
%), vitamin B2 (0,05- 0,07 mg%), vitamin B6 và nhiều nhất là vitamin C (20- 40 mg%) Ngoài ra còn có vitamin K, vitamin PP (0,5- 16,5mg%); Xenluloza (0,8%); tro (0,4%) Mặt khác trong quả cà chua còn chứa 2,25- 2,50% các loại axit như: oxalic, malic, nicotinic, citric… và nhiều chất khoáng như kali (114- 207mg%), photpho (23- 36mg%), natri (8- 45,8mg%), canxi (7- 20mg%), magie, lưu huỳnh, sắt… là những chất có trong thành phần của máu và xương Quả tươi còn góp phần làm tăng bề mặt tiếp xúc giữa thức ăn và lông nhung của ruột, qua đó giúp cho quá trình tiêu hóa, hấp thụ thức ăn được dễ dàng [22], [32] Cà chua có thể giúp bảo vệ những người nghiện thuốc lá khỏi nguy cơ bị bệnh phổi (các nhà khoa học thuộc đại học y khoa Juntendo - Nhật Bản) [16] Lycopen trong quả cà chua có tác động mạnh đến việc giảm sự phát triển nhiều loại ung thư như ung thư tuyến tiền liệt, ung thư ruột kết, ung thư trực tràng và nhồi máu cơ tim do Lycopen ngăn chặn sự phá hủy của các gốc tự do cùng các phân tử và các gen khi chúng tuần hoàn trong máu [8] Lá cà chua non dùng đắp mụn nhọt, lở loét Lá cà chua già dùng làm nguyên liệu chiết tomatin là một chất kháng khuẩn, chống nấm, chống một số sâu bệnh hại cây trồng
Trong hạt cà chua chứa một lượng dầu đáng kể, có những hạt giống hàm lượng dầu trong hạt chiếm tới 24% Dầu được chiết xuất từ hạt cà chau thường dùng trong công nghiệp chế biến bơ, đồ hộp
Cà chua là loại rau ăn quả dễ sử dụng: Có thể ăn sống, nấu canh, sào, làm tương, sốt cà chua, chế biến thành bột, đóng hộp, làm nền cho công nghiệp đồ hộp
Trang 19như thịt hộp, cà hộp, đậu Hà Lan hộp, làm nước giải khát, patê… Cà chua đã trở thành món ăn thông dụng của nhiều nước trên thế giới trong 150 năm qua [5] Cà chua không những được dùng trực tiếp trong những bữa ăn hàng ngày mà nó còn được bảo quản lâu qua các dạng khác nhau nhưng vẫn giữ được những hương vị đặc trưng, phẩm chất tốt Với đặc tính đó cà chua đã góp phần tích cực trong việc cân đối nguồn thực phẩm giữa các tháng trong năm, cũng như giữa các vùng khác nhau để không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân
Cà chua có thể sinh trưởng trên nhiều loại đất khác nhau như đất sét, đất cát, đất cát pha có độ pH = 6- 6,5 Đất có độ ẩm cao và ngập nước kéo dài sẽ làm giảm khả năng sinh trưởng của cây cà chua
Nhiệt độ thích hợp cho cà chua đạt năng suất cao, chất lượng tốt là khoảng 21-
240C và thời tiết khô Nhiệt độ dưới 120C kéo dài sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng, nhiệt độ trên 270C kéo dài sẽ hạn chế ra hoa, đậu quả, Các tế bào phôi và hạt bị hủy hoại khi nhiệt độ trên 380C Trước và sau thời gian thụ phấn nếu nhiệt độ ban đêm quá 210C thì khả năng đậu quả kém
Ở Việt Nam, cây cà chua được xếp vào các loại rau có giá trị kinh tế cao, diện tích trồng cà chua lên đến chục ngàn ha, tập trung chủ yếu ở đồng bằng và trung du phía Bắc Hiện nay có một số giống chịu nhiệt mới lai tạo chọn lọc có thể trồng tại miền Trung, Tây Nguyên và Nam Bộ nên diện tích ngày càng được mở rộng Nhiều giống cà chua lai ghép chất lượng tốt được phát triển mạnh ở Đà Lạt, Lâm Đồng Một số giống cà chua chất lượng đã được xuất khẩu ra thị trường thế giới [22].Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, nước xốt cà chua có tác dụng rất tốt trong việc phòng chống bệnh tiểu đường
Chất carotenoid trong cà chua giúp chuyển hóa vitamine A, tăng khả năng miễn dịch và làm cho bộ máy hô hấp trong cơ thể được cải thiện Sử dụng cà chua thường xuyên sẽ giảm đi nguy cơ mắc những bệnh hen suyễn, phổi
Chính nhờ các yếu tố trên, cà chua được xem là một thực phẩm giàu chất dinh dưỡng để tiêu hóa, tăng cường sức đề kháng của cơ thể Mùa hè cà chua có tỉ lệ đường/ độ chua cao nhất, được kể là 10 so với mùa xuân là 7 lượng vitamin C thấp nhất vào mùa xuân (12mg/ 100g) so với 15mg dầu mè và cao nhất vào cuối hè [22]
Trang 201.3 Tình hình nghiên cứu cà chua trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Tình hình nghiên cứu cà chua trên thế giới
Có thể nói, những tiến bộ ban đầu về dòng, giống cà chua là hoàn toàn dựa vào châu Âu Năm 1863, có 23 giống cà chua được giới thiệu Trophy được coi là giống có chất lượng tốt ở thời kì đó với giá 5USD một gói nhỏ gồm 20 hạt giống Trong vòng hai thập kỉ, dòng, giống cà chua đã phát triển tới hàng mấy trăm năm [14] Năm 1863, chương trình thử nghiệm của Liberty Hyde Bailey ở trường nông nghiệp Michigan (Mỹ) đã tiến hành chọn lọc và phân loại giống cà chua trồng trọt
A Livington là người Mỹ đầu tiên nhận thức sự cần thiết phải chọn tạo giống cà chua Từ năm 1870 tới năm 1893 ông đã giới thiệu 13 giống cà chua trồng trọt được chọn lọc theo phương pháp chọn lọc cá thể Cuối thế kỷ 19, trên hai trăm dòng, giống cà chua được giới thiệu một cách rộng rãi
Ở Bungari người ta đã sử dụng các loại hình cà chua dại thuộc các thứ Var racemigerum- có hàm lượng chất khô cao; Var elongatum- có hàm lượng đường cao, quả hình trụ; Var.pimpeneuifolium- chống bệnh sương mai (phythophtora infestans) để lai với cà chua dạng trồng trọt thì kết quả thu được là ở dòng số 10 có kiểu quả chùm, quả hình trụ, có hàm lượng chất khô và hàm lượng đường cao, dễ bong vỏ khi gặp hơi nước nóng, chống bệnh sương mai Dòng này được dùng để lai tạo ra nhiều giống cà chua ưu thế lai có năng suất cao, phẩm chất quý, kháng bệnh sương mai phục vụ cho đồ hộp xuất khẩu Nhờ thành tựu này mà sản phẩm “cà chua trắng” của Bungari ra đời rất nổi tiếng [8]
Công tác chọn tạo giống cà chua được tiến hành rộng rãi ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX
Năm 1900 Moor và Simon đã chọn được giống Sẻ Khoan sớm Năm 1908 G.W Middeleton chọn được giống Trân thiện mỹ từ giống Sẻ Khoan Năm 1914 Berft Croft chọn được giống Cooper special, là giống sinh trưởng hữu hạn, thích ứng trồng dày và thu hoạch bằng máy
Theo ý kiến của Anpachev (1978), Iorganov (1971), Phiên kỳ Mạnh (1961) (Trích dẫn theo Kiều Thị Thư, 1998) [24] thì xu hướng chọn tạo giống cà chua mới là:
- Tạo giống chín sớm, thích hợp cho sản xuất vụ sớm
Trang 21- Tạo giống cho sản lượng cao, giá trị sinh học cao, dùng làm rau rươi và nguyên liệu cho chế biến đồ hộp.
