MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Nghiên cứu ứng dụng CNTT vào tổ chức dạy học ngoại khóa chương “Từ vi mô đến vĩ mô” ở lớp 12 THPT, nhằm kích thích hứng thú học tập của HS, phát huy tính tích cực,c
Trang 1MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định : “Giáo dục đào tạo cùng với KHCN là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy CNH- HĐH đất nước” Mục tiêu của giáo dục là đào tạo những con người
có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc… Có tri thức khoa học hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi
Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 ghi rõ: “Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục Chuyển từ việc truyền thụ tri thức thụ động thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống và có tư duy logic, phân tích tổng hợp, phát triển năng lực của mỗi cá nhân, tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của HS trong quá trình học tập…”
Luật giáo dục năm 2005 cũng quy định : “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”
Những năm gần đây công tác ngoại khóa ở các trường phổ thông đã được quan tâm hơn, hoạt động ngoai khoá đã được đưa vào kế hoạch giảng dạy giáo dục của nhà trường.GV đựơc cử đi tập huấn Tuy vậy khi thực hiện GV vẫn còn nhiều lúng túng trong soạn thảo nội dung trong cách tổ chức cũng như trong
lý luận Việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa nói chung và vật lí nói riêng là rất cần thiết Trong chương trình vật lí phổ thông chương “Từ vi mô đến vĩ mô”
là một chương cung cấp những kiến thức mới so với chương trình cải cách, có
Trang 2nội dung trừu tượng Qua tìm hiểu thực tế dạy học chương “Từ vi mô đến vĩ mô” ở các trường THPT trên địa bàn Huyện Tuyên Hoá – Tĩnh Quảng Bình tôi nhận thấy hầu hết các GV chỉ sử dụng phương pháp thuyết trình, HS tiếp thu một cách thụ động do đó không khơi dậy được tính năng động, sáng tạo, tự chủ trong học tập của HS
Hiện nay công nghệ thông tin ngày càng chiếm một vai trò quan trọng được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực Công nghệ thông tin có thể hỗ trợ đắc lực cho giáo viên, học sinh, các nhà quản lý giáo dục trong việc nghiên cứu chương trình các môn học hay mô tả các sự vật hiện tượng Nhiều phần mềm sáng tạo hỗ trợ việc tự học, tự ôn tập của học sinh, đặc biệt mạng Internet là nguồn thông tin, dữ liệu hết sức dồi dào GV có thể khai thác để phục vụ cho việc đổi mới PPDH và mở rộng kiến thức
Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn đề tài: Ứng dụng công nghệ thông tin vào tổ chức dạy học ngoại khóa chương “Từ vi mô đến vĩ mô” ở lớp 12 THPT
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu ứng dụng CNTT vào tổ chức dạy học ngoại khóa chương “Từ
vi mô đến vĩ mô” ở lớp 12 THPT, nhằm kích thích hứng thú học tập của HS, phát huy tính tích cực,chủ động sáng tạo của các em trong quá trình dạy học,
từ đó nâng cao chất lượng dạy học vật lí
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng
- MVT và các phần mềm ứng dụng hỗ trợ quá trình dạy học
- Các hình thức tổ chức dạy học ngoại khoá có tác dụng nâng cao hiệu quả dạy
và học chương “ Từ vi mô đến vĩ mô ”
- Nội dung chương trình và PPDH vật lí 12 ở trường THPT
Trang 3- Hoạt động dạy và học của GV và HS trong tiến trình tổ chức dạy học ngoại khóa
3.2 Phạm vi
Nghiên cứu ứng dụng CNTT vào dạy học ngoại khóa chương “Từ vi mô đến
vĩ mô” vật lí lớp 12 THPT
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Bằng việc xây dựng các bài dạy học ngoại khóa với sự trợ giúp của CNTT đáp ứng những yêu cầu và sử dụng chúng một cách hợp lý trong dạy học sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học chương “Từ vi mô đến vĩ mô” lớp 12 THPT
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn về hoạt động ngoại khóa (HĐNK) Vật lí ở trường THPT với sự hỗ trợ của máy vi tính
- Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa vật lí 12 THPT
- Tìm hiểu thực tế triển khai dạy học ngoại khóa ở trường THPT - Tuyên Hoá
- Tỉnh Quảng Bình và một số trường THPT trên địa bàn huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quang Bình
- Đề xuất phương án tổ chức dạy học ngoại khóa, để thực hiện giảng dạy có hiệu quả nội dung chương “Từ vi mô đến vĩ mô” lớp 12 THPT
- TNSP để đánh giá, kiểm nghiệm giả thuyết khoa học của đề tài
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
+ Nghiên cứu lý thuyết :
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng và nhà nước, của Bộ GD&ĐT về đổi mới PPDH
- Nghiên cứu về tâm lý học, giáo dục học và lý luận dạy học Vật lí, đặc biệt về hướng dẫn ngoại khóa
- Nghiên cứu các tài liệu về ứng dụng MVT và các thiết bị đa phương tiện vào dạy học Vật lí để xây dựng bài học ngoại khóa
Trang 4- Nghiên cứu SGK Vật lí lớp 12 và các tài liệu tham khảo
+ Nghiên cứu thực tiễn :
- Điều tra thực trạng dạy học ngoại khoá vật lí ở trường trung học phổ thông
thuộc địa bàn huyện Tuyên Hoá – Tĩnh Quảng Bình
- Thực nghiệm sư phạm:
Đánh giá hiệu quả sư phạm của việc tổ chức dạy học ngoại khóa đã đề xuất, kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết nghiên cứu
7 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận của việc tổ chức hoạt động ngoại khóa vật
lí, đặc biệt là ứng dụng CNTT xây dựng nội dung, phương pháp tiến hành các buổi ngoại khóa vật lí
- Xây dựng hai bài dạy học ngoại khoá thuộc chương “Từ vi mô đến vĩ mô” lớp
12 THPT và trình chiếu trên các phần mềm thích hợp phục vụ cho hoạt động ngoại khóa
8 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
- Phần mở đầu
- Phần nội dung
Chương 1 : Cơ sở lý luận của việc tổ chức hoạt động ngoại khóa về vật lí ở trường phổ thông
Chương 2 : Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học ngoại khóa vật lí chương
“Từ vi mô đến vĩ mô” lớp 12 THPT cho HS
Chương 3 : Thực nghiệm sư phạm
- Kết luận
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Chương 1
Trang 5CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA
VỀ VẬT LÍ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 1.1 Hoạt động ngoại khóa trong hệ thống các hình thức tổ chức dạy học ở THPT
1.1.1 Khái niệm
Do sự hạn chế của thời gian lên lớp trong chương trình chính khoá, đồng thời với sự gia tăng không ngừng của tri thức đã làm xuất hiện mâu thuẫn giữa nhu cầu nhận thức của học sinh với tính kế hoạch của chương trình Để giải quyết mâu thuẫn này người ta tổ chức các hoạt động ngoại khoá nhằm tạo điều kiện cho học sinh có thể mở rộng, đào sâu kiến thức, phát triển năng lực cá nhân và kích thích thiên hướng của các em về một mặt hoạt động nào đó [5]
1.1.2 Tác dụng của hoạt động ngoại khóa Vật lí
HĐNK nói chung, HĐNK về Vật lí nói riêng có nhiều tác dụng to lớn, sau đây là một số tác dụng cơ bản:
- Hoạt động ngoại khoá góp phần giáo dục tính tổ chức, tính kế hoạch, tinh thần làm chủ và hợp tác trên cơ sở những hoạt động thực tế Ngoại khoá được thực hiện cơ bản dựa trên sự tự nguyện, tự giác của học sinh cộng với sự giúp đỡ thích hợp của giáo viên sẽ động viên học sinh nổ lực hết mình giải quyết vấn
đề đặt ra
- HĐNK về vật lí góp phần củng cố, đào sâu, mở rộng chuẩn hóa hệ thống kiến thức Vật lí đã học trên lớp và những kiến thức mới.Trong quá trình tiến hành hoạt động ngoại khoá, học sinh được tự mình nghiên cứu tự mình tìm hiểu vấn
đề và tranh luận với bạn bè trong sự cân nhắc kĩ càng Chính vì thế hoạt động ngoại khoá góp phần đắc lực trong việc phát triển trí lực và khả năng sáng tạo của học sinh
- Gây hứng thú học tập cho HS trong học môn vật lí (khơi dậy tính tò mò, ham hiểu biết, lòng say mê nghiên cứu khoa học, niềm vui thành công);
