1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ý NGHĨA HUYỀN THOẠI mộc THẠCH TIỀN MINH TRONG TIỂU THUYẾT HỒNG lâu MỘNG

17 614 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 177 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ tiểu thuyết đã biểu lộ sự chán ghét cùng cực, lòng phẫn nộ, phản kháng đối với cuộc sống trong thời đại phong kiến, là một tác phẩm hiện thực kiệt xuất phê phán toàn diện xã hội phong

Trang 1

Ket-noi.com diễn đàn công nghê, giáo dục

Ý NGHĨA HUYỀN THOẠI "MỘC THẠCH TIỀN MINH" TRONG TIỂU THUYẾT HỒNG LÂU MỘNG

1.2 Tác phẩm “ Hồng lâu mộng”

1.2.1 Vị trí tác phẩm trong nền văn học Trung Quốc

Hồng lâu mộng (giấc mộng lầu son) còn có tên là Thạch đầu ký (Câu chuyện hòn đá),Kim Lăng thập nhị kim thoa (Mười hai chiếc trâm vàng đất Kim Lăng) là bộ tiểu thuyết hiện thực vĩ đại xuất hiện vào thời Càn Long (cuối thế kỷ 18) Đây là tác phẩm có

ý nghĩa cắm mốc một giai đoạn văn học vì dung lượng đồ sộ, sự thành thục trong phương pháp sáng tác, sự âm vang của những chuyển mình lịch sử mà nó mang đến cho người đọc

Đầu niên hiệu Gia Khánh, Hồng lâu mộng đã trở nên nổi tiếng khắp cả nước, người ta tranh nhau mua đọc, thậm chí còn có câu “Khai đàm bất thuyết Hồng lâu

mộng, độc tận thi thư diệc uổng nhiên” (Mở đầu câu chuyện mà không nói Hồng lâu mộng thì đọc hết thi thư cũng uổng công) Hồng Lâu Mộng là một bức tranh hiện thực rộng lớn về xã hội phong kiến Trung Quốc trên con đường suy tàn Cái vẻ ngoài tôn nghiêm nề nếp không che đậy được thực chất mọt ruỗng của giới thượng lưu sống trong Giả phủ Cuộc sống xa hoa, dâm ô cố hữu của giai cấp bóc lột và những mối quan hệ tàn nhẫn giữa họ với nhau đã đưa Giả phủ vào con đường tàn tạ không cứu vãn được Đó chính là hình ảnh thu nhỏ của xã hội Trung Quốc đời Thanh Cái cảm giác "cây đổ vượn tan", "chim mỏi về rừng" đã chi phối ngòi bút Tào Tuyết Cần, chứng tỏ ông là nhà

văn hiện thựcbáo hiệu buổi hoàng hôn của chế độ phong kiến Với nhãn quan của một người dân chủ, nhà văn còn nhìn thấy những con người mới mang tư tưởng phản truyền thống Giả Bảo Ngọc, Lâm Đại Ngọc chính là những đứa con "bất hiếu" của gia đình mình, họ chống quan niệm trọng nam khinh nữ truyền thống, chán ghét khoa cử công danh, theo đuổi một cuộc sống tự do, chống lại khuôn phép ràng buộc Họ yêu nhau vì phản nghịch, càng phản nghịch họ càng yêu nhau Đó là hồi âm của cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, giữa tư tưởng dân chủ sơ khai và tư tưởng phong kiến

Hồng lâu mộng được xếp vào hàng một trong Tứ đại kì thư Trung Hoa gồm Hồng lâu mộng, Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Tây du kí của Ngô Thừa Ân và Thủy

Hử của Thi Nại Am, được đánh giá là "tuyệt thế kì thư" (pho sách lạ nhất đời), thật sự phản ánh toàn diện và sâu sắc gương mặt văn hoá Trung Hoa

Sự truyền bá rộng rãi của cuốn tiểu thuyết này đã dẫn đến việc ra đời một ngành học lấy tên là Hồng học Giới nghiên cứu tổ chức định kì Hội thảo Hồng lâu mộng có quy mô toàn quốc Sở nghiên cứu Hồng lâu mộng có tạp chí chuyên san để đăng tải những nghiên cứu về Hồng lâu mộng Hồng học ngày nay đã trở thành một ngành học vấn ở phạm vi quốc tế Trên thế giới chỉ có nhà soạn kịch vĩ đại Shakespeare là cũng có vinh dự này

Lỗ Tấn cũng nhận xét:“Điểm khác biệt của Hồng lâu mộng với các cuốn tiểu thuyết trước đây là dám tả thật không che đậy Bởi vậy, các nhân vật được miêu tả ở đây đều là những con người thật Nói chung sau khi Hồng lâu mộng ra đời, cách viết và cách

tư duy truyền thống đã hoàn toàn bị phá vỡ ”

Nhà Hán học Xô Viết nổi tiếng, viện sĩ N.S.Konrad đánh giá Hồng lâu mộng như sau: “Tiểu thuyết Hồng lâu mộng là một tác phẩm hiện thực chủ nghĩa tiêu biểu Đó là một bức tranh vĩ đại về quy mô cũng như về ý nghĩa của cuộc sống xã hội Trung Quốc thế kỉ XVIII”

Trang 2

Cuốn Lịch sử văn học Trung Quốc, tập 2 thì khẳng định: “Thành tựu to lớn của Hồng lâu mộng trước hết ở tài xây dựng nhân vật, và xây dựng rất nhiều nhân vật cùng một lúc Những nhân vật đó sống động, có máu thịt, có cá tính rõ nét Có một số nhân vật nhà văn chỉ phác hoạ sơ qua vài nét nhưng cũng để lại ấn tượng sâu sắc cho người đọc Đáng chú ý là, trong Hồng lâu mộng, Tào Tuyết Cần miêu tả nhiều nhất là phụ nữ,

mà chủ yếu lại là những thiếu nữ giống nhau hoặc na ná như nhau về độ tuổi, hoàn cảnh sống, cách sống Rõ ràng điều đó làm cho việc miêu tả gặp rất nhiều khó khăn Nhưng Tào Tuyết Cần không những có thể miêu tả được hết sức rõ ràng cá tính của từng người,

mà đến cả những tính cách gần giống nhau chỉ khác ở những nét đặc trưng hết sức tinh tế, cũng được ông khắc hoạ rõ ràng tỉ mỉ ”

