- Nghiên cứu nước ngoài: Ngoài một số mô hình định tính, định lượng được sử dụng phổ biến thì mô hình Lôgit được dùng khá nhiều trong các đề tài nghiên cứu về “phân tích các nhân tố tác
Trang 1BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING
Trang 2BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING
LUẬN VĂN THẠC SỸ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN THỊ MỸ LINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Giáo viên hướng dẫn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Để thực hiện và hoàn thành luận văn“Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng
thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam” Tác giả đã tự mình nghiên cứu, tham khảo tài
liệu liên quan, vận dụng những kiến thức đã học cùng với sự hướng dẫn khoa học tận
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của cá nhân tôi, các số liệu trong luận văn này hoàn toàn trung thực Số liệu, thông tin sử dụng trong luận văn này
là do tôi tự thu thập từ số liệu thứ cấp từ các hồ sơ tín dụng của khách hàng tại VIB, từ
ý kiến đóng góp của chuyên gia, từ các báo cáo thường niên của VIB qua các năm và các văn bản quy định trích từ kho dữ liệu văn bản của VIB
Tác giả luận văn
Nguyễn Anh Tú
Trang 5LỜI CẢM TẠ
Để hoàn thành chương trình cao học ngành Tài chính Ngân hàng tại trường Đại học
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo và đồng nghiệp tại Ngân hàng TMCP Quốc
tế Việt Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi thu thập số liệu cũng như những thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu luận văn này
Các Anh/Chị/Bạn học viên cao học khóa 2 đợt 1 ngành Tài Chính Ngân hàng đã cùng tôi chia sẽ kiến thức, kinh nghiệm trong suốt quá trình học và thực hiện luận văn Trong quá trình thực hiện luận văn, mặc dù tác giả đã cố gắng, nỗ lực để hoàn thành luận văn song do kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế cũng như điều kiện thời gian hạn hẹp nên luận văn của tác giả sẽ không tránh được những sai sót Rất mong nhận được những chia sẽ, đóng góp ý kiến của Quý Thầy Cô và Bạn đọc
Tác giả xin chân thành cảm ơn !!!
Tác giả luận văn
Nguyễn Anh Tú
Trang 6CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
Trang 10TMCP : Thương mại cổ phần
TSĐB : Tài sản đảm bảo
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Định nghĩa và diễn giải các biến độc lập Trang 37 Bảng 4.1: Hoạt động kinh doanh của VIB giai đoạn 2009 – 2013 Trang 41 Bảng 4.2: Tình hình nợ xấu theo thành phần kinh tế Trang 45 Bảng 4.3: Tình hình nợ xấu theo thời hạn vay Trang 49 Bảng 4.4: Tình hình nợ xấu theo nhóm nợ Trang 50 Bảng 4.5: Nợ xấu có khả năng tổn thất / Tổng nợ xấu Trang 52 Bảng 4.6: Tỷ lệ: Quỹ DPRR / Nợ có khả năng mất vốn Trang 54 Bảng 4.7: Tỷ lệ nợ xấu = Dư nợ Xấu / Tổng dư nợ Trang 56 Bảng 4.8: Hoạt động lập dự phòng rủi ro khoản vay Trang 72
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Trang 13CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngân hàng thương mại là mạch máu của nền kinh tế, giữ vai trò quan trọng trong việc điều phối vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội.Trong hoạt động của ngân hàng thương mại thì tín dụng là hoạt động đem lại lợi nhuận chính cho ngân hàng cũng như giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hôị.Tuy
xem là cục máu đông của nền kinh tế
Rủi ro trong hoạt động tín dụng không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến tình hình kinh tế xã hội
Phần lớn rủi ro tín dụng xảy ra đều xuất phát từ các nguyên nhân khách quan và chủ quan Trong đó, phải nói đến công tác quản trị rủi ro tín dụng ở các NHTM còn nhiều bất cập, thiếu chuyên nghiệp hoặc chưa được quan tâm đúng mức Riêng tại VIB, trong thời gian qua, mặc dù cũng đã chú trọng đến công tác quản trị rủi ro tín dụng nhưng chưa thật sự hoàn thiện và hiệu quả
Hậu quả của rủi ro tín dụng là nợ xấu Đây cũng là vấn đề nóng mà ngành ngân hàng cũng như toàn xã hội đang quan tâm và tìm hướng giải quyết để khai thông nền kinh tế Xuất phát từ vấn đề đặt ra mang tính cấp bách này cũng như tình hình thực tế
tại ngân hàng VIB – Nơi tác giả đang công tác Tác giả xin chọn đề tài : “Quản trị rủi
ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam” làm luận văn nghiên cứu của
mình
1.2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Thực tế, rủi ro tín dụng đang là vấn đề cấp bách mà ngành ngân hàng cũng như xã hội quan tâm nhiều nhất hiện nay Nguyên nhân chính của rủi ro tín dụng phần lớn là do công tác quản trị rủi ro chưa được các NHTM quan tâm đúng mức trong thời gian qua
nghiên cứu trong và ngoài nước có nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu và nhìn nhận thấy như sau :
Trang 14- Nghiên cứu nước ngoài: Ngoài một số mô hình định tính, định lượng được sử dụng phổ biến thì mô hình Lôgit được dùng khá nhiều trong các đề tài nghiên cứu về
“phân tích các nhân tố tác động” trong các lĩnh vực kinh tế, tài chính ngân hàng và chủ yếu là trong quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng Bằng việc sử dụng mô hình xác suất
năng trả nợ của người vay…
về đề tài“Quản trị rủi ro tín dụng”theo phương pháp định tính thì cũng có khá nhiều
nghiên cứu, các bài viết của các chuyên đề kinh tế, tài chính ngân hàng…, trên các tạp
để phân tích các nhân tố tác động Riêng đối với nghiên cứu“ phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng” thì mô hình Lôgit được sử dụng khá nhiều
Trên cơ sở tham khảo từ các nghiên cứu liên quan nêu trên, tình hình thực tế tại
hướng dẫn Tác giả chọn hướng nghiên cứu cho đề tài:“Quản trị rủi ro tín dụng tại
Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam” theo hướng định tính kết hợp định lượng, trong
đó có sử dụng mô hình xác suất Lôgit để phân tích thêm các nhân tố tác động đến rủi ro tín dụng tại ngân hàng VIB Đề tài của tác giả viết trên cơ sở chính từ các nghiên cứu liên quan trước đây và cũng tạo nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo
1.3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu
Trang 15Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
1.4 Phạm vi, đối tượng
Đối tượng nghiên cứu: Rủi ro tín dụng và Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn giới hạn việc nghiên cứu thực trạng rủi ro tín dụng
và công tác quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam giai đoạn từ năm 2009 đến 2013 Riêng đối với công tác thu thập thông tin số liệu để thực hiện cho nghiên cứu định tính, định lượng thì thực hiện ở khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá nhân trong phạm vi toàn hệ thống của ngân hàng VIB trong giai đoạn năm 2009 – 2013
1.5 Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu
1.5.1 P hương pháp nghiên cứu
sở số liệu thứ cấp từ các báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh… của ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam giai đoạn 2009 -2013
động đến rủi ro tín dụng tại VIB
rủi ro tín dụng.Từ đó đúc kết được những thông tin xác thực và trọng yếu là cơ sở nghiên cứu của đề tài
Trang 161.5.2 Dữ liệu nghiên cứu sau :
D ữ liệu cho phương pháp định lượng
hồ sơ tín dụng của khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá nhân của VIB đang vay vốn trên toàn hệ thống VIB
chọn thời gian như vậy nhằm đảm bảo rằng :
+ Tất cả các khoảnvay đã phát sinh kỳ hạn trả nợ, như vậy mới đánh giá được chất lượng của khoản vay một cách chính xác
+ Tất cả các khoản vay đều đảm bảo bao gồm cả ngắn hạn, trung dài hạn
D ữ liệu cho phương pháp định tính
đoạn năm 2009 – 2013 để thực hiện phương pháp định tính
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Thông qua việc phân tích thực trạng rủi ro tín dụng và đánh giá tình hình quản trị rủi ro tín dụng thực tế tại VIB; Kết quả từ việc sử dụng mô hình xác suất Lôgit trong việc phân tích các nhân tố tác động đến rủi ro tín dụng tại VIB Nghiên cứu của tác giả
đã đưa được các nhân tố tác động đến rủi ro tín dụng tại VIB; Sự cần thiết phải có một phương pháp quản trị rủi ro tín dụng đúng đắn đối với ngân hàng VIB nói riêng và hệ thống các ngân hàng TMCP nói chung nhằm hạn chế, ngăn chặn những tổn thất có thể xảy ra cho hoạt động tín dụng của ngân hàng.Từ đó đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm hạn chế rủi ro tín dụng cũng như hoàn thiện mô hình quản trị rủi ro tín dụngtại VIB Khuyến nghị các nghiên cứu trong tương lai tiếp tục sử dụng mô hình xác suất(Lôgit) để thực hiện việc phân tích các nhân tố tác động đến rủi ro tín dụng ở các ngân hàng TMCP khác
Trang 171.7 Bố cục của nghiên cứu
Bố cục của luận văn gồm5 chương
Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu
Chương 2: Tổng quan cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng Chương 3: Mô hình nghiên cứu
Chương 4: Kiểm định mô hình nghiên cứu
Chương 5: Đề xuất giải pháp và kiến nghị
Kết luận chương 1
Chương một của luận văn đã giới thiệu một cách tổng quát về tình hình nghiên cứu, phương pháp thực hiện luận văn,cụ thể như: Nêu rõ được tính cấp thiết của đề tài hiện
pháp nghiên cứu của đề tài Sau phần giới thiệu này của chương sẽ là những phần đi vào
cụ thể đến từng vấn đề đã được nêu trên để tạo nên một luận văn hoàn chỉnh
Trang 18CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Tổng quan lý luận về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng
2.1 1 Tín dụng và rủi ro tíndụng
2.1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với tất cả các cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp khác trong xã hội Nó không phải là quan hệ dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu mà là quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua một tổ chức trung gian, đó là ngân hàng Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền
sử dụng vốn và là quan hệ bình đẳng cả hai bên cùng có lợi
2.1.1 2 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng
tệ là loại hình tín dụng phổ biến, linh hoạt và đáp ứng mọi đối tượng trong nền kinh tế quốc dân
lãi hay tín dụng thương mại
nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế vì nó có thể huy động nguồn vốn bằng tiền nhàn rỗi trong xã hội dưới nhiều hình thức và khối lượng lớn
trung hạn và dài hạn do ngân hàng có thể điều chỉnh giữa các nguồn vốn với nhau để đáp ứng nhu cầu về thời hạn vay
Trang 19- Tín dụng ngân hàng có phạm vi lớn vì nguồn vốn bằng tiền là thích hợp với mọi đối tượng trong nền kinh tế, do đó nó có thể cho nhiều đối tượng vay
2.1.1 3 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế
hoạt động kinh doanh luôn có một số người thừa vốn cần đầu tư và một số người thiếu vốn muốn đi vay Song những người này khó có thể trực tiếp gặp nhau, hoặc có thể gặp nhau thì chi phí rất cao và không kịp thời Các ngân hàng thương mại đứng ra làm trung gian nhận tiền gửi từ tất cả các thành phần kinh tế và cho vay lại các đơn vị, cá nhân trong nền kinh tế
hòa vốn trong nền kinh tế
chuyển tiền tệ, điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông và kiểm soát lạm phát: Thông qua hoạt động tín dụng, khối lượng tiền trong lưu thông sẽ tăng lên khi thực hiện hoạt động cho vay và ngược lại, do đó sẽ góp phần điều tiết khối lượng tiền trong toàn bộ nền kinh tế