Trang 6- Qua hoạt động ngoại khoá, học sinh được rèn luyện một số kĩ năng như : Tập nghiên cứu một vấn đề, thuyết minh trình bày trước đám đông, tập sử dụng những dụng cụ, thiết bị máy móc từ đơn giản đến hiện đại Qua đó sẽ làm nảy
nở ở học sinh ý thức về nghề nghiệp sẽ chọn trong tương lai
- Do hoạt động chính khóa có thời gian hạn hẹp nên HĐNK làm tăng tính vận dụng của kiến thức tạo điều kiện gắn lý thuyết với thực tiễn;
- Phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu vật lý cho HS [4]
- Hoạt động ngoại khoá là điều kiện thuận lợi để giáo viên có thể thử nghiệm các phương pháp dạy học [5]
1.1.3 Nguyên tắc của hoạt động ngoại khóa vật lí
Để HĐNK thu được những kết quả như mong muốn ta cần phải tuân theo các nguyên tắc sau:
- HĐNK vật lí phải xuất phát từ mục tiêu đào tạo đối với cấp học, phù hợp với chương trình đổi mới giáo dục Căn cứ hoàn cảnh cụ thể của từng trường để xác định nội dung, chương trình, lựa chọn phương thức tổ chức HĐNK một cách phù hợp;
- HĐNK vật lí thể hiện tính khoa học rõ nét nên bắt đầu từ khâu chuẩn bị đã phải tính đến tính khả thi của hoạt động;
- HĐNK vật lí yêu cầu nhà giáo dục phải biết thể hiện mình trong vai trò là người cố vấn cho HS thiết kế thi công hoạt động và tự đánh giá hoạt động của mình và tập thể;
1.1.4 Đặc điểm của giờ học ngoại khóa Vật lí
- HĐNK vật lí được thưc hiện ngoài giờ học chính khoá, nó không mang tính bắt buộc mà tuỳ thuộc vào hứng thú, sở thích, nguyện vọng của mỗi học sinh
trong khuôn khổ khả năng của giáo viên bộ môn và của nhà trường
- Nội dung rất đa dạng giúp học sinh mở rộng, đào sâu, làm phong phú thêm những kiến thức mà học sinh đã được học trong các giờ học chính khoá
Trang 7- Không hạn chế số lượng HS tham gia HĐNK, có thể hoạt động theo khối lớp, đơn vị lớp, nhóm có thể huy động cả trường tham gia
- Không phân biệt năng lực của HS tham gia nhưng cần chú ý hạt nhân nòng cốt của buổi ngoại khóa
+ Hoạt động ngoại khoá có thể được tổ chức theo nhiều hình thức khác nhau
1 2 Nội dung, hình thức tổ chức và phương pháp hướng dẫn hoạt động ngoại khóa Vật lí
1.2.1 Nội dung ngoại khóa về vật lí
Do đặc điểm của bộ môn vật lí, ngoại khoá có tác dụng bổ sung kiến thức
lí thuyết, kĩ năng thực hành, giới thiệu những ứng dụng của vật lí vào KHKT
và đời sống, quá trình phát triển của vật lí học cho HS, làm tăng hứng thú cho
HS đối với môn học, rèn luyện khả năng phân tích và giải quyết vấn đề của các em.Ngoại khoá vật lí giúp học sinh hiểu rõ hơn các hiện tượng vật lí ,thấy được vai trò to lớn của vật lí trong đời sống và trong KHKT.Việc tham gia ngoại khoá sẽ giúp học sinh mạnh dạn hơn, tư duy logic chặt chẽ hơn, từ đó nâng cao chất lượng học tập môn vật lí
Nôi dung ngoại khoá vật lí có thể là những kiến thức nằm trong phạm vi chương trình vật lí THPT và khi đó HĐNK có tác dụng cũng cố các kiến thức
kĩ năng cơ bản Nội dung của ngoại khoá vật lý cũng có thể là những kiến thức
mở rộng vượt ra ngoài nội dung chương trình hoặc có trong chương trình nhưng lại được trình bày hết sức sơ lược Chẳng hạn như Thiên Văn học,vật lí hiện đại, các ứng dụng của vật lí trong Kĩ thuật – Công nghệ.Khi đó HĐNK giúp tăng hiểu biết, phát huy óc sáng tạo của HS [5]
1.2.2 Xây dựng giáo án ngoại khoá vật lí
Thành công của buổi ngoại khoá phụ thuộc vào việc xây dựng giáo án ngoại khoá Giáo án càng chi tiết, cụ thể thì chất lượng buổi ngoại khoá càng cao Nói chung một giáo án ngoại khoá bao gồm :
Trang 8+ Chủ đề ngoại khoá
+ Hình thức tổ chức ngoại khoá
+ Mục tiêu :
- Về tri thức
-Về rèn luyện kĩ năng, phát triển tư duy
- Về giáo dục tư tưởng
+ Chuẩn bị chương trình :
- Thời gian, địa điểm, thời lượng tiến hành
- Đối tượng tham gia
- Ban tổ chức : Cơ cấu, số lượng, chức năng, nhiệm vụ
- Cơ sở vật chất, kinh phí, phượng tiện phục vụ buổi ngoại khoá + Tiến trình thực hiện :
- Danh mục các khâu trong quá trình tiến hành
- Nội dụng, phương pháp tiến hành, phương tiện hoạt động
- Thời gian cho từng nội dụng
Giáo án ngoại khoá nói chung giống giáo án lên lớp, tuy vậy do sự khác nhau
về quy mô tổ chức, thời lượng, nội dung, cách tiến hành …Đòi hỏi phải có sự chuẩn bị kĩ lưỡng và có nhiều phương án xử lí đặt ra [5]
1.2.3 Các hình thức hoạt động ngoại khóa vật lí
HĐNK vật lí ở trường phổ thông có thể tiến hành theo nhiều hình
thức khác nhau: Hình thức cá nhân; hoạt động theo các nhóm; hoạt động theo lớp có cùng nội dung và chương trình; HĐNK có tính chất quần chúng rộng rãi Trên thực tế tùy vào không gian và thời gian, số lượng HS, và nội dung kiến thức mà đưa ra hình thức hoạt động thích hơp
1.2.3.1 Hoạt động ngoại khóa Vật lí có tính chất quần chúng rộng rãi
Hoạt động này thường tốn nhiều thời gian công sức nhưng dễ thực hiện, đạt hiệu quả cao Hình thức này nếu được chuẩn bị chu đáo và tổ chức hấp dẫn thì
Trang 9có tác dụng rất lớn trong việc gây hứng thú, lòng say mê nghiên cứu vật lí và chế tạo dụng cụ thí nghiệm của HS Đây là hình thức tổ chức tốt để đào sâu,
mở rộng kiến thức cho HS trong nhiều lĩnh vực vật lí và đòi hỏi sự tham gia đông đảo của HS Hình thức hoạt động có tính chất quần chúng rộng rãi này làm cho HS yêu thích môn vật lí, kích thích trí tưởng tượng sáng tạo Phải tổ chức sao cho buổi sinh hoạt này thực sự là một ngày hội, là sự kiện đáng ghi nhớ của nhà trường Để làm được điều này thì nội dung của nó phải thật phong phú, súc tích trong đó có những thí nghiệm vui, bài toán thực nghiệm và những nghịch lý của vật lí, nên xen kẽ những tiết mục văn nghệ hoặc những trò chơi giải trí có tính chất khoa học nhằm giúp cho buổi sinh hoạt này thêm tưng bừng náo nhiệt Để đạt được các yêu cầu đó đòi hỏi GV phải soạn thảo chương trình sao cho phù hợp với trình độ của HS
HĐNK có tính chất quần chúng rộng rãi như: Hội thi vật lí;Hội vui vật lí, triển lãm vật lí, báo tường vật lí ; Tham quan ngoại khoá vật lí;Câu lạc bộ vật lí
* Hội thi vật lí
Hội thi là một trong những cách thức hoạt động hấp dẫn, lôi cuốn HS, đạt kết quả tốt trong vấn đề giáo dục, rèn luyện và định hướng giá trị cho người tham gia Hội thi là dịp để mỗi cá nhân hoặc tập thể, thể hiện khả năng của mình Khẳng định thành tích, kết quả của quá trình tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu trong học tập và trong các hoạt động tập thể Quy mô của hội thi đối tượng tham gia, cách thức tổ chức hội thi như thế nào phụ thuộc vào mục đích, yêu cầu ý nghĩa, tính chất và nội dung của hội thi
Các hình thức thi trong Hội thi vật lí :
- Thi trả lời nhanh : Sau khi nêu câu hỏi, đội nào có tín hiệu trước sẽ được trả lời.Thời gian để suy nghĩ cho mỗi câu là cố định Nếu đội có tín hiệu trước trả lời sai thì đội khác có quyền trả lời Thi trả lời nhanh có thể dùng các câu hỏi
tự luận hoặc trắc nghiệm
Trang 10- Thi giải thích hiện tượng : Sau khi nêu hiện tượng hoặc làm thí nghiệm, yêu cầu giải thích diễn biến, kết quả Trong thời gian ấn định, các đội cùng trả lời
ra giấy hoặc bảng Căn cứ vào câu trả lời, giám khảo cho điểm Sau khi các đội trả lời, người dẫn chương trình công bố đáp án chính xác
- Thi giải bài tập: Bài tập có thể ra dưới dạng định tính hoặc định lượng.Các đội bốc thăm chọn bài tập (bài tập phải có dạng tương tự nhau và cùng một độ khó ) hoặc tất cả cùng làm một bài tập
- Thi giải ô chữ: Tạo một ô chữ gồm nhiều hàng ngang và một cột dọc Cột dọc được sắp xếp sao cho nó do các chữ ở các hàng ngang tạo thành
- Thi thực hành làm thí nghiệm, chế tạo dụng cụ thí nghiệm: Có nhiều hình thức khác nhau cho phần này Có thể phát cho các đội thi các dụng cụ, yêu cầu trình bày cách làm một thí nghiệm hoặc xem đội nào làm được nhiều thí nghiệm hơn [5]
* Hội vui vật lí