- Tạo giống chín đồng loạt thích hợp cho cơ giới hóa
- Tạo giống chống chịu sâu bệnh
Từ năm 1972, Trung tâm Rau Châu Á (AVRDC) đã bắt đầu chương trình lai tạo giống với mục đich tăng cường sự thích ứng của những loại rau này với vùng nhiệt đới nóng ẩm Giai đoạn đầu tiên của chương trình này (1973- 1980) tập trung phát triển các dòng lai tạo các tính nóng tốt và chịu héo xanh vi khuẩn, hai tính trạng quan trọng này cần phải có trong các giống mới để thích ứng với vùng nhiệt đới [33,34] Dòng triển vọng nhất cho vùng nhiệt đới là
“pioneering” đã được phổ biến qua hàng loạt các chương trình hợp tác phát triển cây rau ở nhiều quốc gia [25,26]
Từ năm 1980, các giống cà chua nhiệt đới đã được cải tiến thêm các tính trạng kháng bệnh, cải thiện kích thước quả, năng suất, chất lượng quả, hình thái quả như độ cứng quả và chống nứt quả
Để tập trung vào lĩnh vực chọn giống cà chua chịu nhiệt, nhiều nghiên cứu đã sử dụng nguồn di truyền của các loài dại và bán dại làm nguồn gen chống chịu với nhiệt độ cao Bằng nhiều phương pháp: lai tạo, chọn lọc giao tử trên nền nhiệt độ cao, chọn lọc hợp tử (phôi non)… đã thu được những kết quả bước đầu rất khả quan, đặc biệt là các giống chịu nhiệt, có phổ thích ứng rộng, trồng được nhiều vụ trong năm
Lai giữa các loài và xử lý nhiệt độ là một phương pháp có hiệu quả để tăng phổ biến dị, tăng khả năng thích ứng của loài với các điều kiện sống biến động của môi trường (Orlova 1987) [19]
Điều kiện nhiệt độ của môi trượng có ảnh hưởng rất lớn đến các quá trình xảy
ra ở cà chua như: hình thành giao tử đực, thụ tinh và hình thành phôi Ở nhiệt độ 20- 210C hạt phấn nảy mầm và sinh trưởng ống phấn với tốc độ lớn nhất Dưới tác động của nhiệt độ 400C trong thời gian dài 4h thì hoa bị hỏng, làm giảm rất mạnh tỷ lệ đậu quả Thường các dạng cà chua đậu quả tốt ở điều kiện nhiệt độ cao thì cũng biểu hiện khả năng đó ở nhiệt độ thấp (Restaino, Lombatdi, 1990) [27]
Trang 22Chọn lọc nhân tạo hạt phấn trên cơ sở đa dạng hóa di truyền của chúng là một trong những phương pháp chọn giống Nhiều nghiên cứu cho thấy ở cà chua bằng cách chọn lọc hạt phấn với nhiệt độ cao, có thể nâng cao sự chống chịu của giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng (Avdeev, 1982) (Trích dẫn theo Kiều Thị Thư, 1998) [4]Ở cà chua dưới tác động của nhiệt độ cao, khả năng của hạt phấn giữ được sức sống đi vào thụ tinh là khác nhau và phụ thuộc vào kiểu gen (Taracanov, Krriuchcov, 1971) (Trích dẫn theo Kiều Thị Thư, 1998)[4].
Nhiệt độ cao gây chết ở cà chua nằm trong khoảng 40- 450C trong thời gian 6h Các mẫu giống chịu nóng có ngưỡng đông đặc Protein là 550C Ở nhiệt độ cao (35- 500C) độ hữu dục của hạt phấn giảm đi, làm giảm tỷ lệ đậu quả (Gavrish, Gotovtseva, 1990) [19]
Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ cao ở giai đoạn phôi non đã cho thấy phôi 10 ngày tuổi của con lai khác loài M.500 x S penne11i, M.500 x L Minutum, M.628 x L hirsutum ở nhiệt độ 38/270C (ngày/đêm) đã bị chết ở các mức độ khác nhau Khi tác động nhiệt độ cao trong vòng 10 ngày thì sự chết phôi tăng lên 2-3 lần
so với đối chứng, vì vậy dẫn đến sự sai lệch so với tỷ lệ phân ly theo một cặp tính trạng trên hl, c (trên nhiễm sắc thể 11 và 6) và đã làm tăng sự chịu nóng của quần thể phân ly (Kravchenco, 1987; Sutesh Kumar, Gulshan, 1989) [20], [31]
Trong nghiên cứu về biến động của hạt phấn và tỷ lệ đậu quả của các kiểu gen cà chua dưới 2 chế độ nhiệt cao và tối ưu, Abdul và Stommel (1995) [16] đã cho thấy: ở nhiệt độ cao các kiểu gen mẫn cảm nóng hầu như không đậu quả, tỷ lệ đậu quả của các kiểu gen trên chịu nóng trong khoảng 45- 65% Như vậy phản ứng cảu hạt phấn khi xử lý nóng phụ thuộc vào từng kiểu gen và chưa có quy luật chung để dự đoán trước về tỷ lệ đậu quả ở điều kiện nhiệt độ cao
Khả năng đậu quả và cho năng suất của các giống cà chua đã được Ale Maxkoor ở Trường Đại Học Nông Nghiệp I Shahid Chamran nghiên cứu năm 1984 [17] về một số tính trạng: nở hoa, số hoa/ chùm, kiểu phát triển, đậu quả, hình dạng và kích thước quả Kết quả đã chọn lọc được 2 giống chịu nóng có năng suất cao và khả năng thương mại và khả năng thương mại tốt, đó là Tobol và Chefp.s
Trang 23Đánh giá 9 giống cà chua về khả năng chịu nóng, Abdul Baki, (1991) [16] đã rút ra những ưu thế của nhóm chịu nóng ở một loạt các tính trạng: đậu quả, nở hoa, năng suất quả, số hạt/ quả… Các dòng chọn lọc trong thí nghiệm có tỷ lệ đậu quả và năng suất cao hơn giống chịu nóng (tương ứng là 70% và 52%) Nhiệt độ cao đã làm giảm năng suất, độ nở hoa và tỷ lệ đậu quả, đồng thời làm tăng phạm vi dị dạng của quả như: nứt quả, đốm quả, mô mọng nước, quả nhỏ và không thành thục Khả năng sản xuất hạt dưới nhiệt độ cao bị giảm hoặc bị ức chế toàn bộ (ở nhiệt độ 290C ban ngày/ 280C ban đêm).