Vào khoảng tháng 10 năm 1954, từ bức thư của Mao Trạch Đông, một cuộc tranh luận về giá trị cách mạng của những tác phẩm văn học cổ điển đã lan ra khắp đất nước Trung Quốc Mao Trạch Đông đã đọc nhiều lần Hồng Lâu Mộng và những công trình nghiên cứu về tác phẩm này Cuối cùng ông đưa ra một kết luận thật bất ngờ: “Mỗi người nên đọc cuốn tiểu thuyết này 5 lần trước khi muốn đưa ra bất kì một nhận xét gì về nó Dẫu đã từng được cày nát qua nhiều thế kỉ, cuốn sách với hơn 600 nhân vật độc đáo và đa dạng Hồng Lâu Mộng vẫn là một kho chứa nhiều điều bí ẩn”

1.2.3 Giá trị tác phẩm

a Nội dung

Hồng lâu mộng không chỉ có giá trị ở văn hay, ở cốt truyện tình éo le, gay cấn, ở lối miêu

tả tinh vi mà còn ở việc đã phản ánh được một cách trung thực xã hội Trung Hoa hồi thế

kỷ 17 – 18, đã nói lên được tiếng nói đau thương của một lớp thanh niên nam nữ đương thời và vạch ra được chiều hướng tan rã tất yếu của chế độ gia đình khắc nghiệt của xã hội mục nát đời Mãn Thanh

Có thể nói: “Hồng lâu mộng chủ yếu là viết về một chuyện tình duyên bi thảm Bộ sách lấy chuyện yêu đương làm trung tâm, liên hệ với bối cảnh xã hội rộng rãi, vạch trần cuộc sống xấu xa , hoang dâm của giai cấp thống trị phong kiến và từ đó vạch cho ta thấy vận mệnh lịch sử của xã hội phong kiến tất phải đi đến chỗ sụp đỗ Hồng lâu mộng phản ánh một cách phức tạp, lắt léo nhiều hiện tượng xã hội quan trọng của thời kì lịch sử ấy, không phải chỉ thông qua bi kịch tình yêu mà còn thông qua quá trình thịnh suy của một đại gia đình quý tộc” (Lịch sử Văn học Trung Quốc, tập 2, NXB Giáo dục) Hồng lâu mộng vạch trần bộ mặt xấu xa, đen tối của xã hội phong kiến sắp đến hồi suy tàn dưới mọi hình thức dù là trực tiếp hay gián tiếp Trong cuộc sống sinh hoạt bình thường của nhà họ Giả, Tào Tuyết Cần đã vạch ra những ý nghĩa khác thường Bộ tiểu thuyết đã biểu

lộ sự chán ghét cùng cực, lòng phẫn nộ, phản kháng đối với cuộc sống trong thời đại phong kiến, là một tác phẩm hiện thực kiệt xuất phê phán toàn diện xã hội phong kiến

Từ pháp lệnh chế độ, đạo đức pháp luật, văn hóa giáo dục, tôn giáo tín ngưỡng, tư tưởng quan niệm, phong tục, tập quán,…tất cả đều được đề cập đến rộng rãi và sâu sắc Ông đã phê phán chúng theo tinh thần hiện thực chủ nghĩa Trong Hồng lâu mộng ta bắt gặp sự phá vỡ hoàn toàn giới hạn tư tưởng lấy đạo đức phong kiến làm tiêu chuẩn cho tình yêu, lấy vinh dự phong kiến làm lí tưởng hạnh phúc của tình yêu Hòng lâu mộng thể hiện sâu sắc rằng tấn bi khịch tình yêu của Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc không phải do nhân tố ngẫu nhiên nào gây ra mà do chính xã hội phong kiến Trung Quốc thế kỉ XVIII vùi dập tình yêu ấy Đây cũng là bi kịch của những tính cách, của thời đại, bi kịch của lực lượng chống phong kiến còn chưa địch nổi thế lực hủ bại thủ cựu còn lớn mạnh kia Ngoài chủ

Trang 3

chính trị và xã hội phong phú Thông qua tình yêu, ông đã đề cập sâu sắc đến nhiều vấn

đề xã hội trọng đại và hoàn chỉnh

Trong lịch sử văn học Trung Quốc, rất ít tác phẩm có khả năng như Hồng lâu mộng, vạch trần được toàn bộ sự thối nát của xã hội phong kiến về mặt cơ cấu xã hội với một tầm rộng lớn đến vậy

b Nghệ thuật

Tào Tuyết Cần một mặt kế thừa kinh nghiệm sáng tác của các tác gia thời đại trước, mặt khác mở đường và sáng tạo thêm, đưa nghệ thuật sáng tác cổ điển lên đến đỉnh cao nhất

Thành tựu to lớn ở nghệ thuật của Hồng lâu mộng còn thể hiện ở chỗ tác giả có tài phản ánh đời sống mà không để lại tí dấu vết nhân tạo nào: tự nhiên, không tô vẽ Mọi thứ đều sinh động, dồi dào sức sống, phức tạp, rối rắm và muôn màu muôn vẻ nhưng lại trong sáng và rõ ràng Đặc điểm về mặt sáng tác của Hồng lâu mộng là chủ nghĩa hiện thực nghiêm ngặt Bộ tiểu thuyết sở dĩ tự nhiên đến mức hầu như không thấy được dấu vết tô

vẽ gì là có quan hệ mật thiết với đặc điểm ấy khi miêu tả, tác giả đã phản ánh tỉ mỉ sâu sắc nhưng lại khái quát cao độ bộ mặt chân thực của cuộc sống Kết cấu nghệ thuật cũng rất tài tình Mỗi tình tiết, chương, đoạn phát triển đều như một dòng nước uốn lượn, ta chỉ gặp sự lưu loát chứ không hề thấy chắp vá, gắng gượng Cuộc sống ấy gắn bó thành một chỉnh thể y như cuộc sống thực tế.Đằng sau những xô bồ, rối rắm đan xen đều có ngọn nguồn và những đường dây nối liền, những mạch ngầm,…Bộ tiểu thuyết đầu đuôi ăn khớp, mọi mặt đều liên quan với nhau Dưới ngòi bút của Tào Tuyết Cần, các tình tiết, các mẫu chuyện đều được biến thành những bộ phận phức tạp của một cỉnh thể, chúng đan cài vào nhau, ẩn hiện trong tác phẩm Đồng thời những tình tiết và nhân vật đó không ngừng được mở rộng ra làm phong phú, sâu sắc thêm và vận động theo một hướng