các hình thức như nhận uỷ thác đầu tư, mở và thanh toán thư tín dụng, bảo lãnh hàng
gia trong quan hệ thanh toán quốc tế, các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, tài trợ cho các hoạt động sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất trong nước thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển nhằm phục vụ tốt cho hoạt động xuất nhập khẩu góp phần tăng trưởng kinh tế và
mở ra sự giao lưu giữa nước ta với các nước khác trên thế giới
2.1.2 Phân loại tín dụng ngân hàng
Việc phân loại tín dụng dựa trên một số tiêu thức nhất định tùy theo yêu cầu của khách hàng và mục tiêu quản lý của ngân hàng Sau đây là một số cách phân loại chủ yếu:
Trang 202.1 2.1 Căn cứ vào thời hạn tín dụng
Phân chia theo thời gian cho vay có 3 loại:
bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân
tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ với thời gian thu hồi vốn nhanh
đầu tư dài hạn như xây dựng nhà ở, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn
2.1 2.2 Căn cứ vào hình thức tín dụng
Dựa vào tiêu chí này tín dụng bao gồm chiết khấu, cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức cấp tín dụng khác, trong đó:
trị của một giấy nợ trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sở hữu một giấy nợ chưa đến hạn
dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi, bao gồm các loại sau:
thanh toán của mình đến một giới hạn và trong khoảng thời gian xác định Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi
có nhu cầu vay thường xuyên
cho khách hàng hạn mức tín dụng Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản
Trang 21- Cho vay luân chuyển: là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hóa Ngân hàng cho doanh nghiệp vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi bán hàng
trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận
hiện các nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết Phân theo mục tiêu có các loại bảo lãnh như sau:
việc trả tiền phạt thay cho bên dự thầu nếu bên dự thầu vi phạm các quy định dự thầu
thay khách hàng nếu khách hàng không thực hiện đầy đủ hợp đồng như cam kết, gây tổn thất cho bên thứ ba
trước cho bên thụ hưởng bảo lãnh nếu bên được bảo lãnh không trả
dụng, các cá nhân…) về việc sẽ trả gốc lãi đúng hạn nếu khách hàng (người đi vay) không trả được
đúng hợp đồng kinh tế cho người thụ hưởng nếu khách hàng của ngân hàng không thanh toán đủ
hạn sao cho ngân hàng phải thu gần đủ (hoặc thu đủ) giá trị của tài sản cho thuê và có lãi Hết hạn thuê, khách hàng có thể mua lại tài sản đó
2.1 2.3 Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng, có 2 loại
tài sản (của bên vay hoặc bên thứ ba) Sự bảo đảm này là biện pháp đảm bảo cho ngân hàng có được nguồn thu nợ thứ hai khi khách hàng không có hoặc không đủ khả năng
Trang 22hoàn trả nợ đúng hạn
khả năng tài chính lành mạnh của khách hàng hoặc được bảo lãnh bằng uy tín của bên thứ ba
2.1 2.4 Phân loại theo rủi ro
Cách phân loại này giúp ngân hàng thường xuyên đánh giá lại tính an toàn của các khoản tín dụng, trích lập dự phòng tổn thất kịp thời, được phân loại thành 5 nhóm theo quyết Số: 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước:
Tổ chức tín dụng thực hiện phân loại nợ theo năm (05) nhóm như sau:
đủ cả gốc và lãi đúng hạn;
thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại
nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả
nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu)
hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2
đầy đủ theo hợp đồng tín dụng
Trang 23+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu
thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu
được cơ cấu lại lần thứ hai
hoặc đã quá hạn
2.1.3 Rủi ro tín dụng
2.1.3.1 Rủi ro tín dụng
Có rất nhiều khái niệm về rủi ro như:“Rủi ro là sự không chắc chắn mang tính
khách quan về khả năng xảy ra một sự kiện không mong muốn” Như vậy, dù con người
có nhận biết được rủi ro hay không thì nó vẫn tồn tại Hay một khái niệm khác là: “Rủi
ro là sự không chắc chắn về tổn thất” Ở Việt Nam trong từ điển kinh tế học hiện đại,
rủi ro được định nghĩa: “Rủi ro là hoàn cảnh trong đó một sự kiện xẩy ra với một xác
suất nhất định hoặc trong trường hợp quy mô của sự kiện đó có một phân phối xác suất”
khi khách hàng sai hẹn - có nghĩa là khách hàng không thanh toán vốn gốc và lãi theo thoả thuận Rủi ro tín dụng có sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hoặc thanh toán trễ hạn (Bank management, University of South Carolina, The Dryden Press, 1995, pay 107)
Từ các khái niệm trên, chúng ta có thể rút ra các nội dung cơ bản về rủi ro tín dụng như sau:
Trang 24Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng,
biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng
toàn bộ các điều khoản của hợp đồng tín dụng hay không thực hiện đầy đủ như đã thỏa thuận theo các điều khoản của hợp đồng tín dụng
thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng, bao thanh toán và các hình thức cấp tín dụng khác
của ngân hàng
2.1.3.2 Các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rủi ro tín dụng
- Rủi ro tín dụng do nguyên nhân khách quan
Quá trình tự do hóa tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp thường xuyên phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường
- Rủi ro từ môi trường kinh doanh
lực mạnh (về vốn, quy mô, công nghệ, sản phẩm, chất lượng dịch vụ) khiến cho các ngân hàng trong nước gặp phải nguy cơ rủi ro các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn
sẽ bị các ngân hàng nước ngoài thu hút