Trong chọn lọc cac giống cà chua thích ứng (Scott, Olson, Chellemi et al 1994) [31], ngoài việc tiến hành so sánh năng suất của các dòng chọn lọc với đối chứng về tính chịu nóng, các tác giả còn chú trọng tới tính kháng bệnh như: bệnh
héo vi khuẩn (Pseudomonas solanacearum), kháng chủng 3 Fusarium oxysporum, chịu thối vi khuẩn (Xanthomonas campestris PV.Vesicatoria) Kết quả đã chọn lọc
được được dòng chịu nóng Fla 7324 và các con lai F1 của nó; dòng kháng héo vi khuẩn Fla 7421
Kết quả thử nghiệm so sánh 156 giống nhập nội, Jiulong, Dahong đã đưa ra giống Flora 544 và Heirse 6035 có năng suất vượt đối chứng tương ứng là 38% và 84%, giống chế biến Ohio 823 vượt đối chứng 29% Cả 3 giống này đều chịu nóng cao Giống FL 7221 được chọn là giống có chất lượng cao, đồng thời có khả năng thương mại tốt Bốn giống này thể hiện tính kháng bệnh Cucumovirus và Tobamovirus (Liu Jinsheng; Wang Longzhi ey al, 1994) [21]
Để tăng cường giống cà chua trồng quanh năm, Chowdhury, 1989 [35] đã nghiên cứu 32 giống nhập nội và 1 giống tự tạo, kết quả là 8 giống thích ứng đã được chọn cho mùa hè và được sử dụng trong chương trình chọn giống có phổ thích ứng rộng
Một giống lai đã được sinh ra từ cặp lai Fla.7324 x Fla.7060 là giống Equynox: sinh trưởng hữu hạn, chịu nóng, thích hợp ăn tươi sống, có tỷ lệ đậu quả tốt ở nhiệt độ cao, có chất lượng thương mại tốt; quả thu vào mùa xuân và mùa thu ở Florida, giống này kháng nứt quả tốt (Scott, Olson Howe et el, 1995) [27]
Trang 24Công ty giống hoa quả Technisem của Pháp năm 1992 đã đưa ra nhiều giống cà chua tốt có chất lượng cao như: Roma VF, Rossol VFA, Rio Gramde, Tropimech VF1-2, Heinz, 1370, F1 campa, Fl Smal1 Fry VFN, Fl Perle Rouge VFN, Fl Carmina, Fl Fantasia VFN, Xina, Carioca VFI- 2BW, Các giống này đều có chung đặc điểm là chịu nhiệt, năng suất cao, quả chắc, hàm lượng chất kho cao, chịu vận chuyển và bảo quản lâu, chất lượng cảm quan tốt, chống chịu sâu bệnh [3].
Ở Mỹ, những năm 1970 trở lại đây công tác chọn tạo giống cà chua phát triển mạnh với hướng cơ bản là chọn giống có phẩm chất cao, chống chịu sâu bệnh tốt Phần lớn các giống cà chua được tạo ra ở Mỹ chống chịu tốt với bệnh héo rũ, TMV, fusarium, tuyến trùng… Các giống này có thể đạt năng suất 80- 100 tấn/ha Điển hình như giống Xiri, VE-145, Xiri UC, đặc biệt các giống UC- 105, UC- 134, UC-
82 mang nhiều đặc tính tốt có giá trị cao như chịu nứt quả và độ cứng quả [13].Nhiều nghiên cứu về chọn lọc các giống chịu nóng đã được tiến hành ở Ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc và Mỹ cũng như một số nước khác trên thế giới (Paljeet Singh et al, 1990; Kharti; Polesskaya 1994; Opena, Chen et al, 1992, 1993; Laterrot, Stamova, 1993; Hanna; Adam; Black, 1992 a, b) [22, 20, 28, 23, 21]
Ở Ấn Độ trong điều kiện mùa hè nhiệt độ ngày đêm là 400C/ 250C đã xác định các dòng có tỷ lệ đậu quả cao 60-83% lµ EC 50534, EC 788, EC 455, EC 126755,
EC 5888, EC 276, EC 10306, EC 2694, EC 4207 dùng làm các vật liệu lai tạo giống chịu nhiệt [30] Trong điều kiện nhiệt độ ngày đêm là 35,90C/ 23,70C tại Tamil Nadu (Ấn Độ), 124 dòng cà chua đã được đánh giá khả năng chịu nhiệt trong đó 2 dòng là LE.12 và LE.36 có tỷ lệ đậu quả cao Khi lai chúng với nhau và với PKM thì con lai của tổ hợp LE.12 x LE.36 đã cho tỷ lệ đậu quả cao nhất (79,8%) [33]
Trong những năm gần đây với thành tựu của kỹ nghệ gen, giống cà chua chuyền nạp thiếu gen đã gây nên sự hạn chế tốc độ tổng hợp ethylen làm cho quả chín chậm, kéo dài thời gian bảo quản đã được đưa ra sản xuất (Oeller et al 1991) [32] Nhờ áp dụng kỹ nghệ gen đã tạo ra một số dạng cà chua sau:
- Bảo quản lâu (Long Sheff life) – anti- sence RNA for ACC Synthyase
- Kháng vius- vỉal coat protein
- Kháng thối thu hoạch- Chitinase gene
Trang 25- Kháng sâu- BT gen (From Bacillus thuringiensi).