chung

Kết cấu của Hồng lâu mộng diễn ra theo trình tự phát triển tự nhiên của thời gian,

sự việc xảy ra tuần tự từ đầu đến cuối và không bị đứt quãng như một đường thẳng Đó cũng là điểm mạnh của tiểu thuyết chương hồi nói chung Lấy cuộc sống hằng ngày làm đối tượng miêu tả, các nhân vật, tình tiết được Tào Tuyết Cần xây dựng nên như những gì

có thực ngoài đời Trong thế giới ấy, nhân vật vừa là một cá thể độc lập rất riêng biệt nhưng cũng mang nét chung cho kiểu người Tính chương hồi trong kết cấu không còn là một trở lực, mà mang một điểm nhấn riêng Tiểu thuyết vừa có tính cổ điển trong tiểu thuyết chương hồi, đồng thời xuất hiện sự phá vỡ kết cấu truyền thống bằng việc viết lại câu chuyện đời thường

Xét về mặt ngôn ngữ, Hồng lâu mộng đã kế thừa xuất sắc truyền thống tố đẹp của tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc và lại vượt hơn hẳn bất cứ tác phẩm nào trước đó Đặc sắc của ngôn ngữ thể hiện chủ yếu ở sự điêu luyện, tự nhiên và giàu sức biểu hiện Trong

đó, ngôn ngữ nhân vật chiếm phần lớn Rất nhiều đoạn hầu hết là đối thoại của nhân vật, tác giả chỉ miêu tả hoặc thuật chuyện hết sức gọn ghẽ để nối lại với nhau Ở đây, ngôn ngữ nhân vật hết sức phong phú, thay đổi luôn luôn Những lời lẽ đó hoặc dài - ngắn, hoặc thanh- thô đều hợp với giọng từng người Qua những nôn từ đó, ta dường như thấy được thá độ, hình dáng, cử chỉ của mỗi nhân vật Táo Tuyết Cần đặc biệt sành dùng những lời đối thoại trong cuộc sống hằng ngày không cần tô vẽ, thêm bớt gì cả- những lời nói sinh hoạt thông thường trong gia đình tưởng như khó mà đưa vào nghệ thuật, để cho

Trang 4

nhân vật dẫn dắt chúng ta đi vào thế giới nội tâm của họ và những chỗ sâu kín của cuộc đời Bởi vậy về mặt thể hiện ngôn ngữ nhân vật, bên cạnh Thủy hử thì Hồng lâu mộng đã trở thành tác phẩm mẫu mực nhất trong tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc

Trong tác phẩm Hồng lâu mộng Tào Tuyết Cần đã xây dựng nhiều cặp không gian đối lập, tương phản nhau.Cặp không gian rộng và hẹp: Thông qua hình ảnh ở vườn Đại Quan, trong phủ Vinh quốc và sự thăng trầm, thịnh suy của gia tộc họ Gỉa tác giả ngầm phản ánh khoảng không gian rộng lớn hơn đó là khung cảnh lịch sự của thời đại, sự suy tàn của chế độ phong kiến cổ hủ, khắt khe, giáo điều Xét về bên trong- bên

ngoài:Khung cảnh bên trong dãy tường bao chiếm mất nửa phố của phủ Vinh quốc là những bữa tiệc linh đình, sa hoa của những con người giàu sang quyền quý với gấm vóc lụa là, với vàng bạc châu báu dựa vào sự bóc lột địa tô còn bên ngoài là tầng lớp dân đen với sự khổ cực trên thân xác và tinh thần, cuộc sống của họ luôn phải đối mặt với thiên nhiên khắc nghiệt với lũ lụt, với hạn hán, với trôm cướp Khung cảnh náo nức, ồn ào với sự tĩnh lặng, cô đơn: Đó là hình ảnh những người trong phủ tham gia tiệc tùng nơi vườn Đại Quan với sự ồn ào, náo nhiệt, còn Lâm Đại Ngọc ở Quán Tiêu Tương mang tâm trạng buồn man mác và những dòng suy nghĩ miên man Khung cảnh của sự thịnh vượng và lúc tàn lụi: Nếu như ở phần đầu và phần giữa của tác phẩm là sự hưng thịnh của gia tộc họ Giả với những cảnh đẹp, những bữa tiệc ồn ào, náo nhiệt thì về cuối là một khung cảnh của sự chia li, tang thương, hoang vắng,trầm tư Việc tạo ra nhiều cặp không gian mang hình ảnh trái ngược nhau chính là một thành công trong thủ pháp nghệ thuật của tác giả, cuộc sống muôn màu muôn vẻ, và nó là một vòng tuần hoàn nhân quả, hợp rồi tan,có thịnh ắt sẽ có lúc suy, có tiếng cười tất sẽ có nước mắt, có hạnh phúc tất phải có niềm đau, mọi sự vật, sự việc đều vận động và biến đổi theo quy luật đó, không có gì là mãi mãi, không có gì là bất biến Thời gian trong Hồng lâu mộng chủ yếu là thời gian trực tiếp, các nhân vật được tác giả miêu tả qua cuộc sống và những sinh hoạt hằng ngày Hầu hết những nhân vật xuất hiện trong tác phẩm đều chưa đi hết một vòng tuần hoàn của đời người là “sinh-lão-bệnh-tử” nhưng thời gian thì đã đi hết vòng xoay tuần hoàn của nó, sự hưng thịnh rồi tàn lụi của gia tộc họ Giả chính là minh chứng rõ ràng cho điều

đó Hầu như thời gian không bị xáo trộn mà tuôn chảy một mạch từ đầu tới cuối tác phẩm như một dòng sông phẳng lặng tuôn ra biển Đông Nhìn tổng quát cả tác phẩm chúng ta thấy rằng thời gian và không gian trong tác phẩm khá đồng điệu với nhau Gắn với

khoảng không gian hẹp trong phủ Vinh quốc và sự thăng trầm của gia tộc họ Giả thì có thể nói thời gian hẹp chính là cuộc đời của mỗi con người, mỗi cá thể nhưng xét trong khoảng không gian rộng với hình ảnh xã hội phong kiến Trung Quốc đang suy tàn thì đó lại là một khoảng thời gian, một quá trình lâu dài, một vòng tuần hoàn đầy đủ theo trình

tự và quy luật của thời gian Tất cả những nét nghệ thuật đặc sắc trên đã góp phần tạo nên giá trị tác phẩm - Hồng lâu mộng- sống cùng với thời gian

2 Ý NGHĨA HUYỀN THOẠI "MỘC THẠCH TIỀN MINH" TRONG TIỂU

THUYẾT HỒNG LÂU MỘNG.