công nghiệp phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng, chế biến thực phẩm và nguyên liệu), vốn rất nhạy cảm với rủi ro thời tiết và giá cả thế giới, nên dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới biến động xấu
hàng đầu tư vốn cho các doanh nghiệp này Các mặt hàng kim khí điện máy, gạch men, đường cát, vải vóc, quần áo, mỹ phẩm,…là những ví dụ tiêu biểu cho tình hình hàng lậu
ở nước ta
Trang 25+ Sự cạnh tranh và lợi nhuận kỳ vọng đối với các nhà đầu tư làm chuyển dịch vốn
từ ngành này qua ngành khác Việc thiếu quy hoạch và điều tiết hợp lý của Nhà Nước dẫn đến sự gia tăng vốn đầu tư quá mức vào một số ngành, dẫn đến khủng hoảng thừa, lãng phí tài nguyên quốc gia
- R ủi ro do môi trường pháp lý
quá trình hoàn thiện để tiếp cận các chuẩn mực, quy tắc quốc tế Nhiều khi các quy định pháp luật được ban hành dựa trên ý chí chủ quan của cơ quan ban hành thay vì dựa trên các căn cứ khoa học;
Việc thực thi pháp luật để hỗ trợ hoạt động ngân hàng chưa hiệu quả, đặc biệt là trong việc cưỡng chế thu hồi nợ Theo quy định thì trong trường hợp khách hàng không trả được nợ, NHTM có quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ vay Tuy nhiên trên thực tế, các NHTM không thể cưỡng chế buộc khách hàng bàn giao tài sản đảm bảo cho ngân hàng để xử lý nếu khách hàng không hợp tác mà phải xử lý qua con đường tố tụng… dẫn đến tình trạng NHTM không dễ giải quyết được nợ tồn đọng dù có tài sản bảo đảm
+ Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của NHNN:
Hoạt động thanh tra ngân hàng và năng lực cán bộ thanh tra, giám sát chưa theo kịp sự phát triển của hệ thống ngân hàng Nội dung và phương pháp thanh tra, giám sát chậm đổi mới, khả năng kiểm soát thị trường tiền tệ và giám sát rủi ro còn yếu Thanh tra ngân hàng chủ yếu xử lý vụ việc đã phát sinh, ít có khả năng ngăn chặn, cảnh báo phòng ngừa rủi ro và vi phạm Những sai phạm về cho vay, cấp tín dụng ở một số NHTM có thể đã được ngăn chặn nếu bộ máy thanh tra phát hiện và xử lý kịp thời
- R ủi ro do hệ thống thông tin
+ Việt Nam chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ, đáng tin cậy về doanh nghiệp và ngân hàng Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng (CIC) cũng chỉ cung cấp
Trang 26thông tin về tình hình hoạt động tín dụng nhưng chưa phải là cơ quan định mức tín nhiệm doanh nghiệp một cách độc lập và hiệu quả, thông tin cung cấp còn đơn điệu, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu tra cứu thông tin
- R ủi ro do các nguyên nhân từ phía khách hàng vay
doanh của doanh nghiệp;
cụ thể, khả thi Số lượng các doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo ngân hàng để chiếm đoạt tài sản không nhiều Tuy nhiên những vụ việc phát sinh lại hết sức nặng nề, liên quan đến uy tín của các cán bộ, làm ảnh hưởng xấu đến các doanh nghiệp khác
- Khả năng quản lý kinh doanh kém
Khi các doanh nghiệp vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, đa phần
là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít doanh nghiệp nào mạnh dạn đổi mới cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kế toán theo đúng chuẩn mực Quy mô kinh doanh phình ra quá to so với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế
- Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch
Quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao là đặc điểm chung của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam Việc ghi chép các sổ sách kế toán vẫn chưa được các doanh nghiệp tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực Khi cán bộ ngân hàng lập các bản phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do các doanh nghiệp cung cấp, thường thiếu tính thực tế và xác thực Đây cũng là nguyên nhân vì sao ngân hàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản thế chấp như là chỗ dựa cuối cùng để phòng chống rủi
ro tín dụng
- Rủi ro do các nguyên nhân từ phía ngân hàng
Trang 27Ngoài những nguyên nhân xuất phát từ phía người vay, từ môi trường khách quan
có thể gây ra tình trạng rủi ro tín dụng, còn có những nguyên nhân chủ quan từ phía các ngân hàng:
+ Do chính sách tín dụng của ngân hàng không phù hợp với đặc điểm, thực trạng của nền kinh tế và chính sách phát triển kinh tế của Chính Phủ Chính sách tín dụng được hiểu đầy đủ bao gồm định hướng chung trong cho vay, chế độ tín dụng ngắn, trung
ưu tiên, quy trình xét duyệt cho vay quá chú trọng vào mục tiêu lợi nhuận, tăng trưởng,
bỏ qua sự an toàn trong hoạt động kinh doanh Một chính sách không đầy đủ đúng đắn
và thống nhất sẽ tạo ra định hướng lệch lạc cho hoạt động tín dụng, dẫn đến việc cấp tín dụng không đúng đối tượng, tạo kẽ hở cho người sử dụng vốn để gian lận chiếm đoạt vốn bất hợp pháp Cuối cùng là không đem lại hiệu quả kinh tế, nguy cơ rủi ro cao
tiếp gây ra rủi ro tín dụng Do cán bộ tín dụng năng lực thấp, chưa được đào tạo đầy đủ,
ít kinh nghiệm trong ngành nghề mà mình tài trợ, ngoài ra cũng có thể do vấn đề đạo đức không tốt của cán bộ thẩm định như không trung thực, thiếu trách nhiệm, cấu kết với người đi vay để chiếm đoạt vốn của ngân hàng
+ Nguyên nhân thứ ba là do ngân hàng không thực hiện hoặc thực hiên không đầy
đủ khâu bảo đảm tín dụng Như cán bộ thẩm định đánh giá sai giá trị tài sản đảm bảo bao gồm cả giá trị hiện tại và trong tương lai, hoặc lại quá tin tưởng vào tài sản đảm bảo coi đó là “bùa hộ mệnh” cho công tác thu hồi vốn sau này, mà coi nhẹ công tác kiểm tra, đôn đốc, giám sát thực hiện dự án, phòng ngừa rủi ro, không có những biện pháp kịp thời nhằm hạn chế khoản vay có thể dẫn tới nợ quá hạn
