Việc ứng dụng nấm ký sinh vào phòng trừ sâuhại kho với nhiều ưu việt như an toàn cho con người, môi trường, bảo đảm tính bềnvững… Nghiên cứu góp phần làm cơ sở dẫn liệu cho việc xây dựng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
- -ẢNH HƯỞNG CỦA VẬT CHỦ MỌT NGÔ
(Sitophilus zeamis) ĐẾN KHẢ NĂNG GÂY BỆNH CỦA
NẤM KÝ SINH CÔN TRÙNG Isaria javanica
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài luận văn tốt nghiệp ngành
kĩ sư Nông học, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ quý báu từ phía thầy cô, bạn bè,người thân
Với tấm lòng chân thành và sự biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin được gửi lời cảm
ơn đặc biệt tới Th.S Nguyễn Thị Thúyn là người hướng dẫn tôi từ những bước đầulàm nghiên cứu khoa học, đã rất tận tâm và nhiệt tình hướng dẫn tôi suốt thời gianlàm đề tài luận văn tốt nghiệp
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong tổ bộ mônBảo vệ thực vật, các giáo viên phụ trách, các kĩ thuật viên phòng thí nghiệm đã tạomọi điều kiện về cơ sở vật chất cũng như sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý kiến chotôi trong suốt quá trình làm đề tài
Và tôi xin được chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè
đã động viên khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thànhluận văn này
Vinh, ngày tháng 05 năm 2012
Tác giả
Lê Thị Phượng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu khoa học do em trực tiếp thực hiện, dưới sự hướng dẫn của Th.s Nguyễn Thị Thúy Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố và sử dụng trong một luận văn nào trong nước và ngoài nước
Em xin cam đoan rằng, mọi sự trích dẫn và giúp đỡ trong luận văn này đã được thông tin đầy đủ và trích dẫn chi tiết và chỉ rõ nguồn gốc
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lê Thị Phượng
Trang 5MỤC LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Việt Nam là nước có nhiều điều kiện tự nhiên và địa lý rất thuận lợi để pháttriển Nông Nghiệp với vành đai nhiệt đới gió mùa ẩm Theo Bộ Nông nghiệp, ViệtNam dự báo thu hoạch kỷ lục 42 triệu tấn lúa trong năm 2011, tăng khoảng 5% sovới năm 2010 Sản lượng lúa tăng sẽ giúp Việt Nam đạt tới khối lượng xuất khẩu kỷlục năm nay ít nhất 7 triệu tấn gạo trong khi đảm bảo nguồn cung cấp trong nướcphong phú có thể làm giảm lạm phát, xuất khẩu sang nước ngoài với số lượng lớn Tuy nhiên, các điều kiện thuận lợi đó cũng là điều kiện thuận lợi cho sâu hạiphát sinh, phát triển phá hại nghiêm trọng cả trên đồng ruộng cũng như các sảnphẩm nông nghiệp cất giữ trong kho tàng Hàng năm dịch hại có thể làm mất 20-30% năng suất, khi bị nặng có thể làm giảm năng suất từ 40-50%, thậm chí mấttrắng (theo FAO,2000) Đối với công tác cất giữ và bảo quản nông sản nói chunghiện nay ở Việt Nam còn rất nhiều han chế do cơ sở vật chất phục vụ cho công tácbảo quản còn rất hạn chế và chua được quan tâm đúng mức Loài gây hại trong khonghiêm trọng phải kể đến các loài sâu mọt, tổn thất chúng gây ra là rất lớn kể cả vềmặt số lượng cũng như chất lượng
Tổn thất nông sản do sâu mọt gây ra chiếm một phần đáng kể trong tổng sốlương thực dự trữ Tổ chức FAO (1999) thống kê được hàng năm trên thế giới mứctổn thất về lương thực trong bảo quản trung bình là 6 - 10% Ở Việt Nam thiệt hại
do côn trùng gây ra cho ngũ cốc bảo quản trong kho là 10%, riêng ở đồng bằngsông Cửu Long khoảng 18% (bộ môn Nghiên cứu công trùng, Tổng Cục lương thựcViệt Nam)
Thiệt hại do sâu mọt hại kho gây ra là rất lớn về nhiều mặt: Nó làm giảm sốlượng sản phẩm, chất lượng, giá trị thương phẩm như làm giảm protein, lipit,vitamin biến tính, màu sắc không bình thường, hàng hoá bị biến chất, gây thiệt hạilớn về kinh tế Làm nhiễm bẩn hoặc nhiễm độc nông phẩm, do đó làm ảnh hưởngđến sức khoẻ người tiêu dùng hoặc trực tiếp truyền bệnh cho người và cả gia súc
Trang 7Con người phải thêm chi phí khắc phục hậu quả Ngoài ra còn mất uy tín hàng hoátrên thương trường và đặc biệt là mất mát hạt giống cho mùa vụ sau.
Ở Việt Nam, hiện nay đều tập trung vào biện pháp xử lý sâu mọt hại kho bằngthuốc hoá học, chủ yếu là thuốc xông hơi như Phosphine, Sumithion, DDVP… Mặc
dù hiệu quả nhanh, chi phí thấp nhưng kết quả là gây ô nhiễm môi trường, để lại dưlượng hóa chất trong nông sản, gây nguy hiểm cho sức khoẻ con người và hìnhthành nên nhiều dòng kháng thuốc trừ sâu (Bùi Công Hiển, 1995).Việc sử dụngthuốc hóa học bảo vệ thực vật không kiểm soát là nguyên nhân dẫn đến sự khángthuốc của các loài mọt gây hại
Xu hướng hiện nay là sử dụng biện pháp IPM và IPM-B trong phòng trừ sâuhại nông nghiệp Một trong những biện pháp phòng trừ sâu mọt đang được nhiềungười quan tâm bởi tính ưu việt của nó là biện pháp sinh học như sử dụng thiên địch(bắt mồi, ký sinh) Việc ứng dụng nấm ký sinh côn trùng vào phòng trừ sâu mọt hạikho là một hướng đi mới và đầy triển vọng đã được nghiên cứu và ứng dụng ởnhiều nước trên thế giới Ở Việt Nam, người ta đã ứng dụng nấm ký sinh côn trùngvào trong phòng trừ sâu hại cây trồng, còn đối với sâu hại kho tàng thì chưa đượcquan tâm nghiên cứu
Nấm ký sinh côn trùng là hướng nghiên cứu còn rất mới ở Việt Nam vàcũng chưa được quan tâm đúng mức Việc ứng dụng nấm ký sinh vào phòng trừ sâuhại kho với nhiều ưu việt như an toàn cho con người, môi trường, bảo đảm tính bềnvững… Nghiên cứu góp phần làm cơ sở dẫn liệu cho việc xây dựng và áp dụng quytrình sử dụng chế phẩm sinh học mà cụ thể là chế phẩm từ nấm ký sinh côn trùng đểphòng trừ sâu mọt hại kho
Xuất phát từ vấn đề cấp thiết này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Ảnh hưởng của vật chủ mọt ngô (Sitophilus zeamais) đến khả năng gây bệnh của nấm ký sinh côn trùng Iaria javanica”.
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá được mối quan hệ giữa vật chủ trưởng thành
mọt ngô (Sitophilus zeamai) với khả năng gây bệnh của các chủng nấm ký sinh sôn trùng Isaria javanica, để tuyển chọn chủng nấm gây bệnh tốt và các biện pháp tác
Trang 8động nhằm nâng cao hiệu quả cho thuốc trừ sâu sinh học từ nấm ký sinh côn trùng
Isaria javanica trong kiểm soát sinh học mọt ngô hại kho.
3 Nội dung nghiên cứu
(i) Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ vật chủ trưởng thành mọt ngô đến khả năng
gây bệnh của các chủng nấm Isaria javanica.
(ii) Nghiên cứu ảnh hưởng trạng thái sinh lý đói ăn của vật chủ trưởng thành mọt
ngô đến khả năng gây bệnh của chủng nấm Isaria javanica.
(iii) Đánh giá khả năng phát tán bào tử trên mọt nhiễm nấm với mức tỉ lệ khác nhau
ra quần thể của mọt sống
(iv) Đánh giá tuyển chọn chủng nấm Isaria javanica kiểm soát mọt ngô.