Hội vui vật lí (hay còn gọi là dạ hội vật lí nếu tổ chức vào buổi tối )là hình thức ngoại khóa phổ biến, sôi động lôi cuốn được đông đảo HS tham gia, tạo được khí thế trong hoạt động học tập và nghiên cứu Hội vui vật lí có thể được tổ chức theo khối lớp hoặc quy mô toàn trường theo từng chuyên đề như: Hội vui Cơ - Nhiệt - Điện - Quang, sự nghiệp các nhà bác học, điều khiển tự độngv.v có thể tổ chức hội vui vật lí kết hợp với các bộ môn khác như công nghệ, hóa học và sinh học, địa lí v.v Tổ chức hội vui vật lí gồm hai phần: phần khai mạc, giới thiệu nội dung, phần này nên ngắn gọn sau đó chuyển sang phần vui chơi, cả hai phần này không nên kéo dài
Về các trò chơi trong hội vui vật lí có thể nên hướng vào các loại trò chơi sau đây:
+ Hái hoa : Các câu đố vui, các câu hỏi bài tập định tính về vật lí được viết vào mảnh giấy nhỏ sau đó gấp lại để đảm bảo sự bí mật và treo lên cành
Trang 11hoa đã được trang trí trong phòng vui chơi, người chơi sẽ lên “hái hoa” có các câu hỏi, câu đố vui đó, ai trả lời đúng sẽ nhận được giải thưởng Để đảm bảo trật tự và nghe người hái hoa trả lời chỉ nên cho một hoặc hai người lên “hái hoa”
+ Có một số trò chơi thông minh nhanh trí như: Tìm chỗ sai trong đoạn viết về nội dung vật lí hay tìm chỗ sai trong các hình vẽ sơ đồ mạch điện hoặc điền từ phù hợp vào câu hỏi còn thiếu Những trò chơi này so với những hoạt động nói trên không kém phần hấp dẫn Để hội vui đem lại không khí thoải mái, sôi động, ban tổ chức hội vui nên thống nhất cách gợi ý đối với một số câu
đố vui hoặc trò chơi khó giúp người hướng dẫn trò chơi điều khiển linh hoạt và lôi cuốn người chơi đồng đều ở mọi trò chơi
+ Trò chơi trong hội vui vật lí cũng có thể là thi mắc điện, sáng tạo mạch điện, lắp và biểu diễn một số thí nghiệm nào đó
Ví dụ: Trò chơi mắc điện theo thời gian quy định của ban tổ chức, đòi hỏi người chơi phải có thao tác nhanh nhẹn theo kịp tiến độ của thời gian mà ban tổ chức đưa ra
Loại trò chơi này đòi hỏi người chơi không những tăng tốc độ thao tác
mà còn phải hợp lý hóa các thao tác và có những sáng kiến khác …
+ Trong hội vui vật lí giải bài tập cũng có thể đưa vào để làm một nội dung thi : Trong phần thi này mỗi lần thi gồm 6 hoặc 7 người cùng giải một bài tập vật lí, nếu ai đưa ra đáp án đúng và nhanh nhất thì được thưởng
Vấn đề đặt ra ở đây là nội dung các đề thi, phải chọn sao cho khi đánh giá kết quả được nhanh gọn và chính xác phản ánh đúng nội dung đưa ra Như vậy không chỉ tiện cho việc đánh giá mà nó còn làm tăng thêm tính chất hứng thú của trò chơi nhằm bảo đảm cho hội vui thành công :
- Chuẩn bị chu đáo và phong phú về nội dung, tổ chức chặt chẽ hình thức phù hợp, trang trí đẹp mang màu sắc của buổi dạ hội vật lí
Trang 12- Lường trước được những tình huống có thể xảy ra hoặc ngoài dự kiến nhằm cổ vũ động viên khuyến khích kịp thời, có phần thưởng để động viên tinh thần cho người thắng cuộc
Do các trò chơi liên quan đến thí nghiệm, máy móc thiết bị nên cần lắp đặt và vận hành trước khi tổ chức đảm bảo đủ thời gian quy định Dạ hội hay hội vui vật lí phải gắn chặt với nội dung chính khóa nhưng nó vẫn mang màu sắc vui chơi thoải mái, ngoài tính hấp dẫn của nội dung cần có những hình thức động viên khích lệ [16]
* Tham quan ngoại khoá vật lí
Tham quan ngoại khoá là một hình thức tổ chức dạy học trong thực tế nhờ quan sát trực tiếp của HS dưới sự hướng dẫn của GV và cơ sở tham quan nhằm nghiên cứu sự vật, hiện tượng cần tìm hiểu trong nội dung dạy học
Hình thức tham quan ngoại khoá có thể được tổ chức trước, trong và sau khi học một chuyên đề nào đó, phần nào đó( Chẳng hạn sau khi học xong máy biến thế hay là sau khi học xong các động cơ điện v.v )
Tham quan ngoại khoá có tác dụng mở rộng, nâng cao tầm hiểu biết xung quanh những vấn đề do chương trình quy định Bồi dưỡng phương pháp nhận thức như quan sát, phân tích, tổng hợp những tư liệu cụ thể đã thu thập được trong quá trình tham quan Nâng cao hứng thú học tập, phát triển óc quan sát tính tò mò khoa học.Góp phần giáo dục kĩ thuật tổng hợp, đảm bảo dạy học gắn liền với lao động sản xuất
Nội dung tham quan ngoại khoá vật lí: Tham quan tìm hiểu máy móc, thiết
bị dùng trong sản xuất, thông tin liên lạc ; cơ sở sản xuất, nhà máy ; cơ quan KHKT [5]
* Triển lãm về vật lí
Triển lãm về vật lí là hình thức trưng bày những thành quả, những kết quả hoạt động học tập của mỗi lớp, khối lớp hay toàn trường Triển lãm vật lí
Trang 13ở trường phổ thông có thể tổ chức nhân dịp các ngày lễ(thành lập trường, ngày thành lập đoàn, ngày nhà giáo Việt nam, ngày sinh các nhà bác học vật lí)hoặc sau khi học xong một phần nào đó trong nội dung chương trình vật lí Triển lãm vật lí chỉ đảm bảo thành công khi cuộc triển lãm đó phong phú về nội dung, trình bày một cách gọn gàng, đẹp đẽ và khoa học Nội dung triển lãm có thể là: các dụng cụ, mô hình mà HS chế tạo, vật mẫu sưu tầm được, đồ dùng phục vụ dạy và học của thầy và trò chế tạo ra Cũng có thể lắp ráp và biểu diễn một số thí nghiệm mang tính hiện đại, khó thực hiện kể cả những thí nghiệm chưa có điều kiện thực hiện ở trên lớp Đối với một số thí nghiệm hoặc vật mẫu nào đó nên có hình vẽ, bản hướng dẫn kèm theo Biểu đồ hình vẽ và tranh ảnh sẽ góp phần làm cho triển lãm thêm phong phú, có thể kết hợp với các bộ môn khác như(công nghệ, hóa học, sinh học)triển lãm có thể kết hợp với hội vui vật lí để đảm bảo tính chất của công tác ngoại khóa, trong việc tổ chức triển lãm cần phát huy tốt vai trò của HS, đặc biệt phát huy tính độc lập sáng tạo
* Tổ chức câu lạc bộ vật lí
Câu lạc bộ được tổ chức nhằm mở rộng tầm nhận thức, hiểu biết về văn hoá, khoa học kĩ thuật, giáo dục lòng yêu lao động, giáo dục đạo đức, giúp phát triển toàn diện các khả năng sáng tạo và các năng khiếu của con người Tổ chức câu lạc bộ vật lí là điều kiện tốt để các cá nhân yêu thích vật lí có môi trường phát huy khả năng của mình
Cơ cấu tổ chức câu lạc bộ gồm: Chủ nhiệm câu lạc bộ, các phó chủ nhiệm, thư kí, ban cố vấn và các thành viên của câu lạc bộ
Hoạt động của câu lạc bộ gồm: Tổ chức các buổi thảo luận về vật lí ;Tổ chức các buổi giao lưu tìm hiểu về kiến thức vật lí ;Tổ chức viết báo tường trong phạm vi câu lạc bộ v.v
* Báo tường về vật lí
Báo tường về vật lí là một HĐNK hấp dẫn, nhẹ nhàng không phải giới hạn
Trang 14thời gian có thể được tổ chức ở bất kỳ trường phổ thông nào, thường có tác dụng thúc đẩy HS sưu tầm và đọc các sách báo về vật lí Báo tường là nơi khá tốt để các nhóm ngoại khóa thông báo về hoạt động và kết quả học tập thu được qua tìm hiểu và nghiên cứu của mình, thúc đẩy phong trào thi đua học tập chính khóa
và ngoại khóa của HS [3,28,7]
Nội dung của tờ báo, thường là các bài viết về các chuyên đề vật lí ; hướng dẫn cách học vật lí; giới thiệu các phương pháp giải toán vật lí; giới thiệu lịch sử vật lí, các nhà bác học vật lí; giới thiệu các thành tựu, các ứng dụng của vật lí trong kĩ thuật, đời sống v.v [5]
1.2.3.2 Hoạt động ngoại khóa theo nhóm
Nhóm ngoại khóa vật lí là hình thức HĐNK cơ bản ở trường phổ thông, đây
là hình thức có tổ chức nhưng nó không phức tạp lắm, mỗi nhóm ngoại khóa không quá 15 HS Qua hoạt động theo nhóm theo một chương trình đã định sẵn
HS sẽ thu nhận được một số kiến thức bổ sung, đào sâu củng cố những kiến thức và kỹ năng đã có HĐNK theo nhóm tạo cho HS biết cách áp dụng kiến thức hiểu biết của mình vào thực tiễn tạo điều kiện cho các em tham gia trực tiếp vào quá trình sáng tạo
Tổ chức ngoại khóa theo nhóm cần dựa vào tính tự nguyện, hứng thú của
HS trên cơ sở yêu thích công việc Từ đó khả năng của các em sẽ được phát triển, hình thức này là hình thức dạy học phát huy tính tập thể mà trong đó HS dưới sự chỉ đạo của GV các em tự do trao đổi những ý tưởng, những kiến thức, hình thành kỹ năng kỹ xảo nêu cao tính đồng đội các thành viên trong nhóm không chỉ có trách nhiệm với việc học của mình mà còn có trách nhiệm quan tâm đến việc học của các bạn khác trong nhóm