+ Các ngân hàng thường đứng trước một mâu thuẫn đòi hỏi sự linh hoạt trong quá trình giải quyết, đó là mở rộng tín dụng để tăng lợi nhuận, đồng thời hạn chế rủi ro tín dụng Nhiều ngân hàng ra sức tăng mức dư nợ tín dụng mà bỏ qua hoặc hạ thấp những tiêu chuẩn cho vay Hay nói một cách khác là ngân hàng chỉ chạy theo số lượng tín dụng
mà không coi trọng chất lượng tín dụng, do đó rất nguy hiểm đối với công tác tín dụng của ngân hàng Để tăng lợi nhuận, ngân hàng cần phải có những biện pháp hạn chế những chi phí không hợp lý nhưng các ngân hàng đã không xác định rõ những chi phí
Trang 28nào đối với mình là không hợp lý và đã loại bỏ những chi phí hợp lý khác làm giảm thấp chất lượng nghiệp vụ, gây ra rủi ro cho hoạt động kinh doanh
+ Một yếu tố luôn ảnh hưởng tới khâu thẩm định của cán bộ tín dụng đó là chất lượng và số lượng thông tin Bởi vì bản thân hoạt động ngân hàng luôn trong tình trạng thông tin không cân xứng, cho nên đòi hỏi công tác thẩm định phải sàng lọc thông tin một cách kỹ càng, chính xác, tránh bỏ sót những dự án hiệu quả cao và tránh nhận những
dự án không có hiệu quả hay hiệu quả thấp Các ngân hàng chưa được cung cấp đầy đủ
và chính xác, mặc dù trung tâm thông tin tín dụng đã được thành lập và đi vào hoạt động nhưng hiệu quả hoạt động chưa cao, chưa cập nhật Trong nhiều trường hợp ngân hàng không nắm được đầy đủ thông tin về quan hệ tín dụng của khách hàng với các tổ chức tín dụng khác nên có thể phán quyết sai lầm khi cho vay
+ Do ngân hàng không thực hiện tốt công tác giám sát tín dụng: Do trình độ nghiệp
vụ của cán bộ tín dụng hạn chế, thiếu thực tế, chỉ dựa trên giấy tờ, số liệu báo cáo của khách hàng Thiếu tinh thần trách nhiệm trong công tác nghiệp vụ, kiểm tra, kiểm soát lấy lệ, hời hợt, chỉ mang tính hình thức, không phản ánh đúng sự thật do chịu áp lực từ cấp trên, từ chính quyền địa phương Một hệ thống kiểm soát lỏng lẻo dễ dẫn đến tình trạng thất thoát vốn, giảm thấp hiệu quả hoạt động kinh doanh
+ Ngoài các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng trên, ngân hàng cũng có thể gặp rủi ro tín dụng do cho vay quá tập trung vào một đối tượng, một khu vực, một ngành nghề cho nên đã hạn chế sự linh hoạt của ngân hàng trước những biến động của thị trường cạnh tranh, gây ra tổn thất cho ngân hàng Có thể do công tác thiết kế sản phẩm tín dụng không phù hợp với nhu cầu và đặc điểm của người vay, hoặc do vẫn còn nặng tính chất quan liêu, quan cách trong hoạt động giao dịch với khách hàng, hoặc có thể do cán bộ ngân hàng vi phạm đạo đức nghề nghiệp, thông đồng với khách hàng, nhận hối
lộ, cố tình làm sai nguyên tắc
- Nguyên nhân rủi ro tín dụng liên quan đến TSĐB tín dụng
+ Sự sụt giảm giá trị của TSBĐ, có thể là do biến động của tình hình giá cả thị trường Đây là tác động mang tầm vĩ mô, mà bản thân các cán bộ thẩm định cần phải đánh giá chính xác giá trị của TSĐB qua các thời kỳ biến động khác nhau, nếu không
Trang 29sẽ dẫn tới tình trạng cấp tín dụng vượt mức so với quy định an toàn trong việc cấp tín dụng
người vay sử dụng TSĐB Các tài sản này luôn chịu tác động của thời gian, của môi trường sản xuất, đòi hỏi công tác kiểm tra giám sát chặt chẽ để hạn chế người vay sử dụng tài sản sai mục đích hoặc sử dụng vượt quá hạn mức cho phép
+ Ngân hàng gặp rủi ro trong quá trình nắm giữ và xử lý TSĐB Do người vay cầm
cố tài sản cho người khác, hoặc có thể do người vay cố tình gây khó khăn trong công tác phát mại TSĐB, khiến cho ngân hàng không thể thu hồi vốn vay, ảnh hưởng đến tình hình hoạt động chung của toàn bộ ngân hàng Khi đó rủi ro không còn trong phạm vi một khoản vay mà lan rộng ra phạm vi của cả bộ máy hoạt động kinh doanh
+ Đối với các trường hợp đối nhân (bảo lãnh): Ngân hàng có thể gặp rủi ro khi người đựoc bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ thanh toán do gặp khó khăn về vấn đề
đó là nguy cơ rủi ro cao
+ Ngoài ra còn có nguyên nhân là do sự không đồng bộ về các văn bản pháp lý có liên quan đến TSĐB, gây khó khăn cho ngân hàng trong trường hợp phát mại TSĐB và
xử lý sự cố, qua đó hạn chế vị thế pháp lý của ngân hàng trong xử lý tài sản
2.1.4 Quản trị rủi ro tín dụng
2.1.4 1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng
Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình nhận dạng, phân tích nhân tố rủi ro, đo lường mức độ rủi ro, trên cơ sở đó lựa chọn triển khai các biện pháp phòng ngừa và quản lý các hoạt động tín dụng nhằm hạn chế và loại trừ rủi ro trong quá trình cấp tín dụng Quản trị rủi ro tín dụng chính là việc xây dựng hệ thống quản lý và các chính sách quản trị rủi ro thích hợp đối với hoạt động tín dụng nhằm tuân thủ các quy định của pháp luật, nhận diện, cảnh báo và đề ra các biện pháp hạn chế sự xuất hiện của rủi ro tín dụng, giảm thiểu những thiệt hại khi chúng phát sinh, đồng thời xác định sự tương quan hợp lý giữa các nguồn lực của ngân hàng với mức độ mạo hiểm có thể khi sử dụng vốn ngân hàng cho nghiệp vụ cấp tín dụng Quản trị rủi ro tốt chính là một nguồn lợi thế
Trang 30cạnh tranh và là một công cụ tạo ra giá trị, cũng góp phần tạo ra các chiến lược kinh doanh hiệu quả hơn
2.1.4.2 Các mô hình đánh giá rủi ro tín dụng
đánh giá khả năng tín dụng Các mô hình này rất đa dạng bao gồm các mô hình phản ánh về mặt định lượng và những mô hình phản ánh về mặt định tính Thông thường các
Mô hình định tính
cần phải trả lời được các câu hỏi căn bản sau: Người vay có thể tín nhiệm không? CBTD biết họ như thế nào? Hợp đồng tín dụng có được ký kết một cách đúng đắn và hợp lệ không? Người xin vay có khả năng hoàn trả nợ vay hay không?