4 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của vật chủ trưởng thành mọt ngô tới
khả năng gây bệnh của các chủng nấm Isaria javanica
Nghiên cứu được tiến hành tại phòng thí nghiệm Bảo vệ thực vật và phòngthí nghiệm Công nghệ Sinh học Nông nghiệp, Trung tâm THTN, Trường Đại họcVinh trong thời gian từ tháng 10 năm 2011 đến tháng 5 năm 2012
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề xuất biện pháp phòng trừ sâu hại kho, đặc biệt là mọt hại ngô Sitophilus
zeamais Motschulsky bằng biện pháp sinh học là sử dụng chế phẩm nấm sinh học
Isaria javanica Nghiên cứu thành công biện pháp phòng trừ sâu mọt sẽ là cơ sở
quan trọng để áp dụng phòng trừ nhiều loại khác trong công tác bảo quản nông sảntrong kho Kết quả bước đầu thử nghiệm phòng trừ các loài sâu hại kho bằng nấm
ký sinh côn trùng, góp phần xây dựng biện pháp phòng chống sâu mọt hại kho bằngcác biện pháp sinh học bền vững, không gây ô nhiễm môi trường và gây độc hại chocon người và các loài động vật khác
Trang 9CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học
1.1.1 Côn trùng hại kho
* Đặc điểm chung
Trong quá trình phát triển xã hội, bảo quản tốt các sản phẩm do lao động làm
ra là mặt thứ hai của quá trình sản xuất và sáng tạo của con người Nó vừa giảiquyết trực tiếp những nhu cầu cho xã hội, vừa tạo ra những khả năng tích cực đểnâng cao quá trình sản xuất tiếp theo
Hàng hóa dự trữ trong kho được quan tâm trước hết là các sản phẩm nôngnghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp sau một vụ thu hoạch, được cất trữ lại hoặc là cácsản phẩm được chế biến từ chúng rồi được dự trữ để sử dụng vào các nhu cầu của
xã hội như lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, chữa bệnh v.v Ngoài ra cònphải kể đến việc dự trữ hạt giống cho các vụ tiếp theo Đặc điểm chung của hàng dựtrữ là việc cất giữ trong kho theo những khoảng thời gian nhất định
Vì vật chất dự trữ thường tập trung với khối lượng lớn và kéo dài trong mộtkhoảng thời gian vài tháng, vài năm hay lâu hơn với các điều kiện sinh thái ổn định
và thuận lợi cho côn trùng gây hại phát triển, nên đã gây ra nhiều tổn hại cho conngười có khi không bù đắp lại được
Việc phân chia thành các nhóm yếu tố gây hại chỉ nhằm để thấy rõ đặc tínhriêng từng nhóm, trên cơ sở đó có những biện pháp phòng ngừa hợp lý, có hiệu quả.Trên thực tế cho thấy, nhiều khi các nhóm gây hại nêu trên lại cùng tác động vàođối tượng bảo quản và giữa chúng cũng có quan hệ tương hỗ lẫn nhau Nhiều khikết quả ngăn ngừa của một nhóm yếu tố này lại có tác dụng làm giảm ảnh hưởnggây hại của nhóm yếu tố khác Do vậy, trong hoạt động thực tiễn cần phải xem xéttìm những giải pháp thích hợp, phù hợp với trình độ sản xuất và mang tính hiệuquả cụ thể Sự phá hại của côn trùng đối với hàng hóa bảo quản thật đa dạng Trướchết phải kể đến việc làm giảm hoặc phá hủy vật chất, dẫn tới việc vật chất dự trữhay lưu trữ bị giảm hoặc hoàn toàn mất giá trị sử dụng, ví dụ sự mục nát ngũ cốc,mất khả năng nảy mầm của hạt giống v.v (Dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995) [2]
Trang 10* Đặc điểm của Mọt ngô Sitophilus zeamais Motschulsky
Hình dạng rất giống mọt gạo Kích thước thường lớn hơn (3,5 - 5mm) Cánhtrước trơn bóng và các điểm đỏ trên cánh khá rõ Các lỗ chấm trên tấm lưng ngựctrước thô và dày ở phía trước Rất khó phân biệt với mọt gạo nếu chỉ dựa vào hìnhthái bên ngoài Do đó việc phân biệt dựa vào hình dạng cơ quan sinh dục đực ở mọtgạo có hình bán nguyệt còn ở mọt ngô có hình 3 góc Bề mặt trên của cơ quan sinhdục đực mọt gạo đơn giản không có lông dài còn ở mọt ngô có 2 lông dài Đầumáng đẻ trứng của con cái mọt gạo có hình chữ Y, còn mọt ngô là hình móc nhọn
Mọt ngô cũng có thể bay được Khả năng sinh trưởng và phát triển của mọtngô tốt nhất là trong ngô hạt, sau đó mới đến thóc gạo và các ngũ cốc khác Mọtchịu lạnh rất tốt
1.1.2 Nấm ký sinh gây bệnh cho côn trùng hại
Khái niệm “Nấm ký sinh côn trùng - Entomo Pathogenic Fungi (EPF)hoặc "Nấm côn trùng - Entomo Fungi” được các nhà khoa học sử dụng nhưmột thuật ngữ đồng nghĩa, đề cập về nhóm sinh vật (nấm) ký sinh gây bệnhcho côn trùng
Theo Evans (1988) nấm ký sinh côn trùng được chia thành 4 nhóm:(1) Ký sinh trong tức là nấm ký sinh trong các nội quan, khoang cơ thểcủa côn trùng bị ký sinh
(2) Ký sinh ngoài, tức là nấm phát triển ở tầng cuticun ngoài vỏ cơ thể củacôn trùng và gây nên bệnh hại cho chúng
(3) Nấm mọc trên côn trùng, tức là những nấm đã được trực tiếp hoặc giántiếp chứng minh chúng ký sinh trên côn trùng
(4) Cộng sinh, có nghĩa là cả nấm và côn trùng cùng mang lại lợi ích chonhau trong mối quan hệ cùng chung sống
Nấm ký sinh côn trùng còn được chia thành nấm ký sinh sơ cấp (primerypathogen) và nấm ký sinh thứ cấp (secondery pathogen)
Nấm ký sinh sơ cấp thường nhiễm vào ký chủ côn trùng khoẻ mạnh gây bệnh vàsau đó làm chết côn trùng Trong khi đó, nấm ký sinh thứ cấp chỉ có thể ký sinh trênnhững côn trùng bị yếu hoặc côn trùng bị thương Các mầm bệnh ký sinh trên côn trùng
Trang 11trưởng thành hoặc côn trùng bị bệnh được gọi là ký sinh cơ hội hoặc ký sinh khôngchuyên tính, loại ký sinh này có thể nhiễm vào ký chủ thông qua sự xâm nhập qua lớpcuticun vỏ cơ thể của côn trùng Các nấm ký sinh trên côn trùng bị thương gọi là bệnhlây qua vết thương Sự khác nhau của ký sinh cơ hội và ký sinh qua vết thương đó là kýsinh qua vết thương chỉ có thể xâm nhập vào côn trùng qua vết thương.
Như vậy, nấm ký sinh côn trùng (EPF) được dùng để mô tả hiện tượngnấm ký sinh trên hoặc trong ký chủ côn trùng Khái niệm này cũng được dùngcho nấm ký sinh trên nhện bởi vì nhện và côn trùng là 2 nhóm (lớp) trong mộtngành động vật chân khớp (Arthropoda) và chúng có cùng kiểu sinh thái ănthực vật hoặc ăn thịt và sinh sống chủ yếu trên cây (Dẫn theo Trần Ngọc Lân,2008) [13]
1.1.3 Nghiên cứu về sự gây bệnh của nấm ký sinh trên côn trùng vật chủ
Nấm gây bệnh côn trùng (Entomopathogenic fungi) hiện đang thu hút sự chú
ý về tác nhân kiểm soát sinh học tiềm năng của côn trùng gây hại Các cơ chế gâybệnh đang được quan tâm nghiên cứu, đặc biệt trong các vấn đề về sự hình thànhcấu trúc xâm nhiễm, sự xâm nhập vào vật chủ và các chất độc tố gây chết vật chủ
(như beauvericin của Beauveria bassiana, destruxin của Metarhizium anisopliae).
Hiểu biết về các quá trình này sẽ cung cấp cơ sở để lựa chọn hợp lý và cải thiệnchủng nấm mục tiêu (Clarkson J.M., Charnley A.K., 1996) [20]
Cheah C et al (2004) [18], nghiên cứu kiểm soát sinh học sâu Adelges
tsugae Annand (Homoptera: Adelgidae) gây hại cây Tsuga (một loại cây nhóm cây
thông) Nấm có thể xâm nhập qua lớp vỏ cơ thể gây bệnh làm chết côn trùng Saukhi côn trùng bị chết, một số lượng lớn bào tử nấm được phát tán từ xác chết để tiếptục chu trình lây nhiễm trong quần thể côn trùng Trong tổng quan các công trìnhnghiên cứu về sử dụng thuốc nấm phòng trừ muỗi gây bệnh sốt rét, Thomas M.B &
Read A.F (2007) [35], đưa ra chu kỳ phát triển in vivo của nấm gây bệnh côn trùng, như Beauveria bassiana và Metarhizium anisopliae, diễn ra 5 bước tuần tự:
(1) sự bám dính của bào tử (conidia/spore) vào lớp biểu bì (epicuticle)
(2) sự nảy mầm của bào tử sản sinh ống mầm và giác bám (appresorium)(cấu trúc xâm nhập)
Trang 12(3) sự xâm nhập vào lớp biểu bì (procuticle, epidermis) thông qua sự kết hợpcủa áp lực cơ học và hoạt tính của các enzyme làm mất lớp biểu bì.