2.1 Huyền thoại là gì?

Huyền thoại: câu chuyện không có thật, mang vẻ thần bí, kì lạ, hoàn toàn do tưởng tượng câu chuyện huyền thoại

2.2 Nguồn gốc huyền thoại "Mộc thạch tiền minh"

2.2.1 Huyền thoại "Mộc thạch tiền minh" trong huyền thoại của văn học Trung Quốc

Trang 5

Nói đến nguồn gốc của huyền thoại “Mộc thạch tiền minh”, trước tiên phải nói đến nguồn gốc giữa con người với đá Kể từ khi con người xuất hiện đến nay, thì luôn có đồ đá làm bạn, đá trở thành công cụ sản xuất sớm nhất của con người Trong lịch sử con người dài dằng dặc, không có bất cứ vật chất nào như đá luôn ở bên cạnh con người, cũng không có bất cứ vật chất nào như đá lắng đọng vào tiềm thức của con người sâu như vậy Vì vậy, con người dĩ nhiên nảy sinh tình cảm nương tựa vào đá và coi đá là vật tổ dùng để đeo cổ hoặc tay

Dân tộc Trung Hoa từ xưa đã coi đá có linh hồn, sùng bái đá linh thiêng, và trong dân gian lưu truyền nhiều câu chuyện thần thoại liên quan tới đá Trong 4 bộ tiểu thuyết cổ điển nổi tiếng nhất Trung Quốc, có 2 bộ tiểu thuyết trong đó đều có nội dung về "sùng bái đá linh thiêng" Tôn Ngộ Không trong tiểu thuyết "Tây Du Ký" sinh ra từ một hòn đá, còn tiểu thuyết "Hồng Lâu Mộng" vốn có tên là "Thạch Đầu Ký", trong phần mở đầu tiểu thuyết là câu chuyện thần kỳ về Nữ Oa luyện đá vá trời Cả bộ tiểu thuyết lấy "hòn đá" (Giả Bảo Ngọc) làm vai chính, kể lại bi kịch tình yêu giữa Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc với "Mộc thạch tiền minh" là đầu mối chính

Tiểu thuyết “Hồng lâu mộng” của Tào Tuyết Cần ban đầu có tên là Thạch đầu kí Thạch đầu ký tức là chuyện Thần Anh đầu thai xuống hạ giới trả nợ tình duyên rồi lại trở về kiếp đá Thạch Đầu Ký thuộc loại tác phẩm chương hồi, là một bộ trường thiên tiểu thuyết Tào Tuyết Cần viết được 80 chương, theo các nhà nghiên cứu Trung Quốc, "chữ chữ đều toàn bằng máu và nước mắt" Tác phẩm ấy có thể được xem là toàn bộ những

hồi ức đau thương của công tử Tào Tuyết Cần về những ngày vẻ vang và những ngày suy tàn của gia đình mình, của giai cấp mình Tuy nhiên, vượt lên khỏi những hồi ức

đó, Thạch Đầu Ký là tác phẩm với cái nhìn rất khách quan về bản chất ăn chơi, hưởng thụ

của giai cấp quan lại quý tộc, đặc biệt là quan lại quý tộc triều Thanh và sự suy tàn của giai cấp ấy Nói cách khác, khi xây dựng tác phẩm chương hồi này, Tào Tuyết Cần vừa đứng trên vị thế chủ quan của một người trong cuộc, vừa đứng ở vị thế khách quan của một chứng nhân Mới viết dang dở được 80 chương, Tào Tuyết Cần qua đời

Đến năm 1791, mới có một nhà văn quyết định kế tục và hoàn thành tâm nguyện cho Tào Tuyết Cần theo đúng tâm tư của ông Người đó là Cao Ngạc Ông đã viết thêm 40

chương sau cho Thạch Đầu Ký căn cứ trên nền tảng, ý hướng và văn phong của Tào Tuyết Cần Kết cục không có hậu của tác phẩm được đánh giá là phù hợp với phần đầu của Tào Tuyết Cần Tác phẩm hoàn thành, Cao Ngạc đổi tựa lại là Hồng Lâu Mộng (Giấc

Mơ Lầu Hồng), vừa phù hợp với nội dung tác phẩm, vừa mang dáng dấp của tâm hồn ông

vì hiệu của ông là Hồng Lâu Ngoại Sĩ (người ngoài lầu hồng – không dính dáng gì đến công danh phú quý) Năm 1793, Hồng Lâu Mộng được in ra gồm 120 chương hồi, thực

sự trở thành danh tác văn học cổ điển Trung Quốc, nhanh chóng được nhìn nhận như là một trong những tác phẩm xuất sắc trong hơn 300 tác phẩm chương hồi thuộc hai triều Minh – Thanh

2.2.2 Huyền thoại "Mộc thạch tiền minh" trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng: Thần Anh-Giáng Châu.

Theo huyền thoại mở đầu tác phẩm qua lời của Không Không Đại sư trong mộng ảo của Chân Sỉ Ẩn: Bên bờ sông Linh Hà ở Tây phương, bên cạnh hòn đá Tam Sinh có một cây Giáng Châu được Thần Anh làm chức chầu chực ở cung Xích Hà ngày ngày lấy nước cam lộ tưới bón cho nó mới tươi tốt sống lâu Đã hấp thụ tinh hoa của trời đất, lại được nước cam lộ chăm bón, cây Giáng Châu thoát được hình cây, hóa thành hình người, tu luyện thành người con gái, suốt ngày rong chơi ngoài cõi trời Ly Hận đói thì ăn quả “Mật