Trong trường hợp khách hàng không trả nợ, liệu ngân hàng có thể thu hồi nợ bằng tài sản, thu nhập của người vay một cách nhanh chóng với chi phí và rủi ro thấp?
vay của ngân hàng một cách lành mạnh Nó không ngừng giúp cho nhà quản lý nhận ra những vấn đề một cách nhanh chóng mà còn có tác dụng kiểm tra thường xuyên xem cán bộ tín dụng có chấp hành đúng chính sách cho vay của ngân hàng hay không Đồng thời tăng cường tính khách quan của công tác tín dụng, kiểm tra tín dụng độc lập giúp nhà quản lý đánh giá toàn bộ tiểm ẩn rủi ro đối với ngân hàng Từ đó đề ra các biện pháp phòng chống cũng như định hướng chính sách quỹ dự trữ bù đắp rủi ro, chiến lược tăng vốn chủ sở hữu của ngân hàng trong tương lai
Hệ thống chỉ tiêu này gồm: Nhóm chỉ tiêu thanh khoản, nhóm chỉ tiêu hoạt động, nhóm chỉ tiêu đòn bẩy, nhóm chỉ tiêu sinh lời
Mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng
Trang 31Mô hình điểm số Z của Giáo Sư Edward I Altman để đo lường rủi ro tín dụng của
ngân hàng trong việc cho vay đối với các doanh nghiệp
Theo mô hình này chúng ta có thể thấy cho điểm tín dụng đối với các doanh nghiệp,
đại lượng Z dùng làm thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro tíndụng đối với người đi
vay trong quá khứ
Từ đó Altman đã xây dựng mô hình điểm như sau:
Z = 1,2 X1 + 1,4X2 + 3,3 X3 + 0,6X4 + 1,0X5 Trong đó:
X1 = Tỷ số Vốn lưu động ròng/ Tổng tài sản
X2 = Tỷ số Lợi nhuận giữ lại/ Tổng tài sản
X3 = Tỷ số Lợi nhuận trước thuế và lãi/ Tổng tài sản
X4 = Tỷ số Trị giá cổ phiếu / Giá trị ghi sổ của nợ dài hạn
X5 = Tỷ số Doanh thu / Tổng tài sản
Trị số Z càng cao, thì xác suất vỡ nợ của người đi vay càng thấp Ngược lại,khi trị
số Z thấp hoặc là một số âm thì đó là căn cứ xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ
nợ cao Theo mô hình cho điểm Z của Altman, bất cứ công ty nào có điểm số thấp hơn
1,81 phải được xếp vào nhóm có nguy cơ rủi ro tín dụng cao
Thực tế mô hình này còn có những hạn chế nhất định như: chỉ phân loại khách
hàng thành hai nhóm, các biến số X không phải là bất biến, mô hình không có đề cập
tới một số nhân tố quan trọng như danh tiếng khách hàng, quan hệ khách hàng với ngân
Đó là mô hình cho điểm khách hàng theo những tiêu chí nhất định Qua các hạng
Trang 32mục cho điểm, ngân hàng sẽ chấm điểm khách hàng từ đó ra quyết định tín dụng
kể thời gian tín dụng của ngân hàng Tuy nhiên nó có nhược điểm là cứng nhắc không điều chỉnh nhanh để thích ứng thay đổi của nền kinh tế
Đây là phương pháp dựa trên các yếu tố thị trường để đánh giá rủi ro tín dụng và phân tích mức chấp nhận rủi ro gắn liền với mức sinh lời của khoản nợ công ty hay khoản vay ngân hàng Với mô hình này chúng ta sẽ đánh giá về rủi ro tín dụng đối với
52T
Mô hình định lượng
định lượng trong đó biến phụ thuộc là biến giả, chỉ nhận hai giá trị là 0 hoặc 1 Mô hình này được ứng dụng rộng rãi trong phân tích kinh tế nói chung và rủi ro tín dụng nói riêng Cụ thể hơn, mô hình này có thể giúp ngân hàng xác định khả năng khách hàng sẽ
có rủi ro tín dụng (biến phụ thuộc) trên cơ sở sử dụng các nhân tố có ảnh hưởng đến khách hàng (biến độc lập)
Trong mô hình này, cấu trúc dữ liệu như sau:
Y= 0 : nếu trả được nợ ( không có rủi ro tín dụng)
Y=1: nếu không trả được nợ (có rủi ro tín dụng)
Trang 33+ Xi là biến độc lập, thể hiện các nhân tố ảnh hưởng đến khách hàng, ví dụ như giới tính, thu thập, tình trạng nhà… đối với khách hàng cá nhân, hoặc ROE, ROA, vốn chủ sở hữu… đối với khách hàng doanh nghiệp
điều cần lưu ý là giá trị của chưa chắc đã thỏa mãn điều kiện do là giá trị ước lượng phụ thuộc vào các biến độc lập
Khi đó, xác suất một khách hàng trả được nợ (tức là xác suất Y = 0) được tính theo công thức sau, trong đó e là hằng số Euler (xấp xỉ 2,718) :
Như vậy, với các nhân tố có ảnh hưởng tới khách hàng được xác định trước (qua
khách hàng đó trả được nợ Với xác suất trả được nợ càng cao thì khách hàng đó càng ít
có rủi ro tín dụng và ngược lại
Mô hình này sử dụng số liệu quá khứ làm dữ liệu đầu vào
Giả sử 1 khoản vay cũ có hai nhóm rủi ro mất vốn (Y=1) và không có rủi ro