(4) nấm tăng trưởng trong thể xoang (haemocoel) vật chủ và sau đó
(5) sản sinh bào tử bên ngoài phát tán khi vật chủ bị chết (Gillespie J.P et
al., 2000) [23]
Nấm ký sinh côn trùng có thể xâm nhiễm vào cơ thể côn trùng qua con đường
hô hấp, tiêu hóa hoặc qua cơ quan sinh dục, nhưng phần lớn là qua lớp vỏ cuticun củachúng Tức là phải có sự tiếp xúc của bào tử nấm và bề mặt cơ thể ký chủ Bào tử nấmbám vào bề mặt cơ thể ký chủ, khi đủ điều kiện ẩm độ bào tử mọc mầm và xâm nhiễmvào bên trong cơ thể côn trùng qua lớp kitin
Nấm xâm nhiễm vào cơ thể côn trùng gồm 3 giai đoạn chính:
- Giai đoạn xâm nhập:
Tính từ khi bào tử nấm mọc mầm đến lúc hoàn thành việc xâm nhập vào trongxoang cơ thể côn trùng Bào tử là cấu trúc gây nhiễm của nấm Trong tất cả các nhóm
vi sinh vật gây bệnh cho động vật không xương sống, nấm là nhóm duy nhất gâynhiễm qua lớp vỏ cuticun EPF sử dụng kết hợp enzym và tác động cơ học để xâmnhập qua lớp cuticun Lớp biểu bì ngoài cùng (thành phần lipit) là hàng rào ngăn cảnđầu tiên của côn trùng mà nấm phải vượt qua trong quá trình xâm nhiễm vào cơ thểcủa chúng Các chuỗi axit béo bão hòa, như axit caprylic đã được tìm thấy, chúng cótác dụng ngăn cản sự nảy mầm của bào tử nấm Phía dưới lớp lipit dày là thành phầnkitin liên kết chặt chẽ với protein
Các bào tử nấm có thể xâm nhập qua lớp vỏ cuticun bằng nhiều cách Sựbám dính trực tiếp hay gián tiếp của bào tử là yếu tố đầu tiên góp phần cho việc
xâm nhiễm thành công của nấm vào cơ thể ký chủ Ở B bassiana, M anisopliae
và Isaria spp có dạng bào tử khô, các bào tử này phát tán trong không khí hoặc có
thể tìm thấy ở cơ thể côn trùng chết Một số bào tử có chất nhầy phủ bên ngoài giúp
chúng phân tán trong nước, như bào tử đính của Aschersonia spp., hoặc giúp chúng dính chặt vào cơ thể côn trùng, như bào tử của Hirsutella citriformis Bào tử động
của loài thuộc Chytridiomycota có thể bơi và bám dính chặt vào ký chủ trong nước;
ascospore của loài Cordyceps sp có khả năng phát tán thông qua hoạt động phóng
Trang 13các ascospore từ asci của chúng Đối với hầu hết các loại nấm bất toàn, chúngthích nghi với hoạt động bám dính gián tiếp của bào tử Các bào tử bám dính vào
ký chủ phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động của gió và nước
Các bào tử được tạo ra bởi EPF có sự thích nghi với cả hại dạng bám dính vàchúng có khả năng bám dính để đâm xuyên vào bên trong cơ thể côn trùng qua lớp
da Đặc biệt, có hại dạng bào tử của EPF là bào tử khô và bào tử ướt Các bào tử ướtbám dính vào lớp da côn trùng nhờ lớp màng nhầy bao quanh bào tử, trong khi cácbào tử khô bám dính vào lớp da côn trùng nhờ sự kết hợp của lực hút tĩnh điện vàtác nhân liên kết hóa học (như lipoprotein), chất này tạo thuận lợi cho việc bámdính với các lớp da kỵ nước, lớp da có bản chất lipit bên ngoài cơ thể côn trùng.Hầu hết các loài nấm có dạng bào tử khô này sản xuất dạng bào tử nhỏ, nhẹ và dễphát tán trong không trung Vì vậy, sự bám dính xảy ra ngẫu nhiên và cơ hội lây nhiễmthành công phụ thuộc lớn vào điều kiện khí hậu, mật độ ký chủ và lượng kháng thể
có trong cơ thể ký chủ
Bào tử nấm sau khi mọc mầm phát sinh mầm bệnh, nó giải phóng các enzymngoại bào tương ứng với các thành phần chính của lớp vỏ cuticun của côn trùng đểphân hủy lớp vỏ này như: Protease, chitinase, lipase, aminopeptidase, carboxypeptidase A,esterase, N-axetylglucosaminidase, cenlulase Các enzym này được tạo ra một cáchnhanh chóng, liên tục và với mức độ khác nhau giữa các loài và thậm chí ngay trongmột loài
Enzym protease và chitinase hình thành trên cơ thể côn trùng, tham gia phânhủy lớp da côn trùng (cuticula) và lớp biểu bì (thành phần chính là protein) Lipase,cenlulase và các enzym khác cũng là những enzym có vai trò không kém phần quantrọng Nhưng quan trọng hơn cả vẫn là enzym phân hủy protein (protease) và kitin(chitinase) của côn trùng Hai enzym này có liên quan trực tiếp đến hiệu lực diệt côntrùng của EPF (Dẫn theo Hà Thị Quyến và cs., 2005 ; Tạ Kim Chỉnh và cs.,2005,Eguchi , 1992 ; Janet Jennifer và cs., 2006 [4] [11] [22] [30])
- Giai đoạn phát triển của nấm trong cơ thể côn trùng đến khi côn trùng chết:
Đây là giai đoạn sống ký sinh của EPF Trong xoang cơ thể côn trùng nấmtiếp tục phát triển, hình thành rất nhiều sợi nấm ngắn Khi hệ sợi nấm được hình
Trang 14thành trong cơ thể, nó phân tán khắp cơ thể theo dịch máu, phá hủy các tế bào máu
và làm giảm tốc độ lưu thông máu Toàn bộ các bộ phận nội quan của côn trùng bịxâm nhập Nấm thường xâm nhập vào khí quản làm suy yếu hô hấp Hoạt độngcủa côn trùng trở nên chậm chạp và phản ứng kém với các tác nhân kích thích bênngoài Kết quả là hệ thống miễn dịch của ký chủ mất tác dụng, không còn khảnăng kiểm soát hoạt động sống và dẫn đến chết (Dẫn theo Phạm Văn Lầm, 2000[9]
- Giai đoạn sinh trưởng của nấm sau khi vật chủ chết:
Đây là giai đoạn sống hoại sinh của EPF Xác côn trùng chết là nguồn dinhdưỡng có giá trị cho các vi sinh vật Thông thường, các bộ phận bên trong cơ thểcôn trùng sẽ bị phân hủy bởi vi khuẩn hoại sinh Trên bề mặt ngoài của cơ thể
côn trùng, các nấm hoại sinh như Aspergillus spp., Penicillium spp và Fusarium spp.
định cư ở lớp biểu bì và cạnh tranh với vi khuẩn ở bên trong cơ thể côn trùng DoEPF có khả năng sản xuất ra các chất có hoạt tính như thuốc kháng sinh ức chếhoạt động của vi khuẩn và nấm hoại sinh khác nên chúng có thể cạnh tranh với cácsinh vật này để tồn tại và phát triển, làm cho xác ký chủ không bị phân hủy
Sau khi nấm côn trùng đã sử dụng cạn kiệt nguồn dinh dưỡng bên trong cơ thểcôn trùng, nó chuyển sang giai đoạn hình thành bào tử
Ở giai đoạn xâm nhiễm vào bên trong cơ thể côn trùng, nấm sử dụng các enzymngoại bào để phân hủy lớp vỏ cuticun Khác với giai đoạn này, ở giai đoạn nấm đâmxuyên, mọc thành sợi ra bên ngoài, nó sử dụng toàn bộ tác động cơ học Sau đó cácbào tử được hình thành trên lớp sợi nấm ở bề mặt cơ thể ký chủ Nhiều côn trùng bịbao bọc toàn bộ bên ngoài bởi hệ sợi nấm và các bào tử, vì vậy mà rất khó hoặckhông thể xác định các ký chủ (Dẫn theo Janet Jennifer và cs., 2006) [30]
Thomas M B., Read A F (2007) [35], nêu sơ đồ xâm nhiễm của nấm ký sinhcôn trùng vào cơ thể ký chủ :
Theo Thomas M B., Read A F., chu kỳ phát triển của EPF, như nấm
Beauveria bassiana và Metarhizium anisopliae gồm các giai đoạn: Bào tử đính
tiếpxúc với tầng cuticun của lớp vỏ ký chủ Bào tử nảy mầm và sinh sản hình thànhvòi và giác bám (cấu trúc cơ quan xâm nhập)
Trang 15Hình 1 Chu trình xâm nhiễm chung của nấm
ký sinh côn trùng (Cheah C et al., 2004)
Hình 2 Cơ chế xâm nhiễm của nấm kýsinh côn trùng (Thomas M.B 2007)
Khi bàn về sử dụng thuốc nấm kiểm soát côn trùng gây hại, Sandhu S.S et
al (2008), cho rằng cơ chế xâm nhiễm của nấm gây bệnh côn trùng bao gồm 4 giai
đoạn:
(1) Bào tử bám dính vào lớp cuticle
(2) bào tử nảy mầm và hình thành cấu trúc xâm nhiễm (appresorium)
(3) sự xâm nhập qua lớp cuticle
(4) sản sinh độc tố
Nghiên cứu của Vega F.E et al (2008), sự xâm nhiễm nấm B bassiana và C.
rosea trên trưởng thành sâu đục thân cà phê Coffea arabica L xác định vòng đời xâm
nhiễm của nấm gồm 5 giai đoạn:
(1) Côn trùng chết
(2) sợi nấm bắt đầu phát triển
(3) sợi nấm bao phủ cơ thể côn trùng
Trang 16Trên thế giới cũng đã có các nghiên cứu sử dụng nấm ký sinh côn trùng đểphòng trừ sâu mọt hại kho Tuy nhiên, các nghiên cứu này cũng mới chỉ tập trung ở
nấm Beauveria bassiana và Metarhizium anisopliae; các nấm khác như Beauveria
amorpha, Paecilomyces spp., Isaria sp.,… còn rất hạn chế Các kết quả cho thấy
tính khả thi của việc sử dụng nấm kiểm soát các loài sâu mọt hại kho là rất cao
Nghiên cứu nấm B bassiana là tác nhân phòng trừ sinh học đối với loài mọt
Oryzaephilus surinamensis L cho thấy giảm 91% số lượng mọt ở cả giai đoạn ấu
trùng và nhộng khi xử lý với nấm (Tanya Searle, Julian Doberski, 1984)
Bước đầu nghiên cứu khả năng sử dụng nấm côn trùng Beauveria bassiana phòng trừ mọt ngô Sitophilus zeamais trong phòng thí nghiệm Kết quả thu được tỷ
lệ mọt ngô chết rất cao, đạt 88% sau 8 ngày xử lý với nồng độ 104 bào tử/ml (Adane
K et al , 1996) [17].
