Vinh, ngày tháng năm 2012 Tác giả BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH NGƯỜI THỰC HIỆN: NGÔ SỸ HỌC ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG LÊN MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÝ, SỨC KHỎE CỦA CÔNG NHÂN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ quý báu
từ phía nhiều tập thể và cá nhân
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Nguyễn Ngọc Hiền,người đã quan tâm tận tình và trực tiếp hướng dẫn tôi từ những ngày đầu tiến hành đề tàicho đến khi luận văn được hoàn thành
Tôi xin chân thành cảm ơn BGH nhà trường, Khoa đào tạo Sau Đại Học Trường đại học Vinh, cùng toàn thể các thầy cô trực tiếp giảng dạy chuyên nghànhSinh học Thực Nghiệm đã tạo mọi điều kiện để luận văn được hoàn thành
-Qua đây tôi cũng xin chuyển lời cảm ơn đến tập thể cán bộ y bác sĩ bệnhviện đa khoa huyện Cẩm Thủy, Trung tâm Y tế Dự phòng Thanh Hóa, Trung tâmQuan trắc và BVMT Thanh Hóa, Chi Cục Bảo vệ môi trường Thanh Hóa và tập thểcán bộ công nhân của Công ty TNHH Tân Hồng Phúc
Xin chân thành cảm ơn bạn bè, người thân trong gia đình đã cổ vũ động viên
để tôi có thêm quyết tâm và nghị lực thực hiện thành công đề tài
Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn đồngnghiệp
Vinh, ngày tháng năm 2012
Tác giả
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGƯỜI THỰC HIỆN: NGÔ SỸ HỌC
ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG LÊN MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÝ, SỨC KHỎE CỦA CÔNG NHÂN KHAI THÁC ĐÁ
TẠI XÃ CẨM THÀNH, HUYỆN CẨM THỦY
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ quý báu
từ phía nhiều tập thể và cá nhân
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Nguyễn NgọcHiền, người đã quan tâm tận tình và trực tiếp hướng dẫn tôi từ những ngày đầu tiếnhành đề tài cho đến khi luận văn được hoàn thành
Tôi xin chân thành cảm ơn BGH nhà trường, Khoa đào tạo Sau Đại Học Trường đại học Vinh, cùng toàn thể các thầy cô trực tiếp giảng dạy chuyên nghànhSinh học Thực Nghiệm đã tạo mọi điều kiện để luận văn được hoàn thành
-Qua đây tôi cũng xin chuyển lời cảm ơn đến tập thể cán bộ y bác sĩ bệnhviện đa khoa huyện Cẩm Thủy, Trung tâm Y tế Dự phòng Thanh Hóa, Trung tâmQuan trắc và BVMT Thanh Hóa, Chi Cục Bảo vệ môi trường Thanh Hóa và tập thểcán bộ công nhân của Công ty TNHH Tân Hồng Phúc
Xin chân thành cảm ơn bạn bè, người thân trong gia đình đã cổ vũ động viên
để tôi có thêm quyết tâm và nghị lực thực hiện thành công đề tài
Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn đồngnghiệp
Vinh, ngày tháng năm 2012
Tác giả
MỤC LỤC
Trang
Trang 4LỜI CẢM ƠN 1
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ TẮT VÀ KÍ HIỆU ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở phương pháp luận của đề tài 4
1.1.1 Môi trường và các khái niệm liên quan 4
1.1.2 Ô nhiễm môi trường 7
1.1.3 Khái niệm về sức khỏe và bệnh nghề nghiệp 8
1.1.4 Ảnh hưởng của ô nhiễm tiếng ồn lên con người 9
1.1.5 Ảnh hưởng của ô nhiễm không khí 10
1.2 Tình hình nghiên cứu 16
Chương 2: ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu 29
2.2 Phương pháp nghiên cứu 30
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 32
3.1 Thực trạng môi trường lao động tại mỏ đá Dải Áo 32
3.1.1 Một số chỉ số vi khí hậu và nồng độ bụi 32
3.1.2 Nồng độ một số khí thải tại địa điểm nghiên cứu 36
3.1.3 Chỉ số về độ ồn tại địa điểm nghiên cứu 39
3.2 Chỉ tiêu hình thái của công nhân 41
3.3 Một số chỉ tiêu sinh lý ở công nhân 42
3.3.1 Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý ở công nhân 42
Trang 53.3.2 Bàn luận kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý ở công nhân
49
3.4 Thực trạng sức khỏe và tỷ lệ bệnh tật của công nhân 56
3.4.1 Thực trạng sức khỏe của công nhân tại mỏ đá Cẩm Thành 56
3.4.2 Tỷ lệ bệnh tật của công nhân 58
KẾT LUẬN 64
KIẾN NGHỊ 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
DANH MỤC CÁC CHỮ TẮT VÀ KÍ HIỆU Thứ tự Chữ viết tắt Tên thường của chữ viết tắt
1 BC Bạch cầu
2 ĐĐNC Địa điểm nghiên cứu
Trang 63 ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
4 HSSH Hằng số sinh học
5 HGB Hemoglobin: Nồng độ hemoglobin trong máu
6 HATT Huyết áp tâm thu
7 HATTr Huyết áp tâm trương
8 LĐ Lao động
9 MCH Mean Corpuscular Hemoglobin: Lượng huyết sắc tố
trung bình trong Hồng cầu
10 RBC Red Blood Cell: Số lượng Hồng cầu
11 SX Sản xuất
12 SL Số lượng
13 TSHH Tần số hô hấp
14 TST Tần số tim
15 TCVSLĐ Tiêu chuẩn vệ sinh lao động
16 WBC White Blood Cell: Số lượng Bạch cầu
17 WHO World Health Organization: Tổ chức Y tế thế giới
18 BVMT Bảo vệ môi trường
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2 1:Vị trí mỏ đá vôi núi Dải áo 29
Bảng 3 1: Một số chỉ số vi khí hậu và nồng độ bụi ……… 32
Bảng 3 2: So sánh nồng độ bụi tại địa điểm nghiên cứu 34
Bảng 3 3: Nồng độ khí CO2 tại địa điểm nghiên cứu 36
Bảng 3 4: Nồng độ khí CO tại địa điểm nghiên cứu 37
Bảng 3 5: Độ ồn tại các vị trí thuộc địa điểm nghiên cứu 39
Bảng 3 6: So sánh độ ồn tại địa điểm nghiên cứu 40
Bảng 3 7: Một số chỉ tiêu hình thái của đối tượng nghiên cứu 41
Bảng 3 8: Sự thay đổi TST trước, trong và sau LĐ của công nhân nữ 42
Bảng 3 9: Sự thay đổi TST trước, trong và sau LĐ của công nhân nam 42
Bảng 3 10: Sự thay đổi HATT trước, trong và sau LĐ của công nhân nữ 44
Bảng 3 11: Sự thay đổi HATT trước, trong và sau LĐ của công nhân nam 44
Bảng 3 12: Sự thay đổi HATTr trước, trong và sau LĐ của công nhân nữ 45
Bảng 3 13: Sự thay đổi HATTr trước, trong và sau LĐ của công nhân nam 46
Bảng 3 14: Sự thay đổi TSHH trước, trong và sau LĐ của công nhân nữ 47
Bảng 3 15: Sự thay đổi TSHH trước, trong và sau LĐ của công nhân nam 47
Bảng 3 16: Một số chỉ tiêu huyết học ở công nhân nữ 49
Bảng 3 17: Một số chỉ tiêu huyết học ở công nhân nam 49
Bảng 3 18: Kết quả khám và phân loại bệnh tật chung 56
Bảng 3 19: Tỷ lệ bệnh tật liên quan đến ô nhiễm môi trường lao động 58
Bảng 3 20: Tỷ lệ bệnh tật của công nhân theo thâm niên làm việc 60
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3 1: So sánh nồng độ bụi tại các vị trí thuộc khu khai thác 33
Biểu đồ 3 2: So sánh nồng độ CO2 giữa các vị trí khác nhau thuộc khu khai thác 37 Biểu đồ 3 3: So sánh nồng độ CO giữa các vị trí khác nhau 38
Biểu đồ 3 4: So sánh độ ồn giữa các vị trí khác nhau thuộc khu khai thác 39
Biểu đồ 3 5: So sánh sự thay đổi TST trước, trong và sau LĐ 43
Biểu đồ 3 6: So sánh sự thay đổi TST trước, trong và sau LĐ 43
Biểu đồ 3 7: So sánh sự thay đổi HATT trước, trong và sau LĐ 44
Biểu đồ 3 8: So sánh sự thay đổi HATT trước, trong và sau LĐ 45
Biểu đồ 3 9: So sánh sự thay đổi HATTr trước, trong và sau LĐ 46
Biểu đồ 3 10: So sánh sự thay đổi HATTr trước, trong và sau LĐ 46
Biểu đồ 3 11: So sánh sự thay đổi TSHH trước, trong và sau LĐ 48
Biểu đồ 3 12: So sánh sự thay đổi TSHH trước, trong và sau LĐ 48
Biểu đồ 3 13: So sánh tỷ lệ phân loại sức khỏe ở công nhân 57
Biểu đồ 3 14: So sánh tỷ lệ một số bệnh tật của công nhân theo nhóm tuổi 59
Biểu đồ 3 15: So sánh tỷ lệ một số bệnh tật của công nhân 60
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các vấn đề môi trường và
ô nhiễm môi trường ngày càng được đặt ra một cách cấp thiết bởi diễn biến phứctạp và khó lường cùng những hệ lụy mà nó gây ra với đời sống của động thực vậtnói chung và sức khỏe con người nói riêng Bởi vậy, nghiên cứu thực trạng môitrường và mức độ ảnh hưởng của điều kiện môi trường lên con người là vấn đềđang được nhân loại.quan tâm
Việt Nam là một nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, với đặc trưng nóng
ẩm, nền nhiệt luôn cao Trong bối cảnh thế giới đang phải đối mặt với những hiểmhọa sinh thái tiềm tàng gây ra những hậu quả nghiêm trọng như hiệu ứng nhà kính,
lỗ thủng tầng ôzon, mưa axít, sa mạc hoá, làm cho trái đất ngày một nóng lên đã
uy hiếp, đe doạ đến sự tồn vong của con người và của cả tương lai trái đất Trongnhững năm gần đây, nước ta đã không ngừng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa Những lợi ích mà công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa mang lại được thểhiện rất rõ qua tình hình tăng trưởng kinh tế - xã hội trong nước Tuy nhiên quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng tác động đến môi trường sống của conngười Bởi vậy có nhiều vấn đề về môi trường đang được đặt ra và cần phải giảiquyết
Thanh Hoá là một tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và đadạng Thanh Hoá có tới 250 điểm khoáng sản với 42 loại khoáng sản khác nhau,nhiều loại có trữ lượng lớn so với cả nước như đá vôi, đá sét, phụ gia để sản xuất ximăng, đá ốp lát, Crôm Được phân bổ tại các huyện như Bỉm Sơn, Nông Cống,Cẩm Thuỷ, Tĩnh Gia, Như Thanh, Ngọc Lặc
Những năm qua, ngành VLXD Thanh Hóa, đặc biệt là khai thác, chế biến
đá - nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương, đã có bước tiến dài, không những đápứng nhu cầu ngày càng cao về vật liệu xây dựng, vật liệu trang trí trong nước, màcòn là mặt hàng xuất khẩu có thế mạnh của tỉnh Cẩm Thuỷ là một huyện trung dumiền núi nằm ở phía Tây-Bắc của tỉnh Thanh Hoá, là nơi giàu khoáng sản nhấttrong tỉnh Tại đây có nhiều mỏ khoáng sản đã được đăng ký Nhà nước như vàng(Au), chì - kẽm (Pb-Zn), Sắt (Fe), Antimon(Sb), Pyrit(Py), Photspho(P), đặc biệt
Trang 10có nhiều dãy núi đá các loại - một tài nguyên phong phú phục vụ cho khai thác sảnxuất VLXD nội địa và xuất khẩu
Bên cạnh mặt tích cực về giải quyết nhu cầu việc làm và đảm bảo đời sốngcho nhiều người lao động thì thực trạng còn nhiều vấn đề đáng báo động về điềukiện môi trường làm việc Do đặc trưng công việc là loại hình lao động nặng nhọcvới cường độ lao động cao trong môi trường không khí bị ô nhiễm nặng vì bụi đá
và tiếng ồn quá lớn Lao động trong điều kiện có nhiều yếu tố bất lợi như vậy bệnhtật dễ phát sinh, thần kinh suy nhược dẫn đến sức khỏe giảm sút và gây ảnh hưởngtới khả năng lao động cũng như năng suất lao động Những ảnh hưởng xấu của điềukiện môi trường lao động không chỉ tác động đến người công nhân trong hoạt độnglao động sản xuất mà còn gây tác hại trong suốt quá trình sống của họ Đặc biệt tạiThanh Hóa, với đặc thù khí hậu chịu ảnh hưởng của gió nóng khô Tây Nam tứcPhơn Trường Sơn và thường xuyên chịu tác động của các điều kiện tự nhiên bất lợinhư nhiệt độ cao, nóng ẩm và nóng khô, mưa nhiều, bức xạ lớn, vi sinh vật pháttriển thuận lợi,… thì mức độ ô nhiễm môi trường lao động tại các khu khai thác đá
càng trở nên trầm trọng
Bởi vậy, công tác điều tra, xác định, đánh giá mức độ và tình trạng ô nhiễmcũng như tác hại, ảnh hưởng của nó lên sự phát triển hình thái, sinh lý , sức khỏe,bệnh tật của con người và đề ra biện pháp xử lý khoa học hữu hiệu nhằm ngăn chặn
và hạn chế những tác động tiêu cực đến môi trường là một yêu cầu cấp thiết Mặtkhác, từ trước đến nay chưa có một nghiên cứu, đánh giá cụ thể nào về ảnh hưởngcủa môi trường lao động lên các chỉ tiêu sinh lý, sức khỏe, bệnh tật của công nhânlàm việc tại các khu khai thác đá trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Nhằm làm sáng tỏ thực trạng môi trường lao động và ảnh hưởng của nó tới
người lao động Tôi thực hiện đề tài: “ Ảnh hưởng của môi trường lên một số chỉ
tiêu sinh lý, sức khỏe của công nhân khai thác đá tại xã Cẩm Thành, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa”.