Trang 6

Thanh” khát thì uống nước bể “quán sầu” Chỉ vì chưa trả được ơn bón tưới, cho nên trong lòng nó vẫn mắc míu, khi nào cũng cảm thấy như còn vương một mối tình gì đây Gần đây, Thần Anh bị lửa trần rực cháy trong lòng, nhân gặp trời đất thái bình thịnh vượng muốn xuống cõi trần để qua kiếp “ảo duyên”, nên đã đến trước mặt vị tiên Cảnh

ảo ghi sổ Cảnh ảo liền hỏi đến mối tình bón tưới, biết chưa trả xong, muốn nhân đó để kết liễu câu chuyện Nàng Giáng Châu nói: “Chàng ra ơn mưa móc mà ta không có nước

để trả lại Chàng đã xuống trần làm người, ta cũng phải đi theo Ta lấy hết nước mắt của đời ta để trả lại chàng, như thế mới trang trải xong!” Từ đó dẫn ra bao nhiêu oan gia phong lưu đều phải xuống trần để trả duyên nợ, sinh ra bao nhiêu chuyện sau này

2.3 Biểu hiện, diễn tiến của huyền thoại "Mộc thạch tiền minh" trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng.

2.3.1 Hiện thân của Thần Anh - Giả Bảo Ngọc.

2.3.1.1 Giới thiệu nhân vật

“Hồng Lâu Mộng” - giấc mộng lầu son, câu chuyện đã được Tào Tuyết Cần bắt đầu bằng

một huyền thoại về một hòn đá thần và cây Giáng Châu Nữ Oa luyện đá vá trời, bỏ quên một viên đá tại chân núi Thanh Ngạnh Ngày đêm hòn đá mơ ước xuống cõi hồng trần hưởng mọi vinh hoa phú quý của cuộc đời Khi còn ở Xích Hà cung, Thần Anh – hòn đá- thường lấy nước Cam Lồ tưới cho cây Giáng Châu Khi Thần Anh đầu thai xuống trần thế, hóa kiếp làm người, Giáng Châu cũng hóa kiếp làm người, nguyện lấy nước mắt đời mình đền ơn mưa móc Cây Giáng Châu là Lâm Đại Ngọc, hòn đá là Gỉa Bảo Ngọc – Năm trước chàng sinh ở đất Kim Lăng thì năm sau nàng sinh ở đất Cô Tô và gặp nhau ở phủ Vinh sống đến ngày cuối cùng của cuộc đời

Không phải ngẫu nhiên mà khi mới sinh, miệng Bảo Ngọc ngậm viên “Thông linh bảo ngọc” lại có những bậc cao tăng tiên đạo phù hộ Con người có bản tính khác thường,

ngôn ngữ cử chỉ cũng đặc biệt ấy, khi mới xuất hiện đã có cái gì khác người:

“ Quả là giữa đám đồng thau lại nổi lên viên ngọc sáng suốt như ráng trời ban mai, lóng lánh đủ năm màu lại nhẵn mịn như ráng sữa.”

Ở nửa đầu thế kỷ XVIII, trong văn học xuất hiện con người như vậy không phải là hiện tượng bình thường, Nếu loại bỏ những điều linh thiêng, huyền bí, thì nhân vật ấy gợi cho chúng ta nhiều điều đáng suy nghĩ

2.3.1.2 Quan niệm của Giả Bảo Ngọc về con người và cuộc đời.

Mười chín năm sau ngày đổi kiếp xuống trần, Bảo Ngọc thụ hưởng mọi vinh hoa phú quý ở đời Cũng trong mười chín năm sống giữa dinh cơ của gia đình họ Gỉa, Bảo Ngọc nhìn thấy bao nhiều chướng tai gai mắt, tiếp xúc bao cảnh éo le của cuộc đời

Giả Bảo Ngọc cất tiếng chào đời giữa lúc chế độ phong kiến Trung Quốc vào giai đoạn cáo chung, trong lúc xã hội có nhiều chuyển biến lớn lao Cuộc đời của Bảo Ngọc là bài

ca đấu tranh của lực lượng mới trỗi dậy, mang theo tinh thần của chủ nghĩa nhân đạo mới

Gỉa Bảo Ngọc sinh trưởng trong một gia đình “ôn nho phú quý”, gia đình bày sẵn cho

chàng con đường phong quan phát tài Mọi người trong gia đình họ Giả hy vọng Bảo Ngọc sẽ là người nối nghiệp tổ tông làm rạng rỡ cha ông

Giả Chính – thân sinh của Bảo Ngọc lớn lên trong đống “bát cổ văn” Ông ngọt ngào dụ

dỗ, có khi ông mắng chửi thậm tệ buộc Bảo Ngọc phải nghiền ngẫm lời lẽ của thánh hiền, kết giao với những nhân vật chốn quan trường, hòng mai sau lập chút công danh làm thơm tiếng cha mẹ

Trang 7

Gỉa Bảo Ngọc không theo con đường đó, chàng xem kẻ đọc sách là con mọt sách, mọt công danh Nhiều lần Bảo Thoa khuyên chàng lập thân dương danh, chàng trả lời rằng :

-“Một người con gái trong trắng như em mà cũng ham công danh phú quý

như phường một dân hại nước sao?”