Kết quả nghiên cứu của Padin S et al (1997) [33] hiệu lực tiêu diệt mọt thóc
đỏ Tribolium castaneum của nấm Beauveria bassiana thì tỷ lệ mọt thóc đỏ chết
đạt 85 - 87% sau 21 ngày xử lý
Hidalgo E., Moore D và Lepatourel G (1998) [29] đã nghiên cứu ảnh hưởng
của các dạng chế phẩm khác nhau của nấm Beauveria bassiana lên mọt ngô
Sitophilus zeamais Motsch Dạng nhũ tương với B bassiana ở nồng độ 109 bàotử/ml cho thấy hiệu quả phòng trừ đạt cao nhất đối với mọt ngô Công thức dạng
bột của nấm B bassiana đạt hiệu quả phòng trừ mọt ngô tới 90% sau 15 ngày, ở 250Cvới mức thử 20g thuốc bột nấm/kg ngô (2 x 1010 bào tử/kg ngô) và đạt 77% với liềulượng 5 g/kg (5 x 109 bào tử/kg ngô)
Hiệu quả của nấm Beauveria bassiana trong phòng trừ mọt gạo Sitophilus
oryzae L cũng đã được nghiên cứu, đánh giá Thí nghiệm tiến hành với 3 nồng độ
của nấm là 3,2 x 105, 2,5 x 106 và 3,9 x 107 bào tử/ml Kết quả thu được tỷ lệ mọtgạo chết sau 25 ngày xử lý với các nồng độ bào tử nấm này lần lượt 28,0%, 48,4%
và 75,8% Như vậy, tỷ lệ mọt chết đạt cao nhất ở nồng độ cao hơn (3,9 x 107 bàotử/ml) và sự xuất hiện của trưởng thành F1 giảm đi 86,2% (Govindan Sheeba et
al., 2001) [25].
Trang 17Nấm gây bệnh côn trùng Beauveria bassiana, Metarhizium anisopliae và
Paecilomyces spp được sử dụng để phòng trừ mọt Sitophilus zeamais và Prostephanus truncatus cho kết quả phòng trừ mọt mức cao Khi xử lý nấm B bassiana ở nồng độ 1 x 108 bào tử/ml, tỷ lệ S zeamais chết đạt 92 - 100% (LT50 =
3,58 - 6,28 ngày) Khi xử lý với nấm Paecilomyces sp., tỷ lệ S zeamais chết thấp, chỉ
đạt 26,32 ± 4,29% (LT50 = 10,38 ± 0,29 ngày) (Kassa A et al., 2002) [31].
Cherry A J., Abalo P And Hell K (2005) [20], nghiên cứu đánh giá ở các
trạng thái khác nhau của hai loài nấm Beauveria bassiana và Metarhizium
anisopliae để phòng trừ Callosobruchus maculatus trong kho đậu Sử dụng nấm ở
dạng dung dịch và dạng bột để diệt mọt Callosobruchus maculatus cho thấy tăng
nồng độ thì hiệu lực của nấm càng cao
Các chủng nấm Beauveria bassiana và Metarhizium anisopliae được kết hợp
với bột trơn, bột kaolin và bột sắn rồi trộn lẫn vào thóc gạo đã thả mọt gạo vào Kếtquả cho thấy công thức phối trộn với kaolin ở nồng độ 1 x 109 bào tử/g và liềulượng 0,15g cho tỷ lệ chết cao nhất đến 98,75%
Hiệu lực trừ sâu của Beauveria bassiana kết hợp với 3 loại tảo cát phòng trừ
Sitophilus granarius thí nghiệm được tiến hành ở các mức nhiệt độ và độ ẩm khác
nhau cho thấy hiệu quả đạt được rất tốt
Vassilakos T.N., Athanassiou C.G (2006) [35] đã nghiên cứu ảnh hưởng của
nhiệt độ đến hiệu lực trừ sâu của nấm Beauveria bassiana kết hợp với tảo cát đối với loài mọt đục hạt nhỏ Rhyzopertha dominica và mọt gạo Sitophilus oryzae trong
kho lúa mỳ Kết quả cho thấy ở nhiệt độ 260C thì hiệu lực của nấm đạt cao hơn cả
Golnaz Shams et al (2011) [24], đánh giá hiệu quả ức chế của nấm
Beauveria bassiana đối với mọt trưởng thành Callosobruchus maculatus F và Sitophilus granarius L trên các loại ngũ cốc trong điều kiện tối (27 ± 20C và 65 ±
5% RH) Vật chủ nhiễm nấm với 5 mức nồng độ khác nhau, C Maculatus là 104;1,2 x 105; 7,2 x 105, 4,07 x 106 và 2,3 x 107 bào tử/ml và loài S granarius là: 2,3 x
106; 4,7 x 106; 7,2 x 106; 1,2 x 107 và 2,3 x 107 bào tử/ml Kết quả cho thấy LT50 giátrị thấp nhất với nồng độ cao nhất (2,3 x 107 bào tử/ml) đối với loài C maculatus là 6,63 ngày và S granarius là 10,45 ngày Mặt khác, LC50 vào ngày thứ 9 sau tiếp
Trang 18xúc đối với loài C maculatus là 3,17 x 106 và S granarius là 6,08 x 107 ml/con Sosánh LC50, LT50 giá trị và tỉ lệ chết cho thấy B bassiana có khả năng kiểm soát được
cả hai loài nhưng hiệu quả C maculatus cao hơn so với S granarius.
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ngành nông nghiệp nước ta đang phải đối mặt với nhiều loại dịch hại nguyhiểm do côn trùng gây ra trên đồng ruộng cũng như trong kho bảo quản Sử dụngnấm ký sinh côn trùng được xem là một hướng đi thích hợp nhằm tạo ra những sảnphẩm an toàn Tuy nhiên, cho đến nay mới có một số nghiên cứu theo hướng ứng
dụng hai loài nấm là Beauveria basiana và Metarhizium anisopliae trong phòng trừ
sâu hại cây trồng
Nghiên cứu ứng dụng nấm Beauveria, Metarhizium kiểm soát sâu hại rau để sản xuất rau an toàn ở Hà Nội và vùng phụ cận, sử dụng nấm Metarhizium
anisopliae kiểm soát bọ cánh cứng hại dừa ở các tỉnh phía Nam Nghiên cứu và
hoàn thiện công nghệ sản xuất thuốc trừ sâu vi nấm Beauveria và Metarhizium để kiểm soát sâu hại đậu xanh ở Hà Tĩnh năm 2003; sử dụng chế phẩm Metarhizium
anisopliae để kiểm soát bọ cánh cứng hại dừa Brontispa sp (Phạm Thị Thùy và cs.,
2005) [8]
Nghiên cứu đặc tính sinh học và hiệu lực diệt côn trùng có hại của nấm
Metarhizium anisopliae Sorokin, sử dụng nấm Metarhizium anisopliae để kiểm soát
rệp sáp Pseudococcus citri Risso hại rễ cây cà phê tại tỉnh Daklak năm 2002 - 2003 (Phạm Thị Thùy, 2005); ứng dụng chế phẩm nấm Metarhizium anisopliae để kiểm
soát bọ xít hại cây trồng (Đàm Ngọc Hân, Phạm Thị Thùy, 2007) [8]
Kết quả nghiên cứu của Trần Ngọc Lân và cs (2008) cho thấy loài
Paecilomyces sp1 có khả năng kiểm soát sâu xanh (Heliothis armigera F.) hại lạc và
sâu tơ (Plutella xylostella L.) hại rau cải một cách có hiệu quả.