Trang 112 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Đánh giá thực trạng và sự ô nhiễm môi trường không khí (một số chỉ số
vi khí hậu, nồng độ bụi, khí thải, tiếng ồn)
2.2 Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường lên một số chỉ tiêu sinh lý và sứckhỏe, bệnh tật của công nhân làm việc tại công trường khai thác đá
2.3 Đề xuất các vấn đề cần được quan tâm về môi trường tại khu vực nghiêncứu
Trang 12
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở phương pháp luận của đề tài
1.1.1 Môi trường và các khái niệm liên quan
Những định nghĩa về môi trường cho đến nay vẫn chưa được thống nhấtchung trong nghành khoa học sinh học, bởi xét theo những khía cạnh khác nhau,môi trường được hiểu theo những cách khác nhau
Khái niệm về môi trường đã được thảo luận rất nhiều và từ lâu Nhìnchung có những quan niệm về môi trường như sau:
Môi trường bao gồm các vật chất hữu cơ và vô cơ quanh sinh vật Theo định nghĩa này thì không thể nào xác định được môi trường một cách cụ thể, vìmỗi cá thể, mỗi loài, mỗi chi vẫn có một môi trường và một quần thể, một quần xãlại có một môi trường rộng lớn hơn [25]
Môi trường là những gì cần thiết cho điều kiện sinh tồn của sinh vật Theo định nghĩa này thì rất hẹp, bởi vì trong thực tế có yếu tố này là cần thiết cho loài này nhưng không cần thiết cho loài kia dù cùng sống chungmột nơi, hơn nữa cũng có những yếu tố có hại hoặc không có lợi vẫn tồn tại và tácđộng lên cơ thể và ta không thể loại trừ nó ra khỏi môi trường tự nhiên
Môi trường là một phần của ngoại cảnh, bao gồm các hiện tượng và cácthực thể của tự nhiên , mà ở đó, cá thể, quần thể, loài có quan hệ trực tiếp hoặcgián tiếp bằng các phản ứng thích nghi của mình Từ định nghĩa này ta có thể phânbiệt được đâu là môi trường của loài này mà không phải là môi trường của loàikhác Chẳng hạn như mặt biển là môi trường của sinh vật màng nước(Pleiston và Neiston), song không phải là môi trường của những loài sống ở đáysâu hàng ngàn mét và ngược lại [31]
Đối với con người, môi trường chứa đựng nội dung rộng hơn Theo địnhnghĩa của UNESCO (1981) thì môi trường của con người bao gồm toàn bộ các hệthống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (đô thị, hồchứa ) và những cái vô hình (tập quán, niềm tin, nghệ thuật ), trong đó con ngườisống bằng lao động của mình, họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạonhằm thoả mãn những nhu cầu của mình Như vậy, môi trường sống đối với conngười không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho một thực thể sinh vật là
Trang 13con người mà còn là “khung cảnh của cuộc sống, của lao động và sự nghỉ ngơi củacon người”.
Cấu trúc môi trường tự nhiên gồm 4 thành phần cơ bản (4 môi trườngchính) như sau:
- Thạch quyển hoặc địa quyển hoặc môi trường đất (Lithosphere): bao gồmlớp vỏ trái đất có độ dày 60-70 km trên phần lục địa và từ 2-8 km dưới đáy đạidương và trên đó có các quần xã sinh vật
- Thủy quyển (Hydrosphere) hay còn được gọi là môi trường nước (Aquatic environment): là phần nước của trái đất bao gồm nước đại dương, sông, hồ, suối, nước ngầm, băng tuyết, hơi nước trong đất và không khí
- Khí quyển (Atmosphere) hay môi trường không khí: là lớp không khí baoquanh trái đất
- Sinh quyển (Biosphere) hay môi trường sinh vật: gồm động vật, thực vật vàcon người, là nơi sống của các sinh vật khác (Sinh vật ký sinh, cộng sinh, biểusinh ) [54]
Căn cứ vào luật bảo vệ môi trường do Quốc hội khóa XI (ngày 29 tháng 11
năm 2005) thông qua thì: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân
tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triểncủa con người và sinh vật” [35]
1.1.1.1 Môi trường sống
Môi trường sống là tổng các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới sự sống và
sự phát triển của các cơ thể sống
Môi trường sống của con người là tổng hợp các điều kiện vật lý, hóa học,
sinh học, xã hội bao quanh con người và có ảnh hưởng tới sự sống, sự phát triển củatừng cá nhân và toàn bộ cộng đồng người Các thành phần của môi trường sống cóảnh hưởng trực tiếp tới con người trên trái đất gồm sinh quyển, thủy quyển, khíquyển và thạch quyển [6]
1.1.1.2 Môi trường đất
Môi trường đất là nơi trú ngụ của con người và hầu hết các sinh vật cạn,
là nền móng cho các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp và văn hóacủa con người
Trang 14Đất là một nguồn tài nguyên quý giá, con người sử dụng tài nguyên đất vàohoạt động sản xuất nông nghiệp để đảm bảo nguồn cung cấp lương thực thực phẩmcho con người Nhưng với nhịp độ gia tăng dân số và tốc độ phát triển công nghiệp
và hoạt động đô thị hoá như hiện nay thì diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp,chất lượng đất ngày càng bị suy thoái, diện tích đất bình quân đầu người giảm
Khi nghiên cứu về môi trường đất chúng ta nghiên cứu trên bề mặt trái đất vàsâu vào lòng đất từ 60-70 km Ngoài biển khơi chúng ta nghiên cứu đến phía dướiđáy sâu nhất của biển từ 2-8 km.[16], [36]
1.1.1.3 Môi trường nước
Môi trường nước bao gồm tất cả các loại nguồn nước như: nước đại dương,
sông hồ, nước đóng băng, nước ngầm,…
1.1.1.4 Môi trường không khí
Môi trường không khí (Khí quyển) là lớp không khí bao phủ xung quanh bề
mặt trái đất có khối lượng 5,2.108 kg < 0,0001 % trọng lượng trái đất
Khí quyển có tác dụng duy trì sự sống trên trái đất, ngăn chặn tác động độchại của các tia tử ngoại, tia hồng ngoại hay các sóng từ Khí quyển đóng vai tròquan trọng trong việc giữ cân bằng nhiệt lượng của trái đất thông qua quá trình hấpthụ tia tử ngoại phản xạ từ mặt trời và phản xạ tia nhiệt từ mặt đất lên Khí quyển ởtầng thấp có chức năng cung cấp oxy và dioxitcacbon cần thiết cho sự sống trên tráiđất, cung cấp nitơ cho quá trình cố định đạm ở thực vật và là môi trường vậnchuyển nước từ đại dương vào đất liền, tham gia vào quá trình tuần hoàn nước
Thành phần không khí bao gồm 78,09 % thể tích khí N2; 20,94 % thể tích khí
O2; 1-4 % thể tích hơi nước; 0,03 % thể tích CO2; các khí trơ khác như Xe, He, H2 [41].
1.1.1.5 Môi trường lao động
Môi trường lao động bao gồm các yếu tố tự nhiên và xã hội mà trong đó con
người tiến hành các hoạt động lao động chân tay và trí óc của mình [13]
1.1.1.6 Môi trường xã hội
Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người tạo nên sự
thuận lợi hoặc trở ngại cho sự tồn tại và phát triển của các cá nhân và cộng đồng
loài người [5].
1.1.1.6 Môi trường lao động
Môi trường lao động bao gồm các yếu tố tự nhiên và xã hội mà trong đó con
Trang 15người tiến hành các hoạt động lao động chân tay và trí óc của mình [11].
1.1.2 Ô nhiễm môi trường
Trước khi tìm hiểu về ô nhiễm môi trường chúng ta cần biết về tiêu chuẩnmôi trường Trong bộ môn khoa học môi trường, tiêu chuẩn môi trường được hiểu
là những chuẩn mực cần thiết đảm bảo để thành phần môi trường đó phù hợp vớiđối tượng sử dụng nó Cụ thể như đối với môi trường nước thì tiêu chuẩn nướcphục vụ sinh hoạt khác với tiêu chuẩn nước phục vụ nông nghiệp, tiêu chuẩn nướcsinh hoạt nói chung như tắm giặt, ăn uống,… lại khác với chất lượng nước yêu cầucho công nghiệp thực phẩm (nước giải khát), nước y tế,
Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm
tiêu chuẩn môi trường [19]
Chất gây ô nhiễm là những nhân tố làm cho môi trường trở thành độc
hại Thông thường, tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mực, giới hạn cho phépđược quy định dùng làm căn cứ để quản lý môi trường
Sự ô nhiễm môi trường có thể là hậu quả của các hoạt động tự nhiên nhưhoạt động núi lửa, thiên tai, lũ lụt, bão,… hoặc các hoạt động do con người thực
hiện trong công nghiệp, giao thông và trong sinh hoạt [9].
1.1.2.1 Ô nhiễm không khí
Ô nhiễm không khí là sự có mặt của các chất trong khí quyển sinh ra từ hoạt
động của con người hoặc các quá trình tự nhiên và nếu nồng độ đủ lớn và thời gian
đủ lâu chúng sẽ ảnh hưởng đến sự thoải mái, dễ chịu, sức khỏe hoặc lợi ích của conngười hoặc môi trường
Ô nhiễm không khí do bụi
Bụi là tập hợp nhiều hạt có kích thước nhỏ bé, tồn tại lâu trong không khí
dưới dạng bụi bay, bụi lắng và các hệ khí dung nhiều pha gồm hơi, khói, mù
Về mặt sinh học bụi gây tổn hại cho da, mắt, gây nhiễm trùng và dị ứng,
… Đặc biệt với kích thước nhỏ hơn 10 µm, bụi gây tổn thương cho cơ quan hôhấp, nhất khi phổi nhiễm bụi thạch anh do hít phải không khí có chứa bụi bioxitsilic lâu ngày [22], [43]
1.1.2.2 Ô nhiễm tiếng ồn
Ô nhiễm tiếng ồn là tập hợp những âm thanh có cường độ và tần số khác
Trang 16nhau, được sắp xếp một cách không có trật tự, gây ra cảm giác khó chịu chongười nghe, cản trở người ta làm việc và nghỉ ngơi.