(MC Gorvey, et al, 1994; Smith, Watson, 1990; Smith, Watson 1988) [23] [30] [29]
Bằng phương pháp chọn lọc invitro từ giống UC82 mẫn cảm với F.oxyspotum f sp Lycopersisi chủng 2 đã tạo ra được kiểu gen chống bệnh này (Shahin, Spivey, 1986) [28]
Nhìn chung các giống mới dù được chọn tạo bằng phương pháp này hay phương pháp khác cũng cần được chú ý tới sự kết hợp năng suất cao, chất lượng ngon, chống chịu tốt với sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất lợi
Việc sử dụng ưu thế lai (ƯTL) đã tạo ra bước đột phá lớn trong công tác chọn tạo giống cây trồng Nhờ ƯTL đã tạo ra những cây trồng có năng suất rất cao và phẩm chất đặc biệt Không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà khoa học đã cho rằng thế kỷ XXI là thế kỷ sinh vật học, trong đó các giống cây trồng vật nuôi ƯTL chiếm vị trí tuyệt đối trong sản xuất nông nghiệp Tổ hợp lai N0 10 × Mondavi đạt 816 tạ/ ha và giống Main 12/20- 4 đạt 712 tạ/ha (Ksova, 1978) Do vậy, kết luận về ƯTL, viện sĩ Daskalor đã nhấn mạnh:
Nghiên cứu ƯTL xác nhận rằng, trong một số tổ hợp lai hiệu quả được biểu hiện chủ yếu là tăng sản lượng rất lớn, biến động từ 48,3- 73,8%
Một số tổ hợp lai có chất lượng tốt có thể sử dụng rộng rãi trong sản xuất Sản xuất hạt lai ở một vùng lớn là hoàn toàn có khả năng và có giá trị kinh tế [3]
Ở các nước như Nhật, Pháp, Hà Lan, Anh…nhờ ứng dụng ƯTL đã tạo ra những con lai siêu năng suất Bình quân năng suất cà chua của Hà Lan đạt tới
425 tấn/ha Trung Quốc là nước đầu tiên có công nghệ chuyển gen có tính chất thương mại từ những năm 1990, với những sản phẩm gen kháng virus ở cà chua [18] Cây thực phẩm chuyển gen được đưa vào sản xuất từ năm 1994 ở Mỹ là giống cà chua Flavr Savs Ở các giống cà chua thông thường, một số enzim được tạo ra trong quá trình chín, trong đó có Poly- galacturonaza phân giải thành tế bào làm mền quả cà chua
1.3.2 Tình hình nghiên cứu cà chua ở Việt Nam
Trang 26Cây cà chua là đối tượng nghiên cứu chính trong nghiên cứu giống rau ở nước
ta đầu thập niên 70 ở thế kỷ trước Tham gia vào công tác nghiên cứu này bao gồm Viện cây lương thực và thực phẩm, Viện nghiên cứu cây rau quả, Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Miền Nam, các trường đại học nông nghiệp, Trung tâm kỹ thuật rau quả Hà Nội…
Mặc dù lịch sử trồng cà chua ở nước ta chưa lâu, mới khoảng hơn một trăm năm nhưng số lượng giống cà chua ở nước ta đã lên tới hàng ngàn giống Trong những năm gần đây các nhà chọn tạo đã đưa ra tập đoàn giống chịu nóng có thể trồng nhiều vụ trong năm, tạo ra các loại giống phục vụ cho các mục đích sử dụng khác nhau như ăn tươi hay chế biến, lai tạo ra các giống cà chua chống chịu với sâu bệnh tốt
Dựa vào những thành tựu đã đạt được chúng ta có thể chia các công tác nghiên cứu và chọn tạo giống cà chua nước ta thành các giai đoạn sau:
Giai đoạn từ cuối những năm 1970- 1990: Có giống số 7 của Viện cây lương thực- thực phẩm chọn từ một số giống nhập nội Giống 214 do Viện cây lương thực- thực phẩm chọn từ tổ hợp lai CV1 × American , hạt F1 được xủ lý đột biến Giống Hồng Lan được chọn từ một số giống nhập nội Giống SB2, SB3 do Viện khoa học nông nghiệp miền nam chọn từ tổ hợp lai Start × Ba Lan
Giai đoạn 1990- 1999: Tiêu biểu trong giai đoạn này là một số giống như: VR2, giống cà chua nhỏ được Viện nghiên cứu rau quả chọn từ nguồn nhập nội Giống CH2 do Viện nghiên cứu rau quả chọn lọc cho vụ Xuân hè Giống lai số 1 do viện cây lương thực- thực phẩm lai tạo được công nhận năm 1999 là giống lai đầu tiên ở nước ta
Giai đoạn 2000- nay: Tiêu biểu cho giai đoạn này là giống PT18 là giống cà chua có loại hình sinh trưởng hữu hạn do Viện nghiên cứu rau quả chọn tạo từ các giống cà chua nhập nội từ trung tâm phát triển rau Châu Á (AVRDC), được Bộ NN & PTNT công nhận là giống quốc gia và cho phép đưa vào sản xuất đại trà từ tháng 8 năm 2004 PT18 là giống có khả năng rải vụ tốt, có thể trồng và cho năng suất cao trong khoảng thời gian từ tháng 8 đến tháng 3 năm sau, cho thu hoạch từ khoảng cuối tháng 11, đầu tháng 12 và kéo dài cho tới tháng 6 năm
Trang 27sau Giống PT18 thích hợp cho ăn tươi và làm nguyên liệu chế biến công nghiệp Mới đây, các nhà khoa học thuộc Viện khoa học kỹ thuật Nông Nghiệp miền Nam, đã công bố công trình nghiên cứu và ứng dụng biện pháp ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn Đây cũng là lần đầu tiên Việt Nam đã lai ghép và ứng dụng cà chua này trên diện rộng với diện tích hàng ngàn ha Công trình đạt
100 tấn/ ha (khoảng 150- 200 triệu đồng) [13]
Theo kết luận hội đồng giống (Bộ NN & PTNT) trong vụ xuân 2001- 2002 các giống cà chua sau đây được đưa vào trồng với quy mô 50 ha/ giống tại Hải Phòng để cung cấp nguyên liệu cho nhà máy chế biến cà chua cô đặc Hải Phòng: PT18, PT48 (Viện nghiên cứu rau quả), C95, C50 (Viện cây lương thực- thực phẩm), HT7 (Trường Đại Học Nông Nghiệp I Hà Nội), và một số giống cây nhập nội do các công ty Trang Nông, Hoa Sen cũng được khảo nghiệm
Với những ưu thế của cây cà chua về giá trị dinh dưỡng, giá trị kinh tế, đồng thời với mục tiêu phát triển cây cà chua của Chính phủ đề ra trong những năm tới thì chắc chắn càng ngày càng có nhiều giống được tạo ra có những ưu thế vượt trội
so với các giống hiện có đáp ứng được nhu cầu của người sản xuất
Song song với công tác nghiên cứu lai tạo giống cà chua thì công tác nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật thâm canh cà chua cho năng suất cao, phẩm chất tốt, cũng không ngừng được đẩy mạnh nhằm phục vụ những khách hàng khó tính trên thế giới cũng như ở Việt Nam chúng ta
1.4 Tình hình sản xuất, tiêu thụ cà chua trên thế giới và ở Việt Nam
1.4.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cà chua trên thế giới
Trong số các loại rau thì cà chua có vai trò và nhu cầu sử dụng rất lớn Trong những năm từ 2003- 2005 tổng sản lượng cà chua trên thế giới liên tục tăng, cụ thể năm 2000 là 117.170.000 tấn đến năm 2005 là 126.638.800 tấn, đến năm 2006 thì tổng sản lượng có giảm nhưng không đáng kể (24.799.400 tấn) trong số những quốc gia có sản lượng cao trong năm 2006 thì Trung Quốc là quốc gia đứng đầu với 31.644.000 tấn, tiếp đó là Ấn Độ với 8.585.600 tấn, Iran 4.781.000 tấn [8]
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng cà chua trên thế giới trong
những năm gần đây
Trang 28Năm Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất(kg/ha)
Tổng sản lượng( nghìn tấn)
Bảng 1.2 Các nước có sản lượng cà chua sản xuất lớn nhất Thế giới
Sản xuất Cà chua năm 2009
Năm 2003, Châu Âu là thị trường tiêu thụ cà chua lớn nhất thế giới, với sản lượng nhập khẩu là 7,22 triệu tấn Sau đó là Bắc Trung Mỹ (1,56 triệu tấn), Châu Á (1,69 triệu tấn) Thị trường Châu Âu vẫn là thị trường hứa hẹn nhiều tiềm năng cho những nước sản xuất cà chua Nhật Bản là nước nhập khẩu cà chua nhiều nhất thế
Trang 29giới Năm 1998 là 4.126 tấn , năm 1999 là 8.700 tấn, năm 2000 là 13.000 tấn Theo dự tính, nhu cầu thị trường của Nhật Bản vẫn tiếp tục tăng [25].