Trong điều kiện phòng thí nghiệm, các chủng nấm Metarhizium anisopliae và
Beauveria bassiana với nồng độ sử dụng là 108 bào tử/mL có khả năng phòng trừ sùng
đất Lepidiota cochinchinae Brenske hại rễ đậu phộng và bắp Độ hữu hiệu của các
chủng nấm Ma7-CT, Ma12-TV và Ma13-TV có hiệu quả phòng trừ sùng đất trên 70%
Trang 19và các chủng nấm Bb3-CT, Bb4-CT và Bb9-CT trên 72% sau 28 ngày xử lý ở nồng độ
108 bào tử/mL (Trần Văn Hai, Phạm Kim Sơn và Trịnh Thị Xuân, 2009) [14]
Nghiên cứu về sự gây bệnh của nấm ký sinh trên côn trùng vật chủ và ảnhhưởng của các yếu tố liên quan còn ít được biết đến Mới chỉ có một số nghiên cứu ,khảo sát các yếu tố như môi trường dinh dưỡng, nhiệt độ, độ ẩm, ảnh hưởng của sinhtrưởng, phát triển đến khả năng phát sinh bào tử và sinh khối nấm trên môi trườngPDA, rắn và lỏng; hay đánh giá tỷ lệ chết; phân tích xác định dộc tố nấm nấm tiết ratrên môi trường nhân nuôi như PDA
Mặt khác, trên thế giới đã các công trình nghiên cứu sử dụng nấm ký sinh côntrùng để phòng trừ sâu mọt hại kho đạt kết quả cao; nhưng ở Việt Nam chưa đượcquan tâm nghiên cứu Trong phòng trừ sâu mọt hại kho, mới chỉ sử dụng một số biệnpháp như: Biện pháp kỹ thuật bảo quản, biện pháp kiểm dịch, biện pháp cơ học, biệnpháp lý học, biện pháp hoá học (sử dụng thuốc xông hơi phosphine, phostoxin, methylbromide, gotocxin,…), biện pháp sinh học được sử dụng rất hạn chế (sử dụng một số
loài thiên địch tự nhiên của sâu mọt như: Ong ký sinh, bọ xít ăn thịt Xylocoris flavipes).
Trang 20CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
* Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1/2012 đến tháng 5/2012.
* Địa điểm nghiên cứu:
- Mọt ngô thu bắt trong kho bảo quản nông sản ở TP Vinh
- Các nghiên cứu được tiến hành tại phòng thí nghiệm Công nghệ nấm kýsinh côn trùng, Trung tâm THTN, Đại học Vinh
2.2 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
- Các chủng của loài nấm Isaria javanica (Frider & Bally) Samsom &
Hywel-Jones (Hypocreales: Cordycipitaceae) thu thập ở Vườn quốc gia Pù Mát vàđược bảo quản tại phòng thí nghiệm, bao gồm: VN1472, VN1482, VN1487,VN1491, VN1801, VN1802
* Nguyên liệu, hoá chất, thiết bị thí nghiệm
- Nguyên liệu làm môi trường: đường gluco, aga, khoai tây, gạo tẻ, cám gạo,bột ngô, trấu, bột mì,…
- Hóa chất: Cồn 960, Tween 80 hoặc Tween 20, các chất nhuộm màu,
- Thiết bị: Kính hiển vi, kính hiển vi soi nổi, Máy đo thủy phần hạt ngô,buồng đếm hồng cầu, máy ảnh, máy vi tính, tủ lạnh, tủ hấp, buồng cấy, tủ sấy,
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp nhân nuôi nấm và vật chủ mọt ngô
* Nhân nuôi nấm
- Nhân nuôi nấm trên môi trường PDA từ slopes (Potato Dextrose Agar)
- Nhân nuôi nấm trên môi trường lỏng PDB (Potato Dextrose)
- Nhân nuôi nấm trên môi trường rắn: gạo lứt
- Thu sinh khối, tạo chế phẩm để phun nhiễm: Sau khi nhân nuôi sinh khốinấm trên môi trường PDA, rắn đạt nồng độ bào tử tối ưu thì pha nấm thành dạngbột hoặc dịch để phun (thêm chất bám dính Tween 80)
Trang 21- Sử dụng buồng đếm hồng cầu để đếm bào tử Buồng đếm hồng cầu: Là 1 lamkính dày (kích thước 7 cm x 3 cm x 0,5 cm), có 4 rãnh ngang và 1 rãnh dọc, có 225
ô vuông lớn Trong đó có 25 ô lớn chia thành các ô vuông nhỏ (1 ô lớn có 16 ônhỏ) Kích thước của mỗi ô nhỏ như sau: mỗi cạnh bằng 1/20 mm và sâu 1/10 mm
Cách tính nồng độ dịch bào tử nấm:
- Tính số lượng bào tử trong 5 ô vuông lớn
- Tiến hành đếm 2 lần (số bào tử là a,b) và tính trung bình bào tử của 2 lầnđếm: X = (a + b)/2
- Cho 0,1µl của dịch bào tử vào 25 ô vuông:
Nồng độ bào tử trong 1ml (c) = X.5.104
- Với n là hệ số pha loãng của dịch bào tử ban đầu Vậy nồng độ bào tử trongdịch nấm gốc là C = c x n (bào tử/ml)
* Nhân nuôi vật chủ mọt ngô
Mọt ngô sau khi thu bắt về được nuôi trong hộp nhựa có dung tích 5-10kg,thùng gỗ, hộp xốp…cho ngô hoặc lạc vào và thả mẫu mọt thu được vào thức ăntương ứng Lấy vải bịt kín miệng dụng cụ nuôi mọt Thức ăn được cung cấp đềuđặn từ 1-2 tuần/lần
Nuôi trong hộp nhựa, có thức ăn “sạch”, theo dõi và kiểm tra hàng ngày
2.3.2 Phương pháp sử dụng chế phẩm nấm Isaria javanica để phòng trừ sâu hại
Sau khi nấm trên các môi trường rắn cho lượng bào tối đa có thể dùng đểđiều chế thành các chế phẩm phòng trừ sâu hại Chế phẩm có thể ở dạng bột mịnhoặc dạng dịch lỏng
* Chế phẩm dạng dịch lỏng
Sau khi nhân xong sinh khối nấm, pha chế phẩm thành dạng dịch lỏng đểphun Xác định nồng độ bào tử cần thiết dùng để phun (phương pháp làm tương tựnhư phương pháp đếm nồng độ bào tử đã trình bày ở sau) Pha dịch bào tử với chấtbám dính (dầu rửa bát) để tăng độ bám dính của bào tử lên các ký chủ Dùng chếphẩm phun lên các đối tượng sâu hại
* Chế phẩm dạng bột mịn
Trang 22Sau khi nhân xong sinh khối nấm, đem chế phẩm sấy khô ở nhiệt độ 38oCtrong 96 giờ Xác định nồng độ bào tử của chế phẩm, sau khi đã sấy khô Xay chếphẩm thành dạng bột mịn, trộn thêm thành phần bột thạch cao theo tỷ lệ khối lượngtương ứng là 3:2 Dùng bột chế phẩm để phòng trừ.
2.3.3 Bố trí thí nghiệm
Mọt ngô sạch: không nhiễm nấm, không bị kí sinh, không nhiễm thuốc trừsâu, được nuôi trong hộp nhựa 25 cm x 20 cm x 15 cm và bỏ ngô với lượng 100gngô hạt làm thức ăn cho mọt
• Thí nghiệm 1 Ảnh hưởng của mật độ vật chủ mọt ngô đến khả
năng gây bệnh của các chủng nấm Isaria javanica
- Bố trí với 5 công thức mật độ: 30, 40, 50, 60, 57 mọt/hộp
- Phun nấm nồng độ 108 bào tử/g; Liều lượng 6 g/hộp
- Nuôi ở điều kiện nhiệt độ 25 ± 100 0C và độ ẩm 70 ± 10%
- Hộp nhựa 25cm x 20cm x 15cm với lượng 100g ngô hạt
- Thí nghiệm lặp lại 3 lần, CT đối chứng (ĐC) phun nước cất
- Ghi ký hiệu công thức, chủng nấm và thời gian trên mỗi hộp thí nghiệm
• Thí nghiệm 2 Ảnh hưởng của trạng thái sinh lý (đói ăn) của
vật chủ mọt ngô đến khả năng gây bệnh của nấm Isaria javanica
- Bố trí 4 công thức mức thời gian bỏ đói: 2; 4; 6; 8 ngày
- Phun nấm với nồng độ 108 bt/g, liều lượng 6 g/hộp
- Nuôi ở điều kiện nhiệt độ 25 ± 100C và độ ẩm 70 ± 10%
- Số lượng 50 con/hộp nhựa 25cm x 20cm x 15cm, có lượng 100g ngô hạt
- Thí nghiệm lặp lại 3 lần (3 hộp), CT đối chứng (ĐC) phun nước cất
• Thí nghiệm 3 Đánh giá khả năng phát tán bào tử trên mọt
nhiễm nấm ra quần thể của mọt sống
- Bố trí 4 công thức quần thể có mọt nhiễm nấm với số lượng: 5; 10; 15; 20:
25 con/hộp có 50 mọt sống, tương ứng tỉ lệ 1/10, 2/10, 3/10, 4/10, 5/10
- Phun nấm với nồng độ 108 bt/g, liều lượng 6 g/hộp
- Nuôi ở điều kiện nhiệt độ 25 ± 100C và độ ẩm 70 ± 10%
Trang 23- Số lượng 50 con/hộp nhựa 25cm x 20cm x 15cm, có lượng 100g ngô hạt.