Nói cách khác, tất cả các âm thanh có tác dụng kích thích quá mức,hoặc xảy ra không đúng lúc, đúng chỗ, cản trở con người hoạt động và nghỉngơi đều bị coi là tiếng ồn
Tần số của tiếng ồn cũng như tần số âm được đo bằng số lần rung độngtrong một giây, đây là âm thanh cộng hưởng, đơn vị tính là hertz (Hz) Tai ta cóthể tiếp thu được các âm thanh từ 16-20.000 Hz, ở mức 16 Hz tai ta đã cảm nhậnđược và ở mức 20.000 Hz là ngưỡng chịu đựng cuối cùng của tai những ngườibình thường Mức nghe bình thường là khoảng từ 500-5.000 Hz, khả năng tách
âm của tai ta giới hạn từ 0,3 đến 1 % Hz
Về biên độ của tiếng ồn cũng là sự cộng hưởng của các biên độ haycường độ âm thanh cụ thể Xuất phát từ áp lực của âm thanh lên thính giác chúngtạo ra một năng lượng âm Egr/cm2/s, 1 Egr/cm2/s: 6,4 Bar (Bar là đơn vị đo áplực dễ thực hiện) Thông thường ngưỡng cảm ứng với áp lực âm thanh (tiếngồn) của tai ta là từ 109 Egr/cm2 còn ngưỡng đau tai ta không chịu được là đến
10+4 Egr/cm2/s Trên cơ sở này người ta lấy khoảng cách từ 109-10+4 bao gồm 13bậc và lấy làm đơn vị thể hiện cường độ của tiếng ồn, nó sẽ được quy định là 13Bell Trong thực hành vệ sinh lao động người ta còn chia nhỏ ra thành Dexibell
(dB) để dễ ứng dụng [35].
1.1.3 Khái niệm về sức khỏe và bệnh nghề nghiệp
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO – World Health Organization), Sức khỏe là
trạng thái thoải mái dễ chịu toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và không phảichỉ bao gồm có tình trạng không bệnh hay thương tật Có một sức khỏe tốt nhất làmột trong những quyền cơ bản của con người dù thuộc bất kỳ chủng tộc, tôn giáo,chính kiến chính trị hay điều kiện kinh tế – xã hội nào [64]
Sức khỏe là một đặc điểm, một nhu cầu thiết yếu đồng thời là một trongnhững quyền cơ bản của con người Mọi người đều có nghĩa vụ bảo vệ và nâng caosức khỏe cá nhân và cộng đồng Sức khỏe cũng là một tài nguyên cơ bản mà mọingười cũng như cộng đồng đều có trách nhiệm bảo vệ, khai thác và sử dụng hợp lýhơn bất cứ loại tài nguyên nào khác [4]
Trang 17Bệnh nghề nghiệp là hiện trạng bệnh lý mang tính chất đặc trưng nghề
nghiệp hoặc liên quan đến nghề nghiệp Do tác hại thường xuyên và kéo dài củađiều kiện lao động xấu
Thông thường, người ta hiểu bệnh nghề nghiệp mang tính chất đặc trưngcủa một nghề nào đó do yếu tốc độc hại trong nghề tác động thường xuyên lên cơthể người lao động, gây nên những rối loạn bệnh lý cấp hoặc mạn tính Có thể nóibệnh nghề nghiệp là một trong các loại bệnh môi trường bao gồm cả tình trạngcấp tính và mạn tính (nhiễm độc cấp tính do oxytcarbon, viêm phế quản mạn tínhtrong môi trường có nhiều bụi) [34], [39]
1.1.4 Ảnh hưởng của ô nhiễm tiếng ồn lên con người
1.1.4.1 Tác hại toàn thân
Những ảnh hưởng của tiếng ồn lên cơ thể con người được đặc biệt quan tâmbởi ngày nay ô nhiễm tiếng ồn càng trở nên nghiêm trọng do sự phát triển củanghành công nghiệp xây dựng, giao thông vận tải và sự gia tăng dân số Mức tiếng
ồn từ 50 dBA trở lên ở các khu nhà ở có thể gây ra các rối loạn một số quá trìnhthần kinh ở vỏ não Chỉ những tiếng ồn ở mức 40-45 dBA là không gây ra nhữngbiến đổi đáng kể nào về mặt chức phận ở con người
Tiếng ồn gây tác hại toàn thân trên cơ thể người tiếp xúc thường gặp nhất
là rối loạn sinh lý cấp tính và mạn tính Nguyên nhân của hiện tượng này là dotiếng ồn kích thích thần kinh trung ương dẫn đến hiện tượng mất cân bằng trongđiều chỉnh hệ thần kinh thực vật gây nên suy nhược cấp tính hệ thần kinh thực vậtcủa cơ thể Quá trình suy nhược kéo dài sẽ chuyển sang giai đoạn mạn tính bởi lẽtác động của tiếng ồn thường xuyên, sự kích thích liên tục, quá trình ức chế xuấthiện do ngưỡng đáp ứng của hệ thần kinh tăng lên, xuất hiện và ức chế bảo vệ, hệthần kinh ngoại tiên có thể bị viêm và khả năng điều hoà của hệ thần kinh thực vật
có thể bị rối loạn
Về tim mạch, thường có những biểu hiện như đau vùng trước tim, đánhtrống ngực, hạ huyết áp tâm thu, mạch chậm, Nếu khám thực thể có thể thấydấu hiệu hưng phấn cơ quan tiền đình (điều khiển thăng bằng và định hướng), cơlực giảm, run mi mắt, run các đầu chi, giảm phản xạ xương khớp, dấu hiệuvạch da đỏ lâu mất, mạch và huyết áp không ổn định, điện tâm đồ có những
Trang 18thay đổi bất thường, Các triệu chứng trên đây là những dấu hiệu chủ yếu củamột bệnh được gọi là bệnh ồn Hậu quả của những rối loạn bệnh lý trên đây làsức khỏe bị giảm sút, giảm khả năng lao động và tạo tiền đề cho những bệnh lýtiếp theo [12], [14].
1.1.4.2 Tác hại tới cơ quan thính giác
Những âm thanh rất mạnh và đột ngột như tiếng bom, tiếng súng lớn,tiếng mìn nổ, có thể gây rách màng nhĩ, xô đẩy lệch các xương nhỏ ở taigiữa, làm tổn thương cả tai trong, máu chảy ra ngoài tai, gây đau nhức dữ dội.Các thương tổn này có thể phục hồi nhờ điều trị tích cực, nhưng chức năngnghe của tai vẫn bị giảm sút nhiều
Trong điều kiện lao động sản xuất, tổn thương bệnh lý ở cơ quanthính giác thường xảy ra một cách từ từ, qua nhiều giai đoạn và khó phục hồi.Hậu quả sau cùng là gây ra điếc nghề nghiệp Điếc nghề nghiệp diễn biến rấtchậm, hàng chục năm Chậm nhưng vẫn tiến triển và không có quy luật về thờigian Diễn biến lâm sàng có thể chia ra thành các giai đoạn sau:
Giai đoạn thích nghi là thời gian mới tiếp xúc với tiếng ồn quá tiêu
chuẩn cho phép, ngưỡng nghe tạm thời tăng lên khoảng 10-15 dBA so với bìnhthường (10 dBA) như vậy lúc này ngưỡng nghe khoảng 20-25 dBA, tuy nhiênnếu tách ra khỏi môi trường có tiếng ồn cao thì ngưỡng nghe trở lại bìnhthường (hồi phục)
Giai đoạn mệt mỏi thính giác: do thính giác chịu tác động quá lâu,
ngưỡng nghe tăng lên 30-40 dBA kéo dài nên khi ra khỏi môi trường lâu mớihồi phục lại bình thường
Giai đoạn điếc nghề nghiệp: cơ quan thính giác bị tổn thương không hồi
phục mặc dù người bệnh được đưa ra khỏi môi trường có tiếng ồn vượt tiêuchuẩn cho phép Cả cơ quan Cotri và dây thần kinh thính giác ở tai trong đều
bị tổn thương [16], [26]
1.1.5 Ảnh hưởng của ô nhiễm không khí
1.1.5.1 Ảnh hưởng lên sức khỏe con người và động vật sống trên mặt đất
Ô nhiễm không khí đối với cơ thể con người và động vật trước hết là quađường hô hấp cũng như là tác động trực tiếp lên mắt và lên da của cơ thể Nguy
Trang 19hiểm nhất là một số chất ô nhiễm không khí gây bệnh ung thư Tác động của cácchất ô nhiễm vào đường hô hấp mạnh hay yếu, một phần còn phụ thuộc vào sựhoà tan của chúng trong nước Nếu các chất ô nhiễm có tính hoà tan trong nước thìkhi ta hít thở không khí, chúng sẽ hoà tan với dung dịch lỏng trên đường hô hấp vàgây tác động lên cơ quan này Tính chất xâm nhập vào phổi của nhiều loại chất ônhiễm còn liên quan đến sự có mặt của các khí dung trong không khí Bình thườngcác chất ô nhiễm này không xâm nhập vào sâu trong khí quản và phế quản nhưngnhờ có các khí dung hấp thụ mà có khả năng thâm nhập vào sâu hơn trong phổi vàcho đến tận các phế nang.