rủi ro tín dụng tương ứngXn theo mô hình đường thẳng tuyến tính với công thức : Y =
chế xác suất rủi ro tín dụng dự tính trong khoảng từ 0 đến 1, nhưng nó khác với mô hình
Trang 34trên khi giả thiết rằng xác suất của rủi ro có dạng phân bổ chuẩn (Normal distribution) chứ không phân bổ theo hàm số lôgit Tuy nhiên, khi được nhân với một yếu tố cố định thì giá trị lôgit có thể trở thành giá trị prôbit gần đúng
Cấu trúc dữ liệu cũng tương tự như mô hình Lôgit, mô hình này cũng ước lượng được xác suất trả nợ của một cá nhân
εi ~ N(0,1)
Việc ước lượng các tham số trong mô hình, chúng ta có thể thực hiện được nhờ máy tính bằng sử dụng phần mềm thống kê Sự khác nhau trong giả thiết giữa mô hình Lôgit và Prôbit chủ yếu tập trung ở hàm phân phối của các sai số Tuy nhiên, sự khác biệt giữa Lôgit và Prôbit không đáng kể và không có ý nghĩa về mặt thống kê Charles M.Friel trong nghiên cứu “Linear probability response models: Prôbit and Lôgit” chỉ ra vấn đề này
Mô hình này sử dụng số liệu quá khứ làm dữ liệu đầu vào
Giả sử 1 khoản vay cũ có hai nhóm rủi ro mất vốn (Y=1) và không có rủi ro
rủi ro tín dụng tương ứngXn theo mô hình đường thẳng tuyến tính với công thức : Y =
Trang 352.1.4.3 Đánh giá rủi ro tín dụng
Các chỉ số thường được sử dụng để đánh giá rủi ro tín dụng là:
nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn Ba nhóm nợ này là cơ sở để đo lường chất lượng tín dụng của NHTM Tỷ lệ nợ xấu càng cao thì nợ có vấn đề càng lớn, tuy nhiên không phải khoản nợ xấu nào cũng dẫn đến rủi ro tín dụng vì về mặt định tính có thể có nhưng món nợ nằm trong nhóm này nhưng không phải do đọng vốn cũng không hẳn do mất vốn
quá hạn dài, hoặc những món nợ đánh giá theo định tính có mức rủi ro 100%, như vậy kết quả xử lý thu hồi và qua đánh giá thì nợ nhóm này rất khó thu Với loại này sau khi
đã xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ mà không đủ sẽ phải dùng đến quỹ dự phòng rủi
ro nợ khó đòi để xử lý
+ Tỷ lệ: Quỹ DPRR / Nợ có khả năng mất vốn: Tỷ lệ này phản ánh khả năng chống
đỡ RRTD từ quỹ dự phòng Thông thường thì tỷ lệ này lớn hơn 100% vì riêng nợ nhóm
5 đã phải trích đủ 100% số tiền để đưa vào quỹ DPRR nợ khó đòi Tuy nhiên về mặt lý thuyết chúng ta có thể thấy nếu một NHTM có nợ nhóm 5 quá lớn, giả sử khi đó khả năng tài chính không đủ để trích dự phòng, khi đó sẽ không đủ quỹ dự phòng để xử lý RRTD và NHTM phải đối mặt với nguy cơ phá sản Vì thế chỉ tiêu này càng lớn càng
đảm bảo tính an toàn trong hoạt động kinh doanh của NHTM
Nợ quá hạn (non performing loan - NPL) là khoản nợ mà một phần hoặc toànbộ
nợ gốc và / hoặc lãi đã quá hạn
Tổng dư nợ cho vay là tất cả các khoản cho vay, ứng trước, thấu chi và cho thuê tài chính; Các khoản chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác;
Dư nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn = -
Trang 36Các khoản bao thanh toán; Các hình thức tín dụng khác
Thông thường tổng dư nợ cho vay của ngân hàng được chia thành 3 nhóm:
vay có mức độ rủi ro lớn nhưng có thể mang lại thu nhập cao cho ngân hàng Đây là khoản tín dụng chiếm tỷ trọng thấp trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng
cũng là những khoản tín dụng chiếm tỷ trọng thấp trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng
vừa phải Đây là khoản tín dụng chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng dư nợ cho vay của
ngân hàng
2.1.5 Ph ương pháp quản trị rủi ro tín dụng
2.1.5 1 Xây dựng mô hình quản trị rủi ro tín dụng
xử lý rủi ro; các quy định về trình tự và thẩm quyền của bộ máy cấp tín dụng, bộ máy giám sát và bộ máy xử lý rủi ro
hiện các công việc trong bộ máy cấp tín dụng, quản trị rủi ro và xử lý rủi ro;
dẫn nghiệp vụ liên quan đến hoạt động và quản trị rủi ro tín dụng
hàng, mức độ chịu các loại rủi ro khác nhau và độ phức tạp trong tổ chức của ngân hàng Một mô hình quản trị rủi ro đúng đắn là phải gắn kết được mô hình quản trị rủi ro đó
Trang 372.1.5 2 Xây dựng và thực hiện chính sách quản trị rủi ro tín dụng
gồm: cách thức đánh giá về khả năng trả nợ của khách hàng, chuẩn hóa hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm, phân loại tài sản bảo đảm theo khả năng thu hồi nợ và quản