- Thí nghiệm lặp lại 3 lần (3 hộp), CT đối chứng (ĐC) phun nước cất
- Ghi ký hiệu công thức, chủng nấm và thời gian trên mỗi hộp thí nghiệm
2.3.4 Chỉ tiêu theo dõi
- Sau khi phun quan sát sự biến đổi bên ngoài liên tục trong 6, 12, 24 h; sau
đó theo dõi hàng ngày, 1 lần/ngày cho đến khi nấm bao phủ và hình thành bào tửtrên cơ thể vật chủ mọt ngô
- Mọt ngô chết mỗi đợt kiểm tra vào từng đĩa petri riêng biệt lót giấy thấm vôtrùng 10ml nước cất, ghi ký hiệu (ngày phun, ngày chết, thí nghiệm) và theo dõi
- Xác định tỷ lệ: chết, có sợi nấm mọc, sợi nấm bao phủ, hình thành bào tử
- Xác định thời gian: nấm tiếp xúc, nấm nảy mầm, sâu chết, có sợi nấm mọc
ra bên ngoài, có sợi nấm bao phủ cơ thể, hình thành bào tử conidia
- Theo dõi và mô tả nấm và vật chủ, chụp ảnh và mô tả cụ thể sự biến đổi
- Mô tả sự biến đổi về số lượng, màu sắc, hình dạng, kích thước, cấu trúc, độcứng, vị trí xâm nhiễm nấm vào cơ thể côn trùng, vị trí nấm đâm ra ngoài cơ thể côntrùng, mức độ phát triển sợi nấm, hình thành bào tử conidia,
2.4 Phương pháp xử lý số liệu
- Hiệu lực phòng trừ được tính theo công thức Abbott (1925)
H= Ca- Ta
Ca Trong đó:
H là tỷ lệ chết của sâu hại
Ca là số lượng sâu hại sống sót ở công thức đối chứng không phun nấm
Ta là số lượng sâu sống sót ở công thức thí nghiệm
- Số liệu thu thập được xử lý bằng chương trinh Microsoft Excel 2003 vàphần mềm Statitix 9.0
Trang 242.5 Một vài đặc điểm về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội Nghệ An
2.5.1 Điều kiện tự nhiên
Nghệ An là một tỉnh thuộc Trường Sơn Bắc, có toạ độ địa lý từ 18035’
-19030’ vĩ độ Bắc và 103052’ - 105042’ kinh độ Đông với diện tích 1637068 ha Làmột tổng thể tự nhiên nhiệt đới ẩm điển hình với đủ các loại cảnh quan, tổng thểnày lại thay đổi theo mùa và mang đặc tính khắc nghiệt của miền Trung Địa hình
có thể chia thành 3 vùng cảnh quan: Vùng núi cao (77% diện tích); gò đồi (13%diện tích); đồng bằng (10% diện tích) và bị đồi núi chia cắt thành vùng đồng bằngphù sa và dải cát ven biển
Khí hậu Nghệ An mang đặc tính nhiệt đới gió mùa với đặc điểm cơ bản lànóng ẩm và mưa nhiều theo mùa Hàng năm, đất Nghệ An nhận được trung bình
120 - 140 KCal/cm2 bức xạ mặt trời, nhiệt độ trung bình 23 - 240C, tổng nhiệt độtrên 90000C, mỗi năm có trên 30 ngày nhiệt độ hơn 400C và 20 - 25 ngày trên 300C
Độ ẩm không khí trung bình là 85%, lượng mưa trung bình cả năm là 1600 - 2000
mm với hai mùa rõ rệt, mùa khô lạnh từ tháng 11 đến tháng 4, mùa mưa nóng từtháng 4 đến tháng 10
2.5.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Nghệ An là một tỉnh đông dân, với số dân 3030946 người (tính đến31/5/2005), mật độ trung bình toàn tỉnh là 184 người/km2 Dân cư phân bố khôngđều giữa các vùng: Vùng đồng bằng 10% diện tích nhưng tập trung đến 80% dânsố; vùng núi và gò đồi chiếm 90% diện tích nhưng chỉ có 20% dân số (Hướng dẫn
du lịch Nghệ An, 2005)
Trang 25CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Ảnh hưởng của mật độ vật chủ mọt ngô đến khả năng gây bệnh của các
Đánh giá hiệu phòng trừ của chủng nấm Isaria javanica VN1802 ở các mức
mật độ khác nhau, kết quả cho thây (bảng 3.1., hình 3.1.): Khi mật độ mọt ngô tăng
từ 30 – 70 con/hộp thì hiệu lực chế phẩm nấm (tỷ lệ chết và tỷ lệ nhiễm nấm) cũngtăng lên Trong đó, tỷ lệ chết đạt cao nhất là 75,83 %, tỷ lệ nhiễm nấm cao, đạt71,11- 100% so với tỷ lệ mọt bị chết, ở mật độ 30 con mọt và sau phun nấm 11ngày Sau khi phun nhiễm thì mọt bị chết nhanh sau 1 ngày, còn mọc nấm chậmhơn sau 2-3 ngày và không phải tất cả sâu chết đều mọc nấm nhiễm mà phụ thuộcnhiều điều kiện khác nhau (sai khác có ý nghĩa thống kê P< 0,05)
Từ bảng và biểu đồ ta thấy rằng khi mật độ tăng lên thì hiệu lực phòng trừmọt ngô cũng giảm đi và đạt mức thấp nhất ở công thức 4 và 5 với mật độ mọt ngô
là 70 con/hộp 100 g ngô hạt với tỷ lệ lần lượt 30,83±2,4 % là 30,36±1,7 %
Bảng 3.1: Tỷ lệ chết của mọt ngô ở các mức mật độ_VN1801
Mật độ thí
nghiệm
Tỷ lệ chết của mọt ngô sau thời gian xử lý (TB±SD)
1 ngày 3 ngày 5 ngày 7 ngày 9 ngày 11 ngày CT1(30con) 22,41±1,00 ab 33,33±0,81 a 42,5±1,26 a 48,27±2,94 a 54,31±4,27 a 75,83±3,20 a
Trang 26Hình 3.1.: Tỷ lệ chết của mọt ngô ở các mức mật độ_VN1801
Tỷ lệ nhiễm nấm của mọt ngô:
Đánh giá tỷ lệ nhiễm nấm của mọt ngô với chế phẩm từ Isaria javanica
VN1801 ở 5 mức mật độ mọt/hộp khác nhau với liều lượng 8g/hộp thì hiệu lựcnấm theo quy luật tỷ lệ mọt nhiễm nấm tăng theo thời gian sau xử lý (bảng 3.2).Theo dõi trong 20 ngày cho thấy ở công thức 4 với mật độ mọt gạo là 60 con/hộp
có tỷ lệ mọt bị nhiễm nấm cao nhất so với 4 mức nồng độ còn lại, sau 11 ngày tỷ lệ
nhiễm nấm của mọt ngô đạt 100±2,64 % tính theo tỷ lệ giưa số nấm bị nhiễm và số
nấm chết hiệu lực của thí nghiệm
Các số liệu về sự nhiễm nấm của mọt ngô dưới đây có sự biến động khácnhau không tuân theo quy luật tăng dần, mà có sự thay đổi ở ngày trước lớn hơn cácngày tiếp theo, nguyên nhân chính là do số mọt bị chết không phải do nấm hoặckhông mọc nấm được Áp dụng công thức tính % nhiễm nấm ( số mọt bị nhiễmnấm/ số mọt chết hiệu lực) thì ta được các mức tỷ lệ nhiễm như bảng theo dõi Từ
biểu đồ ta thấy khả năng xâm nhiễm của nấm Isaria javanica là tương đối cao và
đồng đều ở các công thức thí nghiệm và đều đạt tỷ lệ ≥ 70%
26
Trang 27Bảng 3.2: Tỷ lệ nhiễm nấm của mọt ngô ở các mức mật độ_VN1801
Mật độ thí
nghiệm
Tỷ lệ nhiễm của mọt ngô sau thời gian xử lý (TB±SD)
1 ngày 3 ngày 5 ngày 7 ngày 9 ngày 11 ngày CT1(30con) 93,84±1,00 ab 82,50±0,81 a 84,18±1,26 a 90,00±2,94 a 78,41±4,27 a 87,80±3,20 a
Ghi chú: Các chữ cái là số mũ khác nhau trong cột sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05);
TB: Trung bình, SD: Độ lệch chuẩn
Hình 3.2.: Tỷ lệ nhiễm của mọt ngô ở các mức mật độ_VN1801
27
Trang 283.1.1.2 Hiệu lực phòng trừ của chủng nấm Isaria javanica VN1482 ở các mức
mật độ mọt ngô
Tỷ lệ chết của mọt ngô
Đánh giá hiệu phòng trừ của chủng nấm Isaria javanica VN1482 ở các mức mật độ