Có lần Bảo Ngọc nói với Đại Ngọc :

-“Nhắc tới chuyện đọc sách làm gì? Tôi ghét nhất là cái thứ triết lý ấy…

Buồn cười nhất là văn bát cổ, lấy nó bịp công danh, kiếm cơm ăn, thôi cũng yên chuyện, lại còn rêu rao là phát huy daoaj lý thánh hiền! Nực cười hơn nữa là một lũ người trong bụng rỗng tuếch, cũng cố vơ đông vét tây, nhoioif thành một loại ma trâu thần rắn, còn cho như thế là cao thâm kỳ diệu Đó cũng là một kiểu phát huy đạo lý thánh hiền ư? Nếu nhân vật Vương Miễn trong “Nho lâm ngoại sử” ( chuyện làng nho ) chán cảnh

quan trường để rồi quay lưng lại thời thế, làm kẻ ẩn sĩ giận đời, thì Bảo Ngọc là ngọn giáo xung kích tấn công vào thành trì của chế độ khoa cử Bảo Ngọc ghét tiếp chuyện với bọn quan lại, càng không thích mũ cao áo dài, xúng xính đi mừng đi thăm khắp nơi Theo

chàng, quan lại là “giặc nước”, là “sâu mọt”, Bảo Ngọc chán ngấy lời khuyên của

Tương Vân:

“Dù anh không muốn đỗ cử nhân tiến sĩ, thì cũng nên gặp gỡ những bậc

quan sang, bàn đến bước đường tiến cử để ra gánh vác việc đời, giúp dân giúp nước, nên có bạn bè qua lại, chứ quanh năm anh cứ lẩn quẩn với bọn chị em chúng tôi thì còn được trò trống gì”(Hồi 32)

Bảo Ngọc đối với chị em hết sức lịch sự, nhưng gặp những xung khắc trên tư tưởng, chàng nghiêm khắc đấu tranh, Bảo Ngọc xa Tương Vân gần Ddại Ngọc cũng vì :

“Cô Lâm có bao giờ nói những câu nhảm nhí ấy đâu? Nếu nói đến, tôi đã xa

cô từ lâu rồi.”

Gỉa Bảo Ngọc có một chứng bệnh rất lạ, đó là bệnh “ngây ngô”, không có thầy thuốc nào

có thể chữa khỏi căn bệnh kỳ lạ này Thậm chí Vương phu nhân là Mẹ hiền, Bảo Thoa là người kết tóc xe tơ, Tập Nhân là người hầu trung thành cũng không thể hiểu được căn

bệnh của chàng Bảo Ngọc “ngây ngô” cũng như Tích Xuân luôn ám vào câu “một ngọn đèn xanh trước phật bà” (hồi 5) chính là căn bệnh mà bất kỳ danh y nào cũng đành vô kế

khả thi Chỉ có nhà sư chố đầu và vị hòa thượng khiểng chân mới chữa nổi bệnh của Bảo Ngọc, am Lũng Thúy mới chữa nổi bệnh của Tích Xuân Con người có thái độ khinh miệt quyền quý, chán ghét công danh, nhưng vẫn chưa tìm ra đường đi cho mình mới mắc chứng bệnh nan y như thế

Bảo Ngọc – chàng công tử của gia đình họ Gỉa, hết sức cảm thông những nổi bất hạnh của người phị nữ sống quanh mình Ở đây quan niệm “nam tôn nữ ti”của lễ giáo phong kiến hầu như hoàn toàn mất tác dụng Không phải ngẫu nhiên mà Bảo Ngọc bị cha đánh một trận nên thân sau câu chuyện của Kim Xuyến, Tưởng Ngọc Hàm Chàng còn

nói với Đại Ngọc “Giá vì những người ấy mà chết thì anh cũng cam lòng”.

Tuy sinh trưởng trong gia đình trong gia đình quý tộc, nhưng trên mức độ nhất định chàng hiểu biết những người phụ nữ xung quanh mình là những người thông minh, cao thượng có tâm hồn và ý thức phản kháng Gỉa Bảo Ngọc càng căm ghét miệt thị những người cùng giai cấp mình thì lại càng yêu thương những người phụ nữ lương thiện, trong sạch, chúng ta không ngạc nhiên khi Bảo Ngọc nói:

“Xương thịt của con gái là do nước kết thành, xương thịt của con trai là do bùn kết thành Tôi trông thấy con gái thì tôi nhẹ nhàng, khoan khoái, trông thấy con trai thì như bị phải nơi dơ bẩn vậy”

Trang 8

Trong xã hội phong kiến, phụ nữ là người bị áp bức nặng nề nhất Chế độ

phong kiến phát triển càng hoàn chỉnh bao nhiêu thì người phụ nữ càng bị áp bức nặng nề bấy nhiêu Nhưng dưới cặp mắt của Bảo Ngọc, người phụ nữ không thể là đối tượng bị áp bức, bị làm trò chơi Họ là con người chân chính, có quyền bình đẳng như mọi người

trong xã hội Cũng như trong bài “Táng hoa từ” Lâm Đại Ngọc ví người con gái như một

bông hoa thơm ngát, trong suốt như pha lê, có ý chí kiên cường và cao thượng Bảo Ngọc chia sẻ gánh nặng tinh thần với mọi nỗi khổ đau dằn vặt của người phụ nữ, chàng nâng

niu chiều chuộng họ, vì họ “là do nước kết thành, là khí thiêng của trời đất hun đúc nên”

Bảo Ngọc phá vỡ không thương tiếc mọi thành kiến giai cấp, mọi sự ràng buộc của gia đình Đối với tôi tớ trong nhà chàng giữ thái độ hết sức bình đẳng, tự nhiên Người trong

phủ Gỉa xem Bảo Ngọc là nghiệp chướng , ma vương, Gỉa Chính bảo rằng lớn lên Bảo Ngọc nhất định sẽ làm cái việc “thí phụ, thí quân”(giết cha, giết vua) Ông định giết Bảo

Ngọc vì chàng không phục tùng, không đi theo con đường gia đình đã vạch ra sẵn, sự xung đột này vượt ra khỏi phạm vi gia đình, trở thành xung đột có chất xã hội

2.3.1.3 Bi kịch một tình yêu.

Cái hố ngăn cách giữa Bảo Ngọc với xã hội phong kiến càng rộng bao nhiêu thì quan hệ giữa Bảo Ngọc và Lâm Đại ngọc càng gần gũi sâu sắc bấy nhiêu Tình yêu giữa chàng và nàng không phải là thứ tình yêu của những kẻ tài tử giai nhân, nhưng cũng không phải là

thứ tình yêu “nhất kiến chung tình” Đại Ngọc yêu Bảo Ngọc không phải vì vinh hoa phú

quý, Bảo Ngọc yêu Đại Ngọc không phải vì sắc đẹp Họ yêu nhau trên cơ sở tâm đầu ý hợp, hiểu biết lẫn nhau Mối tình của họ không phải là mối tình của Thôi Oanh Oanh,