Để duy trì hoạt động đều đặn của nhóm cần phải xây dựng hạt nhân của nhóm, hạt nhân thường đóng vai trò là nhóm trưởng, HS được chọn làm hạt nhân là những HS có hứng thú về vật lí, nhiệt tình cao đối với đề tài nhóm đang
Trang 15làm có khả năng tổ chức và thu hút sự đoàn kết trong nhóm và có học lực tốt, kiến thức vững vàng Tuy nhiên, nhóm trưởng không nhất thiết phải giỏi nhất trong nhóm
Học tập theo nhóm có nhiều hình thức nhưng thông thường có hai dạng:
- Học tập theo nhóm thống nhất : Theo hình thức này thì tất cả HS đều thực hiện nhiệm vụ như nhau
- Học tập theo nhóm phân hóa: Những nhóm khác nhau thực hiện các nhiệm vụ khác nhau trong khuôn khổ đề tài chung của cả lớp
Tổ chức học tập theo nhóm để đạt kết quả tốt thì một nguyên tắc bất di bất dịch
là phải bảo đảm tính nghiêm túc, nhẹ nhàng, tránh sự nặng nề, không tùy tiện Nội dung HĐNK vật lí có thể thành lập ra những nhóm có chức năng khác nhau, nhóm “Vật lí lý thuyết”, nhóm “Vật lí kỹ thuật”, nhóm chế tạo dụng cụ thí nghiệm vật lí
* Nhóm nghiên cứu lí thuyết
Nhiệm vụ của nhóm là sưu tầm tài liệu vật lí liên quan đến vấn đề đang học, từ đó giúp các em hiểu bài một cách sâu sắc hơn nghiên cứu giải thích những hiện tượng mà do thời lượng trên lớp GV không thể đi sâu được, sưu tầm những bài toán vật lí hay, thảo luận tìm tòi những phương pháp giải tốt nhất, tối ưu nhất Nhóm có thể tìm hiểu quá trình phát triển của vật lí, kỹ thuật, tiểu sử các nhà vật lí Nội dung hoạt động của nhóm ngoại khóa“vật lí lý thuyết”phải mới lạ so với hoạt động chính khóa, không đơn thuần chỉ là kiểm nghiệm hoặc áp dụng dưới dạng quá đơn giản các kiến thức đã học
Vật lí nói chung và chương“Từ vi mô đến vĩ mô ”nói riêng thường hấp dẫn đối với HS từ đó cần xác định nội dung phù hợp các bước tổ chức hợp lý sao cho HS từng bước thu được kết quả cao Kết quả hoạt động của nhóm có thể được báo cáo theo từng cá nhân hoặc cả nhóm
Trang 16Cần khuyến khích động viên kịp thời bằng những lời động viên, đánh giá kịp thời của GV Tuyên dương các em trước lớp hoặc đăng kết quả trên bảng tin của nhà trường là hình thức mang tính chất giáo dục, giáo dưỡng có ý nghĩa động viên, là động lực khích lệ gây niềm tin cho các em
* Nhóm “Vật lí kỹ thuật”
Đây là HĐNK thu hút được đông đảo HS tham gia, bởi sản phẩm phong phú đa dạng có tác dụng giáo dục kỹ thuật, hoạt động này cần được đề cao và khuyến khích
Nhóm ngoại khóa này mang nhiều tính chất thực hành, nên hoạt động của nhóm phải gắn liền hai mặt lý thuyết và thực hành Ngoài lý thuyết HS được học trên lớp, những buổi sinh hoạt ngoại khóa phải tiến hành ôn tập và bổ sung lý thuyết cho các nhóm viên, xen kẽ với các buổi thực hành Để đạt được kết quả theo ý muốn, GV cần chú ý phối hợp với những tổ chức chuyên môn ở địa phương, qua đó nhóm ngoại khóa có thể dựa vào những nhà chuyên môn
có kinh nghiệm mà hoạt động có hiệu quả hơn Ngoài ra nên tổ chức những nhóm phục vụ yêu cầu nền sản xuất và sinh hoạt ở địa phương Chính các nhóm
kỹ thuật này làm nòng cốt cho việc liên hệ giữa bài học với thực tế kỹ thuật,
GV chọn một phương diện kỹ thuật hẹp nào đó cho nhóm như mạch điện đơn giản trong nhà, kỹ thuật vô tuyến.v.v Hoạt động của nhóm do GV vật lý lãnh đạo, được tập trung chủ yếu vào đề tài vật lí, kỹ thuật thuộc diện rộng để có thể liên hệ tốt công tác HS trong nhóm với việc dạy học vật lí Đặc biệt hấp dẫn với HS là công tác ngoài lớp có ý nghĩa xã hội công ích như : Việc đặt đường dây điện trong phòng thí nghiệm vật lí, hoặc tự mình lắp đặt được đường dây điện trong gia đình, tự động hóa chuông điện trong phòng thí nghiệm
* Nhóm “Chế tạo dụng cụ thí nghiệm”
Hoạt động tích cực của nhóm này sẽ mang lại nhiều lợi ích vì dụng cụ thí nghiệm vật lí, đặc biệt là dụng cụ phục vụ cho thí nghiệm thực hành đồng
Trang 17loạt cho HS có tầm quan trọng trong việc học tập môn vật lí Để có nhiều dụng
cụ thí nghiệm cho HS thực hành thì phải tổ chức cho HS tham gia chế tạo dụng
cụ Nội dung hoạt động chế tạo dụng cụ thí nghiệm đòi hỏi tính sáng tạo, vừa nằm trong trọng tâm của chương trình vừa mang tính lý thú đối với HS vừa phục vụ trực tiếp mục tiêu đào tạo Những dụng cụ thí nghiệm mà HS nghiên cứu, chế tạo thành công, do sáng kiến hoặc làm theo mẫu có sẵn đều có tác dụng giúp nhà trường khắc phục khó khăn thiếu thốn dụng cụ thí nghiệm vật lí Trong trường hợp này cần giúp các em chế tạo đẹp, dễ bảo quản và có thể để
sử dụng lâu dài Như vậy ý nghĩa giáo dục và thực tiễn càng được phát huy mạnh mẽ Tuy nhiên, bước đầu nhóm thí nghiệm này chỉ chế tạo các thí nghiệm đơn giản, dễ làm nhất do GV chỉ định hoặc hướng dẫn trong sách báo Sau đó dần dần làm những dụng cụ để thực hiện lại những thí nghiệm đã biểu diễn trên lớp hoặc nghe GV giới thiệu nhưng chưa được làm vì thiếu các dụng cụ Trong trường hợp này các thành viên của nhóm cần hiểu rõ nguyên lý vật lí của các dụng cụ chứ không phải máy móc sao chép lại nguyên mẫu có sẵn trong sách báo, mà không hiểu gì về bản chất vật lí trong thiết bị và nguyên tắc hoạt động của các dụng cụ
1.2.3.3 Hoạt động ngoại khóa có tính chất cá nhân
HS tự đọc sách báo về vật lí và kỹ thuật, hoặc truy cập vào các website có nội dung về vật lí và kỹ thuật, là hình thức HĐNK tự lập và dễ thực hiện, qua việc đọc sách báo về vật lí và kỹ thuật ngoài việc góp phần gây hứng thú, tăng hiểu biết về khoa học, nó là một trong những yếu tố chuẩn bị cần thiết cho HĐNK Hình thức này bổ sung rất nhiều cho các giờ học chính khóa, là một nguồn cung cấp kiến thức quan trọng từ đó tập cho HS hình thành thói quen đọc sách báo và nghiên cứu tài liệu
- Nếu có điều kiện tổ chức một “Tủ sách ngoại khóa vật lí”, biện pháp để
Trang 18xây dựng vận động các em yêu thích khoa học, thích khám phá thế giới vật lí gửi tặng những cuốn sách phổ biến khoa học
- Có thể tổ chức những buổi “Sinh hoạt khoa học” trong buổi sinh hoạt đó
HS có thể báo cáo về những vấn đề liên quan đến nội dung chương trình đang học mà họ yêu thích, để làm được điều đó phải có sự chuẩn bị thật kỹ lưỡng về mặt nội dung [3, 7]
1.2.4 Phương pháp hướng dẫn hoạt động ngoại khóa vật lí
Có ba kiểu định hướng hoạt động trong quá trình tổ chức HĐNK vật lí: định hướng tái tạo, định hướng tìm tòi và định hướng khái quát chương trình hóa
* Định hướng tái tạo
Là kiểu định hướng trong đó người dạy hướng HS vào việc huy động áp dụng những kiến thức, cách thức hoạt động mà HS đã nắm được hoặc đã được người dạy chỉ ra một cách tường tận nhằm thực hiện được nhiệm vụ được giao, nghĩa là HS chỉ cần tái tạo những hành động đã được người dạy chỉ rõ hoặc những hành động trong các tình huống quen thuộc với HS [7]
* Định hướng tìm tòi
Là kiểu hướng dẫn mang tính chất gợi ý của GV cho HS suy nghĩ tìm tòi, phát hiện cách giải quyết vấn đề HS tự tìm tòi cách xác định các hành động cần thực hiện để đi đến kết quả Kiểu hướng dẫn này có ưu điểm là định hướng cho HS khả năng tự lực tìm tòi cách giải quyết vấn đề, do đó làm cho năng lực
tư duy của HS được phát triển Kiểu hướng dẫn này có tác dụng lớn đối với HS khá giỏi Đối với HS khác có thể vẫn chưa tự giải quyết được, vì vậy GV cần gợi ý hướng dẫn định hướng cho tư duy của HS để HS có thể tìm được cách giải quyết vấn đề
Đây là kiểu định hướng mà người dạy không chỉ chỉ ra cho HS một cách tường minh các kiến thức và cách thức hoạt động cần áp dụng Mà người dạy