mọt ngô khác nhau, kết quả cho thây (bảng 3.3., hình 3.3.): Khi mật độ sâu khoangtăng từ 30 – 70 con/hộp thì hiệu lực chế phẩm nấm (tỷ lệ chết và tỷ lệ nhiễm nấm)cũng tăng lên Trong đó, tỷ lệ chết đạt cao nhất là 60,93 %, tỷ lệ nhiễm nấm cao, đạt
≥ 80% so với tỷ lệ mọt bị chết, ở mật độ 30 con mọt và sau phun nấm 11 ngày
Sau khi phun nhiễm thì mọt bị chết nhanh sau 1 ngày, còn mọc nấm chậmhơn sau 2-3 ngày và không phải tất cả sâu chết đều mọc nấm nhiễm mà phụ thuộcnhiều điều kiện khác nhau (sai khác có ý nghĩa thống kê P< 0,05)
Từ bảng và biểu đồ ta thấy rằng khi mật độ tăng lên thì hiệu lực phòng trừmọt ngô cũng giảm đi và đạt mức thấp nhất ở công thức 5 với mật độ mọt ngô là70con/hộp 100g ngô hạt với tỷ lệ là 22,56±1,7%
Bảng 3.3: Tỷ lệ chết của mọt ngô ở các mức mật độ_VN1482
Mật độ thí
nghiệm
Tỷ lệ chết của mọt ngô sau thời gian xử lý (TB±SD)
1 ngày 3 ngày 5 ngày 7 ngày 9 ngày 11 ngày
CT1(30con
)
33,34±1,32a 47,13±2,81a 50,58±1,60a 52,86±2,94a 60,00 ±1,27ab 60,93 ±3,22ab CT2(40con
)
23,07± 2,35a 31,61±1,82a 35,89±1,72a 39,30±1,80a 46,67±2,29a 47,87±1,15a CT3(50con
)
19,04± 1,96a 25,16±1,63a 26,53±2,30a 27,89±2,57a 32,00 ±3,51bc 31,28 ±3,60bc CT4(60con
)
16,38±2,63 a 19,78± 2,81a 22,03± 3,46a 23,73±1,73a 27,21±2,77c 27,12±2,64bc CT5(70con
)
12,56±1,50a 14,49 ±2,61a 16,42±1,18a 20,76±3,04a 22,85±1,85abc 22,56±1,70c
LSD 2,80 4,32 4,02 3,65 2,53 2,64CV(%) 13,66 17,68 15,05 12,82 7,45 8,62
Ghi chú: Các chữ cái là số mũ khác nhau trong cột sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05);
TB: Trung bình, SD: Độ lệch chuẩn
28
Trang 29Hình 3.3: Tỷ lệ chết của mọt ngô ở các mức mật độ_VN 1482
Tỷ lệ nhiễm nấm
Đánh giá tỷ lệ nhiễm nấm của mọt ngô với chế phẩm từ Isaria javanica VN1482
ở 5 mức mật độ mọt/hộp khác nhau với liều lượng 8g/hộp thì hiệu lực nấm theoquy luật tỷ lệ mọt nhiễm nấm tăng theo thời gian sau xử lý (bảng 3.4) Theo dõitrong 20 ngày cho thấy ở công thức 3 với mật độ mọt gạo là 50 con/hộp có tỷ lệ mọt
bị nhiễm nấm cao nhất so với 4 mức nồng độ còn lại, sau 11 ngày tỷ lệ nhiễm nấm
của mọt ngô đạt 96,52±3,59 % tính theo tỷ lệ giưa số nấm bị nhiễm và số nấm chết
hiệu lực của thí nghiệm
Sau 11 ngày,tỷ lệ mọt ngô chết bị nhiễm nấm ở bảng trên đều có giá trị caogần như nhau ở tất cả các công thức và chỉ thấp nhất ở công thức 4 ( 60 c0n/hộp100g ngô hạt) là đạt 90±3,57% (sai khác có ý nghĩa thống kê P< 0,05)
Bảng 3.4: Tỷ lệ nhiễm nấm của mọt ngô ở các mức mật độ_VN1482
Mật độ thí
nghiệm
Tỷ lệ nhiễm của mọt ngô sau thời gian xử lý (TB±SD)
1 ngày 3 ngày 5 ngày 7 ngày 9 ngày 11 ngày CT1(30con) 96,82±1,25 a 77,78±2,81 a 90,00±1,46 a 94,37±2,83 a 84,44±1,78 b 95,65±2,97 ab
Trang 30Hình 3.4: Tỷ lệ nhiễm nấm của mọt ngô ở các mức mật độ_VN148
3.1.1.3 Hiệu lực phòng trừ của chủng nấm Isaria javanica VN1487 ở các mức
mật độ mọt ngô
Tỷ lệ chết của mọt ngô:
Đánh giá hiệu lực phòng trừ mọt ngô của chế phẩm từ Isaria javanica
VN1487 ở 5 mức mật độ mọt/hộp khác nhau với liều lượng 8g/hộp thì hiệu lực
nấm theo quy luật tỷ lệ mọt chết tăng dần theo thời gian sau xử lý (bảng 3.5) Saukhi xử lý thì sau 1 ngày một số mọt bắt đầu có dấu hiệu ngừng ăn, di chuyển chậm
và một số con đã chết Theo dõi trong 14 ngày cho thấy ở công thức 3 với mật độmọt gạo là 50 con/hộp có tỷ lệ mọt chết cao nhất so với 4 mức nồng độ còn lại, sau
11 ngày hiệu lực phòng trừ mọt ngô đạt 71,34±2,88 % Thời gian gây chết trung
bình của nấm đối với mọt thí nghiệm là LT50 = 12 -13 ngày(sai khác có ý nghĩa thống
kê P< 0,05)
Bảng 3.5 Tỷ lệ chết của mọt ngô ở các mức mật độ_VN1487
Mật độ thí
nghiệm
Tỷ lệ chết của mọt ngô sau thời gian xử lý %
1 ngày 3 ngày 5 ngày 7 ngày 9 ngày 11 ngày CT1(30con) 13,33± 0,58 a 22.39±1,58 a 35,17±2,15 b 42,07±0,57 b 48,33±2,33 a 60,15±3,60 b
Trang 31Hình 3.5: Tỷ lệ chết của mọt ngô ở các mức mật độ_VN1487
Tỷ lệ nhiễm của mọt ngô:
Từ bảng và biểu đồ ta thấy rằng khi mật độ tăng lên thì hiệu lực phòng trừ mọt ngôcũng tăng lên nhưng đến một mật độ nhất dịnh thì hiệu lực không tăng lên nữa màgiảm đi và đạt mức thấp nhất ở công thức 5 với mật độ mọt ngô là 70con/hộp 100gngô hạt với tỷ lệ là 51,67±2,51%
Bảng 3.6: Tỷ lệ nhiễm nấm của mọt ngô ở các mức mật độ_VN1487
Mật độ thí
nghiệm
Tỷ lệ nhiễm của mọt ngô sau thời gian xử lý (TB±SD)
1 ngày 3 ngày 5 ngày 7 ngày 9 ngày 11 ngày CT1(30con) 80,00±1,00 a 83,73±2,58 b 90,18±1,08 a 88,16±1,15 a 88,08±1,73 bc 95,83±1,64 a
Trang 32Hình 3.6: Tỷ lệ nhiễm nấm của mọt ngô ở các mức mật độ_VN1487
Sau 11 ngày,tỷ lệ mọt ngô chết bị nhiễm nấm ở bảng trên đều có giá trị cao gần nhưnhau ở tất cả các công thức và chỉ thấp nhất ở công thức 2 ( 30 con/hộp 100g ngôhạt) là đạt 83,67±4,58% :
3.1.1.4 Hiệu lực phòng trừ của chủng nấm Isaria javanica VN1802 ở các mức
mật độ mọt ngô
Tỷ lệ chết của mọt ngô:
Đánh giá hiệu lực phòng trừ mọt ngô của chế phẩm từ Isaria javanica
VN1802 ở 5 mức mật độ mọt/hộp khác nhau với liều lượng 8g/hộp thì hiệu lực nấm
theo quy luật tỷ lệ mọt chết tăng dần theo thời gian sau xử lý (bảng 3.7) Sau khi xử
lý thì sau 1 ngày một số mọt bắt đầu có dấu hiệu ngừng ăn, di chuyển chậm và một
số con đã chết Theo dõi trong 14 ngày cho thấy ở công thức 2 với mật độ mọt gạo
là 40 con/hộp có tỷ lệ mọt chết cao nhất so với 4 mức nồng độ còn lại, sau 11 ngày
hiệu lực phòng trừ mọt ngô đạt 82,5±1 % Thời gian gây chết trung bình của nấm
đối với mọt thí nghiệm là LT50 = 12 -13 ngày sai khác có ý nghĩa thống kê P< 0,05)
32
Trang 33Bảng 3.7:Tỷ lệ chết của mọt ngô ở các mức mật độ_VN1802
Mật độ thí
nghiệm
Tỷ lệ chết của mọt ngô sau thời gian xử lý %
1 ngày 3 ngày 5 ngày 7 ngày 9 ngày 11 ngày CT1(30con) 14,83± 0,58 b 28.90±0,58 a 55,17±2,00 a 62,07±0,57 a 68,93±2,31 a 80,00±3,60 a
Hình 3.7:Tỷ lệ chết của mọt ngô ở các mức mật độ_VN1802
33
Trang 34 Tỷ lệ nhiễm nấm của mọt ngô:
Đánh giá tỷ lệ nhiễm nấm của mọt ngô với chế phẩm từ Isaria javanica
VN1802 ở 5 mức mật độ mọt/hộp khác nhau với liều lượng 8g/hộp thì hiệu lực
nấm theo quy luật tỷ lệ mọt nhiễm nấm tăng theo thời gian sau xử lý (bảng 3.8).Theo dõi trong 20 ngày cho thấy ở công thức 3 với mật độ mọt gạo là 50 con/hộp có
tỷ lệ mọt bị nhiễm nấm cao nhất so với 4 mức nồng độ còn lại, sau 11 ngày tỷ lệ