1.4.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cà chua ở Việt Nam
1.4.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cà chua ở Việt Nam
Ở nước ta, cây cà chua mới được trồng rộng rãi và phổ biến trong vòng 100 năm trở lại đây Do những giá trị về dinh dưỡng và kinh tế mà cà chua mang lại nên diện tích trồng cà chua ngày càng được mở rộng nhưng vẫn còn thấp hơn nhiều so với bình quân chung của thế giới
Tính đến năm 2005 thì diện tích trồng cà chua cả nước là 23.345 ha, năng suất đạt 198 tạ/ ha, sản lượng 462.345 tấn so với năm 2000 có diện tích là 13.728 tạ/ha, năng suất 151.26 tạ/ ha và sản lượng 207.657 tấn [9]
Diện tích cà chua nước ta phân bố chủ yếu là Đồng bằng Sông Hồng, Đà Lạt, Hải Phòng, Lâm Đồng, An Giang, TP Hồ Chí Minh Tuy nhiên diện tích trồng còn nhỏ, năng suất còn thấp, các nhà máy chế biến sản phẩm còn thiếu
Theo Trần Khắc Thi năm 2003, sản xuất cà chua nước ta có một số tồn tại và đó cũng là nguyên nhân làm cho năng suất cà chua nước ta còn thấp:
- Chưa có bộ giống tốt cho vụ trồng, đặc biệt là giống cho vụ Thu Đông, sản phẩm tập trung cho vụ Đông Xuân (hơn 70%) từ tháng 12- 4, còn lại hơn 1 nửa thời gian trong năm thiếu cà chua
- Đầu tư cho sản xuất còn thấp, nhất là phân hữu cơ, thuốc bảo vệ thực vật
- Chưa có quy trình canh tác và giống thích hợp cho mỗi vùng
- Nông dân thiếu kinh nghiệm canh tác, chưa được hướng dẫn kỹ thuật mới
- Việc sản xuất còn manh mún, nhỏ lẽ, chưa có sản phẩm hàng hóa lớn cho chế biến công nghiệp Quá trình canh tác, thu hái diễn ra hoàn toàn thủ công Tuy nhiên
so với các nước trong khu vực, sản xuất cà chua ở nước ta có nhiều thuận lợi: khí hậu thời tiết, đất đai ở nước ta đặc biệt là các tỉnh phía Bắc phù hợp cho sinh trưởng, phát triển của cây cà chua Nếu đầu tư tốt thì năng suất vẫn ổn định ở các vụ trong năm Các vùng trồng cà chua đều có nguồn nhân công lớn nên giá lao động rẻ
Do đó sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao, mang lại hiệu quả kinh tế lớn
Trang 30Ở nước ta, trong những năm gần đây các loại rau ăn quả được chú trọng phát triển hơn cả, bởi vì giá trị dinh dưỡng cũng như khả năng chế biến cao Trong đó, cây cà chua đặc biệt được ưu tiên phát triển hơn cả.
Bảng 1.3 Chỉ tiêu sản xuất cà chua năm 2005 và 2010
Năm Sản lượng quả
(Tấn)
Sản phẩm chế
biến (100 tấn)
Giá trị xuất khẩu ( triệu USD)
(Nguồn: Đề án phát triển rau quả và cây cảnh giai đoạn 1999- 2010)
1.4.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau tại Nghệ An
Là một tỉnh miền Trung, bên cạnh một số khó khăn, Nghệ An có khá nhiều lợi thế về sản xuất rau Nhiệt độ không khí trung bình qua các tháng dao động từ 17,00C-30,00C, số giờ nắng qua các tháng trong năm lớn, tập trung chủ yếu từ tháng
4 đến tháng 10, dao động từ 93,5 - 226,3 h/tháng Cùng với đó là lượng mưa hàng năm cũng khá cao, tập trung vào các tháng 4 đến tháng 10 là điều kiện rất tốt để sản xuất các loại rau ăn lá, các loại rau có nguồn gốc nhiệt đới
Tốc độ phát triển của nghề sản xuất rau tại địa bàn tỉnh Nghệ An năm sau cao hơn năm trước cả về diện tích và sản lượng Năm 2008 diện tích sản xuất là 24.374 ha, năm 2009 là 24.795 ha, năm 2010 là 26.846 ha, tốc độ tăng trưởng bình quân là 108,73% Sản lượng rau cũng có tốc độ tăng trưởng ở mức 107,79% [11]
Qua khảo sát đánh giá, chủng loại rau tại Nghệ An tập trung chủ yếu vào một
số loại chính là:
+ Rau ăn lá: Chủ yếu là rau muống, rau cải các loại, su hào, bắp cải, xà lách, bí ăn
ngọn
+ Rau ăn quả: Dưa chuột, cà pháo, cà xanh, cà bát, cà chua, mướp đắng, xu xu, đậu
côve leo, bí xanh
+ Rau gia vị: Hành các loại, ớt, xà lách, thì là, rau sút
+ Rau ăn củ: Hành, cải củ.