Trang 19còn đưa ra cho HS những gợi ý để cho HS có thể tự tìm tòi hoặc xây dựng những kiến thức và cách thức phù hợp nhằm giải quyết nhiệm vụ họ đảm nhận Theo định hướng này từng HS phải tham gia vào các hoạt động như đọc sách, các tạp chí khoa học vật lí và kỹ thuật theo sự gợi ý của GV vì đây là hình thức hoạt động đơn giản dễ thực hiện, nó là yếu tố cơ bản và cần thiết cho HĐNK Hình thức hoạt động này bổ sung cho các giờ học chính khóa, nhờ hoạt động này giáo dục cho HS lòng say mê thích học hỏi, tìm tòi kiến thức trên sách báo hoặc trên các phương tiện thông tin đại chúng như : Nghe đài, xem ti vi, mạng Intener
* Định hướng khái quát chương trình hóa
Đây là kiểu hướng dẫn HS nhằm phát triển tư duy theo đường lối khái quát của việc giải quyết vấn đề, xử lý hướng ban đầu đòi hỏi sự tìm tòi, giải quyết vấn đề của HS Nếu HS không thể thực hiện được thì GV phải giúp đỡ HS phát triển định hướng, khái quát ban đầu “Cụ thể hóa Chi tiết hóa” nhằm thu hẹp phạm vi, mức độ phải tìm tòi giải quyết sao cho vừa sức với HS Nếu đã thu hẹp phạm vi, mức độ tìm tòi mà HS Vẫn không đáp ứng được thì GV hướng dẫn chuyển dần sang kiểu định hướng tái tạo, hướng dẫn trình tự các hành động, thao tác hợp lý để theo đó HS tự giải quyết vấn đề đã đặt ra Lúc này HS vẫn không đáp ứng được thì mới thực hiện sự hướng dẫn tái tạo đối với mỗi hành động, thao tác cụ thể riêng biệt của trình tự hành động các thao tác đó
Đó là kiểu định hướng trong đó GV gợi ý cho HS kiểu định hướng tìm tòi trên giúp HS nhận thức được khái quát định hướng được chương trình hóa theo các bước dự định hợp lý
1.2.5 Thực hiện hoạt động ngoại khóa
HĐNK mang lại nhiều lợi ích nhưng không nên gây nặng nề đối với HS Tùy theo hình thức và mức độ nội dung mà tiến hành các buổi HĐNK, nếu tổ
Trang 20chức hoạt động ngoại khóa theo nhóm căn cứ vào nội dung công việc để chia thời gian sao cho hợp lý:
Ví dụ: Theo hình thức nhóm “Vật lí kỹ thuật” tổ chức không quá một lần trong một tuần tỷ lệ các buổi thực hành và lý thuyết có thể thay đổi tùy theo sự hứng thú của HS tính chất của tài liệu nghiên cứu, tiến trình thực hiện công việc ở nhà
Nếu tổ chức HĐNK có tính chất quần chúng rộng rãi, nên tổ chức hai tháng một lần trong năm học, và thời gian mỗi buổi không quá hai đến ba giờ đồng
hồ
Lập kế hoạch thời gian các buổi hoạt động nhóm sao cho các kiến thức về
lý thuyết và thực hành hỗ trợ bổ sung cho nhau, tránh tình trạng khi HS chưa
có đủ cơ sở lý thuyết vững chắc mà lại tiến hành thực hành hoặc chế tạo Lập
kế hoạch cụ thể các ngày trong tuần ngày nào GV cung cấp lý thuyết, ngày nào thực hành cho từng tổ Việc này đòi hỏi GV tốn nhiều thời gian, nhưng lại đảm bảo có đủ dụng cụ, công cụ cho tất cả các nhóm viên
Trong quá trình thực hiện hoạt động ngoại khóa, cần phải tiến hành các thủ thuật, biện pháp nhằm lôi cuốn HS vào vấn đề, đề tài nghiên cứu để làm được điều đó cần trích quỹ thời gian cho HS tham dự các buổi diễn giảng, đi tham quan viện bảo tàng, tìm hiểu thực tế, xem phim, nghe truyền thanh [7]
1.2.6 Lập kế hoạch tổ chức hoạt động ngoại khóa
Lập kế hoạch nó ảnh hưởng rất nhiều tới hiệu quả của HĐNK Quy trình
tổ chức các buổi ngoại khóa căn cứ vào mục tiêu khóa học đòi hỏi phải có sự đầu tư suy nghĩ, phân chia nội dung trình tự tiến hành và thời gian từng giai đoạn Khi lập kế hoạch GV phải xuất phát từ nhiệm vụ đề ra của nhà trường sao cho phù hợp với chương trình và hứng thú học tập của HS GV tính toán đến thiết bị của phòng thí nghiệm, dự tính chế tạo những dụng cụ bổ sung dần cho phòng thí nghiệm trong từng giai đoạn, dự tính về nhu cầu nguyên vật liệu
Trang 21và công cụ, cách tổ chức phải tuân theo đúng hình thức và nội dung như: Bài trí trong phòng (Các phương tiện loa, đài, máy chiếu…), nội dung chương trình hoạt động, nội dung báo cáo, lựa chọn các thí nghiệm biểu diễn, các dụng cụ
mô hình, hình ảnh, tranh ảnh, trình kế hoạch với ban giám hiệu, GV chủ nhiệm lớp, tổ chức đoàn của nhà trường, kinh phí cho tổ chức hoạt động để có sự thống nhất từ trên xuống, tất cả các vấn đề trên chuẩn bị tốt sẽ đem lại kết quả khả
quan
1.3 Đánh giá kết quả hoạt động ngoại khóa vật lí
1.3.1 Nhận thức chung về tổ chức hoạt động ngoại khóa vật lí
Tổ chức HĐNK vật lí là việc làm cần thiết đối với bộ môn vật lí nhưng nó phải phù hợp với đặc điểm HS, lớp học, nhà trường đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra
Do đó tổ chức HĐNK vật lí phải có hình thức và nội dung phong phú, linh hoạt khi cần có thể điều chỉnh, thay đổi nội dung và hình thức sao cho phù hợp với điều kiện của GV và HS [3]
1.3.2 Mục tiêu đánh giá
Theo yêu cầu đổi mới PPDH nói chung và vật lí nói riêng, HĐNK là việc làm cần thiết:
- Góp phần củng cố đào sâu, mở rộng kiến thức
- Giúp các em hình thành ý thức tổ chức, năng lực tổ chức, khả năng diễn đạt ngôn ngữ;
- Phát huy được tính tích cực, ý thức tự lực, tự giác trong quá trình học tập
Trang 22+ Đánh giá về ý thức trách nhiệm, hiệu quả đóng góp vào việc tổ chức HĐNK;
+ Đánh giá về trình độ tiếp thu mà nội dung HĐNK chuyển tải
Tiêu chí đối với tập thể;
+ Số lượng HS tham gia HĐNK;
+ Số lượng, chất lượng sản phẩm đã làm của nhóm, của lớp;
+ Tinh thần tập thể và ý thức hợp tác trong hoạt động [3.28]
1.4 Tổ chức hoạt động ngoại khóa với sự trợ giúp của CNTT
1.4.1 Đổi mới PPDH với sự trợ giúp của CNTT
Theo quan điểm thông tin, học là một quá trình thu nhận thông tin có định hướng, có sự tái tạo và phát triển thông tin ; dạy là phát thông tin và giúp người học thực hiện quá trình một cách có hiệu quả
Nếu nội dung bài học chỉ được chuyển tải tới người học dưới dạng văn bản thì người học có thể sẽ kém hứng thú Nếu chỉ truyền tin theo một chiều, không có
sự hỏi đáp thì thông tin thu được của người học có thể phiến diện, không đầy
đủ hoặc bị biến dạng, có khi dẫn đến việc hiểu sai nội dung
Theo quan điểm CNTT, để đổi mới PPDH người ta tìm những“Phương pháp làm tăng giá trị lượng tin, trao đổi thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và hiệu quả hơn”
Nhờ sự phát triển của khoa học kĩ thuật, quá trình dạy học đã sử dụng PTDH sau đây:
- Sử dụng mạng Internet để dạy học
- Phần mềm dạy học(PMDH)giúp HS học trên lớp và ở nhà
- Công nghệ kiểm tra, đánh giá bằng trắc nghiệm trên máy tính
- Phần mềm hỗ trợ giảng bài, minh họa trên lớp với LCD – projector(máy chiếu tinh thể lỏng)hay còn gọi là video – projector
- Phim chiếu để giảng bài với đèn chiếu Overhead
Trang 23- Bảng thông minh
1.4.2 Vai trò của CNTT với hoạt động ngoại khóa
Trước kia quy mô giáo dục trong xã hội loài người rất nhỏ bé hiệu quả thấp, kinh nghiệm được truyền thụ từ đời này qua đời khác, người này sang người khác qua lời nói hoặc hành động Ngày nay sự có mặt của MVT, Internet đã có tác dụng mạnh mẽ đến hoạt động giáo dục - đào tạo Với những ưu điểm về tốc
độ xử lý, khả năng lưu trữ thông tin và truy nhập chính xác, khả năng làm việc trong thời gian dài của MVT, sử dụng với công cụ là PTDH Trong hoạt động dạy – học hứa hẹn cả về tính hiệu quả và tiết kiệm được chi phí, tuy nhiên MVT chưa có khả năng suy luận ứng biến khi xuất hiện tình huống mới, chưa có khả năng đúc rút kinh nghiệm và vận dụng kinh nghiệm MVT không có trí khôn
và không thể thay thế vai trò của người GV trong dạy học
Hiện nay trên thế giới đã xuất hiện PPDH tích cực, đặc biệt là những đổi mới có tính chất cách mạng về phương pháp đã đem lại bộ mặt mới cho nền giáo dục, nét nổi bật được thể hiện ở PPDH hiện nay là áp dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật và công nghệ vào quá trình dạy học nhằm thực hiện mục đích giáo dục đạt hiệu quả cao
Nhờ các công cụ đa phương tiện(multimedia) và MVT như: Văn bản (text),
đồ họa (graphic), hình ảnh (image), âm thanh (sound), hoạt cảnh (video) GV xây dựng được bài giảng sinh động thu hút được sự tập trung của người học,