lý nợ
nhận tài sản bảo đảm tiền vay
cấp tín dụng khác, tránh xảy ra sự cố gây thất thoát tài sản
đối tượng khách hàng, tính chất rủi ro của khoản nợ của tổ chức tín dụng
trị rủi ro; trong đó đặc biệt chú trọng việc xây dựng chính sách khách hàng vay vốn, sổ tay tín dụng, quy định về đánh giá, xếp hạng khách hàng vay, đánh giá chất lượng tín dụng và xử lý các khoản nợ xấu
2.1.5 3 Tuân thủ những nguyên tắc tín dụng thận trọng
chính, chiết khấu, và bảo đảm tiền vay
tài trợ
với một khách hàng hoặc một ngành, lĩnh vực kinh tế có rủi ro cao
các hạn mức cho vay đối với khách hàng hay nhóm khách hàng vay, ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn cho vay
cho vay với thời hạn của nguồn vốn huy động
Trang 38các nguyên tắc dự phòng khác nhau dựa theo việc phân loại nợ vay có khả năng gây tổn thất ở mức độ khác nhau Phải có chính sách tín dụng hợp lý và duy trì các khoản dự phòng để đối phó với rủi ro
hiểm chuyên nghiệp
2.1.5.4 Kiểm tra, giám sát
cho vay, trong khi cho vay và sau khi cho vay
giám sát khả năng trả nợ và có hệ thống báo cáo định kỳ
2.1.5.5 Quản trị rủi ro tín dụng bằng biện pháp xử lý nợ
các khoản nợ có vấn đề và phải có biện pháp hữu hiệu để xử lý các khoản nợ có nguy
cơ chuyển thành nợ quá hạn, nợ xấu nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các tổn thất khi xảy ra rủi ro
thu hồi các khoản nợ không được thanh toán đúng hạn, do đó ngân hàng cần có quy định, quy trình chuẩn hóa công việc; Mỗi cán bộ nhân viên thực hiện công việc cấp tín dụng cũng là một nhân viên xử lý nợ, ngoài ra ngân hàng cần có bộ phận chuyên môn độc lập để thực hiện việc xử lý các khoản nợ có vấn đề
kiên quyết, đúng pháp luật để thu hồi nợ vay, kể cả việc xử lý tài sản thế chấp, cầm cố hoặc khởi kiện
2.1.6 Mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam
Mô hình quản trị rủi ro tín dụng phản ánh một cách hệ thống các vấn đề về cơ chế, chính sách, quy trình nghiệp vụ nhằm thiết lập các giới hạn hoạt động an toàn và các chốt kiểm soát rủi ro trong một quy trình thực hiện nghiệp vụ; Các công cụ đo lường, phát hiện rủi ro; Các hoạt động giám sát sự tuân thủ và nhận diện kịp thời các loại rủi
Trang 39ro mới phát sinh và các phương án, biện pháp chủ động phòng ngừa, đối phó một khi
có rủi ro xảy ra
Hiện nay ở Việt Nam đang có hai mô hình phổ biến được áp dụng Đó là mô hình quản trị rủi ro tín dụng tập trung và mô hình quản trị rủi ro tín dụng phân tán
2.1.6 1 Mô hình quản trị rủi ro tín dụng tập trung
Mô hình này có sự tách biệt một cách độc lập giữa ba chức năng: Quản trị rủi ro, kinh doanh và tác nghiệp Sự tách biệt giữa ba chức năng nhằm mục tiêu hàng đầu là giảm thiểu rủi ro ở mức thấp nhất đồng thời phát huy được tối đa kỹ năng chuyên môn của từng vị trí cán bộ làm công tác tín dụng
+ Xây dựng chính sách quản trị rủi ro thống nhất cho toàn hệ thống thích hợp với ngân hàng quy mô lớn
- Điểm yếu:
nhiều công sức và thời gian
tiễn
2.1.6 2 Mô hình quản trị rủi ro tín dụng phân tán
Mô hình này chưa có sự tách bạch giữa chức năng quản trị rủi ro, kinh doanh và tác nghiệp Trong đó, phòng tín dụng của ngân hàng thực hiện đầy đủ ba chức năng và chịu trách nhiệm đối với mọi khâu chuẩn bị cho một khoản vay
Trang 40- Điểm mạnh:
- Điểm yếu:
nhánh báo cáo lên hoặc quản lý gián tiếp thông qua chính sách tín dụng
2.2 Các nghiên cứu trước đây liên quan đến việc sử dụng mô hình xác suất
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
trên thế giới và Việt Nam Tuy nhiên việc ứng dụng mô hình này chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế,tín dụng ngân hàng và cụ thể như sau :
có TSBĐ với khả năng trả nợ của khách hàng doanh nghiệp tại ProCreditBank của Georgia từ năm 2004 - 2007, tác giả sử dụng một mô hình Lôgit, với tài sản bảo đảm như là một biến phụ thuộc Mô hình giải thích mối quan hệ giữa tỷ lệ rủi ro tín dụng (thay cho khả năng trả nợ của KHDN) và các khoản vay có TSBĐ
thức (Multinomial Logistic Regressions Models) để đo lường khả năng trả nợ của khách