Những nghiên cứu dịch tễ học cho thấy một hàm lượng lớn các chất ônhiễm không khí góp phần vào hoặc gây ra những bệnh liên quan đến đường hôhấp Một nghiên cứu của Đại học Harvard cho thấy hàng năm có khoảng 60.000người chết do các bệnh có liên quan đến ô nhiễm không khí dạng hạt bụi Riêngtại nước Mỹ có tới 28 triệu người mắc các bệnh hô hấp mãn tính nhưng vẫnthường xuyên phải tiếp xúc với khói mù độc hại hàng ngày làm cho bệnh tật của
họ càng trên trở nên trầm trọng hơn [18]
Ô nhiễm môi trường không khí đã làm tăng tỷ lệ số người mắc các bệnh về
hô hấp (viêm họng, viêm mũi, viêm xoang), bệnh hô hấp dưới (viêm phổi, hen,lao), bệnh suy nhược thần kinh, bệnh đau đầu, bệnh tim mạch, bệnh ngoài da,bệnh về mắt và các chứng dị ứng Ở nơi nào môi trường không khí càng bị ônhiễm nặng thì tỷ lệ người mắc bệnh càng lớn Với những tác nhân gây ô nhiễmkhác nhau thì gây ra những ảnh hưởng khác nhau về bản chất và mức độ lên cơthể người và động vật Cụ thể như sau:
- Cacbon monoxit: có tác dụng mạnh với hemoglobin (mạnh gấp 250 lần
so với oxy), lấy oxy của hemoglobin và tạo thành cacboxyhemoglobin, làmmất khả năng vận chuyển oxy của máu và gây ra ngạt
Nhiễm độc cấp CO thường bị đau đầu, ù tai, chóng mặt, buồn nôn, mệtmỏi, co giật, rồi bị hôn mê Nếu bị nhiễm nặng thì bị hôn mê ngay, chân taymềm nhũn, mặt xanh tím, bị phù phổi cấp Nhiễm độc mãn tính CO thường bịđau đầu dai dẳng, chóng mặt, mỏi mệt, sút cân
- Sulfur dioxit: với nồng độ thấp gây kích thích hô hấp Với nồng độ cao
gây ra bệnh tật và có thể tử vong
Trang 20- Khí clo: có tác dụng đoạn trên của đường hô hấp Khí clo gây độc hại
cho người và động vật Tiếp xúc với môi trường có nồng độ clo cao sẽ bị xanhxao, vàng vọt, bệnh tật và có thể bị chết
- Chì và các hợp chất của chì: Chì rất độc đối với người Chì qua
đường hô hấp, tiêu hóa và gây độc cho hệ thần kinh, sự tạo máu và làm rốiloạn tiêu hóa Người bị nhiễm chì có thể bị đau bụng, táo bón, kèm theohuyết áp cao, suy nhược thần kinh, rối loạn cảm giác, tê liệt, giảm bạch cầu,viêm dạ dày, viêm ruột,…
vài phút, với nồng độ 5 ppm có thể gây tác hại bộ máy hô hấp sau mấy phút tiếpxúc, với nồng độ 15-50 ppm gây nguy hiểm cho tim, phổi, gan sau vài giờ tiếpxúc, với nồng độ khoảng 0,06 ppm cũng có thể gây bệnh phổi cho người nếutiếp xúc lâu dài Đây là loại khí gây nguy hại nhiều cho người [19]
- Bụi có thể gây ra một số bệnh như:
+ Bệnh phổi nhiễm bụi: do người hít thở bụi khoáng, bụi amiang, bụi than
và kim loại Người sẽ bị xơ phổi, suy giảm chức năng hô hấp
+ Bệnh ở đường hô hấp: Tùy theo nguồn gốc các loại bụi mà gây ra
bệnh viêm mũi, họng, phế quản Bụi hữu cơ như bông, gai, đay dính vào niêmmạc gây viêm phù thụng tiết nhiều niêm dịch, về lâu dài bụi gai lanh có thể gâyviêm loét lòng khí phế quản
Bụi vô cơ rắn có cạnh góc sắc nhọn lúc đầu thường gây ra viêm mũi làmcho niêm mạc đầy lên, tiết nhiều niêm dịch, hít thở khó Sau vài năm chuyểnthành viêm mũi teo, giảm chức năng lọc giữ bụi của mũi, gây ra bệnh phổinhiễm bụi Bụi crom, asen gây viêm loét thủng vách mũi vùng trước sụn lá mía.Bụi len, bột thuốc kháng sinh gây dị ứng, gây ra viêm mũi, viêm phế quản, hen,…
Bụi mangan, phốt phát, bicromat kali, gỉ sắt gây ra bệnh viêm phổi, làmthay đổi tính miễn dịch sinh hóa của phổi Một số bụi kim loại có tính phóng xạgây ra bệnh ung thư phổi như bụi uran, coban, crom, nhựa đường
+ Bệnh ngoài da: Bụi đồng gây ra bệnh nhiễm trùng da rất khó chữa Bụi
tác động các tuyến nhờn làm cho da bị khô gây ra các bệnh ở da như trứng cá,viêm da Loại bệnh này các thợ đốt lò hơi, thợ máy sản xuất xi măng sành sứ hay
bị mắc phải
Trang 21Bụi gây kích thích da, sinh mụn nhọt lở loét như bụi vôi, bụi dược phẩm,thuốc trừ sâu, đường Bụi nhựa than dưới tác dụng của ánh nắng làm cho dasưng tấy bỏng, ngứa, mắt sưng đỏ, chảy nước mắt Bụi còn gây chấn thươngmắt, viêm màng tiếp hợp, viêm mi mắt,… Bụi kiềm, bụi axit có thể gây ra bỏnggiác mạc, để lại sẹo, làm giảm thị lực, nặng hơn có thể bị mù.
+ Bệnh ở đường tiêu hóa: bụi đường, các loại bột có thể gây sâu răng, làm
hỏng men răng Bụi kim loại, bụi khoáng to nhọn có cạnh sắc đi vào dạ dày gâyviêm niêm mạc dạ dày, rối loạn tiêu hóa Bụi chì gây ra bệnh thiếu máu, giảmhồng cầu và gây rối loạn thận
Bụi vi sinh vật có nhiều tác hại tới sức khỏe con người, gây ra các bệnhdịch, bệnh đường hô hấp, bệnh đau mắt và bệnh đường tiêu hóa
Theo các nghiên cứu mới đây cho biết, các hạt rất nhỏ trong không khí
bị ô nhiễm có thể gây ra hiện tượng vón cục trong máu vì khi phổi bị sưng tấy
do ô nhiễm không khí đã tiết ra Interleukin - 6, đây là một hợp chất thuộc hệthống miễn dịch dẫn tới chứng viêm tấy và dường như làm vón cục máu
Với động vật được chăn nuôi cũng như động vật hoang dã đều nhạy cảmđối với ô nhiễm môi trường không khí lớn hơn con người Ở một số nước côngnghiệp lớn, một số loài động vật đã bị diệt vong vì ô nhiễm môi trường [20], [33]
1.1.5.2 Ảnh hưởng của ô nhiễm không khí đối với thực vật
Những thành phần ô nhiễm trong môi trường không khí như sulfurơ SO2,hydro florua HF, natri clorua NaCl, các hơi, bụi từ công nghiệp luyện đồng, chì,kẽm, nhuộm,… Đặc biệt là hơi khí bốc ra từ các lò nung vôi, nung gạch thủ công,ngay cả khi nồng độ của chúng còn thấp cũng đã làm chậm quá trình sinh trưởngcủa thực vật, nồng độ cao làm vàng lá, làm hoa quả bị lép, bị nứt, bị thúi và mức
độ cao hơn thì lá cây cũng như hoa quả đều bị rụng, chết hoại Các loại bụi đất đábám vào cây lá nhiều cũng ảnh hưởng đến sinh trưởng của thực vật vì làm giảmquá trình lục diệp hoá quang hợp của cây
Hầu hết các chất ô nhiễm trong môi trường không khí đều có tác hại xấuđến thực vật, gây ảnh hưởng có hại đối với nghề nông và nghề làm vườn Các loạitác hại do chất ô nhiễm không khí có thể gây ra cho thực vật là: chết hoại, tổn hạisắc tố và tác động đến sự sinh trưởng, phát triển Trong đó, biểu hiện chính là làmcho cây trồng chậm phát triển đặc biệt là sương khói quang hoá đã gây tác hại rất
Trang 22lớn đối với các loại rau: rau diếp, đậu Hà Lan, lúa, ngô, các loại cây ăn quả và cácloại phong lan.
Tuy nhiên, cũng có chất ô nhiễm có tác dụng tốt đối với thực vật, có tácdụng tăng cường sinh trưởng cây, đặc biệt là đối với các loại tảo như là các chấtphotpho, nitơ và cacbon Nhưng trong truờng hợp chúng làm kích thích sự pháttriển thì chúng lại phát triển các lá quá nhanh, là nguyên nhân làm cho các phiến là
bị quăn xoắn lại
1.1.5.3 Ảnh hưởng đối với vật liệu
Chất ăn mòn kim loại nhiều nhất là SO2 Nó ăn mòn gián tiếp hợp kimcứng như thép ở nồng độ trung bình 0,002 ppm Ở nồng độ 0,009 ppm SO2 có tácdụng đối với vải sơn, tranh ảnh, công trình xây dựng Giấy cũng đổi màu do SO2
tác đồng làm chúng trở nên giòn và dễ rác Sương mù H2SO4 làm hư hỏng và làmgiảm giá trị các vật liệu xây dựng như đá cẩm thạch và đá vôi
NOx gây thiệt hại đối với các loại bông tơ nhân tạo ở nồng độ 0,6-2 ppmtrong vòng 2-3 tháng Khi có hơi ẩm, các hạt Nitrat (từ HNO3) được hấp thụ làmbiến chất các hợp kim đồng-niken, gây cứng giòn cao su
Bụi gây bẩn quần áo, nhà cửa và các vật dụng, có tác dụng tăng cường han
gỉ kim loại đặc biệt là bụi than, bụi xi măng có chứa SO2 [6], [33]
1.1.5.4 Ảnh hưởng đến khí hậu
Ô nhiễm môi trường không khí không những gây ảnh hưởng xấu đối vớikhí hậu khu vực mà còn gây ảnh hưởng tới khí hậu toàn cầu
- Hiệu ứng nhà kính: Các khí nhà kính (greenhouse gas) gồm cacbon dioxit
(CO2), metan (CH4), các khí cloflocacbon (CFC), các khí oxit nitơ (NOX), ozon (O3)
có đặc tính không hấp thu các bức xạ sóng ngắn của mặt trời mà nó giữ lại các bức
xạ hồng ngoại (sóng dài) phản xạ từ trái đất, ngăn không cho năng lượng thoát rangoài không gian, làm nhiệt độ khí quyển tăng lên Nhiệt độ trái đất đã tăng lênkhoảng 0,5 oC trong 100 năm qua Hậu quả trực tiếp của sự gia tăng hiệu ứng nhàkính là gia tăng nhiệt độ môi trường toàn cầu và dẫn đến những ảnh hưởng đến đờisống kinh tế và hệ thống sinh thái toàn cầu Các sinh vật không thích nghi được vớitốc độ gia tăng nhiệt độ sẽ bị suy thoái Hạn hán, lũ lụt, bão sẽ diễn ra thường xuyênhơn, mạnh hơn, mực nước biển dâng cao, ngập lụt vùng đồng bằng, xói mòn bờbiển, muối hóa cửa biển, biến động trầm tích,…
Trang 23- Mưa axit: Mưa axit hình thành do các khí SOX,NOX, Cl2,… phản ứng vớihơi nước trong khí quyển tạo thành các axit H2SO3, H2SO4, HNO3, HCl, HNO2,
… làm các giọt mưa mang tính axit (pH ≤ 5) Mưa axit làm tăng độ axit của đất,hòa tan và rửa trôi các nguyên tố dinh dưỡng trong đất (Ca, Mg, K), hòa tan cáckim loại độc hại (Hg, Cd, Al,…), hủy hoại mùa màng, gây độc cho ao hồ, ônhiễm nước ngầm Mưa axit gây nguy hại đối với người và động vật, làm hỏngcông trình xây dựng
- Tầng ozon và lỗ thủng tầng ozon: Ozon tập trung nhiều nhất trong tầng