Trang 24trong các buổi ngoại khóa có nhiều ưu điểm trong việc thực hiện chức năng nghe nhìn, giúp học sinh tiếp cận tốt hơn với hiện thực khách quan, ngoài ra chúng ta có thể ứng dụng CNTT trong hoạt động ngoại khóa dưới các hình thức sau:
Tìm kiếm thông tin liên quan đến chủ đề ngoại khóa :
Sự kết hợp của MVT với các hệ thống truyền thông (communication), viễn thông (telecommunication), đã tạo ra sự chuyển biến có tính cách mạng trong việc tổ chức và khai thác, sử dụng các hệ thống máy tính Mô hình tập trung dựa trên các máy tính có phương thức khai thác theo “lô” (batchprocessing) đã được thay thế bởi một mô hình tổ chức sử dụng mới trong đó các máy tính đơn
lẻ được kết nối lại với nhau để thực hiện công việc, một môi trường làm việc chung của nhiều người sử dụng cho phép nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên chung từ những vị trí địa lý khác nhau [14]
Mạng máy tính, Internet, đã được ứng dụng trong giáo dục ở nhiều nước đây là môi trường thông tin vừa là diễn đàn trao đổi, hợp tác có tính tương tác mạnh Nhiều thí nghiệm mô phỏng, tranh ảnh, video clip, những vấn đề về nội dung, phương pháp và nhiều công trình nghiên cứu khoa học giáo dục đã được đưa lên Internet Hiện nay đã có hàng tỉ tài liệu được đưa lên mạng, Internet đã trở thành một trong những kho tàng quý báu nhất về thông tin trên thế giới Internet explorer và thanh search explorer giúp tìm kiếm thông tin một cách nhanh chóng và thuận tiện, để tìm kiếm thông tin trên Internet cần hiểu rõ cách
sử dụng công cụ tìm kiếm một cách có hiệu quả, các công cụ thường được dùng nhất là google, yahoo, ở các địa chỉ: http://www.Google.com ; http://www.Yahoo.com
Trình diễn thông tin thu thập được:
MVT có khả năng trình bày và biểu diễn thông tin đa dạng, dưới nhiều hình thức: có thể đưa vào các hình ảnh tĩnh, động, âm thanh, đặc biệt là các đoạn
Trang 25phim, làm cho bài giảng sinh động hơn, những hiện tượng khó quan sát, những thí nghiệm khó thực hiện, các dữ liệu này sẽ làm tăng tính trực quan trong các buổi ngoại khóa, giúp buổi sinh hoạt ngoại khóa gắn liền với thực tiễn của cuộc sống
Sử dụng MVT, GV có thể tổ chức buổi ngoại khóa một cách logic, dẫn dắt HS đi sâu vào từng vấn đề cụ thể, GV có thể dùng tư liệu thu được như băng đĩa, hình ảnh, các đoạn video clip cùng chữ viết dưới dạng các câu hỏi, trò chơi cho chúng lần lượt xuất hiện trên một phông nền có màu sắc đẹp đẽ, không gian
ba chiều gây tác động mạnh mẽ đến HS, với phương thức này các hình ảnh, sơ
đồ, nội dung các câu hỏi lần lượt xuất hiện trên màn hình, âm thanh, lời nói nhạc nền cũng có thể sử dụng phụ họa nhằm tăng tính sinh động cho buổi ngoại khóa
Dạy học với phương tiện hiện đại trên sẽ có ưu thế sau:
- Các PMDH có thể thực hiện các thí nghiệm ảo, tăng tính trực quan cho người học, cho phép HS học theo khả năng ;
- Các phương tiện hiện đại sẽ tạo ra khả năng để GV trình bày bài giảng sinh động hơn, dễ dàng cập nhật và thích nghi với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học hiện đại;
- Các phương tiện sẽ hỗ trợ, chuẩn hóa các bài giảng mẫu, đặc biệt đối với những phần khó giảng, những khái niệm phức tạp HS học không bị thụ động,
có nhiều thời gian nghe giảng để đào sâu suy nghĩ v.v Và điều quan trọng hơn
là nhiều học sinh được dự và nghe giảng bài của nhiều GV giỏi
- Ứng dụng CNTT để dạy học, PPDH cũng thay đổi, GV là người hướng dẫn
HS học tập chứ không đơn thuần chỉ là người rót thông tin vào đầu HS GV cũng phải học tập thường xuyên để nâng cao trình độ về CNTT, sử dụng CNTT
có hiệu quả trong học tập HS có thể lấy thông tin từ nhiều nguồn phong phú khác nhau như sách, Internet, CD – ROM lúc này HS phải biết đánh giá và
Trang 26lựa chọn thông tin, không còn chỉ đơn thuần nhận thông tin một cách thụ động
vì nguồn thông tin vô cùng phong phú
Hoạt động ngoại khóa HĐNK nói chung và HĐNK vật lí nói riêng nó giúp củng cố, đào sâu, mở rộng hệ thống hóa kiến thức vật lí đã học trên lớp, giúp HS hiểu biết rõ hơn về vai trò của vật lí đối với đời sống xã hội, thông qua
đó góp phần giáo dục tư tưởng và giáo dục kỹ thuật tổng hợp cho HS
Thông qua HĐNK có thể phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu cho HS, xây dựng phong cách tác phong làm việc, tạo cho các em có thói quen phân công, trao đổi bàn bạc và có ý thức với công việc được giao
HĐNK phải mang tính thực tiễn, và đáp ứng phần nào yêu cầu của thực tiễn
Có nhiều hình thức tổ chức HĐNK vật lí, ở trường phổ thông, tùy vào tình hình cụ thể để đưa ra hình thức phù hợp
HĐNK vật lí là một hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nhưng nó rất cần thiết vì làm cho quá trình dạy học thêm phong phú đa dạng , HĐNK vật lí làm cho việc học tập của HS thêm sinh động, bổ ích và hứng thú
HĐNK giúp cho HS tiếp thu kiến thức một cách sâu sắc và khó quên hơn, tuy nhiên muốn việc tổ chức HĐNK đạt kết quả cao đòi hỏi người GV phải làm việc với tinh thần và trách nhiệm thật cao, phải nghiên cứu thật kỹ, lựa chọn và soạn thảo nội dung, phương pháp và các hình thức tổ chức phù hợp
Trang 27có sức lôi cuốn được đông đảo HS tham gia và thực sự phát huy hết tác dụng của công tác ngoại khóa
Vận dụng CNTT trong HĐNK tạo ra môi trường hoạt động ngoài giờ lên lớp khá lý tưởng, giúp GV và HS làm quen với nguồn tri thức mới bên ngoài chương trình SGK, có kỹ năng làm việc với máy tính, kỹ năng khai thác thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, có một cái nhìn rộng hơn về thế giới bên ngoài Hiểu biết hơn về bức tranh vật lí của thế giới tự nhiên
Chương 2 ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO DẠY HỌC NGOẠI
KHÓA CHƯƠNG “TỪ VI MÔ ĐẾN VĨ MÔ”
2.1 Phân tích mục tiêu, nội dung chương “Từ vi mô đến vĩ mô” lớp 12 THPT
Xét về mặt cấu trúc nội dung thì chương “Từ vi mô đến vĩ mô” được SGK vật lí 12 THPT xây dựng hoàn toàn mới, học sinh chưa được tiếp cân ở các lớp dưới Chương “Từ vi mô đến vĩ mô”được SGK vật lí 12 THPT đưa vào nhằm đảm bảo tính hiện đại, tính cập nhật phù hợp với xu thế chung của sgk các nước trong khu vực và trên thế giới Cụ thể nội dung kiến thức trong chương
đã giới thiệu về hạt sơ cấp, về thiên văn, nhằm giúp HS sau khi học xong chương trình vật lí phổ thông có được cái nhìn tổng quan về thế giới vật chất, khái quát các kiến thức vật lí đã học trong chương trình vật lí phổ thông [19]
Trang 28Chương “Từ vi mô đến vĩ mô”ở lớp 12 THPT chương trình nâng cao được phân bố với tổng số tiết 6 tiết(trong đó có 5 tiết lý thuyết , một tiết bài tập)
- Hạt sơ cấp (2 tiết)
- Mặt trời và hệ Mặt trời (1 tiết)
- Sao và thiên hà (1 tiết)
- Thuyết Bigbang(1 tiết)
- Bài tập(1 tiết)
Như vậy chương “ Từ vi mô đến vĩ mô ” là chương có nội dung hoàn toàn mới
và lượng kiến thức không nhiều.Ta có thể hệ thống kiến thức trong chương theo Gráp sau :
Vụ nổ BIG BANG
Các hạt sơ cấp
Trang 292.1.1 Yêu cầu về nội dung kiến thức HS cần nắm được khi dạy học chương
“Từ vi mô đến vĩ mô” lớp 12 THPT
- Nêu được hạt sơ cấp là gì
- Nêu được tên của một số hạt sơ cấp
- Trình bày được sự phân loại các hạt sơ cấp
- Nêu được phản hạt là gì
- Nêu được những đặc điểm chính về cấu tạo và chuyển động của hệ Mặt trời
- Nêu được những đặc điểm chính của Mặt Trời, Trái Đất
- Nêu được sao là gì, hành tinh là gì, thiên hà là gì
- Nêu được các đặc điểm cơ bản của Thiên Hà của chúng ta
- Trình bày được những nét khái quát về sự tiến hoá của các sao
- Nêu được những nét sơ lược về thuyết BigBang [19]
2.1.2 Yêu cầu kỹ năng HS cần nắm được khi dạy học chương “Từ vi mô đến
vĩ mô” lớp 12 THPT
- Quan sát các hiện tượng và các quá trình vật lí trong tự nhiên, trong đời sống hàng ngày ; điều tra sưu tầm, tra cứu các tài liệu từ các nguồn khác nhau để thu