nhiễm nấm của mọt ngô đạt 90% tính theo tỷ lệ giưa số nấm bị nhiễm và số nấm
chết hiệu lực của thí nghiệm
Sau 11 ngày,tỷ lệ mọt ngô chết bị nhiễm nấm ở bảng trên đều có giá trị cao gần nhưnhau ở tất cả các công thức và chỉ thấp nhất ở công thức 4 ( 60 c0n/hộp 100g ngôhạt) là đạt 83,18±4,36% được thể hiện qua hình 3.8 dưới đây:
Bảng 3.8: Tỷ lệ nhiễm nấm của mọt ngô ở các mức mật độ_VN1802
Mật độ thí
nghiệm
Tỷ lệ nhiễm của mọt ngô sau thời gian xử lý (TB±SD)
1 ngày 3 ngày 5 ngày 7 ngày 9 ngày 11 ngày CT1(30con
Ghi chú: Các chữ cái là số mũ khác nhau trong cột sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05);
TB: Trung bình, SD: Độ lệch chuẩn
34
Trang 35
Hình 3.8:Tỷ lệ nhiễm nấm của mọt ngô ở các mức mật độ_VN1802
3.1.2 Ảnh hưởng của mật độ vật chủ mọt ngô đến thời gian phát triển của các
chủng nấm Isaria javanica VN 1482
Đánh giá ảnh hưởng của mật độ vật chủ mọt ngô đến thời gian phát triển của các
chủng nấm I javanica, kết quả cho thấy: Nấm trải qua 5 giai đoạn phát triển gồm:
(1) Vật chủ sâu khoang chết(2) sợi nấm bắt đầu nảy mầm(3) Nấm hình thành bào tử(4) Nấm bao phủ cơ thể(5) Bào tử nấm phát tán
Tùy theo các chủng nấm khác nhau, mức mật độ vật chủ mà thời gian ítnhiều có sự khác nhau Nhưng nhìn chung thì mật độ vật chủ mọt ngô không ảnh
hưởng nhiều đến thời gian các giai đoạn phát triển và vòng đời của nấm I javanica
3.1.2.1 Thời gian phát triển của chủng nấm Isaria javanica VN1801 ở các mức
mật độ mọt ngô
Đối với chủng nấm I javanica VN 1801, thì khi tăng mức mật độ từ 30 -50
con./hộp thì không sự khác nhau về thời gian các giai đoạn vả cả vòng đời của nấm(.16,4 – 18,2 ngày) Nhưng khi mật độ mọt ngô tăng đến mức 60-70 con/hộp thì thờigian cả vòng đời phát triển của nấm có xu hướng kéo dài hơn và đạt 19 ±2,75hay19,8±3,25 ngày (sai khác có ý nghĩa thông kê mức P< 0,05) (bảng3.9)
35
Trang 36Dựa vào bảng ta thấy nồng độ bào tử đạt được ở công thức 3 là cao nhât vớinồng độ đếm dược là (2,57±0,52) × 107 bào tử/g và thấp nhất là công thức 1 vàcông thức 5 với nồng độ bào tử là 2,14±0,31và 2,15±0,18 bào tử/ g cơ chất
3.1.2.2 Thời gian phát triển của chủng nấm Isaria javanica VN1482 ở các mức
mật độ mọt ngô
Đối với chủng nấm I javanica VN 1482, thì khi tăng mức mật độ từ 30 -50
con./hộp thì không sự khác nhau về thời gian các giai đoạn vả cả vòng đời của nấm(.16,6 – 17,4 ngày) Nhưng khi mật độ mọt ngô tăng đến mức 60-70 con/hộp thì thờigian cả vòng đời phát triển của nấm có xu hướng kéo dài hơn và đạt 19±2,95hay18,8±3,27 ngày (sai khác có ý nghĩa thông kê mức P< 0,05) (bảng3.10)
Mặt khác, dựa vào bảng trên ta thấy nồng độ bào tử đạt được ở công thức 5
là cao nhât với nồng độ đếm dược là (2,39±0,18) × 107 bào tử/g
So sánh các chủng ta còn thấy rằng chủng VN1482 cho nồng độ bào tử/ con là thấpnhất so với các chủng khác trong cùng thí nghiệm (sai khác có ý nghĩa thông kêmức P< 0,05)
36
Trang 37Bảng 3.9 Thời gian phát triển của chủng nấm Isaria javanica VN1801 ở các mức mật độ mọt ngô
mật độ mọt
ngô
thời gian các giai đoạn phát triển của VN1801 lên mọt ngô (ngày)
số con chết Mọc nấm Hình thành BT nấm bao phủ Bt phóng thích Tổng thời gian Nồng độ (× 107)CT1(30con) 3,00 ± 4,31b 5,60 ± 3,16b 7,89 ± 3,67a 9,00 ± 2,27a 13,10 ± 3,01a 17,60 ± 2,57a 2,14 ± 0,31aCT2(40con
Trang 38Bảng 3.10: Thời gian phát triển của chủng nấm Isaria javanica VN1482 ở các mức mật độ mọt ngô
mật độ mọt
ngô
thời gian các giai đoạn phát triển của VN1482 lên mọt ngô (ngày)
số con chết Mọc nấm Hình thành BT nấm bao phủ Bt phóng thích Tổng thời gian Nồng độ (× 107)CT1(30con) 4,00 ± 2,16b 5,00 ± 3,16a 6,80 ± 3,11b 9,20 ± 3,27b 12,40 ± 2,96a 16,60 ± 2,30a 2,24 ± 0,41aCT2(40con) 4,00 ± 2,74c 5,60 ± 2,96a 7,00 ± 3,24b 9,40 ± 2,88b 12,60 ± 2,96a 17,40 ± 2,96a 2,21 ± 0,34aCT3(50con) 5,40 ± 3,83AB 6,80 ± 3,67a 8,00 ± 4,16ab 10,00 ± 4,08ab 13,20 ± 4,26a 17,20 ± 4,03a 2,17 ± 0,22aCT4(60con) 6,60 ± 4,00a 6,69 ± 1,00a 10,00 ± 4,74a 12,80 ± 4,26a 15,40 ± 4,61a 19,00 ± 2,95a 2,26 ± 0,42aCT5(70con) 5,00 ± 3,39b 6,91a 8,80 ± 4,58b 11,20 ± 3,11ab 14,20 ±3,27a 18,80 ± 3,27a 2,39 ± 0,18a
Trang 393.1.2.3 Thời gian phát triển của chủng nấm Isaria javanica VN1487 ở các mức
mật độ mọt ngô
Đối với chủng nấm I javanica VN 1487, thì khi tăng mức mật độ từ 30 -50
con./hộp thì không sự khác nhau về thời gian các giai đoạn vả cả vòng đời của nấm(.17,67 – 18,78 ngày) Nhưng khi mật độ mọt ngô tăng đến mức 60-70 con/hộp thìthời gian cả vòng đời phát triển của nấm có xu hướng kéo dài hơn và đạt19,67±2,50hay 19,88±3,57ngày (sai khác có ý nghĩa thông kê mức P< 0,05)
(bảng3.11)
Dựa vào bảng trên ta thấy nồng độ bào tử đạt được ở công thức 3 và 5 là caonhât với nồng độ đếm dược là (3.57±0,35) × 107 và ( 3.66±0,15) × 107 bào tử/g vàthấp nhất là công thức 4 với 3,15±0,32) × 107 bào tử/ g cơ chất
Các số liệu trên cũng chỉ ra rằng chủng VN 1487 có nồng độ bào tử cao hơn so vớicác chủng khác khi dếm trên mọt đã phóng thích bào tử
3.1.2.4 Thời gian phát triển của chủng nấm Isaria javanica VN1802 ở các mức
mật độ mọt ngô
Đối với chủng nấm I javanica VN 1487, thì khi tăng mức mật độ từ 30 -50
con./hộp thì không sự khác nhau về thời gian các giai đoạn vả cả vòng đời của nấm(.17,67 – 18,78 ngày) Nhưng khi mật độ mọt ngô tăng đến mức 60-70 con/hộp thìthời gian cả vòng đời phát triển của nấm có xu hướng kéo dài hơn và đạt19,67±2,50 hay 19,88±3,57 ngày (sai khác có ý nghĩa thông kê mức P< 0,05)(bảng3.12)
Mặt khác, dựa vào bảng trên ta thấy nồng độ bào tử đạt được ở công thức 3
và 5 là cao nhât với nồng độ đếm dược là (3.76±0,15) × 107 và ( 3.57±0,25) × 107bào tử/g và thấp nhất là công thức 1(30 con) với 2,34±0,41bào tử/ g cơ chất
Trang 40Bảng 3.11: Thời gian phát triển của chủng nấm Isaria javanica VN1487 ở các mức mật độ mọt ngô
mật độ mọt
ngô
thời gian các giai đoạn phát triển của VN1802 lên mọt ngô (ngày)
số con chết Mọc nấm Hình thành BT nấm bao phủ Bt phóng thích Tổng thời gian Nồng độCT1(30con) 4,85±3,31a 5,67±3,57a 7,77±1,87a 10,15±1,78b 13,75±3,71a 17,67 ± 2,47a 3,34 ± 0,21aCT2(40con