Theo thống kê của ngành Nông nghiệp, tỉnh Nghệ An đã hình thành được vùng chuyên canh trồng rau tại 12/19 huyện trong tỉnh, mỗi năm cung cấp cho thị
Trang 31trường trong, ngoài tỉnh hàng vạn tấn rau các loại Vụ đông năm 2007, tỉnh Nghệ
An sẽ trồng 9.000 ha rau các loại, đạt sản lượng 90.000 tấn Cũng theo đánh giá của
ngành nông nghiệp Nghệ An, trồng rau xanh đang là nghề ổn định, mang lại thu nhập khá cao; cá biệt có nơi, như xã Quỳnh Lương (huyện Quỳnh Lưu), bình quân mỗi ngày xã này tiêu thụ 25 tấn rau các loại, thu nhập đạt đến 120 triệu đồng/ha/năm
1.5 Tổng quan về huyện Tương Dương và xã Thạch Giám.
1.5.1.Tổng quan về huyện Tương Dương
Huyện Tương Dương là một huyện miền núi nằm ở phía Tây tỉnh Nghệ An, là một trong những huyện nghèo nhất của tỉnh Nghệ An (chỉ đứng sau huyện Kỳ Sơn), huyện có diện tích tự nhiên lớn nhất tỉnh, toàn huyện có 18 xã, thị trấn, có 7 dân tộc anh em chung sống, tuy nhiên trình độ dân trí còn thấp, kinh tế nghèo nàn lạc hậu
Địa hình đồi núi phức tạp, giao thông chia cắt, việc đi lại gặp nhiều khó khăn, từ trung tâm Huyện đến Thành phố Vinh gần 200km đường bộ, giáp biên giới với nước bạn Lào, cách cửa khẩu Nậm Cắn 90km
Khí hậu Tương Dương chịu ảnh hưởng trực tiếp khí hậu Tây Nam Nghệ An, khí hậu gió mùa nhiệt đới với 2 mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình từ 23 - 25oC, nhiệt độ cao nhất vào tháng 7 là 39 - 41oC, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 là 8oC Lượng mưa trung bình đạt 1.450mm song lượng mưa phân bố không đều theo không gian và thời gian, lượng mưa tập trung vào mừa mưa [1]
*Điều kiện tự nhiên:
Tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện là: 281.129,37 ha (chiếm 17% diện tích toàn tỉnh) Trong đó:
+ Đất sản xuất nông nghiệp là 901,09 ha (chiếm 0,32%)
+ Tổng diện tích đất rừng toàn huyện là 265.361ha (chiếm 94,56%)
+ Diện tích đất có rừng là: 124.901ha (chiếm 44,4%)
+ Diện tích đất lâm nghiệp là: 58.703ha
+ Tổng diện tích mặt nước nuôi trồng t.sản: 56ha
+ Độ cao trung bình so với mực nước biển là 65 - 75m
Trang 32* Tổng số hộ dân:
- Tổng số nhân khẩu: 75.993 người
Trong đó; gồm 7 dân tộc: Thái 54.815 người, Mông 3.083 người, Tày poong
549 người, Ơđu 604 người, Kinh 7.805 người, Khơ mú 8.979 người, dân tộc khác
158 người
Người dân chủ yếu là bà con dân tộc (chiếm 90,4%) và chủ yếu sống ở khu vực nông thôn, chiếm 95,3% Đây là huyện có số dân trẻ, có nguồn lao động dồi dào Tuy nhiên trình độ dân trí nói chung trong toàn huyện còn thấp Số lao động qua đào tạo chiếm 14%, lao động toàn huyện chủ yếu là hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp
Tỷ lệ thời gian sử dụng lao động ở nông thôn của huyện đạt thấp (50%), năng suất lao động đạt thấp do trình độ tay nghề và công cụ sản xuất còn hạn chế
Dân cư phân bố không đều, chủ yếu là tập trung ở dọc quốc lộ 7, đặc biệt là Thị trấn Hòa Bình, trình độ dân số không, cao nhất là ở vùng sâu vùng xa, Huyện có
cơ cấu dân trí trẻ Nguồn lao động dồi dào nhưng chủ yếu là lao động phổ thông, lao động có trình độ kỹ thuật và tay nghề ít, nghề chủ yếu là nông nghiệp, lâm nghiệp năng suất chưa cao Việc áp dựng tiến bộ KH - KT vào sản xuất nông nghiệp còn nhiều hạn chế Phong tục tập quán lạc hậu còn tồn tại ở các xã vùng sâu, vùng xa
có thế mạnh của địa phương như: nuôi lơn đen, gà đen, lợn rừng, nhím , một số cây trồng đặc sản như bí xanh, khoai sọ, xoài, cây lâm nghiệp có giá trị thương phẩm [1]
Trang 331.5.2.Tổng quan về xã Thạch Giám huyện Tương Dương
Xã Thạch Giám nằm trên quốc lộ 7 thuộc huyện Tương Dương, cách trung tâm Thị trấn Hòa Bình khoảng 2Km, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An, cách cửa khẩu Nậm Cắn 92km, là một trong 100 xã đặc biệt khó khăn thuộc Chương trình
135 của Nghệ An
- Vị trí địa lý: Địa bàn xã bao quanh Thị trấn Hòa Bình, Trung tâm UBND xã cách Thị trấn huyện 2km, đường giao thông đi lại ở 1 số thôn bản còn gặp nhiều khó khăn, một số thôn bản cách UBND xã xa nhất là 8km
- Lao động: Là xã có lực lượng lao động trẻ, do diện tích canh tác ít, không có ngành nghề phụ nên thời gian nông nhàn bà con không có việc làm để kiếm thêm nguồn thu nhập
- Đất đai: Chủ yếu là đất đồi núi, nương rẫy, địa hình dốc, giao thông chia cắt
- Kinh tế hộ gia đình: Còn nhiều khó khăn, chủ yếu nhờ vào viện trợ của Nhà nước và các nguồn tài trợ khác, sản xuất nông nghiệp hiệu quả kém, chủ yếu là tự cung, tự cấp do đó hiệu quả sản xuất nông nghiệp chưa cao
- Văn hóa, giáo dục: Trình độ dân trí còn thấp, việc chuyển giao KH- KT còn nhiều hạn chế
* Tổng diện tích đất tự nhiên: 8.779 ha:
- Trong đó:
+ Đất trồng cây lương thực: 597,42ha
+ Đất trồng cây lâu năm: 16,20ha
+ Diện tích ao hồ mặt nước: 2,25ha
+ Diện tích đất lâm nghiệp: 3.848,80ha
+ Diện tích đất chuyên dùng 58,12ha
+ Diện tích lúa nước: 19,00ha
+ Diện tích trồng ngô: 108,00ha
+ Diện tích rau màu các loại: 5,00ha
+ Diện tích trồng rừng: 9,40ha
+ Diện tích trồng cỏ: 96,00ha
+ Đất chưa sử dụng 4.490,62ha
Trang 34+ Diện tích mặt nước NTTS: 2,20ha.