Trang 30thập các thông tin cần thiết cho việc học tập môn vật lí nói chung và chương
“tử vi mô đến vĩ mô nói riệng”
- Rèn luyện kĩ năng sử dụng và lắp ráp các dụng cụ như máy quang phổ, kính thiên văn…
- Phân tích, tổng hợp và xử lí các thông tin thu được để rút ra các kết luận, đề
ra các dự đoán đơn giản về các mối quan hệ hay về bản chất của các hiện tượng hoặc quá trình vật lí, cũng như đề xuất phương án để kiểm tra dự đoán đã đề ra
- Vận dụng kiến thức để mô tả và giải thích các hiện tượng và quá trình vật lí giải các bài tập vật lí và giải quyết các vấn đề đơn giản trong đời sống và sản xuất ở mức độ phổ thông
- Sử dụng các thuật ngữ vật lí, các biểu bảng …để trình bày rõ ràng chính xác những hiểu biết, cũng như những kết quả thu được qua thu thập và xử lý thông tin [`19]
- Rèn luyện kĩ năng hoạt động nhóm
- Rèn luyện kĩ năng tư duy logic, khoa học
- Rèn luyện kĩ năng sử dụng các phương tiện hiện đại trong học tập
+ Từ đó giúp HS:
- Có hứng thú học vật lí yêu thích tìm tòi khoa học ; trân trọng đối với những đóng góp của vật lí học cho sự tiến bộ của xã hội và đối với công lao của các nhà khoa học
- Có thái độ khách quan, trung thực ; có tác phong tỉ mỉ cẩn thận, chính xác và
có tinh thần hợp tác trong việc học tập môn Vật lí, cũng như trong việc áp dụng các hiểu biết đã đạt được
- Có ý thức vận dụng những hiểu biết vật lí nói chung và chương “Từ vi mô đến vĩ mô”nói riêng vào đời sống nhằm cải thiện điều kiện sống, học tập cũng như để bảo vệ giữ gìn môi trường sống tự nhiên [19]
Trang 312.2 Thực trạng dạy học chương “Từ vi mô đến vĩ mô” lớp 12 THPT ở các trường THPT trên địa bàn - Huyện Tuyên Hoá - Tĩnh Quảnh Bình
Để có cơ sở đưa ra phương án dạy học ngoại khóa tối ưu cho chương “Từ vi
mô đến vĩ mô”SGK vật lí lớp12 THPT ở Trường THPT–Tuyên Hoá và một số trường THPT trên địa bàn huyện Tuyên Hoá tôi đã tìm hiểu các mặt sau :
- Chất lượng đầu vào của HS, chất lượng đào tạo của nhà trường
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy
- Phương pháp dạy học (đặc biệt lưu ý đến chương “Từ vi mô đến vĩ mô”)
- Tình hình hoạt động ngoại khóa vật lí
Phương pháp điều tra:
- Điều tra thông qua GV(phát phiếu điều tra, trao đổi trực tiếp, dự giờ trên lớp)
- Điều tra thông qua HS(phát phiếu điều tra, trao đổi trực tiếp, theo dõi giờ học trên lớp và xem bài kiểm tra)
- Điều tra thông qua lãnh đạo của các nhà trường, tổ chuyên môn
Kết quả điều tra:
Phòng học kiên cố
Phòng thực hành
Phòng học bộ môn
Phòng
đa chức năng
Thư viện
Trường THPT
Trang 32THPT năm học 2010 – 2011
STT Thiết bị dạy học
Trường THPT Tuyên Hoá
Trường THPT
Lê Trực
Trường Cấp 2+3 Bắc Sớn
Trường Cấp 2+3 PhanBội Châu
2.2.1 Về đội Ngũ GV và phương pháp giảng dạy
a Về đội ngũ GV
Trang 33- GV vật lí dạy ở trường THPT – Tuyên Hoá và một số trường THPT trên địa bàn Huyện Tuyên Hoá : Có 10 GV nam, 7 GV nữ Những GV này có trình độ đại học, sau đại học, được đào tạo bài bản trong các trường đai học sư phạm chính quy như trường Đại học Vinh, và Đại học Huế, và là đội ngũ GV
cơ bản có năng lực và nhiệt huyết với nghề
b Về phương pháp giảng dạy
- Qua các tiết dự giờ và tìm hiểu thông qua HS kết hợp với thông tin phản hồi từ 9 phiếu điều tra gửi cho GV vật lí dạy lớp 12 của 4 trường về tình hình dạy và học chương “Từ vi mô đến vĩ mô”(Xem phụ lục) chúng tôi nhận thấy:
- Trong các tiết dạy đa số GV đều dùng phương pháp thuyết trình, diễn giải, thông báo kiến thức và thậm chí GV không giảng trên lớp mà yêu cầu HS
tự nghiên cứu ở nhà, còn HS tiếp thu kiến thức một cách thụ động, chỉ nghe
GV giảng bài và trả lời câu hỏi theo yêu cầu tái hiện kiến thức, QTDH chỉ là truyền thụ kiến thức một chiều “Thầy đọc – trò chép”
- Hiện nay trên mạng Iternet có rất nhiều những hình ảnh, video tư liệu
về thiên văn học, các mô hình về thế giới vi mô, các hạt sơ cấp GV có thể khai thác đưa vào bài giảng điện tử và nhờ đó hạn chế tôi đa tính trừu tượng , làm tăng sự hấp dẫn của bài học Nhưng do trường phổ thông còn thiếu thốn phòng học bộ môn , máy chiếu để có thể thực thi được
Đây chính là một trong những nguyên nhân làm cho HS không hiểu sâu sắc vấn đề, kiến thức lĩnh hội không đủ chắc chắn, các em chưa có kỹ năng tốt trong việc vận dụng kiến thức vào các tình huống cụ thể
Cụ thể qua 9 phiếu trả lời của GV về câu hỏi vì sao đồng chí không khai thác các hình ảnh, các video clip ,các phần mềm về thiên văn trên mạng Internet vào dạy học một số bài thuộc chương “Từ vi mô đến vĩ mô”
Nôi dung câu trả lời Số GV chọn câu trả lời
Trang 34Không có máy vi tính nối mạng 6
Không có phụ tá đáp ứng yêu cầu 9
Chưa chắc chắn thành công 7
Bài học dài sợ không đủ thời gian 9
Không tự tin vào kỉ năng sử dụng các thiết bị
Vì không có đầy đủ các thiết bị dạy học hiện đại, GV lại ngại đầu tư thời gian vào biên soạn giáo án điện tử nên các trường đều không tổ chức các hoạt động ngoại khóa vật lí nói chung và không tổ chức hoạt động ngoại khóa chương “Từ vi mô đến vĩ mô” vật lí 12 THPT nói riêng đã dẫn đến hệ quả là
HS vẫn chưa được cung cấp đầy đủ những thông tin,những kỹ năng những hiểu biết sâu sắc chương“Từ vi mô đến vĩ mô” vật lí 12 THPT, đây là một trong những chương có nội dung mới và khó của chương trình vật lí phổ thông
2.2.2 Tình hình học sinh và phương pháp học
a Tình hình học sinh
Qua điều tra cho thấy HS của bốn trường trên địa bàn huyện Tuyên Hoá có các đặc điểm : Chủ yếu là HS miền núi, điều kiện học tập, ăn ở gặp nhiều khó khăn, lại được phân bố trên địa bàn khá rộng đi hàng chục km mới đến được trường Gia đình kinh tế phần lớn khó khăn vì vậy một buổi các em đi học còn một buổi thì ở nhà phụ giúp cha mẹ kiếm sống nên các em ít có điều kiện để đầu tư cho việc học vì thế chất lượng HS đầu vào rất thập, trong các giờ học các em không chịu suy nghỉ, động não, hợp tác với GV Các vấn đề, các câu hỏi GV đưa ra các em không mạnh dạn trả lời hoặc có trả lời thì không chính
Trang 35xác, nhìn chung các em học thụ động, rụt rè, các em có thói quen tiếp thu và lĩnh hội kiến thức một chiều Tuy nhiên trong các hoạt động tập thể có kết hợp hình thức vừa chơi vừa học như thi đường lên đỉnh Olympia… các em lại tham gia rất tích cực
2.2.3 Những khó khăn, hạn chế của HS khi học Chương “Từ vi mô đến vĩ mô” và hướng khắc phục
a Những khó khăn hạn chế
Khi dạy học chương “Từ vi mô đến vĩ mô”chúng tôi nhận thấy đây là
một phần kiến thức khó, với những mô hình giả thuyết được các nhà khoa học đưa ra hết sức trừu tượng, có những giả thuyết không được kiểm tra trực tiếp
mà chỉ kiểm tra qua các hệ quả của chúng (chẳng hạn như giả thuyết về sự hình thành vũ trụ Thuyết BigBang) do đó nó làm cho học sinh rất khó tiếp thu Tuy nhiên, chương này lại có rất nhiều ứng dụng trong thực tế như giải thích các
Trang 36hiện tượng tự nhiên : Nhật thực, Nguyệt thực, thuỷ triều, bão từ, các mùa trên Trái Đất …
Qua trao đổi với GV khi dạy học và xem vở ghi chép của HS về chương
“Từ vi mô đến vĩ mô” tôi thấy các em gặp phải những khó khăn sau:
- Khi quan sát một hiện tượng hay quá trình, HS không thể phân tích được tất
cả những mối quan hệ khách quan giữa các đối tượng Dó đó HS thường rút ra các kết luận một cách chủ quan và phiến diện
- HS không nắm được khái niệm hạt sơ cấp và các đặc trưng của hạt sơ cấp
- Không phân biệt được hạt và phản hạt
- Không nắm vững các loại tương tác giữa các hạt sơ cấp
- Không hiểu cấu tạo và chyển động của hệ Mặt trời
- Không hiểu cấu trúc của Mặt trời, nguồn gốc năng lượng của Mặt trời
- Không nắm được các dấu hiệu nhận biết năm Mặt trời hoạt động
- Không thấy được ảnh hưởng của sự hoạt động của Mặt trời đối với Trái Đất
- Không nắm được các nét chính trong cấu tạo của Trái Đất