Trương Quân Thụy trong “Tây Sương Ký” Quân Thụy là trai tài, Oanh Oanh là gái sắc, họ yêu nhau trong buổi đầu gặp gỡ nơi chùa Phổ Cứu, “nhất kiến chung tình” là thế! Sự

thành đạt về công danh khoa cử quyết định sự thành bại của họ về tình yêu Bảo Ngọc và Đại Ngọc thì hoàn toàn khác Họ yêu nhau khi cùng thống nhất tư tưởng chống khoa cử,

khinh thường công danh Đại Ngọc không hề khuyên Bảo Ngọc “lập thân dương

danh”như Bảo Thoa, “năng gặp gỡ những bậc quan sang, bước đường tiến cử ”như

Tương Vân

Trong cái hiện thực tàn khốc , cái ràng buộc vô hình hay hữu hình của xã hội phong kiến, mối tình của Bảo Ngọc và Đại Ngọc dù có đẹp đẽ chung tình bao nhiêu đi chăng nữa cuối cùng cũng chỉ là một tấn bi kịch Cho đến khi hồn Giáng Châu về nơi Ly hận, hòn đá thiêng Thần Anh tìm chốn quy y thì bi kịch mới được khép lại Bi kịch ấy là sự bức hại tàn khốc của thế lực phong kiến có tổ chức với thế lực phản kháng có tính chất đơn độc,

lẻ loi “Thông linh bảo ngọc” của Gỉa Bảo Ngọc, “chiếc khóa vàng” của Bảo Thoa,

“con kỳ lân vàng” của Sử Tương Vân là những vật tượng trưng cho quan niệm tiền định

của hôn nhân phong kiến Nhà sư chốc đầu khuyên Đại Ngọc không được gặp người thân thích bên ngoại, đạo sĩ khiểng chân khuyên Bảo Ngọc chọn người có khóa vàng để kết tóc trăm năm Nhưng cả Bảo Ngọc và Đại ngọc đều cự tuyệt những lời nhảm nhí ấy, họ

bất chấp cả tiền định, dũng cảm đấu tranh, bảo vệ yêu đương tự do Đại Ngọc nói “vàng ngọc là chuyện nhảm nhí”, Bảo Ngọc nhiều lúc đòi đập nát vụn viên ngọc mà theo chàng

đó là cái thứ vô dụng

Dù cuối cùng tình yêu ấy cũng không trọn vẹn, nàng về chốn “Thái hư cảnh ảo”, chàng tìm về chốn quy y Nhưng mối tình cây và đá “mộc thạch tiền minh”vẫn là mối tình trong

sáng, là viên ngọc đẹp đẽ rọi sáng toàn bộ tác phẩm, giữa cái nền hiện thực tăm tối của xã hội lúc bấy giờ

Trang 9

2.3.2 Hiện thân của Giáng Châu - Lâm Đại Ngọc.

2.3.2.1 Giới thiệu nhân vật

“Đô đạo thị kim ngọc lương nhân Yêm chỉ niệm mộc thạch tiền minh.”

2 câu thơ về cuộc đời của nhân vật Tiết Bảo Thoa ẩn chứa huyền thoại “mộc thạch tiền minh” ứng với Lâm Đại Ngọc Trong huyền thoại này Mộc chính là ứng với nàng Lâm Mối tình cây và đá – hồi kết bi thương cho một chuyện tình dám vượt lẽ thường ở xã hội phong kiến Xen lẫn giữa cuộc đời đầy nước mắt và kết thúc bi thương, cũng còn những phút giây hạnh phúc tuy ngắn ngủi nhưng cũng làm lòng người thấy rung động của nàng thiếu nữ họ Lâm

Để giới thiệu về xuất thân của nàng, từ đầu tác phẩm đã có sự thiên định: cuộc đời nàng dùng nước mắt để trả nợ ân tình Cuộc nói chuyện giữa hai người tiên thoát tục có đề cập đến sự đổi kiếp xuống trần của “bọn oan gia phong lưu” Thật là câu chuyện “nghìn xưa

ít thấy” Chỉ vì trên bờ sông Linh Bà ở Tây phương, bên cạnh hòn đá Tam Sinh có một cây Giáng châu được Thần Anh làm chức chầu chực ở cung Xích Hà ngày ngày lấy nước Cam Lộ tưới bón cho nó mới tươi tốt sống được lâu Đã hấp thụ tinh hoa của trời đất, lại được nước cam lộ chăm bón, cây Giáng Châu thoát được hình cây, hóa thành hình người,

tu luyện thành người con gái, suốt ngày rong chơi ngoài cõi trời Ly Hận đói thì ăn quả

“Mật Thanh” khát thì uống nước bể “Quán sầu” Chỉ vì chưa trả được ơn bón tưới, cho nên trong lòng nó vẫn mắc míu, khi nào cũng cảm thấy như còn vương một mối tình gì đây Gần đây, Thần Anh bị lửa trần rực cháy trong lòng, nhân gặp trời đất thái bình thịnh vượng muốn xuống cõi trần để qua kiếp “ảo duyên”, nên đã đến trước mặt vị tiên Cảnh

ảo ghi sổ Cảnh ảo liền hỏi đến mối tình bón tưới, biết chưa trả xong, muốn nhân đó để kết liễu câu chuyện Nàng Giáng Châu nói: “Chàng ra ơn mưa móc mà ta không có nước

để trả lại Chàng đã xuống trần làm người, ta cũng phải đi theo Ta lấy hết nước mắt của đời ta để trả lại chàng, như thế mới trang trải xong!” Vì thế dẫn ra bao nhiêu oan gia phong lưu đều phải xuống trần, để kết liễu án đó

Tóm tắt cuộc đời Lâm Đại Ngọc:

Lâm Đại Ngọc là một trong ba nhân vật chính của tiểu thuyết Đại Ngọc từ bé lớn lên ở thành Dương Châu, là con gái một nên được bố mẹ yêu quý như ngọc, lại được mời thầy

là Giả Vũ Thôn về dạy học Đến năm Đại Ngọc lên năm thì mẹ mất Tang ma xong, Giả mẫu đón cháu gái về Kinh để tiện chăm sóc Vừa gặp Đại Ngọc, Bảo Ngọc đã cảm thấy quyến luyến sâu sắc Cuộc sống trong Giả phủ xa hoa lộng lẫy nhưng vô cùng phức tạp, đầy rẫy những chuyện dâm ô lường gạt Tuy được Giả mẫu yêu chiều, đồ ăn thức mặc đều nhất nhất như Bảo Ngọc nhưng vẫn không khỏi bị cảm giác là "nữ nhân ngoại tộc" Đến năm 14 tuổi thì Lâm Như Hải cũng qua đời Đại Ngọc từ đó mồ côi cả cha lẫn mẹ, không người thân thích, phải ăn nhờ ở đậu hoàn toàn Nàng đã ốm yếu từ khi sinh ra, thân thể mỏng manh như cánh hoa trôi bèo dạt, lại thêm tủi phận khiến tâm hồn vốn đã đa cảm lại ngày một nhiều sầu nhiều bệnh, hay nghĩ ngợi, để ý, lại hay tự ái Nàng và Bảo Ngọc lớn lên bên nhau thành một cặp song ngọc, tuy cả hai thường cãi vã hờn giận nhưng tình cảm lại vô cùng thắm thiết, họ hiểu nhau và thông cảm cho nhau sâu sắc Giữa lúc đó, có một người thứ ba xuất hiện Đó là Tiết Bảo Thoa, đôi bạn con dì với Bảo Ngọc, cũng đến Giả phủ ở nhờ Nàng dường như đối nghịch với Đại Ngọc, xinh đẹp đầy đặn như trăng rằm, cao sang, quý phái, lại nền nã đức hạnh theo đúng những khuôn thước phong kiến

Trang 10

Bảo Ngọc nhiều lúc cũng rung động trước Bảo Thoa nhưng nhận ra nàng chỉ luôn muốn hướng cậu theo con đường công danh lập thân mà cậu chán ghét nên dần dần trái tim Bảo Ngọc dành hẳn cho Đại Ngọc, người duy nhất hiểu Bảo Ngọc và không khuyên cậu đi thi

đỗ đạt làm quan Nhưng nhà họ Giả coi đó là tai họa nên mong muốn Bảo Ngọc thành thân với Bảo Thoa Phượng Thư, chị dâu của Bảo Ngọc, dùng kế "tráo dường đổi cột" để lừa Bảo Ngọc cưới Bảo Thoa Đại Ngọc đau khổ tuyệt vọng nên mang tâm bệnh Nàng đốt thơ, đốt khăn để dứt tình rồi chết trong nỗi uất ức, oán hận trong lúc cả nhà mừng đám cưới Bảo Ngọc

Ứng với cuộc đời nàng, có một bài vịnh như sau: (Hồng Lâu Mộng thập tứ khúc)

Hoài công biết nhau Một bên hoa nở vườn tiên, Một bên ngọc đẹp không hoen ố màu.

Bảo rằng chả có duyên đâu, Thì sao lại được gặp nhau kiếp này?

Bảo rằng sẵn có duyên may, Thì sao lại đổi thay lời nguyền?

Một bên ngầm ngấm than phiền, Một bên đeo đẳng hão huyền uổng công.

Một bên trăng dọi trên sông, Một bên hoa nở bóng lồng trong gương, Mắt này có mấy giọt sương,

Mà dòng chảy suốt năm trường, được chăng?

2.3.2.2 Số phận đẫm nước mắt của Giáng Châu Lâm Đại Ngọc

Ấn tượng đầu tiên mà Lâm Đại Ngọc để lại là nét đẹp thoát tục, như sương như khói,

không phải là nét đẹp của con gái trần gian Nàng được miêu tả: “Đôi lông mày điểm màu khói lạt, dường như cau mà lại không cau; đôi con mắt chứa chan tình tứ, dáng như vui mà lại không vui Má hơi lúm, có vẻ âu sầu; Người hơi mệt trông càng tha thướt Lệ rớm rưng rưng, hơi ra nhè nhẹ Vẻ thư nhàn, hoa rọi mặt hồ; dáng đi đứng, liễu nghiêng trước gió Tim đọ Tỉ Can hơn một trăm khiếu, bệnh so Tây Tử trội vài phân.”

Xuất thân trong một gia đình “thư hương môn đệ” đời đời tập tước Hầu, vì cha mẹ mất sớm, Lâm Đại Ngọc đến ở trong phủ họ Giả lâu dài với tư cách là người thân Cô gái giàu lòng tự ái này, sống trong cảnh ăn nhờ ở đậu, nhưng chẳng những nàng không hề thay đổi tính cách “kiêu kì cao ngạo” của mình mà lại càng để ý đến xung quanh với thái độ nghi ngờ, mẫn cảm…Cuộc sống ăn nhờ ở đậu đã tạo nên nỗi đau ngầm khó tan trong sâu thẳm tâm hồn nàng Nàng không chịu tuân theo số mệnh nhưng lại không làm sao thoát khỏi cái số mệnh ấy Vì thế, nàng thường than thân trách phận, cám cảnh cho thân mình Cuộc sống phồn hoa trong Giả phủ chỉ gợi lên trong lòng nàng nỗi buồn thương vô hạn “Đa sầu đa cảm” trở thành nét đặc trưng trong tính cách cô gái này… Nàng yêu Giả Bảo Ngọc, nhưng do thân phận của nàng, mỗi khi Giả Bảo Ngọc ngỏ lời là nàng lại giận hờn, buồn tủi, làm ra vẻ cự tuyệt “Bảo Ngọc cười nói: - Tôi là người nhiều sầu, nhiều bệnh,

cô là trang nghiêng nước nghiêng thành” Lâm Đại Ngọc nghe thấy câu ấy, mặt và tai đỏ bừng lên, lập tức dựng ngược lông mày, như cau lại mà không phải là cau, trố hai con mắt, như trợn mà không phải trợn Má đào nổi giận, mặt phấn ngậm hờn, trỏ vào mặt Giả Bảo Ngọc: “- Anh nói bậy, muốn chết đấy! Dám đem những lời lẳng lơ suồng sã lăng

Ngày đăng: 27/10/2015, 17:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w