Xã Thạch Giám có diện tích đất tự nhiên lớn, tuy nhiên diện tích đất nông nghiệp và đất trồng cây nông nghiệp, đất trồng cây lâm nghiệp, đất lâm nghiệp còn thấp
* Về chăn nuôi
- Đàn Trâu: 91con; đàn bò: 2.825con
- Đàn lợn: 1.206con
- Tổng đàn gia cầm là: 11.090con
* Dân số - văn hóa xã hội
- Tổng số hộ dân: 1.052hộ; số hộ nghèo là: 215 hộ (20,4 %); số hộ thuần nông
867 hộ; số hộ kinh doanh thương mại, dịch vụ là 36 hộ
- Tổng sổ nhân khẩu: 4.181người
+ Số người trong độ tuổi lao động là 1.394 người Trong đó: Dân tộc Kinh là
157 người; dân tộc Thái là 4.002 người; dân tộc Tây pọong 4 người; dân tộc Khơ
* Điều kiện thuận lợi
Qua quá trình điều tra, khảo sát thực địa chúng tôi nhận thấy:
Vị trí địa lý gần Trung tâm UBND huyện và địa bàn thôn bản nằm dọc quốc lộ
7 thông thương với miền xuôi và Cửa khẩu Nậm Cắn nên khi sản phẩm nông nghiệp sản xuất ra sẽ tiêu thụ dễ dàng
- Điều kiện đất đai, khí hậu thời tiết, nguồn lao động rất thuận lợi để phát triển kinh tế vườn tạp (như trồng cây ăn quả, trồng rau màu, bầu bí, khoai sọ, chăn nuôi lợn đen, gà đen, chăn nuôi trâu bò ), tận dụng lợi thể trên để nâng cao hiệu quả kinh tế tăng thu nhập cho hộ gia đình
Trang 35- Xã nằm trong danh sách những xã đặc biệt khó khăn và trong diện xã thuộc chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới của Chính phủ nên có nhiều nguồn kinh phí hỗ trợ để phát triển kinh tế.
- Được Tỉnh ủy Nghệ An, UBND huyện Tương Dương xây dựng mô hình điểm theo Nghị quyết Đại hội huyện Đảng bộ Tương Dương nhiệm kỳ 2010 - 2015,
để xây dựng điểm chương trình nông thôn mới thành công
- Nội dung sẽ chuyển giao rất dễ thực hiện và có tính thiết thực với bà con, Trường Đại học Vinh và các tổ chức chính quyền dễ chuyển giao KH- KT cho bà con áp dụng
* Điều kiện khó khăn, hạn chế
Trình độ dân trí còn thấp, giao thông đi lại ở một số thôn bản gắp nhiều khó khăn, nhất là vào mùa mưa giao thông bị chia cắt, diện tích đất đai sản xuất nông nghiệp, đất trồng rừng con thấp, nhất là đất trồng lúa nước và một số cây lương thực khác, tập quán canh tác nông nghiệp còn lạc hậu Địa hình đồi núi, diện tích canh tác nương rẫy có độ dốc cao nên không thuân lợi cho việc canh tác, đất đai dễ bị rửa trôi nhất là vào mùa mưa bão Hệ thống hồ đập, sông suối để chủ động cung cấp nguồn nước tưới còn ít, nhất là vào mùa khô hạn
Bà con nông dân không có ngành nghề phụ, thời gian nông nhàn nhiều, trình
độ lao động, trình độ tay nghề thấp nên việc tiếp thu và vận dụng kiến thức từ tiến
bộ KHKT còn rất hạn chế
Nguồn lương thực chủ yếu là tự cung, tự cấp cũng không đủ, chủ yếu nhờ vào sự cung cấp của Nhà nước Tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao (gần 20,4%), ý thức của người dân phấn đấu vượt lên thoát nghèo chưa đủ mạnh Tâm lý trông chờ ỷ lại, sớm thỏa mãn với cuộc sống còn nặng nề Nhiều chương trình hỗ trợ của xã hội ở vùng núi dường như đang tạo ra và duy trì tâm lý ỷ lại, trông chờ sự trợ giúp từ trên hay các tổ chức xã hội ở một bộ phận người nghèo Việc đưa tiến bộ KH&CN vào người dân chưa ý thức được việc chuyển giao KH&CN để áp dụng mà có suy nghĩ như Nhà nước cấp không để tiêu dùng cho cuộc sống hàng ngày trước mắt
Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 362.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Vật liệu nghiên cứu
- Vật liệu nghiên cứu: Cây cà chua múi (Lycopersicum esculentum (L.) Mill.)
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Thí nghiệm được tiến hành tại Bản Phòng- xã Thạch Giám,
huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An
- Thời gian nghiên cứu: Thí nghiệm được tiến hành trồng trong vụ Đông Xuân từ
tháng 10 năm 2011 đến tháng 03 năm 2012
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu các đặc điểm nông sinh học của cây cà chua múi.
- Nghiên cứu năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của cây cà chua múi
- Nghiên cứu ảnh hưởng của việc áp dụng biện pháp kỹ thuật tỉa cành đến năng suất
của cây cà chua múi
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) gồm 4 công thức, 3 lần nhắc lại Tương ứng với 4 công thức (CT) là: CT1, CT2, CT3, CT4 Trong đó:
+ CT1: Công thức đối chứng: Không tác động biện pháp kỹ thuật (tỉa cành) Đồng thời là công thức để tiến hành theo dõi, nghiên cứu và đánh giá các đặc điểm nông sinh học của cây cà chua múi
+ CT2: Để 1 thân chính và 1 cành cấp 1 (thứ nhất)
+ CT3: Để 1 thân chính và 2 cành cấp 1 (thứ nhất và thứ 2)
+ CT4: Để 1 thân chính và 3 cành cấp 1 (thứ nhất, thứ 2 và thứ 3)
Cả 4 công thức thí nghiệm đều tiến hành trồng trong điều kiện mật độ, đất đai, phân bón, chăm sóc giống nhau (đồng nhất)
- Diện tích mỗi ô thí nghiệm: 10× 1 = 10m2
- Khoảng cách giữa các ô là : 0,4m (rãnh)
- Dải bảo vệ rộng 1,5m
Trang 37Tổng diện tích các ô thí nghiệm là: 10 x 3 x 4 = 120m2 (chưa kể dải bảo vệ).
Sơ đồ bố trí thí nghiệm:
2.3.2 Quy trình trồng và chăm sóc cây Cà chua múi:
Áp dụng theo “Quy trình kỹ thuật sản xuất cà chua an toàn” của Sở Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nghệ An
2.3.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
2.3.3.1 Một số đặc điểm nông sinh học của cà chua múi
Sử dụng bảng đánh giá các tính trạng đặc trưng của giống để xác định [2]:
+ Kiểu cây: Quan sát và đánh giá theo 3 mức:
Thấp cây, phân cành
Cao cây, phân cành
Cao cây, ít phân cành, chủ yếu vươn cao theo trục chính
+ Đặc điểm rễ: Quan sát và đánh giá dạng rễ, đặc điểm rễ ăn sâu hay nông, rễ phụ nhiều hay ít
+ Hình dạng thân: Quan sát đánh giá dạng thân (thân bụi hay thân thân gỗ, kiểu phân nhánh (giống nhau hay khác nhau), lông phủ trên thân (nhiều hay ít)
+ Hình dạng lá: Quan sát và đánh giá dạng lá đơn hay kép, có lá chét hay không,
mức phân thùy (dạng chân chim, dạng khoai tây, dạng lá ớt….)