- Không nắm được các đặc trưng chính của Mặt trăng và ảnh hưởng của Mặt trăng đối với Trái Đất Cụ thể là hầu như các em không hiểu được vì sao có hiện tượng thuỷ triều, vì sao chúng ta chỉ nhìn thấy một nửa của Mặt trăng, vì sao có khi trăng tròn, trăng khuyết
- Không nắm được các thông số đặc trưng chính của các hành tinh lớn trong hệ mặt trời
- Nhầm lẫn Sao và Hành Tinh
- Không phân biệt được Sao Băng và Sao Chổi
- Không giải thích được hiện tượng Sao Băng
- Không hiểu khái niệm thiên hà, không nắm được các đặc điểm chính của Thiên Hà của chúng ta
Trang 37- Khả năng phát biểu thành lời kém, thường lúng túng khi diễn đạt các vấn đề hoặc khi muốn hỏi
- Điều kiện học tập của HS ở đây khó khăn nên việc tiếp xúc với thông tin còn nhiều hạn chế vì vậy khi học chương này đối với các em có nhiều khái nệm mới mẻ, trừu tượng
b Hướng khắc phục
- Nhằm khắc phục những hạn chế trên theo tôi, khi dạy học vật lí nhất là dạy học chương “ Từ vi mô đến vĩ mô ” chúng ta cần phải tìm mọi cách hạn chế sự trừu tượng của kiến thức truyền thụ Xoá bỏ trong đầu các em suy nghĩ kiến thức chương này khó Để làm được việc đó trong quá trình dạy GV phải cho các em được xem các mô hình, tranh ảnh, các Video clip phải tổ chức cho các
em tiếp nhận kiến thức khoa học thông qua hình thức vừa học vừa chơi Chỉ có như vậy các em mới hiểu rõ bản chất và quá trình vật lí xảy ra Vì thời gian trên lớp có 45 phút với khối lượng kiến thức lớn, để các em có thể xem hết các đoạn video minh hoạ và truyền thụ hết nội dung cơ bản đồng thời giúp các em hiểu một cách sâu sắc là khó thực hiện, để khắc phục điều này thì giải pháp tốt nhất
là tổ chức các buổi dạy học ngoại khóa(đặc biệt tổ chức tốt các buổi dạy học ngoại khóa chương“Từ vi mô đến vĩ mô” vì chương này nhiều kiến thức có tính trừu tượng và khó hiểu ) Có tổ chức được các buổi ngoại khóa và sử dụng hiệu quả các đồ dùng dạy học được trang bị thì GV mới có đều kiện mở rộng đào sâu kiến thức mà trong giờ chính khóa HS chưa nắm vững, HS mới có điều kiện để phát huy khả năng tự lực sáng tạo, suy nghĩ để giải đáp các vấn đề được đặt ra Và có làm như thế mới giúp các em :
- Tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia các hoạt động học tập để tự khám phá và lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng, xây dựng thái độ tích cực
- Hiểu được bản chất của vấn đề, chiếm lĩnh được tri thức và khi cần có thể tái hiện một cách nhanh chóng và dễ dàng
Trang 38- Mạnh dạn trình bày và bảo vệ ý kiến, quan điểm của mình, tích cực thảo luận, tranh luận đặt ra câu hỏi cho bản thân cho thầy cho bạn
- Biết tự đánh giá và đánh giá các ý kiến quan điểm, các sản phẩm hoạt động học tập của bản thân và bạn bè
- Tích cực sử dụng thiết bị, đồ dùng học tập, vận dụng kiến thức đã học
để phân tích đánh giá giải quyết các tình huống và các vấn đề đặt ra từ thực tiễn, xây dựng và thực hiện các kế hoạch học tập phù hợp với khả năng và điều kiện của bản thân
2.3 Ứng dụng công nghệ thông tin xây dựng một số bài dạy học ngoại khóa cho HS lớp 12 THPT
2.3.1 Ý tưởng của việc xây dựng bài dạy học ngoại khóa với sự trợ giúp của CNTT
- Xuất phát từ các văn bản chỉ đạo của Đảng và nhà nước nhất là chỉ thị CT/UW của Bộ Chính Trị ngày 07 tháng 10 năm 2001 về việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa đã chỉ rõ trọng tâm của ngành giáo dục là đào tạo nguồn nhân lực về CNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo, đây là nhiệm vụ mà Thủ tướng Chính phủ đã giao cho ngành giáo dục giai đoạn 2001 – 2005 thông qua quyết định số 81/2001/QĐ-TTg; Xuất phát từ tính cấp thiết của thực tiễn và kết quả khả quan của việc ứng dụng các thành tựu của CNTT vào việc phát triển, hiện đại hóa các PTDH nhằm hiện đại hóa nhà trường gắn hoạt động giáo dục với thực tiễn của đời sống xã hội
Công nghệ thông tin mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học Những phương pháp dạy học theo cách tiếp cận kiến tạo, phương pháp dạy học theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết vấn
đề càng có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi Các hình thức dạy học như
Trang 39dạy học đồng loạt, dạy theo nhóm, dạy cá nhân cũng có những đổi mới trong môi trường công nghệ thông tin và truyền thông
GV ứng dụng CNTT vào giảng dạy, truyền thụ tri thức làm cho việc giảng dạy trở nên cụ thể hơn, sinh động hơn làm cho HS tăng thêm hiểu biết về sự vật hiện tượng hoặc các quá trình phức tạp mà bình thường họ không hiểu được Rút ngắn thời gian lĩnh hội kiến thức, góp phần phát triển tư duy logic, dễ dàng gây được cảm hứng và sự chú ý làm tăng khả năng và chất lượng ghi nhớ của
HS Giải phóng người giáo viên khỏi một khối lượng lớn công việc, nâng cao hiệu quả giảng dạy
Bằng việc sử dụng phương tiện dạy học GV có thể kiểm tra một cách khách quan hơn khả năng tiếp thu kiến thức cũng như sự hình thành kỹ năng kỹ xảo của HS
Đưa HS vào hoạt động tự lực tích cực chiếm lĩnh kiến thức, tự lực giải quyết vấn đề thông qua khai thác thông tin, tổ chức hoạt động học tập thông qua thảo luận nhóm, thảo luận trước lớp dưới sự hướng dẫn của GV
Trong điều kiện có thể GV sử dụng MVT như một phương tiện để mô phỏng các hiện tượng, thí nghiệm vật lí mà trong điều kiện hiện tại không thể thực hiện được do các yếu tố kỹ thuật, trang thiết bị
Giúp HS tự phát triển các kiến thức, kỹ năng tin học để tự lực chiếm lĩnh tri thức, góp phần phát huy tính tích cực tự lực trong học tập
Rèn luyện tư duy khoa học cho HS, tác phong mạnh dạn, hoạt bát, biết trình bày ý kiến của mình trước tập thể
Từ những nhận thức về sự ưu việt của việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy ở trên tôi có ý tưởng và bước đầu ứng dụng CNTT vào soạn thảo nội dung hai bài dạy hoc ngoại khoá trong chương “Từ vi mô đến vĩ mô” vật lí lớp 12 THPT nhằm đạt các mục tiêu sau:
- Giúp HS nắm vững chính xác, sâu sắc nội dung kiến thức chương “Từ vi
Trang 40mô đến vĩ mô”
- Thông qua việc giải quyết các nhiệm vụ được giao, phát huy được tính tính cực, ý thức tự lực, tự giác trong quá trình học tập của HS Qua việc giải quyết những nhiệm vụ được giao, giúp các em nhận thức được giá trị thực tiễn của kiến thức chương “Từ vi mô đến vĩ mô”đối với cuộc sống và từ đó bồi dưỡng cho các em lòng say mê nghiên cứu, tự chiếm lĩnh tri thức một cách tốt nhất,
có niềm tin vào khoa học
- Trong quá trình tổ chức các buổi ngoại khóa chương “Từ vi mô đến vĩ mô” vật lí lớp 12 THPT có sự hỗ trợ của CNTT sẽ lôi cuốn được đông đảo các
em tham gia, nâng cao hứng thú học tập cho các em trong quá trình học chương này và các chương tiếp theo của môn vật lí Với hình thức học tập thể theo nhóm sẽ xây dựng cho các em môi trường cộng đồng trong đó có sự hợp tác giúp đỡ tương trợ giữa các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng
- Tổ chức HĐNK vật lí giúp các em hình thành ý thức tổ chức, năng lực
tổ chức, cách giao tiếp, khả năng diễn đạt ngôn ngữ vật lí, thói quen tự lập, khả năng phán đoán và quyết đoán, tự đánh giá và phát triển nhân cách HS một cách toàn diện
- Trong quá trình tổ chức HĐNK vật lí có sự hỗ trợ của CNTT giúp HS
có khả năng quan sát không gian, trí tưởng tượng, óc sáng tạo, nhanh nhẹn trong thao tác
- Việc xây dựng nội dung các buổi ngoại khóa chương “Từ vi mô đến vĩ mô” vật lí lớp 12 THPT phải xuất phát trên cơ sở của việc điều tra cơ sở vật chất của nhà trường, dựa trên tình hình dạy và học chương “Từ vi mô đến vĩ mô” nhu cầu nhận thức của HS và kế hoạch hoạt động của nhà trường phổ thông
- Trong quá trình tổ chức HĐNK dù bằng hình thức nào cũng lôi cuốn được đông đảo các em HS tham gia, kích thích được sự hứng thú cho các em