bình lưu của khí quyển (ở độ cao khoảng 25 km) Tầng ozon ở trạng thái bìnhthường ngăn được 90 % tia tử ngoại loại B (UVB) (bước sóng λ = 280-320 nm) domặt trời chiếu xuống trái đất Tuy nhiên khi trong không khí có các chất có khảnăng phản ứng với ozon trên tầng bình lưu dưới tác động của các tia tử ngoại, làmgiảm nồng độ ozon tại một số nơi trên trái đất (Nam cực) Các chất phá hủy tầngozon là dẫn xuất halogen của hydrocacbon được ứng dụng nhiều như CFCs(cholorofluorocarbons) như CFC-11 (CFCl3) và CFC-12 (CF2Cl2) dùng làm tácnhân lạnh, dung môi tẩy rửa, chất đẩy, chất tạo xốp,… halon 1301 là hóa chất chữacháy, cacbon tetraclorua (CCl4), metyl cloroform (C2H3Cl3) dùng làm dung môi,metyl bromua (CH3Br) dùng làm chất diệt khuẩn, bảo quản lương thực, chất phụ giacho nhiên liệu vận tải, các hợp chất oxit nitơ (NOX) là sản phẩm của đốt cháy nhiênliệu Ozon ở tầng bình lưu suy giảm làm tăng các tia tử ngoại loại B (UV-B) trên bềmặt trái đất gây bệnh ung thư da, đục thủy tinh thể cho con người và động vật, làmbiến đổi gen các sinh vật, ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch, hủy hoại hệ sinh tháitrên trái đất
Riêng với khí hậu địa phương, ô nhiễm không khí gây ra những ảnh hưởng sau:
- Tăng cao nhiệt độ
Nhiệt độ tối thiểu trong ngày ở vùng đô thị cao hơn vùng nông thôn xungquanh 2-5 oC và nhiệt độ trung bình năm thường cao hơn 0,5-1,3 oC Nguyên nhân
là do đốt nhiên liệu và các quá trình sản xuất theo phương pháp gia công nhiệt đãtỏa lượng nhiệt lớn vào môi trường không khí, đồng thời diện tích bề mặt nhà cửa,đường xá, sân bãi chiếm nhiều, chúng hút bức xạ mặt trời nhiều hơn mặt đất cócây xanh ở nông thôn Mặt khác, lượng nước bốc hơi hút nhiệt ở thành phố ít hơn
ở nông thôn Ngược lại, độ ẩm tương đối của không khí ở thành phố thấp hơn ở
Trang 24nông thôn 2-8 %
- Giảm bức xạ mặt trời và tăng độ mây
Các bụi khói, sương mù ô nhiễm môi trường không khí đô thị có tác dụnghấp thụ 10-20 % bức xạ mặt trời và làm giảm tầm nhìn, tức là làm giảm độ trongsuốt của khí quyển Các bụi, các sol khí do hoạt động sản xuất, giao thông và sinhhoạt của con người thải vào không khí có khả năng tạo ra các hạt nhân ngưngđọng hơi nước trong khí quyển Hơi nước kết tủa ở vùng đô thị thường lớn hơnvùng nông thôn 5-10 %
Dựa vào các thành quả khoa học kỹ thuật ngày nay con người đã có thểchủ động điều khiển một phần sự biến thiên của khí hậu như là phương pháp nhântạo làm giảm bớt sương mù ở sân bay, làm mưa nhân tạo, làm tan cơn bão,… [6]
1.2 Tình hình nghiên cứu
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Vào thế kỷ XX, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật là nền tảng thúc đẩy sựphát triển kinh tế công nghiệp và cải tiến mạng lưới giao thông toàn cầu nhưng kéotheo nó là thách thức về ô nhiễm môi trường mà điển hình là ô nhiễm tiếng ồn và ônhiễm không khí Cuối thế kỷ này, ảnh hưởng của tiếng ồn đối với con người vàđộng vật được chú ý nghiên cứu một cách có hệ thống Ở Pháp, Paracella (1962) đãnghiên cứu về bệnh điếc nghề nghiệp trên công nhân cơ khí Ông cho rằng dưới tácđộng của tiếng ồn trong điều kiện lao động sản xuất, năng suất lao động bị giảm sút
có thể tới 20-40 % so với môi trường lao động yên tĩnh, và tai nạn lao động dễ phátsinh (tăng 10-20 %) Ở Ý, Exmassini đã nghiên cứu và mô tả ảnh hưởng xấu củatiếng ồn lên cơ quan thính giác trên các cư dân sống ở thành phố công nghiệp Cácnghiên cứu của Morrel (1972) trên người và động vật chứng tỏ rằng khi chịu tácđộng liên tục của tiếng ồn sẽ gây trạng thái không ổn định thần kinh, dẫn đến suynhược, trí nhớ giảm, phản xạ không chính xác Barr (1974) đã nghiên cứu về tác hạicủa tiếng ồn ở dạng xung trên các công trường sử dụng mìn, thuốc nổ phục vụ khaithác đá [53]
Theo công bố của thời báo Epidemiology and Community Health tại Anh thì
hai nhà khoa học Knox và Gilman đã chứng minh được mối liên hệ giữa ô nhiễmkhông khí tại các khu đô thị với bệnh ung thư ở trẻ em mà cụ thể là tìm thấy một
Trang 25hành lang bệnh ung thư trong vòng ba dặm từ đường cao tốc, sân bay, nhà máy điện
và những khu gây ô nhiễm khác Các nghiên cứu đã kiểm tra trẻ em chết vì cácbệnh ung thư bạch cầu hoặc những loại khác từ năm 1953-1980, nơi họ sinh ra vàqua đời cho thấy nguy cơ lớn nhất nằm trong khoảng vài trăm mét đến các khu ônhiễm trên [61]
Abbey đã tiến hành một nghiên cứu trong thời gian từ năm 1973-1992 đểước tính tác động lâu dài của PM10 và các yếu tố môi trường khác lên sức khỏe hôhấp của người dân Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng PM10 có mối liên hệ chặt chẽđến tỉ lệ tử vong do các bệnh hô hấp ở cả hai giới [53]
Tại Mỹ, nghiên cứu về ô nhiễm không khí tập trung tại 20 đô thị lớn nhất,liên quan đến 50 triệu dân được tiến hành trong thời gian từ 1987-1994 cho thấynguyên nhân tử vong tăng lên 0,5 % khi tăng 10 μg/m3 lượng PM10 Nghiên cứucũng ước tính ô nhiễm không khí đã làm tăng tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch và
hô hấp thêm 0,7 % [63]
Hoek G tiến hành nghiên cứu trên 4492 số người tử vong trong thời gian từnăm 1986-1994 tại Hà Lan cho thấy 489 trường hợp (11 %) liên quan đến việc sinhsống tại những con đường giao thông chính [59]
Nghiên cứu của Rosenlund M và cộng sự năm 2001 về ảnh hưởng của tiếng
ồn máy bay lên dân cư lân cận sân bay Stockholm Arlanda cho thấy tỉ lệ tăng huyết
áp là 1,6 % khi độ ồn vượt quá 55 dBA và 1,8 % khi độ ồn vượt quá 72 dBA [62]
Năm 2004, Gauderman WJ, Frank Gilliland và cộng sự đã công bố kết quảnghiên cứu được thực hiện trong vòng 8 năm trên 1.759 trẻ em đến từ khu vực NamCalifornia – nơi thường xuyên bị ô nhiễm bởi bụi hạt, khí nitơ,… cho thấy nguy cơthấp FEV cao hơn gần 5 lần so với tiêu chuẩn cho phép Như vậy, tác động của môitrường ô nhiễm đã gây những phản ứng tiêu cực đến sự phát triển phổi ở trẻ em dẫn
đến những triệu chứng lâm sàng bất thường [57].
Theo nghiên cứu của Miller KA, DS Siscovick, Sheppard L, Shepherd K,Sullivan JH, Anderson GL, Kaufman JD thuộc đại học Washington (2007) thì nguy
cơ tử vong do đau tim hoặc đột quỵ tăng 76 % khi tăng 10 microgram lượng bụi hạttrên một mét khối không khí Nhận định này được đưa ra khi phân tích hồ sơ y tếcủa hơn 66.000 phụ nữ sau mãn kinh sống ở 36 thành phố với thời gian tối thiểu 6năm và ô nhiễm không khí bởi bụi hạt được đo bằng màn hình đặt gần nhà mỗi đối
Trang 26tượng Quá trình nghiên cứu cho thấy có 1.816 phụ nữ có cơn đau tim, đột quỵ
trong tổng số 66.000 [63].
Năm 2008, một nghiên cứu về mối liên quan giữa tiếng ồn và nguy cơ bệnhtim mạch được thực hiện bởi Babisch W thuộc Cơ quan môi trường liên bang, Đức.Kết quả cho thấy không có nguy cơ rủi ro về tim mạch ở độ ồn 60 dBA và gia tăngrủi ro đã được tìm thấy khi tăng mức độ ồn lên trên 60 dBA [55]
Sun Q và cộng sự (2008) đã thiết lập mô hình nghiên cứu thực nghiệm bằngcách cho chuột tiếp xúc với các chất ô nhiễm không khí mà con người hít phảithường xuyên nhưng nồng độ ở mức thấp hơn nhiều so với mức ô nhiễm ở một sốkhu vực tại Trung Quốc, Hoa Kỳ, Ấn Độ Họ nhận thấy sau thời gian tiếp xúckhoảng 10 tuần, chuột thí nghiệm mắc cao huyết áp Nghiên cứu này chứng minh sựtăng huyết áp tương tự ở con người khi tiếp xúc với nguồn ô nhiễm [59]
Qua những công trình nghiên cứu trên có thể thấy, cùng với ô nhiễm tiếng
ồn, ô nhiễm thành phần không khí do khí độc và bụi đang reo lên hồi chuông cảnhtỉnh với toàn xã hội Do đó chống tiếng ồn và giảm thiểu ô nhiễm không khí đang làmột trong những vấn đề cấp bách được đề ra và nghiên cứu để bảo vệ dân cư sốngtrong các khu đô thị, các khu công nghiệp, đặc biệt là người làm nghề phải tiếp xúcthường xuyên với các nguồn phát ra tiếng ồn mạnh như công nhân cơ khí, luyệnkim hay khai thác đá
Nằm trong vấn đề chung về ô nhiễm không khí, môi trường lao động của conngười cũng cần được quan tâm đúng mức Hiện nay, những ảnh hưởng do môitrường có tiếng ồn lớn, nồng độ bụi và lượng chất độc luôn ở mức cao đang gây nênnhững tác động không nhỏ đến sức khỏe người lao động Trong những năm gầnđây, khi chất lượng cuộc sống được nâng cao, người lao động cần được thỏa mãnnhu cầu chính đáng về một điều kiện làm việc đảm bảo vệ sinh và an toàn Để minhchứng cho mức ảnh hưởng của môi trường lao động lên sức khỏe con người vànhằm thúc đẩy quá trình hiện thực hóa các chính sách xã hội với người lao động,các nhà khoa học trên thế giới đã và đang tập trung nghiên cứu vấn đề này
Ở Mỹ từ năm 1950 đến năm 1955 phát hiện được 12.763 người nhiễm bụi
đá Ở Nam Phi hàng năm có khoảng 30-40 % thợ mỏ chết do bị bệnh phổinhiễm bụi đá Ở Nhật Bản, bệnh này chiếm tới 63 % ở các mỏ kim loại và 39 %
ở các mỏ than [51]
Trang 27Tại Ấn Độ nhiều công trình nghiên cứu về điều kiện làm việc và sức khỏecủa công nhân khai thác đá đã được tiến hành:
Năm 1990, một dự án nghiên cứu về bệnh phổi nghề nghiệp được tiến hànhtại Indonesia, chịu trách nhiệm là Lee và Kam Dự án này được thực hiện tại khucông nghiệp Banjaran, cách Bandung – nơi khoảng 20 nhà máy đá sử dụng nguồnnhân lực khoảng 10000 công nhân Dự án hoàn thành vào tháng 3/1995 Kết quảnghiên cứu đã xác định được nồng độ bụi trong khu vực làm việc là 44,22 ±5,53mg/m3/h, với hàm lượng silic là 62,56 ± 4,45 % SiO2 Kiểm tra lâm sàng đãđược thực hiện trên 1000 công nhân ở các độ tuổi khác nhau và thời gian tiếp xúckhác nhau bằng cách chụp X – quang và đo phế dung Kết quả chụp X – quang bấtthường bao gồm bệnh lao, viêm phế quản mãn tính, những kết quả bất thườn khi đophế dung là hạn chế, cản trở khả năng hô hấp của người bệnh Tỷ lệ chụp X-quang
và đo phế dung bất thường tăng lên theo tuổi tác và thời gian tiếp xúc Điều này đặcbiệt rõ ở những công nhân thuộc nhóm tuổi 50-60 Chụp X – quang và đo phế dungvới tỷ lệ bất thường là 100 % đối với những đối tượng công nhân làm việc trong mỏ
đá từ 41-50 năm Ho dị ứng tìm thấy ở 31 công nhân Khi so sánh, xem xét số lượngbụi đá trong không khí và mức ảnh hưởng của nó lên sức khỏe thì thấy thấp hơn sựkiến Điều này được giải thích bởi bụi đá bị pha loãng trong gió, do thời gian và khảnăng bảo vệ từ bộ lọc của đường hô hấp [62]
Năm 1996, Signh đã tìm hiểu về tác động của bụi lên sức khỏe con người.Cũng trong năm này, một nghiên cứu về bệnh phổi nghề nghiệp tại Singapore đượcthực hiện bởi Huyn S L và cộng sự đã cho thấy bệnh bụi phổi silic là nguyên nhânhàng đầu gây lao và ung thư phổi Theo điều tra khảo sát từ năm 1970-1993 thìcông nhân khai thác đá granit có tỷ lệ nhiễm bụi phổi silic là 77,6 % [60]
Năm 1998, nghiên cứu của Milton DK, Solomon GM, Rosiello RA, Herrick
RF thuộc Sở Y tế môi trường, Trường Y tế công cộng Harvard (Mỹ) về bệnh hensuyễn nghề nghiệp được thực hiện trên 70924 thành viên thuộc tổ chức chăm sócsức khỏe (HMO) trong độ tuổi từ 15 tuổi đến 55 tuổi có nguy cơ bệnh suyễn Kếtquả nghiên cứu cho thấy bệnh hen suyễn do phơi nhiễm nghề nghiệp đang ở mứccao hơn đáng kể cho với những báo cáo trước đó và chiếm một tỷ lệ khá lớn trườnghợp hen suyễn khởi phát ở tuổi trưởng thành [53]
Trang 28Báo cáo Y tế thế giới năm 2002 nơi các rủi ro nghề nghiệp là nguyên nhânhàng đầu thứ mười của bệnh tật và tử vong WHO báo cáo rằng rủi ro nghề nghiệp
do môi trường làm việc bao gồm: 37 % đau lưng, 16 % mất thính lực, 13 % bệnhphổi tắc nghẽn mãn tính, 11 % của bệnh hen suyễn, 10 % các thương tích, 9 % củaung thư phổi và 2 % bệnh bạch cầu Theo báo cáo, tỷ lệ tử vong do công việc liênquan đến chấn thương gây ra gần 310.000 trường hợp tử vong mỗi năm, gần146.000 ca tử vong do làm việc liên quan đến chất gây ung thư Các trường hợp tửvong liên quan đến bụi là 243.000 ca [60]
Tại Anh, kết quả một nghiên cứu về bệnh hô hấp nghề nghiệp vào năm
2003 được thực hiện bởi Steven Naylor và Andrew Curran cho thấy năm ngànhnghề quan trọng nhất đóng góp gần 60 % của tất cả trường hợp viêm phếquản/bệnh khí thũng qua thời kỳ 1989-2003 được xác định là thợ mỏ than (22 %),công nhân (17 %), thợ hàn (16 %) và công nhân dầu khí (2 %) [56]
Năm 2004, Viện sức khỏe nghề nghiệp Meghani Nagar đã công bố kết quảnghiên cứu về bệnh nghề nghiệp tại Ấn Độ cho thấy tỷ lệ nhiễm bụi phổi silic ởcông nhân ngành khai thác đá là 21 %, gốm sứ là 15,2 %; bệnh hô hấp ở công nhânkhai thác ngầm là 45,4 % ở công nhân khai thác than lộ thiên là 42,2 % [58]
Năm 2006, Tiến sĩ Azad S A và cộng sự đã có nghiên cứu về công nghiệpkhai thác đá xung quanh thủ đô Delhi và tác động của nó đến công nhân cũng nhưmôi trường [53] Vào năm 2007, một đề tài về nâng cao nhận thức và thực hành vềbụi phổi silic của công nhân mỏ đá ở sa mạc Sinh thái ở Rajasthan (Ấn Độ) đượcbắt đầu nghiên cứu bởi Yadav S P cùng cộng sự được hoàn thành vào năm 2008.Nghiên cứu này đã khảo sát, phân tích và chỉ rõ sự ảnh hưởng của công nghiệp khaithác đá lên sức khỏe người lao động thông qua những kết quả điều tra bệnh bụi phổisilic trên 376 công nhân tại 49 mỏ đá [55]
Theo tạp chí về quản lý và nghiên cứu môi trường (2009) của Ethiopia khinghiên cứu tác động của khai thác đá lên sức khỏe của công nhân và dân cư tạivùng Abeokuta thuộc Ogun state của Nigeria cho thấy nồng độ bụi tại nơi khaithác đá cao nhất ở mức 26,03 mg/m3/h; thấp nhất ở mức 11,03 mg/m3/h Ở côngnhân, tỷ lệ bệnh ho chiếm 26 %, viêm xoang chiếm 15 % và bệnh nhiều đờm
chiếm 20 % [59].
Trang 29Vào tháng 5 năm 2010, theo nghiên cứu của Sunitha N và cộng sự (thuộc Sở
Khoa học môi trường và Đại học Bangalore tại Ấn Độ) về môi trường làm việc và tìnhtrạng sức khỏe của công nhân khai thác đá ở vùng Bangalore Metropolitan cho thấymức ảnh hưởng nghiêm trọng của khai thác đá lên công nhân thông qua khảo sát tỷ lệ
các bệnh tật và so sánh với đối chứng [55].
1.2.1 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước đầu tiên đã ký vào công ước bảo vệ vàchống ô nhiễm môi trường của Liên Hợp Quốc vào năm 1982 Hiện nay ở ViệtNam, những nghiên cứu về ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng của nó tới sức khỏecon người cũng như động, thực vật đã và đang được tiến hành mạnh mẽ
Nghiên cứu của Vũ Văn An, Đào Ngọc Phong, Nguyễn Ngọc Giá (1981) vềmức độ ô nhiễm tiếng ồn ở một số nhà trẻ Hà Nội và ảnh hưởng của nó đến giấcngủ của trẻ đã cho thấy cường độ âm thanh quá ngưỡng gây ra những tác động lớn
lên hoạt động sinh lý bình thường của con người, đặc biệt là ở trẻ nhỏ [31] Phần
lớn các chỉ tiêu sinh lý, sức khỏe thay đổi do điều kiện khí hậu gây nên được một sốtác giả nghiên cứu như: Đào Ngọc Phong, Lê Thanh Uyên, Nguyễn Ngọc Cảnh,Ngô Huy Anh nghiên cứu về tác động của điều kiện nóng ẩm tới một số chỉ tiêusinh lý [29]
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của y học và các ngành khoa học khác, việcnghiên cứu các chỉ tiêu hình thái, sinh lý, sinh thái của người và động vật trong điềukiện khí hậu nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn Theo nghiên cứu lắngđọng của Tiến Sỹ Đào Ngọc Phong ở xung quanh nhà máy điện Ninh Bình cho thấylượng bụi cao gấp 17 lần so với tiêu chuẩn cho phép, nồng độ SO2 cao gấp 2 lần,
CO2 cao gấp 1,5-2,5 lần Hậu quả là bệnh viêm phế quản của dân cư vùng quanhnhà máy tăng 3,3 lần; bệnh viêm mũi dị ứng tăng 2,2 lần [30]
Nghiên cứu của Phạm Xuân Ninh (2003) về ảnh hưởng nhiệt độ, độ ẩm,tiếng ồn lên một số chỉ tiêu sinh học ở người trong môi trường quân sự và đề xuấtbiện pháp khắc phục Nghiên cứu về tác động phối hợp của nhiệt độ và độ ẩm caovới thiếu oxy lên một số chỉ số sinh học ở động vật của Phạm Xuân Quý vào năm
2003 [27], [37]
Nghiên cứu của Hoàng Minh Hiền thực hiện trong hai năm (2005-2006) vềthực trạng ô nhiễm không khí và bệnh tật của nhân dân sống tại khu công nghiệp
Trang 30Thượng Đình, Quận Thanh Xuân và Lạc Long Quân, Quận Tây Hồ, Thành phố HàNội Kết quả nghiên cứu cho thấy không khí khu vực Thượng Đình là bị ô nhiễm:
về bụi lơ lửng tổng số (gấp 3,3 lần so với TCCP), vi sinh vật và nấm mốc gấp vàichục lần theo tiêu chuẩn của Safis, nồng độ bụi mịn (PM10 và PM2,5) chiếm tỷ lệ cao.Các khí CO, NO2, SO2 nằm trong giới hạn cho phép Có sự khác biệt về tỷ lệ mắcbệnh hô hấp trong dân cư ở 2 khu vực: các triệu chứng của bệnh hô hấp (ho, khạcđờm, tức ngực, tắc ngạt mũi, chảy nước mũi,…) ở khu công nghiệp Thượng Đìnhgấp từ 1-2 lần khu dân cư Lạc Long Quân Kết quả đo thông khí phổi: có hội chứngtắc nghẽn ở khu công nghiệp Thượng Đình lớn gấp 5 lần ở khu dân cư Lạc LongQuân, các chỉ số thông khí phổi ở các trường hợp có hội chứng tắc nghẽn ở khu vựcThượng Đình giảm nhiều hơn so với khu dân cư Lạc Long Quân [17]
Tiến sỹ Phạm Lê Tuấn cùng cộng sự tiến hành nghiên cứu về bệnh tật củanhân dân thuộc nội thành Hà Nội liên quan đến ô nhiễm không khí (2007) được tiếnhành tại 5 khu vực: khu công nghiệp Thượng Đình, đường Pháp Vân, chợ ĐồngXuân, khu tập thể Kim Liên và khu Tây Hồ Tại các khu vực trên, nhóm nghiên cứu
đã điều tra ở 2.239 hộ gia đình gồm 10.111 thành viên gia đình, 6.021 học sinh,1.368 cán bộ công nhân viên trên địa bàn Hà Nội Theo đó, tỷ lệ hộ mắc bệnh tại HàNội là 72,6 % Trong số đó, hộ có người mắc bệnh mạn tính chiếm 43 %, cao nhất
là ở quận Hoàng Mai, thấp nhất là quận Tây Hồ Các bệnh có tỷ lệ mắc cao là bệnhtai mũi họng, viêm mũi dị ứng, hen phế quản, cảm cúm, viêm phổi, viêm phế quản,các bệnh ngoài da, bệnh về mắt Tiến sỹ Phạm Lê Tuấn cũng cho biết, những người
có thời gian sống trên 10 năm ở ngay tại Hà Nội có tỷ lệ mắc bệnh mạn tính về taimũi họng cao gần gấp đôi so với những người sống ở đây dưới 3 năm Tỷ lệ bệnhtật đối chiếu giữa nhóm người sống lâu ở Hà nội và nhóm người mới sống ở Hà Nội
là 24,5 % và 12,5 % Đối với các bệnh cấp tính như cảm cúm, người sống trên 10năm mắc bệnh chiếm tới 11,5 %; sống dưới 3 năm là 6,8 % Xu hướng tuổi càngcao thì tỷ lệ mắc càng cao [25]
Như vậy, với những nghiên cứu trên các tác giả đã làm sáng tỏ ảnh hưởngcủa nhiệt độ, độ ẩm, các yếu tố gây ô nhiễm môi trường lên các chỉ tiêu về sinh
lý như huyết áp, hô hấp, tim mạch, trao đổi nhiệt ở da, bài tiết mồ hôi,… cũngnhư sức khỏe con người nói chung và đó cũng là nền tảng khoa học cho các
Trang 31nghiên cứu chuyên sâu về ảnh hưởng của những điều kiện môi trường đặc biệtlên cơ thể con người.
Nếu như trước đây ở Việt Nam, nghiên cứu về ảnh hưởng của môi trường laođộng lên sức khỏe con người là một lĩnh vực khá mới mẻ thì ngày nay các nhà khoahọc đang có xu thế mở rộng hướng nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng và xâydựng chiến lược lâu dài về bảo vệ sức khỏe người lao động cũng như nâng cao hiệuquả của hoạt động sản xuất
Người đi đầu trong nghiên cứu về ảnh hưởng của môi trường làm việc lênsức khỏe người lao động ở Việt Nam là Ngô Ngọc Liễn, Nguyễn Mạnh Dũng(1980) Kết quả nghiên cứu cho thấy cho thấy bệnh điếc nghề nghiệp do tiếng ồntrong sản xuất gây ra ở một số nhà máy, xí nghiệp như sau: Trong điều kiện nơi làmviệc, cường độ âm thanh vượt quá mức tối đa cho phép (85 dBA) từ 6-34 dBA tỷ lệcông nhân điếc nghề nghiệp lên tới 21,5 % Riêng những công nhân tuổi nghề 20năm trở lên bị điếc 34,3 % [31]
Nghiên cứu của Đào Ngọc Phong, Phạm Hùng và Đan Thị Lan Hương về ônhiễm môi trường làng nghề và vấn đề sức khỏe cộng đồng được tiến hành tại 30 cơ
sở làng nghề tại Bắc Ninh, Hưng Yên, Nam Định phổ biến làm mỹ nghệ, mây tređan, dệt may, chế biến hóa thực phẩm và vật liệu xây dựng Kết quả nghiên cứu chothấy các thông số về nồng độ bụi và tiếng ồn đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép vàcác bệnh tật trong các hộ gia đình làng nghề là đau lưng, đau cột sống, đau bụng,hội chứng dạ dày, viêm phế quản, viêm phổi, viêm dạ dày, đau mắt, [32]
Năm 2002, theo thống kê của Sở Y tế Bình Định cho thấy, chỉ tính riêngnhững khu vực khai thác đá của các đơn vị quốc doanh, cả tỉnh hiện có khoảng3.000 công nhân tiếp xúc thường xuyên với bụi silic, trong đó 30 % đã nhiễm bụiphổi Hàm lượng bụi silic trong các công trường sản xuất đá ở Bình Định cao gấpđôi mức báo động nguy hiểm Nghiên cứu cho thấy, ở những người làm việc trongmôi trường có bụi silic từ 5 năm trở lên, nguy cơ mắc bệnh bụi phổi là 14 % Nguy
cơ này tăng thành 21 % sau 9 năm và lên tới 35 % sau 10-14 năm tiếp xúc với bụi
đá Việc lao động lâu năm trong môi trường nói trên không những làm tăng nguy cơnhiễm bụi phổi mà còn khiến công nhân dễ mắc thêm các bệnh ung thư phổi nguyênphát, ung thư thanh quản, vòm họng Trong 3 năm, ở Bình Định đã có khoảng 20người tử vong do bệnh bụi phổi [34]
Trang 32Nghiên cứu của Nguyễn Thị Toán thuộc viện Y học lao động và Vệ sinh môitrường về tình hình sức nghe của công nhân tại một số cơ sở sản xuất vật liệu xâydựng Đề tài nghiên cứu được tiến hành trên 1498 công nhân sản xuất vật liệu xâydựng (trong đó 547 công nhân sản xuất xi măng, 448 công nhân khai thác đá, 503công nhân sản xuất gạch chịu lửa) Kết quả cho thấy công nhân phải tiếp xúc vớitiếng ồn cao từ 86-103 dBA ở các công đoạn như khoan đá, nghiền đá, xi măng, dậpgạch Tỷ lệ điếc nghề nghiệp là 10,07 % trong đó ngành khai thác đá là 16,46 %;ngành sản xuất gạch chịu lửa 7,29 %; ngành sản xuất xi măng 6,45 % Các triệuchứng thu được qua phiếu phỏng vấn như sau: 97,6 % thợ khoan đá bị ù tai; thợnghiền đá là 85,7 %; thợ dập gạch là 88,9 %; thợ đóng bao là 50,8 % 85,4 % thợkhoan đá nghe kém; tỷ lệ này ở thợ nghiền đá, thợ dập gạch, thợ đóng bao là 81 %,77,8 % và 50 % 78 % thợ khoan đá bị đau đầu, bệnh này ở thợ nghiền đá chiếm85,7 %; thợ dập gạch 87,1 %; và thợ đóng bao 50,0 % 9,8 % thợ khoan đá; 14,3 % thợ nghiền đá; 15,3% thợ dập gạch và 2,5% thợ đóng bao thường xuyên sử dụngnút tai.
Theo nghiên cứu của Trung tâm Sức khỏe – Lao động và Môi trườngTPHCM (TTSK-LĐ-MT TPHCM) đã tiến hành đo đạc môi trường lao động cho
492 cơ sở Năm 2002, trong tổng số 1.673 mẫu đo mức độ bụi tại các cơ sở sản xuấttrên địa bàn thành phố có 102 mẫu không đạt tiêu chuẩn, trong khi chỉ 6 tháng đầunăm 2003 qua xét nghiệm 868 mẫu đã có 53 mẫu không đạt Đó là chưa kể các xétnghiệm về nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, từ trường, trong 6 tháng đầu năm 2003 đều
có số mẫu không đạt tăng gấp nhiều lần so với cùng kỳ năm 2002 Điều đó cho thấymôi trường lao động đang bị ô nhiễm nghiêm trọng Sáu tháng đầu năm 2003,TTSK-LĐ-MT TPHCM đã tiến hành khám bệnh nghề nghiệp cho gần 4.000 côngnhân làm việc trong môi trường có yếu tố độc hại thì có đến 372 người mắc bệnhnghề nghiệp, tăng so với cùng kỳ năm trước xấp xỉ 5 % Trong số 473 người đượckhám về bệnh bụi phổi silic thì 12 người bị nghi ngờ và 3 người mắc Trong khi cảnăm 2002, kiểm tra 696 công nhân tiếp xúc với bụi có hàm lượng SiO2 cao thì 16người bị nghi ngờ mắc bệnh và 8 người được Hội đồng Giám định Y khoa xác định
bị bệnh phổi silic Bên cạnh đó, các bệnh bụi phổi bông, bụi phổi amiăng, bệnhviêm phế quản nghề nghiệp đều tăng [43]
Trang 33Tại Hội nghị khoa học toàn quốc về Y học lao động, Sức khỏe môi trường,Sức khỏe trường học lần thứ V, Hội nghị khoa học quốc tế về Y học lao động, Sứckhỏe môi trường, Sức khỏe trường học lần thứ nhất (11/2003) Một loạt các nghiêncứu về bệnh nghề nghiệp ở nhiều nghành nghề khác nhau đã được công bố, trong đóđiển hình là các nghiên cứu sau:
Nghiên cứu về một số đặc điểm dịch tễ học bệnh bụi phổi silic ở công nhânsản xuất vật liệu xây dựng của Lê Thị Hằng, Đào Xuân Vinh, Nông Văn Đồng, LêMạnh Kiểm thuộc trung tâm y tế bộ xây dựng và Lê Khắc Đức thuộc học viện quân
y Đề tài được thực hiện theo phương pháp dịch tễ học mô tả có khảo sát môi trườnglao động, khám lâm sàng, chụp X – quang phổi và đo chức năng hô hấp trên 1204công nhân sản xuất vật liệu xây dựng Kết quả cho thấy: Nồng độ bụi silic cao hơnnồng độ tối đa cho phép Tỷ lệ mắc bệnh bụi phổi silic là 7,8 % Ngoài ra, có 77trường hợp bụi phổi silic (6,4 %)
Nghiên cứu về điều tra đánh giá tình hình bệnh bụi phổi-silic tại một số xínghiệp ở tỉnh Yên Bái của Trương Công Lệnh thuộc Trung tâm y tế dự phòng tỉnhYên Bái vào năm 2003 được tiến hành tại 5 cơ sở sản xuất gồm khai thác đá, sảnxuất xi măng, sản xuất vật liệu xây dựng thuộc tỉnh Yên Bái nhằm đánh giá tìnhhình ô nhiễm bụi và bệnh bụi phổi silic Kết quả cho thấy số mẫu bụi vượt tiêuchuẩn cho phép là 85 % Tỷ lệ mẫu bụi có hàm lượng silic tự do từ 5-20 % là 8 %,
từ 1-5 % là 75 % và từ 1 % là 17 % [52]
Nghiên cứu của Nguyễn Bá Toại (2004) về ô nhiễm bụi và tác động tới sứckhỏe người lao động ở các cơ sở sản xuất tấm lợp Amiăng hiện nay Kết quả nghiêncứu cho thấy các mẫu bụi đều vượt tiêu chuẩn cho phép và khi Trung tâm y tế Bộxây dựng tiến hành khám sức khỏe và bệnh nghề nghiệp cho công nhân tiếp xúc vớiAmiăng ở 10 cơ sở sản xuất Trong 10 cơ sở này có 2 cơ sở hoạt động trên 30 năm,
số còn lại khoảng 10 năm Tổng số 1032 công nhân trực tiếp tham gia vào dâychuyền sản xuất đã được khám và thời gian làm việc của họ từ 5 đến 35 năm Kếtquả cho thấy có 4/1032 trường hợp phổi nhiễm bụi Amiăng [44]
Trong vòng một năm (2004-2005), nhóm điều tra bệnh nghề nghiệp bụi phổisilic Viện Vệ sinh Y tế Cộng cộng đã tiến hành điều tra hơn một chục doanh nghiệpkhai thác đá tại núi Bà Đen (Tây Ninh) Kết quả cho thấy: 100 % các doanh nghiệpđều làm việc trong một môi trường quá ồn và bụi bặm Nồng độ bụi toàn phần
Trang 34trung bình tại các công đoạn sản xuất cao cả ở hai mùa mưa nắng hầu hết đềuvượt TCVSLĐ từ 1,51-3,71 lần Nồng độ bụi toàn phần cao nhất tập trung ởkhâu khoan đá và xay nghiền Ngoài ra, nồng độ bụi hô hấp ở các công đoạn sảnxuất cũng rất cao ở cả 2 mùa mưa nắng, trung bình 16,49 mg/m3/h vượt tiêuchuẩn hơn 4 lần Nồng độ bụi hô hấp hầu hết các công đoạn sản xuất đều cao.Nhiều vị trí sản xuất có nồng độ bụi vượt TCVSLĐ từ 4-10 lần Có những giaiđoạn khai thác, hàm lượng bụi silic tự do trong bụi hô hấp lên đến 80-90 %.Trong khi đó, theo tiêu chuẩn vệ sinh 20 % hàm lượng silic trong bụi hô hấp lànguy cơ gây bệnh rất cao Khi nghiên cứu trên 300 công nhân,thì kết quả chothấy tỷ lệ công nhân mắc bệnh là 5,46 % [7].
Theo nghiên cứu vào năm 2005 của Makoto Futatsuka, Masahiro Shono,Hisataka Sakakibara và Phạm Quốc Quân về ảnh hưởng của khai thác đá lên sứckhỏe của công nhân tại 50 mỏ đá ở Quy Nhơn Nghiên cứu này tìm hiểu về điềukiện làm việc và sự ảnh hưởng về sức khỏe liên quan đến hoạt động khoan đá đượctiến hành trên 102 công nhân mỏ đá nhằm mục đích làm rõ nguy cơ tiếp xúc rungđộng, sự xuất hiện của rung động gây ra trắng ngón tay (VWF), đặc điểm hội chứngrung cánh tay (HAVS) và điều tra tỉ lệ các bệnh nghề nghiệp Kết quả nghiên cứucho thấy mối liên quan mật thiết giữa đặc thù công việc, môi trường lao động và cácdạng bệnh tật của công nhân [56]
Theo Nguyễn Khắc Hải, ô nhiễm môi trường công nghiệp đã và đang ảnhhưởng đến sức khỏe của cộng đồng dân cư mà người công nhân lao động là nhữngngười bị ảnh hưởng trực tiếp Họ phải tiếp xúc thường xuyên với các yếu tố độc hạinhư ô nhiễm nhiệt, bụi, tiếng ồn, hơi, khí độc,… Kết quả điều tra về môi trường vàsức khỏe của trên 208 công nhân nhà máy cơ khí và nhà máy kim sắt Thái Nguyêncho thấy 58,7 % công nhân có biểu hiện viêm phế quản; 2,9 % có biều hiện hộichứng nhiễm độc SO2 Đối với công nhân nghành hóa chất cơ bản cho thấy bệnhđường hô hấp, tai mũi họng và bệnh dị ứng chiếm từ 35,2-65 % [14]
Tại Hội nghị Khoa học Quốc tế y học lao động và vệ sinh môi trường lần thứ
2 được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 10/2008, thứ trưởng Bộ Y tế Trịnh Quân Huấncho biết: “Do tác động của môi trường làm việc, bệnh nghề nghiệp và các tác hạicủa nghề nghiệp vẫn còn chiếm tỉ lệ cao, đặc biệt là bệnh bụi phổi silic, điếc nghềnghiệp, bệnh liên quan đến hoá chất, tai nạn lao động,… Năm 2007, số tích luỹ
Trang 35bệnh nghề nghiệp trong toàn quốc lên đến 23.872 trường hợp, trong đó, bệnh phổisilic chiếm tới 74,5 %; nhiễm độc do thuốc bảo vệ thực vật là 5.207 trường hợp, tửvong 106 người Đặc biệt, tình trạng điếc do nghề nghiệp chiếm tới 16 % Nghiêncứu tại một doanh nghiệp cơ khí đóng tàu cho thấy; 94,7 % công nhân phàn nàn vìphải làm việc trong điều kiện tiếng ồn có cường độ lớn trong suốt ca làm việc.Trong khi đó, phương tiện bảo hộ lao động là nút tai chống ồn lại thiếu” [52].
Năm 2008, trong một cuộc khảo sát tình hình bệnh nhiễm bụi phổi silic nghềnghiệp tại một số cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng thuộc Công ty xây dựng Dĩ An-Bình Dương của Huỳnh Thanh Hà, Trịnh Hồng Lân và cộng sự thuộc Đại học YDược Thành phố Hồ Chí Minh Kết quả đo kiểm tra môi trường lao động và khámsức khỏe cho 470 công nhân có tiếp xúc với bụi silic cho thấy nồng độ bụi toànphần và nồng độ bụi hô hấp ở hầu hết các vị trí lao động đều vượt tiêu chuẩn vệsinh lao động (TCVSLĐ) rất cao Tại vị trí tạo hình và ra lò của công ty sản xuấtgạch ngói nồng độ bụi hô hấp 16,50-25,8 mg/m3/h (vượt TCVSLĐ từ 8,25-13 lần),nồng độ bụi toàn phần tại khu vực khoan đá và máy xay đá từ 27,6-46 mg/ m3/h(vượt TCVSLĐ 4,6-7,7 lần), bụi hô hấp rất cao 19,3-31,8 mg/m3/h (vượt tiêuTCVSLĐ từ 9,7-15,9 lần) Tỷ lệ bệnh bụi phổi chung là 12,0 % Có sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê giữa tỉ lệ bệnh bụi phổi silic giữa nhóm công nhân làm việc trựctiếp tại khu vực khai thác đá với nồng độ bụi silic cao và nồng độ bụi silic thấp ởkhu vực sản xuất gạch (P < 0,05) [12]
Nghiên cứu của Viện bảo hộ lao động với chủ nhiệm đề tài là Vũ XuânTrung về đánh giá ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường, điều kiện lao động tới sứckhỏe công nhân dệt sợi và công đồng dân cư xung quanh Thông qua khảo sát thực
tế tại công ty Dệt May Hà Nội, bằng các biện pháp khảo sát điều kiện làm việc tại vịtrí lao động, phỏng vấn trực tiếp 143 đối tượng, khám lâm sàng và cận lâm sàng cho
98 đối tượng, đề tài đã đưa ra được thực trạng điều kiện làm việc của người laođộng và những ảnh hưởng của chúng tới sức khỏe người lao động Nghiên cứu đãminh chứng được mối liên hệ mật thiết giữa vấn đề ô nhiễm môi trường lao động vàsức khỏe của công nhân Từ đó đề xuất được một số biện pháp giảm thiếu ảnhhưởng của ô nhiễm đến sức khỏe người lao động [48]
Đề tài nghiên cứu thực trạng môi trường lao động, điều kiện lao động củaCông ty Xi măng Sông Gianh Kết quả nghiên cứu cho thấy môi trường lao động
Trang 36của công ty bị ô nhiễm nhiệt, nhiều vị trí sản xuất vượt nhiệt độ vượt TCVSLĐ từ3-4,7 oC; tiếng ồn vượt TCVSLĐ từ 4-8 dBA, nồng độ bụi toàn phần vượt từ 0,7-19,6 mg/m3/h Sức khỏe công nhân chủ yếu đạt loại I (tốt) và loại II (khá), do đượctrẻ hóa đội ngũ, tuy nhiên các loại bệnh mắc tỷ lệ cao như tai mũi họng (31,9 %),răng hàm mặt chiếm 25,9 %; tim mạch (16,7 %), mắt (15,9 %) Qua nghiên cứu, đềtài đã có kiến nghị về giải pháp nhằm cải thiện điều kiện lao động, chăm sóc sức
khỏe công nhân Công ty Xi măng Sông Gianh [10].
Nghiên cứu đặc điểm bệnh tật của 720 công nhân công ty xi măng HoàngThạch, công ty đóng tàu Bạch Đằng và mỏ than Hà Lầm tiếp xúc trực tiếp với tiếng
ồn cho thấy: Tỷ lệ bệnh điếc nghề nghiệp là 24,58 %; trong số đó thì nhóm côngnhân có tuổi nghề trên 20 năm chiếm 67,23 % Mức độ nghe kém nhẹ là chủ yếu(77,97 %), nghe kém vừa (18,64 %), nghe kém nặng là 2,26 %; điếc là 1,13 %; điếcđặc 0 % Tỷ lệ bệnh về tăng huyết áp: 18,1 %; dạ dày và tá tràng: 29,4-32,1 %; đauđầu thường xuyên (54,4 %), mất ngủ (56,4 %), căng thẳng dễ cáu kỉnh (55,4 %) Tỷ
lệ sử dụng nút tai chống ồn là 38,3 % [42]
Trang 37Chương 2 ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Thực trạng môi trường tại mỏ đá Dải Áo xã Cẩm Thành, huyện CẩmThủy, tỉnh Thanh Hóa;
- Công nhân làm việc tại mỏ đá Dải Áo xã Cẩm Thành, huyện CẩmThủy, tỉnh Thanh Hóa
Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu:
Các đối tượng được chọn đều là những công nhân có cơ thể phát triển vàhoạt động bình thường, không có dị tật bẩm sinh
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài triển khai nghiên cứu tại khu khai thác chế biến đá tại xã CẩmThành, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa
Xã Cẩm Thành thuộc phía tây nam huyện Cẩm Thủy, đây là khu vực miềnnui với đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa, bị tác động của gió mùa Tây Nam khônóng từ tháng 4 đến tháng 7 và gió mùa Đông Bắc lạnh ẩm ướt từ tháng 11 đếntháng 3 năm sau
Theo báo cáo thăm dò khoáng sản mỏ đá vôi núi Dải áo xã Cẩm Thành,huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh thanh hoá được lập tháng 6/2000 Khu thăm dò khai thác đáđược giới hạn bởi các điểm gốc có toạ độ VN 2000 như sau:
Bảng 2 1:Vị trí mỏ đá vôi núi Dải áo
Trang 38+ Phía Đông giáp xã Cẩm Thạch
+ Phía Tây Nam giáp: cánh đồng làng Nâm và xã Cẩm Liên
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Đối tượng nghiên cứu các chỉ số sinh lý, huyết học được thực hiện trên 60công nhân khai thác đá (gồm 30 nam và 30 nữ) thuộc hai nhóm tuổi: 20-35, 36-50(mỗi nhóm tuổi gồm 15 nam và 15 nữ) Những công nhân nói trên làm việc dưới sựquản lý của Công ty TNHH Tân Hồng Phúc Đây là công ty khai thác đá tư nhânđược thành lập từ năm 2000 Các đối tượng được chọn đều là những công nhân có
cơ thể phát triển và hoạt động bình thường, không có dị tật bẩm sinh
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu và tiêu chuẩn đánh giá
2.2.3.1 Nhóm các thông tin về thực trạng môi trường
Phương pháp thu thập số liệu:
Để xác định các thông số về thực trạng môi trường tại địa điểm nghiên cứunhư: vi khí hậu, nồng độ bụi, độ ồn, nồng độ khí CO2, CO chúng tôi sử dụng cácphương pháp sau:
- Xác định chỉ số vi khí hậu: Độ ẩm tương đối, nhiệt độ không khí, vận tốcgió được xác định bằng máy đo LM 8000 của Đài Loan
- Xác định nồng độ bụi toàn phần: Bụi toàn phần được đo bằng máy EPAM –5000
- Xác định nồng độ khí CO2, CO: Đo nồng độ khí CO2 và CO bằng máy đo
khí đa năng hiện số: MX 2100 – Pháp Đơn vị quy đổi là mg/m3/h Mỗi đợt thu mẫu
đo lặp lại nhiều lần ở mỗi vị trí khác nhau tại địa điểm nghiên cứu
- Xác định độ ồn: Xác định độ ồn bằng máy đo độ ồn hiện số IntergratingSound Levermoter typer M.S 50517 – K074537 – Japan Đơn vị đo là dBA Máyđược đặt ở độ cao 1,2 m đến 1,5 m so với mặt nền Khảo sát trong thời gian laođộng, lặp lại nhiều ngày Máy được đặt theo nhiều hướng khác nhau theo những cự
ly, khoảng cách khác nhau so với nguồn ồn Mỗi lần đo đều lấy kèm các chỉ số vikhí hậu: nhiệt độ, độ ẩm tương đối, tốc độ gió
Trang 39Tiêu chuẩn đánh giá các thông số về thực trạng môi trường:
Các thông số về thực trạng môi trường sau khi được xác định sẽ được sosánh với TCVSLĐ để đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường tại địa điểm nghiêncứu
TCVSLĐ: QĐ 3733/2002/QĐ-BYT - Ban hành 21 Tiêu chuẩn, 05 nguyêntắc và 07 thông số Vệ sinh lao động
2.2.3.2 Nhóm các chỉ tiêu sinh lý:
Phương pháp thu thập:
Các chỉ tiêu sinh lý của công nhân bao gồm: Tần số tim, tần số hô hấp, huyết
áp tâm thu, huyết áp tâm trương được xác định ở các trạng thái trước lao động,trong lao động và sau lao động bằng các phương pháp sau:
- Đo TST (đơn vị: lần/phút), HATT và HATTr (đơn vị: mmHg) bằng máy đohuyết áp của Nhật
- Đo TSHH: Lấy tần số hô hấp khi nghỉ ngơi và lúc làm việc, cầm tay đặt lênngực đối tượng để đếm số lần ngực phồng lên trong một phút (đơn vị: lần/phút)
- Đo một số chỉ số huyết học:
+ Lấy máu tĩnh mạch vào lúc sáng sớm, khi đối tượng nghiên cứu chưa ăn sáng.
+ Các chỉ tiêu huyết học được xác định trên máy xét nghiệm huyết học DYN 170
Cell-Tiêu chuẩn đánh giá các chỉ tiêu sinh lý:
Các chỉ tiêu sinh lý của công nhân sau khi xác định được so sánh với HSSHcủa người Việt Nam
2.2.3.3 Nhóm các thông tin về sức khỏe và tỷ lệ bệnh tật
Các thông tin về thực trạng sức khỏe và tỷ lệ của công nhân được xácđịnh qua việc phỏng vấn trực tiếp, mẫu phiếu điều tra và kết quả khám bệnhđịnh kỳ qua các năm của công nhân làm việc tại địa điểm nghiên cứu
2.2.4 Xử lý và phân tích số liệu
Số liệu thu được xử lý bằng phương pháp thống kê toán học và sử dụng phầnmềm SPSS for Window 13.0 và sự hỗ trợ của phần mềm Excel 2003
Trang 40Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 3.1 Thực trạng môi trường lao động tại mỏ đá Dải Áo
Độẩm(%)
Tốc
độ gió(m/s)
Sốmẫu(n)
Vị trí
P
Cáchkhu
SX
30 m
Khuvựcđậpđá
Khuvựcnghiềnđá25/03 8
25,8 ± 1,2
79,6 ± 2,1
80,4 ± 2,9
36,5 ± 1,8
80,7 ± 3,3
02/07 8
32,3 ± 1,3 ± 3,976,8 ± 0,11,3 6 ± 0,764,93 ± 1,1112,97 ± 0,8318,21 < 0,01
Giá trị
trung bình
33,5 ± 1,5 ± 3,178,8 ± 0,21,4 ± 0,955,90 ± 1,2513,67 ± 1,1118,23
TCVSLĐ ≤ 30 ≤ 80 ≤ 1,5 ≤ 4