+ Màu sắc lá : Quan sát và đánh giá theo dõi các mức: Xanh đậm- Xanh- Xanh sáng
Sử dụng các đặc điểm nông sinh học trong chọn giống cây trồng [6] để xác định các chỉ tiêu sau:
Dải bảo vệ
Trang 38
+ Dạng chùm hoa: Theo dõi vào thời kì hoa nở mỗi ngày một lần vào buổi sáng và đánh giá gồm các dạng: Dạng đơn giản, Dạng trung gian và Dạng phức tạp.
+ Đặc điểm hoa: Quan sát, miêu tả đặc điểm hoa cà chua múi gồm: lá đài, cành hoa, nhị và nhụy
+ Đặc điểm nở hoa: Theo dõi vào thời kì hoa nở một ngày một lần vào buổi sáng.+ Chiều cao từ gốc đến chùm hoa đầu tiên: Dùng thước đo chính xác đến cm đo từ gốc đến vị trí ra hoa đầu tiên
+ Các chỉ tiêu về hình thái và độ chắc của giống:
Hình dạng quả: Xác định bằng cách quan sát các dạng quả trên cây
Đường kính quả: Dùng thước Banme hiện số để đo đường kính quả
Khối lượng TB quả: cân khối lượng 25quả mẫu (5 quả/cây, 5 cây/CT) sau đó lấy giá trị trung bình
Màu sắc quả chín: Quan sát và đánh giá theo các mức: Cam - Đỏ - Đỏ đậm
Số ngăn hạt/quả: Tiến hành cắt 5 quả để đếm số ngăn hạt của từng quả sau đó tính trung bình
Độ dày thịt quả: Dùng thước nhỏ đến mức mm để đo độ dày thịt quả của 25 quả mẫu rồi tính trung bình
Độ chắc quả: Theo Kader và Morrit, 1976 chia độ chắc quả theo các mức sau [5]:
Rất cứng: Quả không bị móp khi ấn mạnh bằng tay, khi thái không bị mất hạt hay chảy nước
Cứng: Quả chỉ móp nhẹ khi ấn tay, khi thái không mất nước hay hạt
Chắc: Quả bị móp khi ấn tay mạnh vừa, khi thái có rơi một ít hạt và nước hạt.Mềm: Quả bị móp khi bị ấn nhẹ, khi thái có chảy nước và hạt
Rất mềm: Quả dễ bị móp khi ấn nhẹ, khi thái chảy nhiều nước và hạt
+ Chỉ tiêu về chất lượng quả của giống:
Đánh giá khẩu vị theo các mức: Ngọt đậm- Ngọt- Ngọt dịu- Nhạt- Chua- Hơi chua
Đánh giá hương vị: Có hương- Không rõ- Hăng
Hàm lượng Vitamin C: Xác định trên thiết bị sắc kí lỏng cao áp/ UV (Phân tích kết quả tại Trung tâm Kiểm định an toàn thực phẩm và môi trường - Trường ĐH Vinh) + Chiều cao cây: Sử dụng thước đo chính xác đến cm để đo chiều cao cây từ gốc đến đỉnh sinh trưởng ngọn Chiều cao cây cuối cùng được tính đến lần thu hoạch quả đầu tiên
Trang 39+ Số cành cấp 1, cấp 2: Đếm chính xác số cành cấp 1, cấp 2 trên cây
- Thời gian sinh trưởng:
+ Thời gian mọc mầm: Xác định khi có 50% số hạt nảy mầm
+ Tỷ lệ nảy mầm:
Tỷ lệ nảy mầm (%) = Số cây mọc
Tổng số hạt gieo+ Thời gian từ trồng đến khi ra hoa: Xác định khi có 70- 80% số cây bắt đầu ra hoa.+ Thời gian từ trồng đến khi đậu quả: Xác định khi có 70- 80% số cây có quả đậu.+ Thời gian trồng đến khi bắt đầu có quả chín: Xác định khi có 30% số cây có quả chín.+ Tổng thời gian sinh trưởng: Thời gian từ khi gieo hạt đến thu hoạch xong
2.3.3.2 Ảnh hưởng của biện pháp tỉa cành đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của cây cà chua múi
- Tổng số hoa: Đếm tổng số hoa qua các đợt nở hoa của 5 cây trên ô thí nghiệm theo
dõi sau đó lấy giá trị trung bình cho 1 cây của từng công thức
- Tổng số quả: Đếm tổng số quả qua các đợt thu hoạch của 5 cây trên ô theo dõi sau đó lấy giá trị trung bình cho 1 cây của từng công thức
- Tỷ lệ đậu quả (%) :
Tỷ lệ đậu quả (%) = Tổng số quả
Tổng số hoa
- Khối lượng TB quả ( gam) : Cân 5 quả/ cây, mỗi CT cân 5 cây Sau đó lấy giá trị trung bình
- Năng suất cá thể (Kg):
NSCT = Khối lượng trung bình quả x Số quả/ cây
- Năng suất lý thuyết (tấn/ha):
NSLT = NSCT x mật độ cây/ ha
- Năng suất thực thu (tấn/ha): Cân khối lượng của 3 lần nhắc lại của mỗi công thức sau đó quy ra đơn vị hecta
2.3.3.3 Đánh giá tình hình nhiễm sâu bệnh và chống chịu với các yếu tố ngoại cảnh.
- Sâu hại: Xác định tỷ lệ cây bị hại:
Trang 40Tỷ lệ sâu hại (%) =
Số cây bị hại x 100%
Tổng số cây trong ô
+ Sâu xám: Theo dõi vào thời kì cây con
+ Bọ phấn: Là đối tượng trung gian truyền bệnh xoăn lá nên cần theo dõi trong suốt thời kì phát triển cả cây
+ Sâu đục quả: Theo dõi những quả có lỗ đục và có phân sâu trên bề mặt quả
- Bệnh hại: Xác định tỷ lệ bệnh (%)
Tỷ lệ bệnh (%) = Số cây bị bệnh
Tổng số cây trong ô+ Bệnh xoăn lá: Được tính bằng tỷ lệ số cây bị bệnh trên tổng số cây trong ô
+ Bệnh sương mai: Được tính bằng tỷ lệ số cây bị bệnh trên tổng số cây trong ô + Bệnh do vi khuẩn : Được tính bằng tỷ lệ số cây bị bệnh trên tổng số cây trong ô
- Độ thối quả: Xác định tỷ lệ thối quả (%)
Độ thối quả (%) = Số quả bị thối
Tổng số quả thu được trong ô
2.4 Phương pháp xử lý số liệu
Tính toán và xử lý số liệu trên chương trình EXCEL và phần mềm IRRISTAT 5.0
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN